1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Giáo trình nhập môn công tác xã hội

80 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhập môn công tác xã hội
Trường học Trường Cao đẳng Cộng đồng Kon Tum
Chuyên ngành Công tác xã hội
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2021
Thành phố Kon Tum
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG KON TUM GIÁO TRÌNH MÔN HỌC NHẬP MÔN CÔNG TÁC XÃ HỘI NGHỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG (Ban hành kèm theo Quyết định số /QĐ CĐCĐ ngày / / 20[.]

Trang 1

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM

TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG KON TUM

GIÁO TRÌNH MÔN HỌC: NHẬP MÔN CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGHỀ: CÔNG TÁC XÃ HỘI TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG

(Ban hành kèm theo Quyết định số /QĐ-CĐCĐ ngày / / 20 của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Cộng đồng Kon Tum)

Kon Tum, năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN 1

LỜI GIỚI THIỆU 2

GIÁO TRÌNH MÔN HỌC 3

Chương 1 KHÁI NIỆM, TRIẾT LÝ VÀ GIÁ TRỊ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI 4

1 KHÁI NIỆM VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI 5

1.1 Khái niệm về công tác xã hội (1) 5

1.2 Phân biệt Công tác xã hội với hoạt động từ thiện (2) 7

2 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGHỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI 10

2.1 Sơ lược lịch sử Công tác xã hội trên thế giới 11

2.2 Sơ lược lịch sử Công tác xã hội ở Việt Nam 13

3 TRIẾT LÝ VÀ GIÁ TRỊ NGHỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI 15

3.1 Triết lý của nghề Công tác xã hội (1) 15

3.2 Các giá trị của nghề Công tác xã hội (1) 17

3.3 Chuẩn mực đạo đức trong Công tác xã hội (7) 22

CÂU HỎI ÔN TẬP 26

THỰC HÀNH 27

Chương 2 MỤC ĐÍCH, VAI TRÒ, CHỨC NĂNG VÀ NGUYÊN TẮC

NGHỀ NGHIỆP TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI 29

1 MỤC ĐÍCH, VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI 29

1.1 Đối tượng của nghề Công tác xã hội (1) 29

1.2 Mục đích của nghề công tác xã hội 31

1.3 Vai trò của Công tác xã hội 32

2 CHỨC NĂNG CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI (1, 10) 33

2.1 Phòng ngừa 33

2.2 Can thiệp 35

2.3 Phục hồi 36

2.4 Phát triển 37

3 NGUYÊN TẮC NGHỀ NGHIỆP TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI 38

3.1 Chấp nhận đối tượng 38

3.2 Đối tượng cùng tham gia giải quyết vấn đề 39

3.3 Dành quyền tự quyết cho đối tượng 39

3.4 Cá biệt hoá sự giúp đỡ 40

3.5 Giữ bí mật thông tin về đối tượng 41

3.6 Tự ý thức về bản thân 41

3.7 Đảm bảo mối quan hệ nghề nghiệp 42

Trang 3

4 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHỀ CÔNG TÁC XÃ

HỘI 42

4.1 Phương pháp tiếp cận (2, 7) 42

4.2 Các phương pháp nghề Công tác xã hội (1) 48

CÂU HỎI ÔN TẬP 54

THỰC HÀNH 54

Chương 3 HỆ THỐNG CƠ QUAN, TỔ CHỨC LÀM CÔNG TÁC XÃ HỘI VÀ NHÂN VIÊN XÃ HỘI CHUYÊN NGHIỆP 57

1 BỐN THÀNH TỐ CƠ BẢN TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI (4, 7) 57

1.1 Đối tượng của Công tác xã hội 57

1.2 Vấn đề của đối tượng (1, 9) 58

1.3 Cơ quan xã hội 59

1.4 Tiến trình hoạt động 59

2 NHẬN DIỆN VẤN ĐỀ (1, 9) 60

2.1 Lập kế hoạch can thiệp giải quyết vấn đề 60

2.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch đã lập 61

2.3 Đánh giá (hay lượng giá) kết quả 62

3 HỆ THỐNG CƠ QUAN, TỔ CHỨC LÀM CÔNG TÁC XÃ HỘI 62

3.1 Các lĩnh vực hoạt động của Công tác xã hội (2, 12) 62

3.2 Các cơ quan, tổ chức làm Công tác xã hội 64

4 NHÂN VIÊN XÃ HỘI CHUYÊN NGHIỆP 70

4.1 Nhân viên xã hội (2) 70

4.2 Vai trò của nhân viên xã hội (2) 72

CÂU HỎI ÔN TẬP 73

THỰC HÀNH 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 4

TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN

Giáo trình “Nhập môn công tác xã hội” được xây dựng chủ yếu dựa trên cấu trúc của chương trình đào tạo đã được Trường Cao đẳng Cộng đồng Kon Tum phê duyệt dành cho đào tạo chuyên ngành Công tác xã hội hệ cao đẳng

Trong quá trình biên soạn Giáo trình “Nhập môn công tác xã hội”, tác giả

nghiên cứu và tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau như: Giáo trình Nhập

môn công tác xã hội của tác giả Bùi Thị Xuân Mai; Mấy vấn đề phát triển xã hội của

tác giả Nguyễn Thị Oanh; Công tác xã hội đại cương của tác giả Nguyễn Thị Oanh,

Nhập môn công tác xã hội của tác giả Lê Hùng Cường,

Mục đích của giáo trình là làm tài liệu giảng dạy chính thức cho giảng viên và làm tài liệu học tập chính thức cho sinh viên ngành Công tác xã hội ở trường Cao đẳng Cộng đồng Kon Tum

Giáo trình này được lưu hành nội bộ, các nguồn thông tin có thể được sử dụng nguyên bản hoặc trích sử dụng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh

sẽ bị nghiêm cấm

Trang 5

LỜI GIỚI THIỆU

Vào đầu thế kỷ XX, Công tác xã hội với tư cách là một khoa học, một nghề chuyên môn đã ra đời và sau đó được phát triển rộng khắp ở nhiều quốc gia trên thế giới Công tác xã hội chiếm vị trí ý quan trọng trong việc góp phần vào giải quyết các vấn đề xã hội, nhằm đảm bảo công bằng và tiến bộ xã vì sự an sinh xã hội và phát triển bền vững của mỗi quốc gia

Đây là học phần thuộc khối kiến thức cơ sở nghề công tác xã hội; là một ngành thuộc lĩnh vực hoạt động chuyên môn nhằm giúp đỡ cho các cá nhân, tổ chức, cộng đồng gặp khó khan; giải quyết được các vấn đề mới xuất hiện và nảy sinh trong đời sống xã hội Xây dựng kỹ năng nghiên cứu, giảng dạy và nhất là kỹ năng can thiệp giải quyết các vấn đề xã hội, tư vấn xây dựng các chính sách xã hội đáp ứng các nhu cầu phát triển của đất nước

Giáo trình được cấu trúc gồm 3 chương:

Chương 1: Khái niệm, triết lý và các giá trị trong nghề Công tác xã hội Chương 2: Mục đích, nhiệm vụ và các nguyên tắc nghề nghiệp trong Công tác

