ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA BÁO CÁO BÀI TẬP LỚN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG CHỦ ĐỀ 3 NHẬN DIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG THEO BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019 LỚP DT05 NHÓM 15 – HK213 GVH.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
Trang 2BÁO CÁO PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
ST
3 Nguyễn Thành Tài 2114691 1.3, phần mở đầu, làm word Hoàn thành
NHÓM TRƯỞNG
Nguyễn Thành Tài
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG THEO BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019 2
1.1 Hợp đồng lao động và dấu hiệu nhận diện hợp đồng lao động 2
1.1.1 Khái niệm hợp đồng lao động 2
1.1.2 Dấu hiệu nhận diện hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019 4 1.2 Đặc điểm hợp đồng lao động 5
1.2.1 Phân loại hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019 5
1.2.2 Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động 8
1.2.3 Chủ thể giao kết hợp đồng lao động 10
1.2.4 Hình thức của hợp đồng lao động 11
1.3 Ý nghĩa của hợp đồng lao động 11
CHƯƠNG II NHẬN DIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN ĐẾN KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT 14
2.1 Quan điểm của các cấp Tòa án xét xử vụ việc 14
2.2 Quan điểm của nhóm nghiên cứu về tranh chấp và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành 14
2.2.1 Quan điểm của nhóm nghiên cứu về tranh chấp 14
2.2.2 Bất cập và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành 15
PHẦN KẾT LUẬN 17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay Việt Nam đang trong bối cảnh hội nhập kinh tế và với sự phát triển của nềnkinh tế thị trường đang tăng không ngừng nghỉ thì vấn đề lao động và những gì xungquanh nó luôn là một chủ đề đáng để quan tâm hàng đầu Từ đó, hợp đồng lao độngxuất hiện nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa người sử dụng lao động, người lao động,
tổ chức, cá nhân có liên quan đến quan hệ sử dụng lao động Thông qua hợp đồng laođộng quyền và nghĩa vụ giữa người lao động và người sử dụng lao động được thiết lập,
là cơ sở để giải quyết các tranh chấp Ngoài ra, hợp đồng lao động còn là một trongnhững hình thức pháp lý để công dân thực hiện quyền làm chủ của mình, thể hiện ởviệc tự do lựa chọn công việc, nơi làm việc, mức lương phù hợp Nhà nước dựa vào hợpđồng lao động để quản lý nguồn nhân lực làm việc tại các công ty, cơ sở sản xuất Xuấtphát từ những nhu cầu và yêu cầu mới nảy sinh từ thực tiễn quan hệ lao động trong nềnkinh tế thị trường Tuy nhiên việc việc thiếu hiểu biết về hợp đồng lao động cũng nhưcách nhận diện nó sẽ gây ra thiệt hại không nhỏ, đặc biệt là đối với người lao động Vậynên, nhóm chúng em thực hiện nghiên cứu đề tài “Nhận diện hợp đồng lao động theo
Bộ luật Lao động năm 2019 ” cho Bài tập lớn trong chương trình học môn Pháp luậtViệt Nam Đại cương
2 Nhiệm vụ của đề tài
Để làm được điều đó chúng em phải làm rõ được lý luận về chế định hợp đồng lao độngtheo pháp luật lao động Việt Nam Trong đó, nhóm em sẽ nghiên cứu những vấn đề vềkhái niệm; đối tượng và phạm vi điều chỉnh của hợp đồng lao động; các loại hợp đồnglao động theo quy định pháp luật hiện hành.Từ lý luận về hợp đồng lao động chúng em
sẽ tập trung làm sáng tỏ đặc trưng của hợp đồng lao động để nhận diện trong thực tế.Tiếp đến là nghiên cứu thực tiễn xét xử của Toà án về hợp đồng lao động để nhận thấynhững bất cập giữa quy định của pháp luật và thực tiễn xét xử Và sau đó kiến nghịhoàn thiện pháp luật về chế định hợp đồng lao động
3 Bố cục tổng quát của đề tài
Bài báo cáo của nhóm em gồm có 2 chương:
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG THEO BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019
CHƯƠNG II: NHẬN DIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN ĐẾN KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT.
