1. Trang chủ
  2. » Tất cả

TÀI LIỆU ÔN HSG VAN 9

47 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài liệu ôn thi HSG Ngữ Văn 9
Tác giả Nguyễn Đình Vương
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Tài liệu ôn thi học sinh giỏi
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 462 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VĂN HỌC TRUNG ĐẠI CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG TRUYỆN KIỀU LH 0988 126 458 47 – Mời qúy thầy cô tham gia vào nhóm Tài liệu ôn thi hsg ngữ văn 6 7 8 9 để tải bài cho tiện nhé (Bộ 9 200 đề hơn 900 tra[.]

Trang 1

Mời qúy thầy cô tham gia vào nhóm: Tài liệu ôn thi hsg ngữ văn 6.7.8.9 để tải bài cho

tiện nhé(Bộ 9: 200 đề hơn 900 trang, Tặng TL ôn 570 Tr, GA 5,phụ đạo, đề đọc hiểu ngoài sgk, bộ nlxh,

cách viết mở bài các dạng đề)CẤU TRÚC MỘT ĐỀ HỌC SINH GIỎI THƯỜNG GẶP

A.DẠNG ĐỀ CÓ PHẦN ĐỌC HIỂU.

1 Các văn bản trong phần đọc hiểu thường lấy ngữ liệu ở đâu?những khía cạnh nào?

Ngữ liệu đọc hiểu là 1 đoạn văn bản có thể thuộc bất cứ loại văn bản nào, từ văn bản khoa học, báo chí, nghị luận, đến văn bản nghệ thuật… miễn là văn bản ấy được viết bằng ngôn từ Các văn bản ấy có thể trong hoặc không nằm trong chương trình đã học hay trong SGK mà hoàn toàn mới lạ Các văn bản này thường được lấy từ nhiều nguồn, như các tài liệu tham khảo dành cho học sinh, tác phẩm của các tác giả nổi tiếng, các bài báo hay các công trình nghiên cứu có ý nghĩa

Các em nên chú ý đến các văn bản có liên quan, hoặc đề cập đến các vấn đề sau: bảo vệ văn hóa dân tộc; thói sùng ngoại, bài ngoại, thói tham ô lãng phí; biển đảo và trách nhiệm của thế

hệ trẻ với biển đảo của đất nước …thực phẩm bẩn đang đầu độc người dân ý thức con người

về biến đổi khí hậu; ngập mặn, hạn hán ,vai trò của nguồn nước trong cuộc sống, lòng tự trọng, lòng nhân ái khoan dung, lí tưởng, lẽ sống, phẩm chất, sự thành đạt của tuổi trẻ, nghị lực sống của con người, cho và nhận…… (qua các vấn đề thường nhật,câu chuyện, tấm gương) … …

2.Những kiểu câu hỏi thường sử dụng ở phần Đọc hiểu

- Ở dạng câu hỏi nhận biết: Thường hỏi xác định phương thức biểu đạt, tìm từ ngữ, hình ảnh,

xác định cách trình bày văn bản…

- Ở dạng câu hỏi hiểu: Thường hỏi học sinh hiểu như thế nào về một câu nói trong văn bản;

hỏi theo học sinh thì vì sao tác giả lại cho rằng, nói rằng…(kiểu hỏi này là để xem học sinh và tác giả có đồng quan điểm hay không); Kiểu câu hỏi theo tác giả… Ba kiểu hỏi này thường lặp

đi lặp lại.

- Ở dạng câu hỏi vận dụng: Thường yêu cầu học sinh rút ra thông điệp có ý nghĩa, điều tâm

đắc hoặc chỉ ra những việc làm cụ thể của bản thân.

* Phần đọc hiểu

- Đề bài người ta thường đưa một khổ thơ hoặc một đoạn và yêu cầu học sinh đọc và trả lời các câu hỏi.

- Các câu hỏi thường gặp:

+Xác định thể thơ, kiểu bài

+Nội dung chính của khổ thơ,đoạn trích là gì? (Câu chủ đề của đoạn trích là gì – với đoạn văn) +Chỉ ra các biện pháp nghệ thuật được sử dụng chủ yếu trong khổ thơ, đoạn trích? Tác dụng của chúng?

Trang 2

* VÍ DỤ:

2.1 Với thơ

- Câu hỏi 1:

+ Xác định thể thơ bằng cách đếm số chữ trong từng câu thơ Thông thường trong bài người

ra đề sẽ cho vào các thể thơ bốn chữ/ năm chữ/ bảy chữ/ lục bát

+ Các thể thơ trung đại như thất ngôn bát cú (7 chữ/ câu, 8 câu/bài), thất ngôn tứ tuyệt (7 chữ/ câu, 4 câu/ bài)… xác định bằng cách đếm số chữ trong một câu và số câu trong một

bài (Các thể thơ thuộc giai đoạn trung đại trong đề thường ít cho nhưng phải nắm được cách

xác định)

+ Xác định phương thức biểu đạt.

- Câu hỏi 2: Đưa nội dung chính của khổ thơ, tức là dụng ý cuối cùng của tác giả.

- Câu hỏi 3 : Các biện pháp tu từ từ vựng và các biện pháp nghệ thuật, giá trị biểu đạt của các BPTT trong đoạn thơ.

- Câu hỏi 4: (NLXH) Trình bày suy nghĩ của em về vấn đề được gợi ra từ nội dung đoạn thơ hay ý thơ

B.Dạng đề nghị luận về một vấn đề gợi ra từ một bức tranh hoặc hình ảnh

Đây là dạng đề thường xuất hiên trong các đề thi những năm gần đây, nhất là trong các kì thi Olimpic Đề thi có sự khác biệt, không chỉ là văn bản ngôn từ mà có thêm hình ảnh Trong cuộc sống, việc đọc hiểu rất đa dạng, đa phương thức như sơ đồ, bảng biểu…Xu hướng ra đề thi đa dạng, ra đề bằng hình ảnh không hề xa lạ trong đề khảo sát năng lực đọc hiểu của hs

Tùy vào năng lực và trải nghiệm của học sinh mà mỗi người sẽ có cách trình bày quan điểm khác nhau Cấu trúc bài làm cần linh hoạt sử dụng một trong các dạng trên Tuy nhiên, cái khó của dạng đề này là thường gợi mở nhiều vấn đề, người viết do đó cần có năng lực khái quát thành một vấn đề chung nhất, bao quát nhất, đồng thời phải có bản lĩnh khi nghị luận về vấn đề.

Người học có thể đọc thông điệp theo nhiều hướng khác nhau mà đáp án không hề khuôn mẫu hay áp đặt hệ thống ý có trước, miễn là luận giải theo hướng tích cực phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật Ở đây, không chỉ đánh giá năng lực đọc hiểu mà còn là năng lực làm văn của người học, nên tùy đối tượng học sinh sẽ có cách phân tích vấn đề khác nhau Vì thế, hoàn toàn phù hợp để kiểm tra dành cho học sinh giỏi.

1.Bày tỏ suy nghĩ của anh chị về bài học cuộc sống rút ra từ bức tranh.

* Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần nghị luận:

* Thân bài: Giải quyết vấn đề:

– Trình bày cách hiểu về bức tranh:

Trang 3

⇒ Ý nghĩa của bức tranh: Phần này thí sinh có thể rút ra nhiều bài học khác nhau nhưng phải

có lập luận thuyết phục.

– Bàn luận:

– Liên hệ bản thân, rút ra bài học:

* Kết bài: Kết thúc vấn đề: Khẳng định ý nghĩa và tầm quan trọng của hành động.