Kon Tum, tháng 12 năm 2021

Người biên soạn

Lê Thị Thanh Hòa

Trang 6

GIÁO TRÌNH MÔN HỌC

TÊN MÔN HỌC: NHẬP MÔN CÔNG TÁC XÃ HỘI (Introduction to social work)

Mã môn học: 61033032

Thời gian thực hiện môn học: 60 giờ (lý thuyết: 27 giờ; thực hành, thảo luận,

bài tập: 30 giờ; kiểm tra: 03 giờ)

Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học:

- Vị trí: Nhập môn công tác xã hội là môn học lý thuyết cơ sở nghề quan trọng của chương trình đào tạo nghề Công tác xã hội, trang bị cho sinh viên những kiến thức khái quát về công tác xã hội để làm cơ sở cho việc tiếp cận, nghiên cứu các kiến thức, kỹ năng, phương pháp công tác xã hội cá nhân, nhóm, cộng đồng

- Tính chất: Là môn lý thuyết cơ sở nghề bắt buộc, môn học kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, thảo luận

- Ý nghĩa và vai trò của môn học: Công tác xã hội có vai trò to lớn trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, nhằm đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội của mỗi quốc gia

Mục tiêu môn học:

- Về kiến thức:

+ Trình bày được những kiến thức về triết lý nghề nghiệp, nguyên tắc và vai trò của nhân viên xã hội để vận dụng trong công tác xã hội với đối tượng;

+ Phân biệt được công tác xã hội với công tác từ thiện;

+ Phân tích được giá trị đạo đức của nghề công tác xã hội

- Về kỹ năng:

+ Thực hành vận dụng các nguyên tắc, giá trị đạo đức nghề công tác xã hội; Vận dụng các phương pháp và tiến trình công tác xã hội vào quá trình giúp đỡ đối tượng;

+ Hình thành kỹ năng tiếp cận thực tiễn, kỹ năng vận dụng những kiến thức

đã học vào tìm hiểu, nghiên cứu và phân tích các hoạt động trong xã hội;

Trang 7

+ Hình thành kỹ năng tự tìm kiếm tài liệu liên quan đến môn học và trình bày được nội dung của các tài liệu này; xây dựng thói quen làm việc cá nhân và làm việc nhóm để thảo luận và giải quyết các vấn đề liên quan đến nội dung môn học

Nội dung của môn học:

Chương 1 KHÁI NIỆM, TRIẾT LÝ VÀ GIÁ TRỊ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI Giới thiệu

Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền

và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người Công tác xã hội có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch

vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề

xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội

Mục tiêu

- Trình bày khái niệm, lịch sử hình thành công tác xã hội trên thế giới và Việt Nam; Phân tích triết lý nghề, các giá trị của nghề công tác xã hội, chuẩn mực đạo đức nghề công tác xã hội

- Vận dụng các nguyên tắc đạo đức nghề công tác xã hội thực hành các chuẩn mực đạo đức trong công tác xã hội và trong thực tế

- Rèn luyện tính tích cực trong học tập như: sự chăm chỉ, sáng tạo và tự học tập nghiên cứu bổ sung kiến thức; tôn trọng quyền con người và quyền được chăm sóc

hỗ trợ của thân chủ

Trang 8

Nội dung chính

1 KHÁI NIỆM VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI

1.1 Khái niệm về công tác xã hội (1)

Công tác xã hội là một khoa học xã hội ứng dụng, là một nghề chuyên môn,

ra đời vào đầu thế kỷ XX ở nhiều nước trên thế giới Nó có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội của con người, của mỗi quốc gia Sự ra đời và phát triển công tác xã hội đã đóng góp đáng kể vào việc ngăn ngừa và giải quyết các vấn đề xã hội, góp phần bảo đảm công bằng xã hội và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia

Ở nước ta, hoạt động mang tính chất "Công tác xã hội" đã có từ rất sớm trong lịch sử dân tộc Đó là sự cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng trên tinh thần "nhiễu điều phủ lấy giá gương ", "uống nước nhớ nguồn", "lá lành đùm

lá rách" Ngày nay, chúng ta có một đội ngũ đông đảo những cán bộ nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động thực tiễn về Công tác xã hội trên các lĩnh vực: Lao động - Thương binh và Xã hội; Dân số - Gia đình và Trẻ em; Phụ nữ; Thanh niên Tuy nhiên, công tác xã hội mang tính chuyên nghiệp và đào tạo Công tác xã hội ở nước

ta còn có khoảng cách xa so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới

Để có cách hiểu thống nhất về công tác xã hội, sau đây xin nêu lên một số định nghĩa về công tác xã hội:

Theo Từ điển Công tác xã hội (1995): "Công tác xã hội là một khoa học xã

hội ứng dụng nhằm giúp con người hoạt động có hiệu quả về mặt tâm lý xã hội và tạo

ra những thay đổi trong xã hội để đem lại sự an sinh cao nhất cho con người"

Theo Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội quốc tế, tại Đại hội khoáng đại của Liên đoàn

chuyên nghiệp xã hội quốc tế tổ chức tại Motreal (Canada) vào tháng 7 năm 2004, đã đưa ra một định nghĩa mới về công tác xã hội như sau: " Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người và sự tăng quyền lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ”

Tuy nhiên trên thế giới, mỗi nước khác nhau, do những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội khác nhau nên có nhiều cách diễn đạt khác nhau về công tác xã hội Chẳng hạn:

Trang 9

Theo quan niệm của Hiệp hội chuyên gia Công tác xã hội Mỹ: công tác xã

hội là hoạt động chuyên môn nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng phục hồi hay tăng cường chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp để giúp họ thực hiện được mục đích cá nhân

Theo quan niệm của Philippin: công tác xã hội là một nghề chuyên môn, thông

qua các dịch vụ xã hội nhằm phục hồi, tăng cường mối quan hệ qua lại giữa cá nhân

và môi trường vì nền an sinh của cá nhân và toàn xã hội

Như vậy, các định nghĩa về công tác xã hội của Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội quốc

tế, của Hiệp hội chuyên gia Công tác xã hội Mỹ và của Philippin tuy có sự khác nhau trong cách diễn đạt, nhưng nội hàm của khái niệm đều có những đặc trưng chung sau đây:

- Công tác xã hội được khẳng định là một khoa học, một hoạt động mang tính chuyên môn, chuyên nghiệp và được xã hội thừa nhận là một nghề chuyên nghiệp, độc lập với các nghề khác trong xã hội và không thể thiếu trong đời sống xã hội

- Nói chung, công tác xã hội nhằm giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết những vấn đề khó khăn nảy sinh trong cuộc sống, trong quá trình tương tác giữa cá nhân và môi trường, trong tiến trình phát triển xã hội Từ đó, giúp họ vượt qua khó khăn hiện tại để phục hồi hay tăng cường chức năng xã hội nhằm đem lại sự an sinh cao nhất cho con người và sự tiến bộ, công bằng xã hội