1
Trang 5PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG THEO BỘ LUẬT
LAO ĐỘNG NĂM 2019
1.1 Hợp đồng lao động và dấu hiệu nhận diện hợp đồng lao động
1.1.1 Khái niệm hợp đồng lao động
Theo quy định tại Điều 15 bộ luật lao động 2012 thì khái niệm hợp đồng lao động đượcquy định như sau:
Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
Khái niệm về hợp đồng lao động năm 2012 đã được chỉnh sửa và bổ sung và có những
ưu điểm so với những Bộ luật lao động các năm trước như sau:
-Về hình thức hợp đồng lao động (Điều 16):quy định rõ hợp đồng lao động được giaokết bằng văn bản và được làm thành 02 bản (bao gồm hợp đồng lao động với ngườigiúp việc gia đình) Riêng hợp đồng lao động dưới 3 tháng có thể bằng lời nói
- Bổ sung về nguyên tắc giao kết (Điều 17): Phải tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợptác và trung thực và tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật,thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội
-Quy định rõ việc ủy quyền giao kết hợp đồng lao động: chỉ có công việc theo mùa vụ,công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng thì nhóm người lao động mới có thể ủyquyền cho một người lao động trong nhóm để ký kết hợp đồng lao động bằng văn bảnthay vì quy định cũ, tất cả các hợp đồng lao động đều có thể ủy quyền cho một ngườilao động trong nhóm để ký
Tuy đã có những chỉnh sửa bổ sung, mang lại những thay đổi song khái niệm hợp đồnglao động 2012 vẫn còn nhiều bất cập và đã được chỉnh sửa ở luật lao động 2019
Khái niệm hợp đồng lao động theo Bộ luật lao động 2019:
Theo quy định tại điều 13 Bộ luật lao động 2019 thì khái niệm hợp đồng lao động đượcquy định như sau:
Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi
là hợp đồng lao động.
Từ khái niệm về hợp đồng lao động theo Bộ luật lao động 2019 ta thấy được rằng cácthỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng bao gồm nội dung việc làm có trả công, tiền lương,
2
Trang 6quản lý, điều hành, giám sát của một bên đều được coi là hợp đồng lao động.Đồngnghĩa, sắp tới đây, không còn phụ thuộc vào tên gọi loại hợp đồng hai bên ký kết để xácđịnh hợp đồng lao động mà khái niệm này đã được mở rộng hơn, tạo điều kiện thuận lợicho người lao động và người sử dụng lao động.
Về phương diện lịch sử, luật lao động ra đời sau luật dân sự Vì vậy, trước đó các vấn
đề pháp lí liên quan đến quan hệ lao động nói chung, hợp đồng trong lĩnh vực lao độngnói riêng được điều chỉnh bằng các quy định của luật dân sự Chính bởi vậy, trước đâytrong hệ thống pháp luật của nhiều nước (như Pháp, Đức, Trung Quốc ) hầu như xácđịnh hợp đồng lao động là môt loại của hợp đồng dân sự Chẳng hạn Điều 611 Bộ luậtdân sự năm 1896 của Đức quy định:
“Thông qua hợp đồng hai bên đã cam kểt thực hiện một hoạt động thì phải thực hiện hoạt động đó, còn bên kia cỏ nghĩa vụ trả thù lao theo thoả thuận”.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của khoa học luật lao động, quan hệ lao động cũng như nhận thức mới về sức lao động (với những yếu tố đặc thù) đã khiến cho quan niệm
về hợp đồng lao động trong khoa học pháp lí cũng như trong quy định của pháp luật cácnước đã có sự thay đổi Bên cạnh luật dân sự được coi là cơ sở pháp lí chung cho các quan hệ hợp đồng thì ngày nay quan hệ hợp đồng lao động còn được điều chỉnh bằng các quy định riêng trong luật lao động như Bộ luật lao động (Việt Nam), Luật Tiêu chuẩn lao động (Hàn Quốc, Nhật Bản ) đối với các nước phân chia hệ thống pháp luậtthành luật công và luật tư đều xếp quan hệ hợp đồng lao động thuộc lĩnh vực luật tư (như Đức, Pháp ) Hệ thống pháp luật Việt Nam tuy không phân chia theo hệ thống luật công và luật tư (mà chia theo hệ thống ngành luật)