2.3.Cách làm bài văn nghị luận mang tính đối thoại, bộc lộ suy nghĩ riêng về vấn đề đặt

ra từ nội dung câu chuyện.

1 Dan bai g i y: ơ

Đây là dạng đề mới nhất thường được lựa chọn trong một vài năm gần đây Dạng đề này lại thường thiên về bộc lộ suy nghĩ, quan điểm về một vấn đề thiên về hiện tượng đời sống Cấu trúc làm bài có thể cụ thể hóa như sau:

* Mở bài: Giới thiệu vấn đề

* Thân bài:

1 Giải thích vấn đề:

2 Trao đổi, bàn luận, đối thoại (phần này phụ thuộc vào nhận thức và sự hiểu biết của bản thân, nhận thức và đánh giá vấn đề đó đúng/sai,phải/trái, đồng tình/không đồng tình…)

3.Trình bày quan điểm sống của bản thân (gần với bài học nhận thức và hành động).

Kết bài: Đánh giá chung về vấn đề

C NGHỊ LUẬN VĂN HỌC: ĐỐI VỚI ĐỀ THI HSG VĂN 9 THƯỜNG RA DƯỚI DẠNG PHÂN TÍCH, LÀM SÁNG TỎ MỘT Ý KIẾN, MỘT NHẬN ĐỊNH.

CẤU TRÚC MỘT BÀI NGHỊ LUẬN PHÂN TÍCH MỘT Ý KIẾN, NHẬN ĐỊNH

Dàn ý của dạng bài giải quyết một vấn đề lí luận văn học:

Dàn ý chung phần thân bài như sau:

Thao tác Nội dung Mức độ tư duy:

1 Mở bài: Tùy theo yêu cầu của đề để có những hướng tiếp cận mở bài khác nhau.

2 Thân bài:

2.1 Giải thích:

– Giải thích các thuật ngữ, các từ ngữ, hình ảnh khó hiểu trong nhận định.

– Chốt vấn đề nghị luận: Như vậy, vấn đề cần bàn ở đây là gì? (Đọc – Hiểu)

22 Bàn luận:

– Sử dụng các kiến thức lí luận văn học để lí giải vấn đề nghị luận.

– Trả lời cho câu hỏi “vì sao?” (Vận dụng Tổng hợp)

Trang 4

– Đánh giá tính đúng đắn của vấn đề nghị luận.

– Bổ sung, phản biện lại vấn đề (Nếu có) (Đánh giá)

Yêu cầu về kĩ năng (1đ)

– Biết cách làm bài nghị luận văn học; bố cục và cách trình bày hợp lí.

– Hệ thống ý (luận điểm) rõ ràng và được triển khai tốt; dẫn chứng phù hợp.

– Diễn đạt suôn sẻ; mắc ít lỗi chính tả, dùng từ và ngữ pháp.

Yêu cầu về nội dung (11,0đ)

(Học sinh có thể sắp xếp, trình bày theo nhiều cách nhưng cần hướng tới nội dung cơ bản sau):

Mở bài.

Giới thiệu vấn đề nghị luận, trích dẫn ý kiến.

Thân bài:

Giải thích (3đ)

Trang 5

– Thơ hay là bữa tiệc ngôn từ: ý nói cái hay của bài thơ trước hết là nhờ cái hay của ngôn từ (sống động, phong phú…), giống như sự hấp dẫn của những ”món ăn” ngon bằng ngôn từ – Gốc của thơ là tình cảm: nhấn mạnh tư tưởng tình cảm là then chốt quyết định giá trị của một bài thơ.

=>Hai ý kiến là hai cách định nghĩa về thơ có sự nối tiếp những quan niệm trước đó Một bên khẳng định sức mạnh của thơ là ở ngôn từ, một bên khẳng định sức mạnh của thơ nằm ở tư tưởng, tình cảm chứ không phải ở ngôn từ.

* Lý giải,Khẳng định tính đúng đắn của vấn đề (6đ )

– Nói thơ hay là bữa tiệc ngôn từ bởi vì: một bài thơ ngôn ngữ trúc trắc, sáo rỗng, tầm

thường thì không thể gọi là thơ hay Ngược lại, bài thơ hay là khi nó bày ra trước độc giả một

“bữa tiệc ngôn từ”, với những ngôn từ được nhà thơ công phu lựa chọn, tổ chức, biến nó từ lời bình thường trở thành nghệ thuật {vừa thể hiện tâm hồn thi nhân; vừa chính xác hàm súc; vừa

có dấu ấn riêng của tác giả }.

– Gốc của thơ là tình cảm bởi vì: thơ là chuyện của tâm hồn, của lòng người cho nên việc thể

hiện tất cả mọi vui buồn trong cuộc đời là một nhu cầu bức thiết của thơ Hơn nữa tình cảm ấy thường tiêu biểu, điển hình, khơi dậy trong trái tim người đọc những rung động sâu xa, những cảm xúc thẩm mĩ tuyệt vời.

–=>Mỗi ý kiến đều xác đáng nhưng chưa toàn diện, chưa khái quát được đặc trưng thơ ca vì: + Nếu người nghệ sĩ chỉ chú ý rèn câu đúc chữ mà không chú ý đến nội dung tư tưởng của tác phẩm thì sáng tác thơ ca chỉ là những kỹ xảo vờn vẽ, là lối thơ chuộng hình thức Thơ ca chỉ neo đậu vững chắc trong bạn đọc khi nó có nội dung tư tưởng sâu sắc, hình thức thể hiện độc đáo.

+ Gốc của thơ là tình cảm, sức sống của thơ là tư tưởng, nhưng các nhà thơ từ xưa đến nay nếu không muốn lặp lại người khác và lặp lại chính mình thì quá trình sáng tác đòi hỏi người nghệ

sĩ phải tìm đến “bữa tiệc ngôn từ”.

=>Tóm lại một tác phẩm hay,có giá trị phải đầy đủ hai yếu tố:bữa tiệc ngôn từ và gốc của thơ

ca là tình cảm.Bài thơ về tiểu đội xe không kính hội tụ cả hai yếu tố đó.

* Phân tích, chứng minh.

Luận điểm1 Bài thơ về tiểu đôi xe không kính là bữa tiệc ngôn từ.

- Nhan đề bài thơ khá dài,thu hút người đọc ở vẻ mới lạ, độc đáo.

+Bài thơ có cách đặt đầu đề hơi lạ Bởi rõ ràng đây là một bài thơ, vậy mà tác giả lại ghi là

“bài thơ” - cách ghi như thế có vẻ hơi thừa Lẽ thứ hai là hình ảnh tiểu đội xe không kính Xe không kính tức là xe hỏng, không hoàn hảo, là những chiếc xe không đẹp, vậy thì có gì là thơ.

Vì đã nói đến thơ, tức là nói đến một cái gì đó đẹp đẽ, lãng mạn, bay bổng Vậy, đây rõ ràng là một dụng ý nghệ thuật của Phạm Tiến Duật Dường như, tác giả đã tìm thấy, phát hiện, khẳng định cái chất thơ, cái đẹp nằm ngay trong hiện thực đời sống bình thường nhất, thậm chí trần trụi, khốc liệt nhất, ngay cả trong sự tàn phá dữ dội, ác liệt của chiến tranh.