- Các hoạt động can thiệp giúp đỡ của nhân viên xã hội chuyên nghiệp đều hướng vào thúc đẩy sự thay đổi xã hội, phát triển các mối quan hệ tương tác giữa các cá nhân, giữa con người và xã hội thông qua việc cung cấp các dịch vụ xã hội cho cá nhân, gia đình và cộng đồng

- Trong thực hành công tác xã hội, nhân viên xã hội sử dụng các kiến thức, kỹ năng chuyên môn được đào tạo để giúp đối tượng /thân chủ/ tăng năng lực và quyền lực trong việc giải quyết vấn đề của họ Đây có thể coi là quá trình nhân viên xã hội giúp đối tượng phát hiện được những khả năng tiềm tàng, những điểm mạnh và những nguồn lực sẵn có của bản thân (cá nhân, gia đình, cộng đồng) và nối kết với các nguồn lực xã hội trong việc tự lực giải quyết vấn đề của chính mình

Nói đến những vấn đề thuộc chức năng xã hội là nói đến tình trạng liên quan đến vai trò xã hội của con người và việc thực hiện các vai trò ấy Trong cuộc sống, trong lao động, mỗi con người thực hiện nhiều vai trò khác nhau: vai trò cá nhân, vai trò xã hội và sự kết hợp các vai trò Chẳng hạn: trong mỗi gia đình, mỗi thành viên thực hiện chức năng, vai trò khác nhau trong mối quan hệ vợ - chồng, cha mẹ -

Trang 10

con cái, anh chị - em … Có người cùng lúc phải thể hiện nhiều vai trò khác nhau, như vai trò của người vợ đối với chồng, người mẹ đối với con cái, người con đối với cha mẹ; trong mỗi cộng đồng là việc thực hiện chức năng, vai trò người dân của một cộng đồng (tỉnh, thành phố, huyện, quận, xã, phường ); trong mỗi quốc gia, là việc thực hiện chức năng, vai trò của một công dân đối với xã hội, với đất nước

Như vậy, mỗi con người mang nhiều vai trò khác nhau và thực tế cuộc sống

là mạng lưới các vai trò năng động và các mối quan hệ giữa các vai trò Có nhiều người vì lý do này hay lý do khác, không thể tiến hành một hoặc nhiều chức năng

xã hội của họ một cách đầy đủ Để giúp đỡ những người này, nghề công tác xã hội

đã ra đời, nhằm giúp các cá nhân thực hiện tốt các vai trò của mình và tăng cường

sự tương tác, liên kết giữa các cá nhân và xã hội

1.2 Phân biệt Công tác xã hội với hoạt động từ thiện (2)

Thực tế, có rất nhiều người, ngay ở nhiều quốc gia phát triển vẫn chưa hiểu

hết nội dung và ý nghĩa của công tác xã hội trên cả phương diện lý thuyết cũng như trong hoạt động thực tiễn của công tác xã hội Điều quan trọng là vì chưa hiểu tường tận về công tác xã hội với tư cách là một khoa học, một nghề chuyên môn, dẫn tới

có những người làm công việc không phải là công tác xã hội nhưng lại cho rằng mình đã và đang làm công tác xã hội Ở Việt Nam cũng vậy, có rất nhiều người còn đồng hoá công tác xã hội với công tác từ thiện, thực tế họ chỉ tham gia các hoạt động

xã hội hoặc làm từ thiện nhưng lại cho rằng mình đang làm công tác xã hội

Ví dụ: Nhiều người làm việc thiện như ủng hộ vào quỹ xoá đói giảm nghèo,

quỹ bảo trợ nạn nhân chất độc màu da cam, quỹ đền ơn đáp nghĩa họ đã nghĩ và cho rằng mình đang làm công tác xã hội, hoặc một số kênh thông tin đại chúng cũng thường đưa tin về vấn đề trên như vậy Thực ra đó chỉ là những hoạt động xã hội, từ thiện Để làm sáng tỏ vấn đề này, cần thiết phải đưa ra sự phân biệt giữa công tác xã hội và công tác từ thiện

Điểm chung giống nhau giữa công tác xã hội với hoạt động từ thiện là đều hướng vào việc giúp đỡ con người, thông qua việc cung cấp vật chất và phi vật chất đáp ứng các nhu cầu của con người trước những tình huống khó khăn mà con người đang phải đối mặt mà bản thân họ không tự giải quyết được, đang cần sự giúp đỡ

Tuy nhiên, hoạt động công tác xã hội và hoạt động từ thiện có những đặc điểm khác nhau cơ bản sau đây:

Trang 11

Về động cơ giúp đỡ: Trong hoạt động công tác xã hội, nhân viên xã hội coi

việc giúp đỡ đối tượng và lợi ích của đối tượng được giúp đỡ là mối quan tâm hàng đầu và duy nhất, là nhiệm vụ mà ngành công tác xã hội và xã hội giao phó Còn hoạt động từ thiện, người làm từ thiện còn có những động cơ khác, như làm việc thiện là

để đức cho con cháu hoặc muốn tạo uy tín cá nhân, muốn khẳng định vị trí xã hội của họ hoặc vì mục đích chính trị hay kinh tế Như vậy, hoạt động công tác xã hội mang động cơ nghề nghiệp; còn hoạt động từ thiện mang động cơ cá nhân

Về phương pháp giúp đỡ: công tác xã hội đề cao nguyên tắc "tự giúp" trên cơ

sở tăng năng lực và trao quyền nhiều hơn cho đối tượng trong việc tự lực giải quyết vấn đề của chính họ bằng cách cho đối tượng cần câu thay vì cho câu cá, nhằm giúp

họ phát huy tiềm năng và nguồn lực bên trong của bản thân họ, để họ tự vươn lên giải quyết vấn đề khó khăn của chính mình, với sự hỗ trợ của nhân viên xã hội Để thực hành công tác xã hội, nhân viên xã hội phải được đào tạo các kiến thức, kỹ năng làm việc với cá nhân, gia đình, cộng đồng và được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp phép hành nghề Còn hoạt động từ thiện của các tổ chức, cá nhân chỉ thuần tuý mang tính chất ban phát vật chất từ bên ngoài nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng tạm thời vượt qua những khó khăn trước mắt khi họ bị thiên tai, tai nạn hoặc các rủi ro, bất hạnh khác dẫn đến việc mất hoặc thiếu thốn các nguồn lực cá nhân để đảm bảo các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống Như vậy, hoạt động từ thiện xuất phát

từ tinh thần tương thân tương ái, từ thiện tâm, thiện chí mang tính chất bản năng của con người và người làm từ thiện không phân biệt tuổi tác, giới tính, dân tộc, chủng tộc, trình độ học vấn, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế giàu nghèo và không cần phải được đào tạo các kiến thức, kỹ năng về công tác xã hội Công tác xã hội bao gồm cả hệ thống lý thuyết, kỹ năng để điều chỉnh hành vi con người, hệ thống xã hội và môi trường xã hội