Ở Úc hợp đồng lao động có thể bằng miệng, nhưng hợp đồng bằng văn bản đượckhuyến khích Ngoài ra, tất cả nhân viên mới phải được cung cấp Tuyên bố Thông tinCông việc Công bằng (hoặc, đối với những nhân viên bình thường, Tuyên bố Thông tinViệc làm Thông thường) chứa các điều khoản chính càng sớm càng tốt sau khi bắt đầulàm việc Một số nhân viên có công việc được trao các giải thưởng hiện đại - các công
cụ dựa trên luật công nghiệp quy định mức lương và điều kiện tối thiểu - có thể yêu cầumột tài liệu bằng văn bản (ví dụ: hợp đồng hoặc thư đề nghị) nêu rõ giải thưởng hiệnđại bao gồm họ và phân loại của họ Còn ở Pháp thỏa thuận lao động bằng văn bản rấtđược khuyến khích Một số loại hợp đồng lao động nhất định phải được lập thành vănbản (ví dụ: hợp đồng lao động có thời hạn, đại lý và bán thời gian) Hệ thống khoa họcluật lao động của Pháp cũng quan niệm:
“Hợp đồng lao động là sự thoả thuận theo đó một người cam kết sẽ tiến hành một hoạt động theo sự chỉ đạo của người khác, lệ thuộc vào người đó và được trả công’’.
Riêng ở Nhật Bản không yêu cầu phải có hợp đồng lao động bằng văn bản, nhưngngười sử dụng lao động phải cung cấp cho người lao động các điều khoản và điều kiệnlao động
3
Trang 7nhất định bằng văn bản Nếu người sử dụng lao động có nội quy làm việc, thì nội quylàm việc có thể đề cập đến nhiều điều khoản phải được đề cập trong văn bản để cungcấp cho người lao động Còn đối với Hàn Quốc theo Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động(LSA), tất cả người sử dụng lao động ở Hàn Quốc phải ký một thỏa thuận bằng văn bảnvới người lao động của họ, trong đó nêu chi tiết về các điều kiện làm việc khác, tiềnlương, giờ làm việc và thời gian giải lao, ngày nghỉ hàng tuần và nghỉ phép hàng nămđược trả lương Bất kỳ thỏa thuận nào không đáp ứng các tiêu chuẩn do LSA quy định
và các luật ràng buộc khác liên quan đến điều kiện làm việc sẽ vô hiệu nếu không đápứng được các yêu cầu pháp lý đó
1.1.2 Dấu hiệu nhận diện hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019
Bộ luật lao động 2019 đã bổ sung nhằm tăng cường khả năng nhận diện các hợp đồnglao động, một hợp đồng được gọi là hợp đồng lao động khi có đủ 3 dấu hiệu: làm việctrên cơ sở thỏa thuận; có trả lương, trả công; có sự quản lý, giám sát, điều hành của mộtbên
Một là, làm việc trên cơ sở thỏa thuận
Khi so sánh với hợp đồng dân sự thì về bản chất hợp đồng lao động là sự thỏa thuậngiữa người lao động và người sử dụng lao động.Thỏa thuận về các nội dung trong hợpđồng lao động phải đảm bảo theo nguyên tắc được trích tại Điều 15 Bộ luật lao động2019: Hợp đồng lao động phải được giao kết trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng,thiện chí, hợp tác và trung thực.Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không đượctrái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội
Hai là, đối tượng của hợp đồng lao động là việc làm có trả công
Hợp đồng lao động thực chất là hợp đồng mua bán sức lao động Người cung cấp sứclao động ở đây là người lao động và người có nhu cầu sử dụng sức lao động là người sửdụng lao động Tuy nhiên, đây là hợp đồng mua bán đặc biệt bởi sức lao động - đốitượng mua bán của hợp đồng là một loại “hàng hoá” đặc biệt Không giống như các loại
“hàng hoá” thông thường có thể nhìn thấy, sờ thấy, cầm được; sức lao động là “hànghoá” mà chúng ta không thể nhìn thấy, không thể cầm được và nó lại chỉ có thể có đượcthông qua quá trình lao động của người lao động Thông qua quá trinh lao động, ngườilao động chuyển giao hàng hoá sức lao động cho người sử dụng lao dộng và trên cơ sở