+Tiếp đến là hình ảnh độc đáo, gây ấn tượng mạnh là những chiếc xe không kính Từ bài thơ

có vẻ như hơi thừa, nhưng thực ra từ đó lại nằm trong chủ định của tác giả và tạo nên sự liên kết giữa hai sự vật có vẻ xa lạ nhau: “bài thơ” và “xe không kính” Xe không kính thì chẳng có

gì làm nên thơ cả, vậy mà nó đã trở thành hình ảnh trung tâm của một bài thơ Tác giả đã tìm

Trang 6

ra chất thơ ở những điều tưởng chừng rất khô khan, trần trụi Đó chính là chất thơ từ hiện thực gian khổ, ác liệt ở nơi chiến trường.

=>Chính chất liệu chân thực từ cuộc sống ấy đã làm nên sức sống lâu bền của bài thơ Cách đặt nhan đề tự nhiên thể hiện sâu sắc phong cách thơ Phạm Tiến Duật: tinh nghịch, sôi nổi, tràn đầy niềm tin vào cuộc sống và chiến đấu Tác giả đã tìm thấy, phát hiện và khẳng định cái chất thơ, cái đẹp nằm ngay trong hiện thực đời sống bình thường nhất Thậm chí trần trụi, khốc liệt nhất, ngay cả trong sự tàn phá dữ dội, ác liệt của chiến tranh Đó cũng là bút pháp của nền văn học kháng chiến chiến chống Mĩ cứu nước, vừa tự nhiên, sôi động vừa đậm chất

“Không có kính không phải vì xe không có kính”

=>Ngôn ngữ và giọng điệu ấy rất phù hợp với việc khắc họa hình ảnh những chiến sĩ lái xe trẻ trung hiên ngang, bất chấp nguy hiểm, khó khăn Đó là những người lính tươi trẻ, yêu cuộc đời, yêu đất nước, tinh thần tràn đầy niềm tin tưởng, quyết chiến đấu, hi sinh vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

+Lời thơ tự nhiên đến mức buộc người ta phải tin ngay vào sự phân bua của các chàng trai lái

xe dũng cảm Chất thơ của câu thơ này hiện ra chính trong vẻ tự nhiên đến mức khó ngờ của ngôn từ Phạm Tiến Duật đã không hề cầu kì hay thi vị hóa đơn điệu hình ảnh những chiếc xe không kính và hình tượng người lính lái xe Bởi với ông, cuộc đời ấy đã quá đẹp, rất thơ, rất mạnh mẽ, không cần tô vẽ gì mà vẫn tỏa sáng.

+Tác giả còn kết hợp linh hoạt thể thơ 7 chữ và 8 chữ, tạo cho bài thơ có điệu thơ gần với lời nói tự nhiên, sinh động và linh hoạt trong nghệ thuật biểu hiện Những yếu tố về ngôn ngữ và giọng điệu bài thơ đã góp phần trong việc khắc họa hình ảnh người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn một cách chân thực và sinh động.

+Điệp ngữ “lại đi” và hình ảnh “trời xanh thêm” tạo âm hưởng thanh thản, nhẹ nhàng, thể hiện niềm lạc quan, tin tưởng của người lính về sự tất thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ Câu thơ trong vắt như tâm hồn người chiến sĩ, như khát vọng, tình yêu họ gửi lại cho cuộc đời.

Trang 7

=>Những câu thơ giản dị như lời nói thường, với giọng điệu thản nhiên, ngang tàn, hóm hỉnh Cấu trúc:“không có…”; “ừ thì…”, “chưa cần” được lặp đi lặp lại, các từ ngữ “phì phèo”,”cười

ha ha”,”mau khô thôi”… làm nổi bật niềm vui, tiếng cười của người lính cất lên một cách tự nhiên giữa gian khổ,hiểm nguy của cuộc chiến đấu Ở họ, những trở ngại của thiên nhiên và điều kiện chiến đấu không thể làm họ sờn lòng Ngược lại, nó càng làm cho họ thêm hứng thú, quyết tâm vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Nghệ thuật đảo ngữ với từ láy “ung dung” được đảo lên đầu câu thứ nhất và nghệ thuật điệp ngữ với từ“nhìn” được nhắc đi nhắc lại trong câu thơ thứ hai Lời thơ nhấn mạnh tư thế ung dung, bình tĩnh, tự tin của người lính lái xe Cuộc sống chiến đấu của người lính tràn đầy niềm vui ngay trong hoàn cảnh khắc nghiệt, hiểm nguy.

=>Qua nghệ thuật biểu hiện, tác giả đã tìm thấy, phát hiện, khẳng định cái chất thơ, cái đẹp nằm ngay trong hiện thực đời sống bình thường nhất, thậm chí trần trụi, khốc liệt nhất, ngay cả trong sự tàn phá dữ dội, ác liệt của chiến tranh.

Luận điểm2 Gốc của thơ là tình cảm,trong bài thơ về tiểu đội xe không kính còn thể hiện ở sự ngợi ca ngợi những vẻ đẹp tâm hồn người lính.

_ Tư thế ung dung, hiên ngang, bình tĩnh, tự tin:

+ Những câu thơ tả thực, chính xác đến từng chi tiết Không có kính chắn gió, bảo hiểm, xe lại chạy nhanh nên người lái phải đối mặt với bao khó khăn nguy hiểm: nào là “gió vào xoa mắt đắng”, nào là “con đường chạy thẳng vào tim”, rồi “sao trời”, rồi “cánh chim” đột ngột, bất ngờ như sa, như ùa- rơi rụng, va đập, quăng ném vào buồng lái, vào mặt mũi, thân mình Dường như chính nhà thơ cũng đang cầm lái, hay ngồi trong buồng lái của những chiếc xe không kính nên câu chữ mới sinh động và cụ thể, đầy ấn tượng, gợi cảm giác chân thực đến thế.

+ Cảm giác, ấn tượng căng thẳng, đầy thử thách Song người chiến sĩ không run

sợ, hoảng hốt, trái lại tư thế các anh vấn hiên ngang, tinh thần các anh vẫn vững vàng “ung dung nhìn thẳng Hai câu thơ “ung dung thẳng” đã nhấn mạnh

tư thế ngồi lái tuyệt đẹp của người chiến sĩ trên những chiếc xe không kính Đảo ngữ “ung dung” với điệp từ “nhìn” cho ta thấy cái tư thế ung dung, thong thả, khoan thai, bình tĩnh, tự tin của người làm chủ, chiến thắng hoàn cảnh Bầu không khí căng thẳng với “Bom giật, bom rung”, vậy mà họ vẫn nhìn thẳng, cái nhìn hướng về phía trước của một con người luôn coi thường hiểm nguy Nhịp thơ 2/2/2 với những dấu phẩy ngắt khiến âm điệu câu thơ trở nên chậm rãi, như diễn tả thái độ thản nhiên đàng hoàng Với tư thế ấy, họ đã biến những nguy hiểm trở ngại trên đường thành niềm vui thích Chỉ có những người lính lái xe với kinh nghiệm chiến trường dày dạn, từng trải mới có được thái độ, tư thế như vậy.

⇒ Vậy đấy, hai khổ thơ mở đầu tả thực những khó khăn gian khổ mà những người chiến sĩ lái

xe Trường Sơn đã trải qua Trong khó khăn, các anh vẫn ung dung, hiên ngang bình tĩnh nêu cao tinh thần trách nhiệm, quyết tâm gan góc chuyển hàng ra tiền tuyến.

Trang 8

Không có kính chắn gió, bảo hiểm, đoàn xe vẫn lăn bánh bình thường Lời thơ nhẹ nhõm, trôi chảy như những chiếc xe vun vút chạy trên đường.

-Thái độ bất chấp khó khăn, coi thường gian khổ, tinh thần lạc quan hồn nhiên, yêu đời của người lính trẻ.