Về mối quan hệ giữa người giúp đỡ và người được giúp đỡ: Trong công tác

xã hội, quan hệ giữa nhân viên xã hội và đối tượng /thân chủ/ là mối quan hệ nghề nghiệp, mang tính trực tiếp, bền chặt và được xây dựng trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, được tạo lập, duy trì và phát triển trong suốt quá trình giúp đỡ Nhân viên xã hội hành động trên cơ sở các giá trị, đạo đức, nguyên tắc nghề nghiệp của ngành công tác xã hội quy định, được sự bảo hộ của Nhà nước và pháp luật và mang tính bền vững Còn trong hoạt động từ thiện, mối quan hệ giữa người giúp đỡ và người được giúp đỡ đơn thuần là cho - nhận, mang tính gián tiếp, ngắn hạn, lỏng lẻo

và không theo đuổi mục đích bền vững Hoạt động từ thiện xuất phát từ lòng nhân

Trang 12

đạo, từ tình thương yêu đồng loại trên tinh thần "nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng" hay "bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn", "một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ", "một miếng khi đói bằng cả gói khi no"

Về kết quả của sự giúp đỡ: Kết quả của hoạt động công tác xã hội mang tính

tích cực hơn do đối tượng tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề của chính họ và

tự quyết định cách thức giải quyết vấn đề Điều này đã không tạo ra tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ từ bên ngoài và đã khơi dậy, phát huy được tiềm năng bên trong của người được giúp đỡ Nhờ đó, vấn đề của đối tượng được giải quyết tận gốc, có tính bền vững Còn hoạt động từ thiện, đối tượng không trực tiếp tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề của chính họ do sự giúp đỡ chỉ đơn thuần mang tính ban phát "cho - nhận" từ bên ngoài để giúp đối tượng giải quyết các khó khăn tức thời trước mắt, không bắt nguồn từ các nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh các vấn đề khó khăn của đối tượng và không theo đuổi mục tiêu của sự phát triển bền vững của đối tượng Chính vì vậy, người được giúp đỡ tham gia vào quá trình giải quyết vấn

đề mang tính thụ động và thường tạo ra tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ từ bên ngoài; vì thế, vấn đề của họ không được giải quyết tận gốc và không có tính bền vững

Ví dụ: Trong hoạt động giúp đỡ người nghèo, giữa hoạt động từ thiện và hoạt

động công tác xã hội có những điểm khác nhau cơ bản như sau:

- Đối với hoạt động từ thiện: Động cơ giúp đỡ mang tính chất cá nhân của người giúp đỡ được xuất phát từ tình thương yêu đồng loại; Phương pháp giúp đỡ được tiến hành bằng cách ban phát vật chất (giá trị hoặc hiện vật); Mối quan hệ giữa người giúp đỡ và người được giúp đỡ thể hiện quan hệ cho - nhận; Kết quả người được giúp đỡ vượt qua được khó khăn trước mắt, nhưng không bền vững bởi vấn đề nghèo đói không được giải quyết tận gốc do sự giúp đỡ không xuất phát từ việc giải quyết các nguyên nhân của sự nghèo đói

- Đối với hoạt động công tác xã hội: Động cơ giúp đỡ mang tính chất nghề nghiệp của ngành công tác xã hội quy định; phương pháp giúp đỡ dựa trên nguyên tắc tự giúp, nhân viên xã hội sử dụng các kiến thức, kỹ năng, phương pháp chuyên nghiệp đã được đào tạo cùng với đối tượng đưa ra các quyết định và cùng tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề của đối tượng; mối quan hệ giữa đối tượng và nhân viên xã hội là mối quan hệ nghề nghiệp; kết quả người được giúp đỡ không chỉ vượt qua những khó khăn nhất thời mà còn lâu dài, bền vững bởi quá trình giúp đỡ đã

Trang 13

hướng vào giải quyết những nguyên nhân sâu xa nảy sinh vấn đề nghèo đói và có sự tham gia, quyết định của đối tượng

2 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGHỀ CÔNG TÁC

XÃ HỘI

Trong mỗi thời kỳ phát triển của xã hội loài người, ở mỗi chế độ xã hội khác nhau luôn tồn tại sự khác nhau về trình độ phát triển, về mức sống giữa các thành viên, các nhóm xã hội Có những cá nhân và nhóm xã hội do nhiều lý do khác nhau,

ít hoặc không có điều kiện và cơ hội để tiếp cận các nguồn và lợi ích Những người này sẽ gặp những khó khăn trong cuộc sống, trở thành những người thiệt thòi, yếu thế, dễ bị tổn thương và thường không có khả năng hoặc thiếu nguồn hỗ trợ để đáp ứng các nhu cầu của bản thân

Trong mỗi xã hội, dù ít hay nhiều luôn có những người quan tâm giúp đỡ người khác, cảm thông với những khó khăn của người khác và sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu và những khó khăn của đồng loại Những người giúp đỡ này đều hiện hữu trong thời kỳ lịch sử nhân loại, là tiền thân của nhân viên xã hội thời kỳ hiện đại

Sự phát triển các hình thức tương trợ, giúp đỡ của những nhân viên tình nguyện cũng như sự phát triển các hoạt động chuyên nghiệp của nhân viên xã hội tuỳ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế, văn hoá, xã hội và chính trị của từng quốc gia, từng thời kỳ

Lịch sử hình thành và phát triển nghề công tác xã hội ở các quốc gia trên thế giới đều bắt nguồn từ những hoạt động từ thiện của những người tình nguyện

Thời kỳ trước cách mạng công nghiệp, các hiện tượng xã hội như vấn đề người già, trẻ em mồ côi, phụ nữ goá bụa được sự cưu mang, đùm bọc của những người thân trong gia đình, dòng họ; sự giúp đỡ trên tinh thần tương thân tương ái của cộng đồng và sự cứu giúp của các nhà thờ

Thời kỳ cách mạng công nghiệp, do tác động của quá trình kinh tế làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội như: Nghèo đói, thất nghiệp, người lang thang, nghiện ngập

ma tuý, mại dâm đã xuất hiện các phong trào làm việc từ thiện của các cá nhân, tổ chức tình nguyện để giúp đỡ những người khốn khó, bần cùng vượt qua những khó khăn trong cuộc sống Sau đó, nghề công tác xã hội đã hình thành và phát triển để tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội rộng lớn, phức tạp mà tự thân các hoạt động từ thiện, tình nguyện không thể giải quyết được Tuy nhiên, quá trình

Trang 14

hình thành nghề công tác xã hội diễn ra khác nhau giữa các quốc gia, châu lục trên thế giới

Sau đây, giới thiệu sơ lược quá trình hình thành, phát triển công tác xã hội ở một số châu lục, quốc gia trên thế giới và Việt Nam (3)

2.1 Sơ lược lịch sử Công tác xã hội trên thế giới

Ở Châu âu: Nước Anh là cái nôi xuất phát các phong trào làm việc từ thiện sớm nhất (những năm 1800) do bối cảnh xã hội Anh lúc bấy giờ nảy sinh nhiều vấn