đó người sử dụng lao động trả công cho người lao động Quá trình lao động đó được thểhiện thông qua việc người lao động thực hiện một công việc nhất định và được là việclàm.Việc làm là đối tượng của hợp đồng lao động và là một trong những dấu hiệu quantrọng để nhận diện quan hệ lao động Để nhận diện có sự tồn tại của quan hệ lao độnghay không cũng như hợp đồng đó có phải là hợp đồng lao động hay không, người tathường xem trong quan hệ đó hay hợp đồng đó có “yếu tố việc làm” hay không Bởivậy, thông thường chỉ khi nào trong quan hệ đó, trong hợp đồng đó có “yếu tố việc
4
13/7/2021
Trang 8làm” thì quan hệ đó mới được xác định là quan hệ lao động và hợp đồng đó mới đượcxác định là hợp đồng lao động.(1)
Việc làm trong quan hệ lao động là việc làm có trả công, trả lương Yếu tố trả lương, trảcông được hiểu như sau: theo Điều 13 Bộ luật lao động 2019 quy định, chỉ cần ngườilao động làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, có thể thỏa thuận có thểtồn tại nhiều tên gọi khác nhau nhưng chỉ cần có yếu tố thể hiện nội dung việc làm cótrả lương.Về bản chất thì yếu tố trả công của hợp đồng lao động đã được hình thanhtrong quá trinh thực hiện hợp đồng, không phụ thuộc vào kết quả, lợi nhuận của người
sử dụng lao động, khác với hợp đồng dân sự phụ thuộc vào kết quả cuối cùng, lợi nhuậncảu người sử dụng lao động mới được trả công
Thứ ba, người lao động chịu sự quản lý, giám sát, điều hành của người sử dụng laođộng
Khi giao kết hợp đồng lao động, người lao động phải chịu sự quản lý, giám sát, điềuhành của người sự dụng lao động về thời gian làm việc, quá trình thực hiện hợp đồng,vềnội quy,…bởi vì người lao động thực hiện công việc trong hợp đồng và công việc đókhông mang tinh cá nhân mà là hoạt động của nhiều người lao động khác, quá trinh làmviệc của người lao động có thể ảnh hưởng đến nhiều lao động khác nên cần sự quản lýcủa người sử dụng lao động.Ngoài ra người sử dụng lao động là bên đầu tư vốn, trangthiết bị phục vụ cho công việc và người lao động là người sử dụng thiết bị thực hiệncông việc đó nên người sử dụng lao động có quyền kiểm soát, quản lý người laođộng.Đây là dấu hiệu đặc trưng của quan hệ lao động, nhằm phân biệt quan hệ lao độngvới các quan hệ dân sự khác.Quy định trên được hiểu nếu người lao động tham gia vàoquan hệ lao động theo thoả thuận với người sử dụng lao động thì bắt buộc phải tuântheo sự điều hành, chỉ đạo, hướng dẫn và có thể bị người sử dụng lao động xử lý bằngcác biện pháp, trách nhiệm kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất theo quy định củaĐiều 36 Bộ luật lao động
1.2 Đặc điểm hợp đồng lao động
1.2.1 Phân loại hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019
Theo quy định tại Điều 20 Bộ luật lao động năm 2019 về loại hợp đồng như sau:
Điều 20 Loại hợp đồng lao động
1 Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:
a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên khôngxác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng;
b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thờihạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong thời gian không quá 36 tháng kể
từ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng
2 Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều này hết hạn mà người laođộng vẫn tiếp tục làm việc thì thực hiện như sau:
5
13/7/2021
Trang 9a) Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kếthợp đồng lao động mới; trong thời gian chưa ký kết hợp đồng lao động mới thì quyền,nghĩa vụ và lợi ích của hai bên được thực hiện theo hợp đồng đã giao kết;
b) Nếu hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn mà hai bên không kýkết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
c) Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng lao động xác địnhthời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làmviệc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn, trừ hợp đồng lao độngđối với người được thuê làm giám đốc trong doanh nghiệp có vốn nhà nước và trườnghợp quy định tại khoản 1 Điều 149, khoản 2 Điều 151 và khoản 4 Điều 177 của Bộ luậtnày