- Nếu như hai khổ trên là những cảm giác về những khó khăn thử thách dù sao cũng vẫn mơ hồ thì đến đây, thử thách, khó khăn ập tới cụ thể, trực tiếp Đó là

“bụi phun tóc trắng” và “mưa tuôn xối xả” (gió, bụi, mưa tượng trưng cho gian khổ thử thách ở đời) Trên con đường chi viện cho miền Nam ruột thịt, những người lính đã nếm trải đủ mùi gian khổ.

+ Trước thử thách mới, người chiến sĩ vẫn không nao núng Các anh càng bình tĩnh, dũng cảm hơn “mưa tuôn, mưa xối xả”, thời tiết khắc nghiệt, dữ đội nhưng đối với họ tất cả chỉ “chuyện nhỏ”, chẳng đáng bận tâm, chúng lại như đem lại niềm vui cho người lính.Chấp nhận thực tế, câu thơ vẫn vút lên tràn đầy niềm lạc quan sôi nổi: “không có kính ừ thì có bụi, ừ thì ướt áo” Những tiếng “ừ thì” vang lên như một thách thức, một chấp nhận khó khăn đầy chủ động, một thái độ cứng cỏi Dường như gian khổ hiểm nguy của chiến tranh chưa làm mảy may ảnh hưởng đến tinh thần của họ, trái lại họ xem đây là một dịp để thử sức mình như người xưa xem hoạn nạn khó khăn để chứng tỏ chí làm trai.

+ Sau thái độ ấy là những tiếng cười đùa, những lời hứa hẹn, quyết tâm vượt gian khổ hiểm nguy:”Chưa cần rửa khô mau thôi” Cấu trúc câu thơ vẫn cân đối, nhịp nhàng theo nhịp rung cân đối của những bánh xe lăn Câu thơ cuối 7 tiếng cuối đoạn có đến 6 thanh bằng “mưa ngừng gió lùa khô mau thôi” gợi cảm giác nhẹ nhõm, ung dung rất lạc quan, rất thanh thản Đó là khúc nhạc vui của tuổi 18 – 20 hoà trong những hình ảnh hóm hỉnh: “phì phèo châm điếu thuốc – nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” ý thơ rộn rã, sôi động như sự sôi động hối hả của đoàn xe trên đường đi tới Những vần thơ ít chất thơ nhưng càng đọc thì lại càng thấy thích thú, giọng thơ có chút gì nghịch ngợm, lính tráng Ta nghe như họ đương cười đùa, tếu táo với nhau vậy Có lẽ với những năm tháng sống trên tuyến đường Trường Sơn, là một người lính thực thụ đã giúp Phạm tiến Duật đưa hiện thực đời sống vào thơ ca – một hiện thực bộn bề, một hiện thực thô tháp, trần trụi, không hề trau chuốt, giọt rũa Đấy phải chăng chính là nét độc đáo trong thơ Phạm Tiến Duật Và những câu thơ gần gũi với lời nói hàng ngày ấy càng làm nổi bật lên tính cách ngang tàng của những anh lính trẻ hồn nhiên, yêu đời, trẻ trung Đó cũng là một nét rất ấn tượng của người lính lái xe Trường Sơn Cái cười sảng khoái vô tư, khác với cái cười buốt giá trong bài thơ “Đồng chí”, nụ

Trang 9

cười hồn nhiên ấy rất hiếm khi gặp trong thơ ca chống Pháp, nụ cười ngạo nghễ của những con người luôn luôn chiến thắng và tràn đầy niềm tin.

Tình đồng chí, đồng đội thắm thiết.

- Sau mỗi trận mưa bom bão đạn cùng với những chiếc xe bị tàn phá nặng nề hơn, họ lại gặp nhau trong những phút dừng chân ngắn ngủi tạo thành một “tiểu đội xe không kính” – tiểu đội những chàng trai lái xe quả cảm, hiên ngang mà hồn nhiên tinh nghịch Hình tượng người chiến sĩ lái xe thêm một nét đẹp nữa về tâm hồn và tình cảm Đấy là tình cảm gắn bó, chia sẻ ngọt bùi của những chàng trai vui vẻ, sôi nổi, yêu đời Cái bắt tay độc đáo là biểu hiện đẹp đẽ ấm lòng của tình đồng chí, đồng đội đầy mộc mạc nhưng thấm thía : “bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”, cái bắt tay thay cho lời nói Chỉ có những người lính, những chiếc xe thời chống Mĩ mới có thể có những cái bắt tay ấy, một chi tiết nhỏ nhưng mang dấu

ấn của cả một thời đại hào hùng.

- Lúc cắm trại, các anh trò chuyện, ăn uống, nghỉ ngơi thoải mái, xuềnh xoàng, nhường nhịn nhau như anh em ruột thịt: chung bát,chung đũa, mắc võng chông chênh chỉ trong một thoáng chốc Tình cảm gia đình người lính thật bình dị, ấm

áp thân thương tạo nên sức mạnh, nâng bước chân người lính để rồi các anh lại tiếp tục hành quân: “Lại đi lại đi trời xanh thêm”, đi đến thắng lợi cuối cùng.Trong tâm hồn họ, trời như xanh thêm chứa chan hi vọng lạc quan dào dạt Câu thơ bay bay, phơi phới, thật lãng mạn, thật mộng mơ Nhịp điệu câu thơ vừa sôi nổi, vừa nhịp nhàng cùng với điệp từ “lại đi” được lặp lại hai lần gợi tả nhịp sống chiến đấu và hành quân của tiểu đội xe không kính mà không một sức mạnh đạn bom nào có thể ngăn cản nổi Sự sống không chỉ tồn tại mà còn tồn tại trong một tư thế kiêu hãnh, hiên ngang – tư thế của người chiến thắng.

- Lòng yêu nước, nhiệt huyết của tuổi trẻ quyết tâm giải phóng miền nam…

Hai câu đầu là hình ảnh những chiếc xe không còn nguyên vẹn về phương tiện kĩ thuật, dồn dập những mất mát, khó khăn do quân địch gieo xuống, do đường trường gây ra: những chiếc xe bị hư hỏng nhiều hơn “không kính, không mui, không đèn, thùng xe có xước ” và biết bao chiến sĩ đã dũng cảm hi sinh Ấy vậy

mà những chiếc xe mang trên mình đầy thương tích đó lại như những chiến sĩ kiên cường vượt lên trên bom đạn, hăm hở lao ra tiền tuyến với một tình cảm thiêng liêng:

“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim”

Trang 10

- Vậy là đoàn xe đã chiến thắng, vượt lên bom đạn, hăm hở tiến ra phía trước, hướng ra tiền tuyến lớn với một tình cảm thiêng liêng “vì Miền Nam”, vì cuộc chiến đấu giành độc lập thống nhất đất nước đang vẫy gọi Bởi vì trong những chiếc xe đó lại nguyên vẹn một trái tim dũng cảm Hình ảnh trái tim là một hình ảnh hoán dụ tuyệt đẹp gợi ra biết bao ý nghĩa Trái tim là hình ảnh hội tụ vẻ đẹp tâm hồn và phẩm chất của người chiến sĩ lái xe Trái tim nồng cháy một lẽ sống cao đẹp và thiêng liêng: tất cả vì Miền Nam thân yêu, trái tim chứa đựng bản lĩnh hiên ngang, lòng dũng cảm tuyệt vời Trái tim mang tinh thần lạc quan và một niềm tin mãnh liệt vào ngày thống nhất Bắc Nam Thì ra cội nguồn sức mạnh của

cả đoàn xe, gốc rễ, phẩm chất anh hùng của người cầm lái tích tụ, đọng kết lại ở cái “trái tim” gan góc, kiên cường, giàu bản lĩnh và chan chứa tình yêu thương này Nhà văn đã tô đậm những cái “không” để làm nổi bật cái “có” để làm nổi bật chân lí của thời đại: bom đạn, chiến tranh có thể làm méo mó những chiếc xe, huỷ hoại những giá trị vật chất nhưng không thể bẻ gẫy được những giá trị tinh thần cao đẹp….để rồi một nước nhỏ như Việt Nam đã chiến thắng một cường quốc lớn.