đề xã hội bởi sự tác động của các cuộc cách mạng công nghiệp, như: Nạn thất nghiệp, người lang thang, nghèo đói, nghiệp ngập ma tuý và nạn mại dâm Để góp phần giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh, thoạt đầu ở Luân Đôn, nhiều nhóm tình nguyện viên đã hình thành Hiệp hội các tổ chức từ thiện (viết tắt là C.O.S) ra đời ở Luân Đôn năm 1869 Đây là tổ chức các người trí thức tình nguyện gồm các bác sỹ, giáo viên, luật sư, kỹ sư hợp nhau lại với mục đích giúp đỡ những người gặp khó khăn

Họ chia nhau đi thăm viếng và giúp đỡ những gia đình có vấn đề khó khăn ở các khu nhà ổ chuột, xóm lao động

Ban đầu hoạt động của nhóm này chủ yếu là cứu trợ những người thất nghiệp nghèo đói từng bị xem là những "kẻ lười biếng", "thiếu đạo đức" Sau đó, họ nhận thấy rằng nếu cứ tiếp tục hình thức giúp đỡ theo kiểu ban phát thì đối tượng sẽ trông chờ, ỷ lại và không tự lực vươn lên Họ đã rút ra bài học kinh nghiệm và thay đổi hình thức giúp đỡ thay vì sự giúp đỡ mang tính ban phát bằng sự tự giúp Hiệp hội các tổ chức từ thiện đã tổ chức nhiều chương trình lao động cho những người nghèo còn khả năng lao động để họ có thể sinh sống bằng công việc làm ăn chính đáng

Lịch sử từng trường hợp cá nhân và sự chuyển biến của họ được ghi chép cẩn thận Các hồ sơ cứu trợ cá nhân được tập trung ở từng địa phương để tránh tình trạng một cá nhân đi kêu cứu ở nhiều cơ quan

Lúc đầu Hiệp hội các tổ chức từ thiện không giúp đỡ vật chất, chỉ thăm viếng để giới thiệu cho các cơ quan cứu trợ Nhưng về sau, do làm tốt công việc này nên COS được các cơ quan cứu trợ chuyển giao cho Hiệp hội các tổ chức từ thiện làm công tác cứu trợ

Từ chỗ trực tiếp giúp đỡ từng cá nhân, người giúp đỡ đã sớm nhận ra rằng con người lâm vào hoàn cảnh khó khăn không chỉ hoàn toàn do yếu kém của chính cá nhân họ mà còn do những tác động bởi môi trường, của quá trình phát triển nên cần thay đổi cách thức giúp đỡ bằng cách tác động đến những nguyên nhân làm nảy sinh

Trang 15

vấn đề, vào sự tương tác giữa các thành viên và xã hội Những kinh nghiệm đầu tiên này của Hiệp hội các tổ chức từ thiện đã đặt nền tảng cho hoạt động của ngành Công tác xã hội sau này

Phương pháp giúp đỡ mang tính khoa học đầu tiên là phương pháp công tác

xã hội cá nhân, sau đó đến công tác xã hội nhóm và phát triển cộng đồng

Đội ngũ tình nguyện viên được đào tạo các kiến thức, kỹ năng làm việc với đối tượng và trở thành những nhân viên xã hội chuyên nghiệp Từ đó, nghề công tác

xã hội ra đời và đã được xã hội chấp nhận, độc lập với các nghề khác

Ở Mỹ: Phong trào COS từ Anh lan sang Mỹ và hình thành Hiệp hội các tổ chức từ thiện đầu tiên ở Buffalo, New York năm 1877

Năm 1898, Hiệp hội các tổ chức từ thiện ở New York mở khoá tập huấn nghiệp vụ đầu tiên cho 27 học viên, gọi là "khoá học mùa hè cho các nhân viên hoạt động nhân đạo", thời gian tập huấn kéo dài 6 tuần

Cũng trong năm 1898, trường đào tạo các nhân viên xã hội đầu tiên được thành lập - Trường Nhân ái New York (sau này là Trường Đại học Công tác xã hội Columbia) Năm 1904, chương trình đào tạo công tác xã hội với thời gian đào tạo một năm được tiến hành Sau đó, lần lượt ra đời các trường công tác xã hội khác ở Philadelphia, Boston, Chicago

Năm 1905, Richard Cabot lần đầu tiên đã đưa công tác xã hội vào bệnh viện

Đa khoa Massaclensetts và dần dần sau đó, các nhân viên xã hội có mặt hoạt động tại các trường học, toà án và các tổ chức khác

Chương trình đào tạo công tác xã hội ban đầu tập trung vào cả những nỗ lực thay đổi môi trường và nỗ lực giúp các cá nhân điều chỉnh tốt hơn với môi trường

xã hội

Năm 1917, Mary Richmond đã xuất bản cuốn sách "Chẩn đoán xã hội - Social Diagnosis" Đây được coi là dấu mốc quan trọng đầu tiên cho việc hình thành các lý thuyết và phương pháp Công tác xã hội Cuốn sách tập trung vào nội dung người nhân viên xã hội nên can thiệp với các cá nhân như thế nào? Cho đến nay, các tiến trình làm việc với cá nhân được bà đưa ra vẫn được sử dụng phần nào (từ bước thu thập thông tin đến chẩn đoán và lên kế hoạch trị liệu)

Vào những năm 1920, lý thuyết về sự phát triển nhân cách và trị liệu của Sigmund Freud được phổ biến rộng rãi Các khái niệm và những lý giải của các nhà

Trang 16

tâm lý học được đưa ra phù hợp với các nhân viên xã hội làm việc với cá nhân trong mối quan hệ một - một với đối tượng Vì vậy, công tác xã hội chịu nhiều ảnh hưởng của lý thuyết này trong gần 3 thập kỷ sau đó Đến sau chiến tranh thế giới lần thứ II, Công tác xã hội được công nhận như một nghề chuyên nghiệp

Đến những năm 1960, có sự thay đổi diễn ra trong việc phát triển chuyên môn Công tác xã hội cùng với cách tiếp cận Xã hội học Lúc này, phương pháp tiếp cận

Xã hội học tỏ ra có hiệu quả và phù hợp khi đưa ra các tổ chức, cơ quan vào việc đáp ứng các nhu cầu của đối tượng

Mô hình hoạt động công tác xã hội và đào tạo công tác xã hội của Anh và Mỹ

đã phát triển lan rộng ra nhiều nước ở châu Âu (Hà Lan, Đức, Pháp ) sang châu Á

và Mỹ La tinh

Những năm sau này, công tác xã hội được phát triển theo nhiều mô hình, quan điểm khác nhau, như: Quan điểm bảo vệ quyền của phụ nữ, khủng hoảng và phát triển các cách tiếp cận: Tiếp cận dựa trên giải pháp, tiếp cận dựa trên điểm mạnh của đối tượng Cho đến ngày nay, công tác xã hội chú trọng vào việc "trao quyền" tăng năng lực Khác với lúc sơ khai ban đầu là trị liệu thì bây giờ là can thiệp