Để phân chia các bản hợp đồng ta có rất nhiều tiêu chí, theo cách phân chia của Bộ luậtlao động năm 2019 chung ta có thể dễ dàng nhận thấy ở đây pháp luật đã phân loại cácbản hợp đồng dựa trên cơ sở về thời gian hiệu lực Về khía cạnh thời gian chúng ta cóthể dễ dàng chia nhỏ thành 2 loại chính đó là có thời hạn và không có thời hạn Do đótương ứng với từng loại ta có thể dễ dàng xác định 2 loại hợp đồng chính đó là hợpđồng lao động xác định thời hạn và hợp đồng không xác định thời hạn Như vậy, để dễdàng trong việc xác định hợp động lao động tương ứng với loại ta có thể chú ý vào thờihạn hợp động có hiệu lực, đây là một trong những cách phân loại mà nhóm em đánh giá
là rất tốt vì có thể giúp cho mọi cá nhân hay tổ chức dễ dàng trong việc phân loại cũngnhư xác định loại hợp động
Tuy nhiên để quyền và nghĩa vụ của người lao động (NLĐ), người sử dụng lao động(NSDLĐ) được bổ sung thêm, đảm bảo đầy đủ hơn và phù hợp với thực tiễn nước ta đã
có một đợt chỉnh sửa Bộ luật Lao động Cụ thể là Bộ luật Lao động năm 2019 đượcQuốc hội thông qua ngày 20/11/2019, Bộ luật gồm 17 Chương, 220 Điều và có hiệu lựcvào ngày 01/01/2021, thay thế Bộ luật Lao động năm 2012(2) Để nhận ra những sựkhác biệt giữa hai Bộ luật từ thấy được sự đẩy đủ cũng như chặt chẽ hơn của Bộ luậtLao động năm 2019, trước hết ta cần tìm hiểu về cách phân loại các loại hợp động laođộng theo Bộ Luật Lao động năm 2012 Theo quy định tại Điều 22 Bộ luật lao độngnăm 2012 về loại hợp đồng như sau:
Điều 22 Loại hợp đồng lao động
1 Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:
a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xácđịnh thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng
b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn;
6
13/7/2021
Trang 10Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thờihạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 thángđến 36 tháng.
c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới
12 tháng
2 Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn màngười lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồnglao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợpđồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều nàytrở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quyđịnh tại điểm c khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn vớithời hạn là 24 tháng
Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thìcũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải
ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn
3 Không được giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhấtđịnh có thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế người lao động đi làm nghĩa vụquân sự, nghỉ theo chế độ thai sản, ốm đau, tai nạn lao động hoặc nghỉ việc có tính chấttạm thời khác
Thông qua các phân loại các bản hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động năm 2012,
ta có thể thấy sự khác biệt lớn nhất giữa 2 bộ luật là cách phân loại các bản hợp đồng
Cụ thể ở Bộ luật Lao động năm 2012 các bản hợp đồng được chia thành 3 loại đó là hợpđồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợpđồng lao động theo mùa vụ Như vậy ở Bộ luật Lao động 2019 đã loại bỏ đi mất hợpđồng lao động theo mùa vụ trong đó lại thay đổi khái niệm về hợp đồng lao động xácđịnh thời hạn cụ thể ở Bộ luật năm 2012 “thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồngtrong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng” đã được thay đổi thành “thời điểmchấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong thời gian không quá 36 tháng kể từ thời điểm cóhiệu lực của hợp