⇒ Điệp ngữ “không có”, các từ ngữ tương ứng “vẫn … chỉ cần có” đã làm cho giọng thơ, ý thơ trở nên mạnh mẽ, hào hùng Vẫn là cách nói thản nhiên ngang tàng của lính nhưng câu thơ lại lắng sâu một tinh thần trách nhiệm và có ý nghĩa như một lời thề thiêng liêng Quyết tâm chiến đấu và chí khí anh hùng của người lính không có đạn bom nào của kẻ thù có thể làm lay chuyển được.

Tác phẩm đích thực là sự kết hợp của hai yếu tố trên {bữa tiệc ngôn từ và tình cảm} mới có thể tạo nên sự xuất thần cho thơ.Nhà thơ không ngừng trải nghiệm lắng nghe rung cảm của đời

để tạo được cái gốc tình cảm cho thơ, và không ngừng mài dũa để thực sự trở thành bậc thầy

về ngôn từ.Người tiếp nhận phải sáng suốt linh hoạt, không nên cực đoan trong tiếp nhận một quan niệm mà đi đến phủ nhận những quan điểm còn lại.

- Bài học đối với người tiếp nhận:hiểu hơn về hoàn cảnh của cuộc kháng chiến, vẻ đẹp của người lính, niềm tự hào……

Kết bài: Khẳng định, đánh giá lại ý kiến

Trang 11

Lí luận văn học và cách làm bài văn dạng đề lí luận văn học

1.Kiến thức lí luận văn học nằm ở đâu trong bài làm nghị luận văn học?

Có thể tạm chia các đề NLVH thường gặp hiện nay thành ba cấp độ:

Yêu cầu đề Đề minh họa:

Phân tích các yếu tố trong tác phẩm văn học để làm rõ một yêu cầu nào đó

–Phân tích giá trị nhân đạo

–Phân tích chất thơ trong truyện ngắn

Dàn ý chung phần thân bài như sau:

Thao tác Nội dung Mức độ tư duy:

1 Mở bài: Tùy theo yêu cầu của đề để có những hướng tiếp cận mở bài khác nhau.

2 Thân bài:

2.1 Giải thích:

Trang 12

– Giải thích các thuật ngữ, các từ ngữ, hình ảnh khó hiểu trong nhận định.

– Chốt vấn đề nghị luận: Như vậy, vấn đề cần bàn ở đây là gì? (Đọc – Hiểu)

22 Bàn luận:

– Sử dụng các kiến thức lí luận văn học để lí giải vấn đề nghị luận.

– Trả lời cho câu hỏi “vì sao?” (Vận dụng Tổng hợp)

– Đánh giá tính đúng đắn của vấn đề nghị luận.

– Bổ sung, phản biện lại vấn đề (Nếu có) (Đánh giá)

Giới thiệu khái quát đặc điểm của nhân vật….

Chuyển ý….

Thân bài :

Trang 13

Trước khi đi vào phân tích đặc điểm của nhân vật, ta có thể giới thiệu đôi nét hoàn cảnh xuất hiện của nhân vật.

Lần lượt phân tích từng đặc điểm của nhân vật Ta có thể sắp xếp theo một trình tự sau :

1/ Nêu đặc điểm 1 của nhân vật (luận điểm 1)

Ta cứ tiến hành tuần tự như vậy cho đến hết các đặc điểm của nhân vật …

Đánh giá chung về nhân vật : (hs có thể lồng vào trong quá trình phân tích trên)

Gợi ý đánh giá nhân vật:

Nhân vật ấy tiêu biểu cho lớp người nào trong xã hội ? tốt hay xấu… cao thượng hay thấp hèn?…

Bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ xoay quanh những đăc điểm của nhân vật…

Có thể nêu một vài cảm nghĩ của bản thân về tác giả trong việc xây dựng nhân vật

Đánh giá về nghệ thuật :

Gợi ý : hs có thể đánh giá, cảm nhận về nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật, cách miêu tả nội tâm nhân vật, ngôn ngữ nhân vật….

Kết bài:

Khẳng định lại đặc điểm của nhân vật…

Ví dụ:Dàn bài gợi ý: Cảm nhận vẻ đẹp nhân vật Phương Định:

Mở bài:

Lê Minh Khuê là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất cảu nền văn học kháng chiến chống Mỹ cứu nước Tác phẩm những ngôi sao xa xôi là tác phẩm xuất sắc nhất của nhà văn, viết năm 1971, lúc cuộc chiến chống Mỹ cứu nước đang ở trong giai đoạn quyết liệt nhất Nổi bậc trong tác phẩm là nhân vật Phương Định, một nữ thanh niên xung phong xinh đẹp, giàu

mơ mộng, với đầy đủ phẩm chất tốt đẹp của thế hệ thanh niên Việt Nam anh hùng thời kháng

Mỹ cứu nước.

Thân bài:

Trang 14

–Lựa chọn ngôi kể phù hợp, cách kể chuyện tự nhiên.

–Nghệ thuật xây dựng nhân vật chân thực, sinh động, nhất là miêu tả tâm lí.

–Ngôn ngữ giản dị, vừa mang tính khẩu ngữ vừa đậm chất trữ tình.

–Câu văn ngắn, nhịp điệu dồn dập, gợi không khí chiến trường.

Kết bài:

Khẳng định: Tác phẩm là bản anh hừng ca ca ngợi cuộc sống, chiến đấu của thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn

Cách tiếp cận và phân tích một tác phẩm văn xuôi hiệu quả

Tiểu thuyết và truyện ngắn là hai thể loại tuy rất khác nhau nhưng vẫn mang đặc điểm chung

là có cốt truyện, nhân vật, lời kể… Khi đọc hiểu tiểu thuyết và truyện ngắn, cần chú ý các yếu

tố sau:

Trang 15

I Phân tích nhân vật

Nhân vật là yếu tố quan trọng hàng đầu của truyện ngắn và tiểu thuyết Tùy theo tiêu chí, sẽ có các loại nhân vật sau: nhân vật chính và nhân vật phụ, nhân vật chính diện và nhân vật phản diện… Để nắm bắt, khái quát tính cách, bản chất của nhân vật, cần căn cứ vào những phương tiện cơ bản mà nhà văn thường sử dụng để khắc họa nhân vật như:

Phân tích ngoại hình nhân vật:

Ngoại hình nhân vật không chỉ giúp người đọc hình dung dáng vẻ bề ngoài của nhân vật mà còn thể hiện một phần tính cách và cả những biến cố, những đổi thay trong cuộc đời của nhân vật ấy

Ví dụ:

Các chi tiết miêu tả ngoại hình

Phân tích ngôn ngữ nhân vật:

Ngôn ngữ nhân vật (bao gồm hình thức đối thoại và độc thoại) thường được nhà văn cá thể hóa bằng nhiều cách: ghép từ, đặt câu, lặp đi lặp lại những từ, những câu nói

Phân tích hành động của nhân vật:

Phân tích nội tâm của nhân vật:

Nội tâm là thế giới tinh thần của nhân vật với những cảm xúc, suy nghĩ, quá trình diễn biến tâm lí… Đây là yếu tố có khả năng bộc lộ rõ nhất chiều sâu tâm hồn nhân vật, thể hiện sự thấu hiểu con người và tài nghệ của nhà văn.