Ở châu Á, việc đào tạo nhân viên xã hội chuyên nghiệp được bắt đầu từ Trung Quốc, vào những năm 1920 Sau đó sang Ấn Độ và Philippin Tuy nhiên, Ấn độ lại

là nước đầu tiên ở châu Á thành lập trường Công tác xã hội (trường công tác xã hội Bombay năm 1939) Trung Quốc, sau một số năm gián đoạn đã tiếp cận trở lại ngành công tác xã hội vào năm 1950.Ở châu Á hiện nay đã thành lập Hiệp hội công tác xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (4)

Ngày nay, nhân viên xã hội chuyên nghiệp được đào tạo ở tất cả các cấp trình

độ từ trung cấp, cử nhân, thạc sỹ đến tiến sỹ Các trường đào tạo công tác xã hội phát triển ở hầu hết các châu lục

2.2 Sơ lược lịch sử Công tác xã hội ở Việt Nam

Thời kỳ thuộc Pháp, công tác xã hội chuyên nghiệp được biết tới qua hình ảnh các cán sự xã hội phục vụ trong các tổ chức Chữ thập đỏ, trong quân đội Pháp Năm

1947, khoá huấn luyện cán sự xã hội Việt Nam đầu tiên được Hội Chữ thập đỏ Pháp khởi xướng ở Sài Gòn tại Trung tâm Thevent (đường Thevent, nay là đường Tú Xương) Năm 1949, trung tâm huấn luyện này đổi tên thành Trường công tác xã hội Caritas, đặt tại 38 - Tú Xương, giao cho một dòng nữ tu Thiên chúa giáo quản lý Các khoá chính quy của trường đào tạo những nhân viên công tác xã hội trình độ

Trang 17

Trung cấp, gọi là cán sự xã hội và hoạt động cho tới ngày miền Nam được giải phóng

Thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, ở miền Nam, giữa thập kỷ 60, Bộ Xã hội của chính quyền Sài Gòn lúc đó yêu cầu tổ chức Liên hợp quốc (tổ chức UNDP và UNICEF) giúp đỡ thành lập trường công tác xã hội Theo đó, một đoàn chuyên gia quốc tế đã được cử đến Sài Gòn, cùng với một số chuyên gia trong nước xúc tiến việc thành lập " Trường Công tác xã hội quốc gia", chương trình đào tạo 4 năm, đầu

ra cuối cùng là Cử nhân công tác xã hội (ngạch giám sự xã hội) được chia làm 2 giai đoạn (sau hai năm đầu sinh viên tốt nghiệp ra trường làm việc ở ngạch Kiểm sự xã hội, sau đó trở lại học tiếp giai đoạn hai để được cấp bằng Cử nhân) Tuy nhiên, trường mới chuẩn bị đào tạo giai đoạn hai thì miền Nam được giải phóng

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đào tạo công tác xã hội tạm thời lắng xuống Vào những năm đầu của thập kỷ 90, hoạt động công tác xã hội và đào tạo công tác xã hội phát triển trở lại, trước hết ở các tỉnh phía Nam, sau

đó phát triển mạnh ở các tính phía Bắc

Năm 1992, bộ môn công tác xã hội được đưa vào giảng giảng dạy tại khoa Phụ Nữ học - Đại học mở bán công, thành phố Hồ Chí Minh

Năm 1995, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức khoá tập huấn cán

sự xã hội đầu tiên cho các giảng viên thuộc các trường thuộc Bộ và cán bộ làm Công tác xã hội tại các cơ sở Bảo trợ xã hội thuộc Bộ Đặc biệt, trong khuôn khổ dự án hợp tác UNV - MOLISA - CFSI, chương trình đào tạo công tác xã hội được thúc đẩy thông qua nhiều khoá tập huấn ngắn hạn về công tác xã hội cho các cán bộ làm công tác xã hội ở nhiều Bộ, ngành và địa phương trên phạm vi cả nước

Năm 1997, trường Cao đẳng Lao động - Xã hội được Chính phủ giao nhiệm

vụ đào tạo công tác xã hội, trình độ cử nhân Cao đẳng chuyên ngành Công tác Xã hội với chương trình đào tạo 3 năm

Một số trường khác, như: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Đại học Công đoàn - Hà Nội; trường Cán bộ Phụ nữ Trung ương; trường Thanh, Thiếu niên Trung ương cũng đưa các nội dung công tác xã hội vào chương trình đào tạo của trường theo các mức độ khác nhau

Ngoài ra, nhiều Bộ, ngành được sự giúp đỡ của các tổ chức Quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ đã tiến hành nhiều khoá tập huấn ngắn hạn về công tác xã hội cho các cán bộ làm việc với trẻ em, gia đình và cộng đồng thông qua các chương trình dự án

Trang 18

Hiện nay, đào tạo công tác xã hội đang được quan tâm phát triển rộng khắp

từ Nam chí Bắc Nội dung chương trình đào tạo từng bước thể hiện tính chuyên nghiệp của nghề công tác xã hội Hình thức đào tạo phát triển đa dạng, phong phú (chính quy và phi chính quy) Đặc biệt, trường Cao đẳng Lao động - Xã hội đã cử một số cán bộ, giảng viên đi đào tạo Thạc sỹ Công tác xã hội ở ngoài nước tại các nước Canada, Philippin trong chương trình hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Canada Ngày 11 tháng 10 năm 2004, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã ra quyết định ban hành Chương trình khung giáo dục đại học ngành Công tác xã hội trình độ đại học, cao đẳng Theo đó, một số trường đại học, cao đẳng trong hệ thống giáo dục quốc dân ở nước ta được giao nhiệm vụ đào tạo công tác xã hội trình độ đại học, cao đẳng (2)

Như vậy, có thể nói rằng, về cơ bản công tác xã hội đã có bề dày phát triển trên thế giới hàng vài chục năm, thậm chí có những nước đã có bề dày phát triển công tác xã hội hàng trăm năm nay, được xã hội thừa nhận là một nghề chuyên nghiệp không thể thiếu trong đời sống xã hội Từng quốc gia có Hiệp hội công tác

xã hội và Hiệp hội các Trường công tác xã hội Trên phạm vi quốc tế, có Hiệp hội Công tác xã hội quốc tế, Hiệp hội các trường Đại học công tác xã hội toàn cầu

3 TRIẾT LÝ VÀ GIÁ TRỊ NGHỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI

3.1 Triết lý của nghề Công tác xã hội (1)

Trong các học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin đều đã khẳng định: con người vừa là một thực thể tự nhiên vừa là một thực thể xã hội, con người vừa là sản phẩm

của xã hội vừa là chủ thể của lịch sử:

Con người, vừa là thực thể tự nhiên, có những nhu cầu vật chất và tinh thần và đòi hỏi được đáp ứng các nhu cầu đó; vừa là thực thể của xã hội, con người còn có các mối quan hệ

xã hội Để đạt tới sự phát triển hài hoà giữa con người và xã hội, giữa con người với

tự nhiên, đòi hỏi con người cần phải thể hiện trách nhiệm của mình với xã hội; đồng thời xã hội cũng phải có trách nhiệm bảo vệ, giúp họ đáp ứng các nhu cầu của cá

nhân

Ngoài ra, con người, ai cũng có mong muốn được an toàn, bình yên trong cuộc sống, được tham gia, cống hiến công sức, trí tuệ, tài năng của mình cho đất nước và

sự phát triển của cá nhân và xã hội

Trong sự vận động, phát triển của cá nhân và xã hội, suy cho cùng nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của con người và vì một xã hội tiến bộ và công bằng hơn Tuy