đồng” vào năm 2019 Sự thay đổi này có ý nghĩa rất lớn do nó đã khắcphục được một số thiếu sót của Bộ luật Lao động năm 2012 Một số lý dó dẫn đến sựthay đổi trong cách phân loại có thể được nhắc đến đó là “việc quy định không được kýkết HĐLĐ mùa vụ hoặc HĐLĐ có thời hạn dưới 12 tháng đối với công việc có tính chấtthường xuyên từ 12 tháng trở lên đã gây ra nhiều khó khăn trong quá trình triển khaithực hiện cũng như kiểm tra, quản lý và xử lý vi phạm do chưa có văn bản hướng dẫnthế nào là “công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên” Bên cạnh đó, tỷ lệHĐLĐ mùa vụ trên thực tế chiếm tỷ lệ rất thấp, chỉ khoảng 16,6% Mặt khác, theo quanđiểm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, việc quy định HĐLĐ mùa vụ là chưaphù hợp với nguyên tắc tự do thỏa thuận của người lao động và người sử dụng laođộng; đồng thời cũng chưa phù hợp với thực tế hiện nay khi nhiều doanh nghiệp vẫn
7
13/7/2021
Trang 11tìm cách lách luật để ký hợp đồng chuỗi”(3) Từ trích dẫn từ trang DTD &ASSOCIATES, ta có thể hiểu rằng việc xác định công việc có tính chất thường xuyên
từ 12 tháng trở lên gắp nhiều khó khăn và lỗ hổng và bên cạnh đó các công việc thời vụcũng chiếm tỉ trọng nhỏ nên việc thay đổi cách phân loại nhằm khắc phục một số bấtcập trong Bộ Luật Tuy nhiên để hiểu rõ vấn đề này hơn
ta có thể xem xét sự thay đổi trên một số khía cạnh khác nhau Thứ nhất, sau khi loại
bỏ hợp đồng lao động theo mùa vụ thì các công việc có tính mùa vụ hoặc có thời hạndưới
12 tháng, người lao động sẽ phải ký hợp động xác định thời hạn với người sự dụng laođộng Thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong thời gian không quá 36 tháng
kể từ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Bên cạnh đó, tại khoản 2 điều Điều 20 Bộluật Lao động quy định về cách xử lý sau khi hợp đồng lao động xác định thời hạnchấm dứt hiệu lực Thứ hai là sự ảnh hưởng của cách phân loại hợp đồng lao động đốivới người sử dụng lao động Do hợp đồng lao động thời vụ chỉ có thời hạn dưới 12tháng hoặc mang tính chất mùa vụ, do đó, việc sử dụng lao động thời vụ có thể giúpdoanh nghiệp đáp ứng được nguồn nhân lực ngắn hạn, tức thời, đảm bảo ổn định hoạtđộng sản xuất, kinh doanh Đồng thời, việc ký hợp đồng lao động thời vụ còn giúpdoanh nghiệp tiết kiệm không ít chi phí như tiền lương, bảo hiểm, trợ cấp, phụ cấp…cho người lao động trong giai đoạn kinh doanh khó khăn hoặc hết mùa cao điểm Vậynên, khi không còn hợp đồng lao động thời vụ, doanh nghiệp sẽ phải bỏ ra một khoảntiền lớn hơn cho cùng một công việc Thứ ba, ảnh hưởng đối với người lao động Thực
tế sự thay đổi này không ảnh hưởng lên quá nhiều đối với người lao động, dù ký kếthợp đồng thời vụ hay hợp đồng xác định thời hạn, người lao động vẫn có các quyền lợinhư: được hưởng trợ cấp thất nghiệp; được hưởng đầy đủ các chế độ thai sản, chế độhưu trí, tai nạn lao động, ; vẫn phải chịu thuế thu nhập cá nhân đối với các khoản thunhập từ tiền lương, tiền công;… Từ đó nhóm chúng em có đưa ra một số nhận định vềcách sửa đổi này Việc chỉnh sửa về cách phân loại ta thấy được sự tiến bộ trong hoạtđộng lập pháp của Việt Nam Những thay đổi của Bộ luật Lao động năm 2019 khôngnhững kế thừa những điều tốt đẹp của Bộ luật năm 2012 mà còn hạn chế được những lỗhổng pháp lý để từ đó bảo vệ quyền và lợi ích của người sử dụng lao động và người laođộng
1.2.2 Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động
Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động được nêu rõ tại Điều 15 Bộ luật Lao động năm2019:
Điều 15 Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động
1 Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực
2 Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước laođộng tập thể và đạo đức xã hội
8
13/7/2021