Phân tích mối quan hệ của nhân vật với các nhân vật khác và hoàn cảnh xung quanh cũng

có tác dụng bộc lộ địa vị, tính cách và số phận của nhân vật.

Ví dụ:

II Phân tích cốt truyện và tình huống truyện:

Cốt truyện là hệ thống sự kiện được nhà văn tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất

định Cốt truyện là phương tiện vừa có khả năng bộc lộ tính cách nhân vật vừa phản ánh những xung đột xã hội Vì vậy, nắm vững cốt truyện sẽ giúp người đọc hiểu đúng nội dung tác phẩm.

Tình huống là một yếu tố then chốt, thậm chí được coi là “hạt nhân” của truyện ngắn Đó

là “một khoảnh khắc mà trong đó sự sống hiện ra rất đậm đặc”, “khoảnh khắc chứa đựng cả

một đời người, thậm chí cả một đời nhân loại” (Nguyễn Minh Châu).

Có ba loại tình huống truyện cơ bản:

+ Tình huống hành động

+ Tình huống tâm trạng

+ Tình huống nhận thức

Trang 16

Đọc hiểu tình huống truyện là “nắm được chiếc chìa khóa quan trọng nhất để mở vào thế giới

bí ẩn của truyện ngắn” (Chu Văn Sơn).

III Phân tích Kết cấu truyện

Kết cấu truyện là cách tổ chức tác phẩm Do dung lượng, nêu tiểu thuyết và truyện ngắn có kết cấu rất khác nhau song vẫn có những điểm chung: sự phối hợp giữa phần mở đầu và kết thúc,

sự lựa chọn và sắp xếp các chi tiết, đoạn, chương.

Ví dụ:

+ Chi tiết chiếc bóng với tác dụng thắt nút và mở nút trong Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ)

IV Phân tích lời kể, lời dẫn chuyện

Lời kể, lời dẫn là ngôn ngữ của người kể chuyện Đọc kĩ lời kể không chỉ giúp người đọc hiểu bức tranh đời sống mà còn nắm được điểm nhìn của người kể khi tái hiện bức tranh đời sống

ấy Điểm nhìn được thể hiện qua cách dùng từ ngữ xưng hô, cách miêu tả, cách diễn đạt, giọng kể…

3 Dàn ý phân tích một đoạn thơ hoặc một bài thơ

1.Mở bài:

Giới thiệu sơ lược về tác giả: tên tuổi, bút danh, vị trí trong nền văn học, chủ đề sáng tác, phong cách sáng tác, những đóng góp của tác giả đối với phong trào văn học, giai đoạn văn học và nền văn học dân tộc.

Giới thiệu tổng quát về bài thơ: hoàn cảnh xuất xứ, đại ý, nội dung chính của đoạn thơ/bài thơ Dẫn vào đoạn thơ, bài thơ cần phân tích: trích lại bài thơ (nếu ngắn) còn khổ thơ thì phải ghi lại tất cả.

2.Thân bài:

– Khái quát về vị trí trích đoạn hoặc bố cục, mạch cảm xúc chủ đạo của khổ thơ, bài thơ

– Phân tích bài thơ/đoạn thơ: trích thơ rồi lần lượt phân tích những từ ngữ, hình ảnh, biện pháp

tu từ, v.v trong từng câu thơ, giải mã đúng từ ngữ, hình ảnh đó để giúp người đọc cảm thấy được những cái hay, cái đặc sắc về nội dung, nghệ thuật cảu bài thơ

Lưu ý: nên phân tích từ nghệ thuật đến nội dung, khi phân tích phải dựa vào từ ngữ có trong bài thơ, hoàn cảnh ra đời, phong cách sáng tác của tác giả để tránh suy diễn miên man, không chính xác, cụ thể:

– Phân tích khổ thơ thứ nhất:

Trang 17

+ Nêu nội dung chính của khổ thơ thứ nhất:

(Trích thơ)

+ Áp dụng các thủ pháp phân tích thơ để phân tích những hình ảnh, từ ngữ, biện pháp nghệ thuật tu từ, nhịp điệu, v.v trong từng câu thơ; giải mã những từ ngữ, hình ảnh đó có ý nghĩa gì,

nó hay, đặc sắc ở chỗ nào.

+ Chuyển sang khổ thứ hai.

– Phân tích khổ thơ thứ hai:

+ Cách làm bốn bước tương tự khổ thứ nhất.

+ Rồi cứ tiếp tục như thế đến hết bài.

(lưu ý: đôi khi có thể phân tích hai khổ thơ cùng một lúc nếu hai khổ thơ cùng một ý nghĩa) – Nhận xét đánh giá bài thơ:

+ Đánh giá về nội dung, tư tưởng của bài thơ (Nét đặc sắc về nội dung của bài thơ là gì? Thành công/hạn chế?)

+ Đánh giá về nghệ thuật (Thành công/hạn chế?)

+ Đánh giá về tác giả (Qua bài thơ em thấy tác giả là người như thế nào; có thể nói thêm những đặc điểm về phong cách nghệ thuật và đóng góp của nhà thơ trên văn đàn lúc bấy giờ).

3.Kết bài:

+ Khẳng định lại toàn bộ gia trị về nội dung, nghệ thuật của bài thơ.

+ Liên hệ bản thân (nếu có).

Cấu trúc dàn ý bài văn phân tích một đoạn thơ, bài thơ:

Dạng 1: Hướng dẫn cách làm bài phân tích một bài thơ:

I.Mở bài: Giới thiệu tác giả dẫn vào bài thơ.

II Thân bài:

1.Khái quát về bài thơ : Giới thiệu xuất xứ ( trích trong tập thơ nào?), hoàn cảnh sáng tác ( sáng tác năm nào, gắn liền với sự kiện lịch sử gì nổi bật ?), tóm tắt nội dung, bố cục bài thơ 2.Phân tích nội dung, nghệ thuật bài thơ:

– Lần lượt làm rõ nội dung, nghệ thuật bài thơ Chia bài thơ thành từng đoạn nhỏ ( gồm những câu thơ có cùng nội dung hoặc liên quan mật thiết về nội dung) rồi giới thiệu, trích thơ và phân tích dẫn chứng thơ Cụ thể :

– Giới thiệu dẫn chứng : có 3 cách : Giới thiệu vị trí dẫn chứng, Giới thiệu nội dung chính của dẫn chứng,Kết hợp nêu vị trí dẫn chứng với nội dung chính.

– Trích dẫn dẫn chứng : Phải trích nguyên văn và đặt dẫn chứng trong ngoặc kép Viết dẫn chứng thành đoạn riêng.

– Phân tích dẫn chứng : là dùng lời văn của mình để làm rõ nội dung ( nói cái gì? Nói vậy là

có ý gì?), nghệ thuật ( biện pháp nghệ thuật gì?) và ý nghĩa của dẫn chứng ( có thể từ ngữ tiêu

Trang 18

biểu hoặc cả câu thơ được trích dẫn ) Để phân tích được dẫn chứng phải hiểu nghĩa của từ ngữ, vận dụng những hiểu biết về tác giả, hoàn cảnh sáng tác bài thơ, những kiến thức đọc hiểu về văn bản, hiểu biết về văn học và đời sống; phải liên tục sử dụng liên tưởng và tưởng tượng, nhận xét và suy luận.