Trang 19

nhiên, trong thực tiễn phát triển, ở mỗi thời kỳ khác nhau, mỗi chế độ xã hội khác nhau vẫn luôn luôn tồn tại những cá nhân, gia đình, cộng đồng vì nhiều lý do khác nhau không được đáp ứng các nhu cầu cơ bản cần cho cuộc sống Họ không được bảo đảm trên thực tế các quyền cơ bản của con người, tạo ra những bất bình đẳng trong xã hội

Đối tượng phục vụ của công tác xã hội là con người Muốn thực sự giúp đỡ con người, đáp ứng các quyền cơ bản của con người, thực hiện công bằng xã hội thì nghề công tác xã hội cần trang bị cho mình một nền tảng triết lý làm kim chỉ nam cho mọi hành động Triết lý hành động được xây dựng trên cơ sở các quan điểm nhìn nhận con người một các đúng đắn, đó là 6 quan điểm mang tính nguyên tắc, định hướng trong hoạt động cung cấp các dịch vụ cho con người Đó là:

- Con người là trung tâm, là động lực, là mối quan tâm hàng đầu cơ bản của

xã hội;

- Giữa cá nhân và xã hội có sự phụ thuộc tác động qua lại với nhau;

- Cá nhân và xã hội đều phải có trách nhiệm đối với nhau;

- Con người có những nhu cầu cơ bản giống nhau, nhưng mỗi người là một thực thể độc lập, có tính cách riêng, hoàn cảnh sống và nhu cầu cá nhân không giống người khác, và có khả năng thay đổi;

- Mỗi con người cần được phát huy hết tiềm năng của mình và cần phải thực hiện trách nhiệm của mình đối với xã hội thông qua sự tích cực tham gia vào xã hội

Xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện để khắc phục những trở ngại đối với việc phát huy tiềm năng của cá nhân Những trở ngại ấy chính là sự mất cân bằng trong quan hệ giữa cá nhân với cá nhân và cá nhân với xã hội

Hoạt động công tác xã hội chuyên nghiệp được đặt trên tiền đề về niềm tin rằng tất cả con người (không phân biệt giới tính, tuổi tác, dân tộc, chủng tộc, tín ngưỡng, trình độ học vấn, tính cách, tình trạng kinh tế, địa vị chính trị ) đều có giá trị và nhân phẩm vốn có Con người cần được tôn trọng và có một điều kiện nhất định cho cuộc sống có lợi cho họ Công tác xã hội đặt niềm tin về khả năng thay đổi của con người và môi trường xã hội cần cho cuộc sống của con người và sự phát triển của xã hội

Nói đến hạnh phúc con người, trước hết phải quan tâm đến hạnh phúc của từng người, từng gia đình Chỉ khi nào các cá nhân được hạnh phúc, gia đình hạnh phúc thì nền tảng xã hội mới được bền vững, cũng như gốc có vững thì cây mới bền

Trang 20

Nhưng hạnh phúc cá nhân chỉ thực sự có được khi và chỉ khi gia đình và xã hội phát triển hài hoà, khi từng người không chỉ lo cho riêng mình mà phải có trách nhiệm với người khác, với xã hội trên tinh thần mình vì mọi người, mọi người vì mình

Một người làm phúc không phải là một nhân viên xã hội Công tác xã hội là một khoa học, một nghề, có hệ thống triết lý và lý thuyết, kỹ năng riêng Việc thực hiện nhiệm vụ của các nhân viên xã hội được kiểm soát thông qua các quy định về đạo đức của nghề công tác xã hội Các quy định đạo đức này được xây dựng trên cơ

sở nền tảng triết lý, các giá trị và các nguyên tắc hành động của công tác xã hội

3.2 Các giá trị của nghề Công tác xã hội (1)

Giá trị là những quan niệm về sự khao khát định hướng hành động (Bengston

và Lovejoy)

Hay giá trị là một chuẩn mực phân biệt những mục đích hoặc các hành động

mà chúng ta tin tưởng là quan trọng để theo đuổi (1987, Tropman và Cox)

Như vậy, giá trị là những điều chúng ta muốn có (phải, nên, cần - đó là những câu muốn diễn tả giá trị) Mỗi người đều có một giá trị độc đáo, đó là giá trị cá nhân, giá trị gia đình, giá trị xã hội, giá trị nghề nghiệp

Sự nhìn nhận giá trị của mỗi người khác nhau Đôi khi ta cho rằng mỗi người đều hiểu, nên ta không đề cập đến hoặc đôi khi ta cho rằng ta và người khác có những giá trị khác nhau, nên ta cũng không nói đến những điều đó nữa Có khi những giá trị đó lại cạnh tranh lẫn nhau

Ví dụ: có người xem việc tự quyết là giá trị của con người cá nhân và coi đó

là quan trọng Song họ lại tin vào tính quan trọng trên hết của gia đình

Các giá trị đôi khi lại đối đầu nhau nhưng vẫn tồn tại song song với nhau Chúng ta hiểu rằng con người phải có những nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống,

và vì thế để sinh tồn con người phải không ngừng đấu tranh cải tạo thiên nhiên, cải tạo xã hội Và ngược lại, xã hội cần phải tạo ra những điều kiện và cơ hội cho con người được phát huy tiềm năng, được đáp ứng các nhu cầu cơ bản cần cho cuộc sống

cá nhân, nhất là những cá nhân và nhóm xã hội yếu thế, thiệt thòi, dễ bị tổn thương Hay trong thực hành công tác xã hội chuyên nghiệp, các đối tượng đều phải được chấp nhận cho dù họ là ai, nhưng chúng ta không thể chấp nhận những hành vi sai lệch chuẩn mực đạo đức cá nhân, đạo đức xã hội Điều này giải thích vì sao có khi các giá trị lại đối đầu nhau

Trang 21

Điểm khác biệt giữa nhân viên xã hội với người khác là nhân viên xã hội hiểu được giá trị của mình rõ ràng và quan trọng hơn người nhân viên xã hội ý thức được giá trị của ngành vào quá trình thực hiện công việc Sau đây là những giá trị chủ yếu trong công tác xã hội:

- Vì phúc lợi của con người: Phục vụ con người, đáp ứng các nhu cầu của con

người là mục đích đầu tiên của công tác xã hội Con người có những quyền cơ bản

đã được luật pháp quốc tế và luật pháp của từng quốc gia quy định Trong đó có quyền hưởng an sinh xã hội Cho nên con người cần phải là đối tượng thụ hưởng chủ yếu và tham gia tích cực vào quá trình thực hiện các quyền con người Các nguyên tắc về quyền con người luôn luôn được coi là nền tảng của công tác xã hội