Lưu ý : phân tích chứ không diễn xuôi đoạn thơ.

3 Đánh giá chung thành công về nội dung và nghệ thuật của bài thơ.

4 Giải quyết yêu cầu phụ ( nếu có )

III Kết bài:

– Tóm lại, đoạn thơ nổi bật gì về nội dung và nghệ thuật?

– Gợi liên tưởng rộng hơn, sâu sắc hơn ( thường nêu tác động của đoạn thơ đến tư tưởng, tình cảm của người đọc hay đóng góp của đoạn thơ với văn học, với đời sống Có thể nêu ngắn gọn cảm nghĩ về tác giả, bài thơ, đoạn thơ.

Dạng 2: Hướng dẫn cách làm bài phân tích một hình tượng, một vấn đề trong một bài thơ.

I Mở bài: Giới thiệu tác giả dẫn vào bài thơ Nêu vấn đề : Giời thiệu hình tượng hay vấn đề

phân tích

II Thân bài:

1 Khái quát về bài thơ: Giới thiệu xuất xứ ( trích trong tập thơ nào?), hoàn cảnh sáng tác ( sáng tác năm nào, gắn liền với sự kiện lịch sử gì nổi bật ?), tóm tắt nội dung, bố cục bài thơ.

2 Phân tích hình tượng hay vấn đề: Lần lượt làm rõ từng đặc điểm của hình tượng.

– Nêu đặc điểm của hình tượng.

– Đưa dẫn chứng thơ phù hợp với đặc điểm của hình tượng.

3 Nhận xét về nghệ thuật xây dựng hình tượng hay nghệ thuật thể hiện vấn đề.

4 Liên hệ, so sánh với nhân vật khác.

III Kết bài:

– Tóm lại, hình tượng ( trong đề ra) có gì nổi bật gì về nội dung và nghệ thuật?

– Gợi liên tưởng rộng hơn, sâu sắc hơn ( thường nêu tác động của hình tượng hay vấn đề đến

tư tưởng, tình cảm của người đọc hay đóng góp của hình tượng hay vấn đề với văn học, với đời sống Có thể nêu ngắn gọn cảm nghĩ về tác giả, bài thơ, đoạn thơ.

Một số cách thức phân tích đoạn thơ, bài thơ:

1 Phân tích từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ, giọng điệu, nhịp điệu trong từng câu thơ, khổ thơ.

Trang 19

Ghế trên ngồi lót sỗ sàng

Buồng trong mối đã giục nàng kíp ra.

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

“Ngồi tót”: cách ngồi sổ sàng, trịch thượng, vô văn hóa, thiếu lễ độ Hành vi cho thấy, Mã

Giám Sinh là một con người ít học, vô loại, nhân cách kém cỏi, tầm thường chứ không phải là một sinh viên trường Quốc Tử Giám nho nhã, học thức như hắn nói.

“Sổ sàng”: ngồi thoải mái, không kiêng nể gì Hành vi thất kính, vô văn hóa, thiếu lễ độ.

“Kíp”: giục giã, vội vàng, vô cùng cấp bách Ỷ tiền khinh người.

Như vậy chỉ với việc miêu tả qua hệ thống ngôn ngữ, Nguyễn du đã vạch trần được bản chất của Mã Giám Sinh, đó chỉ là một tên vô loại, ít học và có gì đó gian trá, bịp bợm, bởi những lời nói của hắn trước sau không có sự thống nhất.

* Phân tích hình ảnh thơ và biện pháp tu từ:

Ý nghĩa thơ còn được ẩn giấu trong hình ảnh thơ và các biện pháp tu từ được sử dụng Thơ nói bằng hình ảnh và ẩn ý nghệ thuật Đó mới là thơ, là nghệ thuật ngôn từ.

Ví dụ, khi thể hiện niềm yêu kính và tự hào đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhà thơ Viễn Phương viết:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

(Viếng lăng Bác – Viễn Phương)

Với thủ pháp ẩn dụ, Viễn Phương đã nâng cao cuộc đời và sự nghiệp của Bác Hồ, đồng thời thể hiện niềm tôn kính thiêng liêng đối với vị cha gì dân tộc.

“Mặt trời” trong câu thứ nhất là mặt trời của tự nhiên có tác dụng chiếu sáng và đem lại sự sống cho muôn vật, muôn loài Còn “mặt trời” trong câu thơ thứ hai là hình ảnh ẩn dụ tượng

trưng cho Bác Hồ vĩ đại Bởi từ trong cuộc đời và con người Bác cũng toát ra một thứ ánh sáng kì diệu vô cùng rực rỡ Đó là ánh sáng của chân lí cách mạng có thể xua tan mọi bất công, bạo tàn và soi đường dẫn lối đưa 25 triệu con người đi từ bóng đêm nô lệ đến được ánh sáng của tự do, hòa bình, công lí.

Bác mãi là vầng dương bao la, chói ngời vĩ đại Suốt cả cuộc đời Người đã hi sinh hạnh phúc của bản thân, gia đình để dấn thân vào con đường Cách mạng đầy hiểm nguy, thử thách để tìm

ra con đường cứu nước, con đường giải phóng dân tộc Có thể nói bằng hình ảnh đó, tác giả Viễn Phương đã thể hiện một cách sâu sắc tình cảm yêu thương, tôn kính của nhà thơ đối với Bác.

* Phân tích giọng điệu thơ:

Giọng điệu thơ góp phần bộc lộ tư tưởng, tình cảm bài thơ, đồng thời tạo nên sự đồng cảm sâu sắc giauwx người đọc và tác giả bài thơ.

Đó có thể là giọng điệu chân thành, tha thiết, sâu lắng ( Bếp lửa, Viếng lăng Bác,…) Có thể là giọng hồn nhiên, sôi nổi, tinh nghịch (Bài thơ tiểu đội se không kính,…) Hoặc đau xót, buồn

bã, tuyệt vọng (Kiều ở lầu Ngưng Bích,…)

Trang 20

2 Liên tưởng, so sánh những câu thơ cần phân tích với một số câu thơ có nội dung tương đồng hoặc tương phản.

* So sánh tương đồng:

Vd: So sánh nỗi nhớ nhà, nhớ người thân yêu, ruột thịt của người lính trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu với nỗi nhớ nhà của người lính trong bài thơ Nhớ của Hồng Nguyên.

Ruộng nương anh để bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính

* So sánh với:

Ba năm rồi gửi lại quê hương

Mái lều gianh

Tiếng mõ đêm trường

Ít nhiều người vợ trẻ

Mòn chân bên cối gạo canh khuya.

Trong nỗi nhớ của người lính đều xuất hiện những hình ảnh mộc mạc bình dị đặc trưng của làng quê vì họ đều xuất thân từ những người nông dân mặc áo lính.

* So ánh tương phản:

Vd: So sánh nỗi nhớ ruộng vườn, gia đình của người lính trong bài thơ Đồng chí của Chính

Hữu:

Ruộng nương anh để bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính

Với nỗi nhớ về một Hà Nội xa xăm, sáng rực, vui vẻ, huyên náo, với hình ảnh những “dáng kiều thơm” thướt tha, yểu điệu trong tâm hồn của những người chiến sĩ thuộc binh đoàn Tây

Tiến, được nhà thơ Quang Dũng nhắc tới trong bài thơ Tây Tiến, những chàng trai vốn xuất

thân từ những người tri thức Hà Thành hào hoa, lịch lãm.

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

3 Hóa thân vào nhân vật để nói lên tâm tư, tình cảm của nhân vật:

Vd:

Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà

Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa.

Tiếng gọi tah thiết, chân thành, da diết, thể hiện một niềm mong mỏi của nhà thơ trong những ngày sống xa nhà Tác giả như muốn mói với những con tu hú: “Tu hú ơi, đừng kêu chi hoài trên những cánh đồng xa xôi ấy nữa mà hãy về đây, hày kêu lên những âm thanh tưng bừng, rộn rã, hãy đến ở cùng bà để bà khống cảm thấy buồn bã, quạnh quẽ, cô đơn Và qua lời kêu gọi chân thành, tha thiết đó, ta dường như cảm nhận được biết bao nỗi nhớ thương, lo lắng của tác giả đối với bà trong những ngày xa xứ.

4 Phân tích ý nghĩa nhan đề:

Vd: suy nghĩ của em về nhan đề bài thơ Bếp lửa:

Trang 21

Bếp lửa không còn là sự vật tồn tại bên ngoài mà đã đi sâu vào tâm hồn tác giả, gắn liền với những kỉ niệm êm đẹp của tuổi thơ, với hình ảnh người bà chắt chiu, dành dùm, chịu thương chịu khó, đã hết lòng yêu thương, qua tâm lo lắng cho tác giả Bếp lửa của cuộc sống được nhen nhóm bằng than củi, gỗ cây còn bếp lửa trong tâm hồn được nhen nhóm bằng tình yêu,

sự hi sinh, tần tảo của người bà Bếp lửa mãi mãi soi sáng tâm hồn, là biểu tượng của quê nhà, gắn kiền con người với cội nguồn quê cha, đất tổ nên nó rất đỗi thiêng liêng và mãi tồn tại trong trái tim của mỗi con người.

4.Cách làm bài văn nghị luận so sánh

I Các kiểu bài làm văn so sánh:

– So sánh hai đoạn thơ.

– So sánh hai đoạn văn.

+ Hai tác phẩm: (sáng hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ, khái quát nội dung…)

+ Cảm nhận về hai đối tượng: Làm rõ đối tượng thứ nhất về nội dung và nghệ thuật Làm rõ đối tượng thứ hai về nội dung và nghệ thuật.

So sánh:

+ Nét tương đồng giữa hai nhân vật (điểm gặp gỡ giữa hai tác giả)

+ Nét khác biệt khác biệt giữa hai nhân vật (khác biệt về thời đại, điểm nhìn, tư tưởng, quan điểm của hai tác giả)

(Dựa trên các bình diện như chủ đề, nội dung, hình thức nghệ thuật…)

– Thực hiện thao tác này cần dựa vào các bình diện:

+ Bối cảnh xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại.

+ Phong cách nhà văn.

+ Đặc trưng thi pháp của thời kỳ văn học…

Trang 22

Kết bài: Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu Nêu những cảm nghĩ của

+ Hai tác phẩm: (hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ, khái quát nội dung…)

Cảm nhận về hai đối tượng:

+ Điểm giống nhau (đưa ra luận điểm, dẫn chứng).

+ Điểm khác nhau (đưa ra luận điểm, dẫn chứng).

Kết bài: Khái quát những nét giố nhau và khác nhau tiêu biểu Cảm nghĩ của bản thân.

CHUYÊN ĐỀ :ĐỀ TỔNG HỢP, ĐỀ MỞ- 58 ĐỀ 254 TRANG( 1 TRONG 14 CHUYÊN ĐỀ CỦA BỘ ĐỀ HƠN 900 TRANG)

ĐỀ 55 ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI

Trang 23

Ngữ văn lớp 9

(Thời gian làm bài: 150 phút không tính thời gian phát đề)

I PHẦN ĐỌC HIỂU VĂN BẢN (6,0 điểm)

Câu 1 Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu dưới đây:

" Những bữa cơm độn sắn, độn khoai trong mùa giáp hạt đó là chuyện thường xuyên.

Ba anh em tôi luôn được bố mẹ nhường phần cơm Bố mẹ ăn phần sắn và khoai lang, chúng tôi cứ vô tư ăn ngon lành Và những bữa cơm như thế, bố mẹ luôn ngồi đầu nồi, nhiều hôm tôi thấy bố mẹ thở dài Hai đứa em tôi không để ý đến những hành động đó Trong bữa cơm, thường có một bát mắm tôm đồng, hoặc sang hơn có thêm bát sườn lợn được mẹ bằm thật nhỏ

và kho thật mặn Một nồi canh rau tập tàng Chỉ đơn sơ vậy thôi, là anh em tôi thấy ngon biết mấy.

Những mùa giáp hạt, vai mẹ lại gầy đi vì những đêm thức trắng, trằn trọc với biết bao

lo lắng Tóc bố ngày một thêm bạc như thể có khói thuốc trên đầu Anh em tôi cứ thế lớn lên trên đôi vai gầy của mẹ Lớn lên trên những sợi tóc bạc của bố, lớn lên trong tình thương yêu, đùm bọc của gia đình Lớn lên trong những mùa giáp hạt, lớn lên trong nồi cơm độn khoai sắn Bây giờ ngồi ôn lại những kỷ niệm, ôn lại những mùa giáp hạt, trong lòng không khỏi cảm thấy rưng rưng."

(Nguyễn Trung Thành, Báo Giáo dục và thời đại số 100, ra ngày 26/4/2018)

a Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là gì? (0,5 điểm).

b Đặt nhan đề cho văn bản trên (0,5 điểm).

c Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ nổi bật trong những câu văn sau: "Anh em tôi cứ

thế lớn lên trên đôi vai gầy của mẹ Lớn lên trên những sợi tóc bạc của bố, lớn lên trong tình thương yêu, đùm bọc của gia đình Lớn lên trong những mùa giáp hạt, lớn lên trong nồi cơm

độn khoai sắn" (1,0 điểm).

d "Trong bữa cơm, thường có một bát mắm tôm đồng, hoặc sang hơn có thêm bát sườn lợn

được mẹ bằm thật nhỏ và kho thật mặn Một nồi canh rau tập tàng Chỉ đơn sơ vậy thôi, là anh em tôi thấy ngon biết mấy" Trong đoạn văn trên tác giả nhắc đến những món ăn nào? Tại

sao những món ăn ấy lại được cảm nhận là: anh em tôi thấy ngon biết mấy (1,0 điểm).

đ Qua đoạn văn, tác giả thể hiện được tình cảm gì với gia đình (1,0 điểm).

II PHẦN TẠO LẬP VĂN BẢN (14,0 điểm):

Câu 1 (4,0 điểm): Từ ngữ liệu phần Đọc - hiểu trên, viết đoạn văn khoảng 200 chữ) trình bày

suy nghĩ của em về câu nói sau của G.Welles: “Thử thách lớn nhất của con người là lúc thành công rực rỡ”.

Câu 2 (10 điểm): Nhà văn Nguyễn Đình Thi cho rằng: “Tác phẩm văn học lớn hấp dẫn người

ta bởi cách nhìn nhận mới, tình cảm mới về những điều, những việc mà ai cũng biết cả rồi”.

(Nhà văn nói về tác phẩm, NXB Văn học, 1998)

Em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên qua bài thơ Nói với con của Y Phương Liên hệ với truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao để chỉ ra cách nhìn mới và tình cảm mới của hai văn bản.

-Hết -HƯỚNG DẪN CHẤM

Ngày đăng: 27/11/2022, 00:12

w