Điều 25 của Công ước quốc tế về quyền con người đã ghi rõ: “Mọi người đều

có quyền được bảo đảm một mức sống cần thiết, đủ cho sức khoẻ và sự yên vui của bản thân và gia đình, bao gồm có đủ ăn, đủ mặc, có nhà ở và được chăm sóc y tế, cũng như các dịch vụ xã hội cần thiết, và quyền được bảo hiểm trong trường hợp thất nghiệp, bị đau ốm, tàn phế hoặc goá bụa, khi về già hoặc gặp những thiếu thốn vật chất khác trong những hoàn cảnh vượt quá khả năng đối phó của họ”

Phúc lợi cho mọi người là mục tiêu hướng đích của quá trình xây dựng một xã hội tiến bộ, văn minh, một xã hội cho mọi người Chính vì vậy, khi còn sống Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng được hưởng cơm no

áo ấm, ai cũng được học hành" Khi nước nhà đã giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói: "Nước nhà giành được độc lập, nhân dân được tự do mà đồng bào không được hưởng cơm no, áo ấm thì độc lập phỏng có ích lợi gì" và Người coi việc chăm nom đời sống hạnh phúc của nhân dân là trách nhiêm và bổn phận của Đảng và Chính phủ, điều này được thể hiện rất rõ trong chương trình Việt Minh (1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân

ốm, Đảng và Chính phủ có lỗi"

Khi nước nhà đã hoàn toàn độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng

và Nhà nước ta vẫn kiên định đi theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, tiến hành công cuộc đổi mới đất nước vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh" Cùng với đẩy mạnh phát triển kinh tế, Đảng ta chủ trương giải quyết tốt các vấn đề xã hội, coi đây là hướng chiến lược thể hiện bản chất ưu việt của chế độ ta Các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về chăm lo phúc lợi cho con người đã được

Trang 22

thể chế hoá trong Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992; trong các văn kiện của Đảng tại các kỳ đại hội và trong các văn bản pháp luật

Chẳng hạn: Tại Đại hội lần thứ IV của Đảng, các văn kiện đã nêu lên nhiều biện pháp nhằm giải quyết các vấn đề xã hội: Tạo ra nhiều việc làm mới; mở rộng

hệ thống Bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội; cải cách cơ bản chế độ tiền lương; đẩy nhanh các chương trình xoá đói, giảm nghèo; thực hiện chính sách ưu đãi xã hội và vận động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với các lão thành cách mạng, những người có công với nước, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh và cha mẹ, vợ con liệt sĩ, gia đình chính sách; kiểm soát quy

mô dân số và từng bước nâng cao chất lượng dân số, chăm sóc sức khoẻ nhân dân,

mở rộng và hoàn thiện mạng lưới y tế; chăm sóc và bảo vệ trẻ em; đẩy mạnh phong trào toàn dân tập luyện thể dục - thể thao v.v đồng thời, đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự, kỷ cương xã hội, ngăn chặn và bài trừ các tệ nạn xã hội; ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi đại dịch HIV/AIDS Xây dựng lối sống văn minh, lành mạnh Các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về chăm lo phúc lợi cho con người đã được thể chế hoá trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật

Để góp phần giải quyết các vấn đề xã hội nêu trên, ngành công tác xã hội có

vị trí, vai trò rất quan trọng trong việc triển khai các chính sách, chương trình an sinh

xã hội; trong đó nhân viên xã hội là những người cung cấp các dịch vụ xã hội cần cho phúc lợi của cá nhân, gia đình, cộng đồng và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội

- Vì sự công bằng xã hội: Công bằng xã hội là nền tảng của công tác xã hội

Nghề công tác xã hội, mà trực tiếp là nhân viên xã hội luôn đấu tranh trước những bất công trong xã hội nhằm bảo đảm trên thực tế các quyền cơ bản của con người, nhất là việc đấu tranh chống lại mọi phân biệt xã hội Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ, không có bất kỳ sự phân biệt nào Điều này đã được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế về quyền con người Tuyên ngôn thế giới

về quyền con người đã khẳng định: "mọi người sinh ra đều bình đẳng về phẩm giá

và các quyền" (Điều 1), "Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân" (Điều 3)

Năm 1945, sau khi quân đội Liên xô đánh thắng chủ nghĩa phát xít, nhân dân ta đã làm Cách mạng tháng Tám thành công Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông - Nam châu Á Tại bản Tuyên ngôn lịch sử này có đoạn viết: "Tất cả mọi

Trang 23

người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc"

Lời nói bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do

Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói:" Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được

tự do và bình đẳng về quyền lợi"

Đó là lẽ phải không ai chối cãi được

Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy"

Chính vì thế, cho dù đất nước còn gặp muôn vàn khó khăn trong cuộc kháng chiến giữ gìn nền độc lập vừa mới giành được, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành nhiều chính sách xã hội liên quan đến đời sống của mọi tầng lớp nhân dân từ công nhân, nông dân, binh sĩ, trí thức đến trẻ em, phụ nữ, người già, người tàn tật, thương nhân Và để thực hiện kế hoạch kiến quốc (năm 1946), trong thư gửi Uỷ ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Chính phủ ta đã hứa với dân, sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc Trong việc kiến thiết nước nhà, sửa sang mọi việc, phải làm dần dần, không thể một tháng, một năm

mà làm được hết Song ngay từ bước đầu, chúng ta phải theo đúng phương châm: Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm Việc gì hại cho dân, ta phải hết sức tránh" (5)

Đặc biệt, quyền bình đẳng trước pháp luật ở Việt Nam đã được thể hiện ngay

từ Hiến pháp 1946 - một bản Hiến pháp được ca ngợi ở nhiều phương diện trong đó

có phương diện bảo vệ quyền con người và quyền bình đẳng trước pháp luật Chẳng hạn Điều 6, 7 Hiến pháp 1946 quy định: "Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền

về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá”; "Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình”; Điều 16 Hiến pháp 2013 khẳng định: Mọi

Trang 24

người đều bình đẳng trước pháp luật Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội

Kế thừa tư tưởng lập hiến tiến bộ trong đó có những tư tưởng văn minh tiến

bộ về quyền con người có từ những năm đầu thế kỷ và đặc biệt là Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1992 tái khẳng định quyền bình đẳng trước pháp luật tại Điều 51 bằng việc khẳng định: Công dân có quyền bình đẳng trước pháp luật Quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền Hiến định và bình đẳng trước pháp luật là nguyên tắc Hiến định Chính vì vậy, nó không chỉ được thể hiện và cụ thể hóa trong Hiến pháp mà còn được cụ thể hóa trong tất cả các lĩnh vực cụ thể của quan hệ pháp luật như: Hiến pháp 2013 và các Luật hiện hành

- Tôn trọng phẩm giá con người: Chấp nhận đối tượng được xem là một trong

các nguyên tắc hành động của nhân viên xã hội Mỗi cá nhân đều có giá trị và nhân phẩm, bởi họ là con người Tuy nhiên cần hiểu rằng tôn trọng phẩm giá khác với tôn trọng hành vi Con người có quyền tự do, được luật pháp quốc tế và quốc gia quy định Tự do bao gồm quyền có thể làm mọi điều không gây hại cho người khác Như vậy, trong thực hành công tác xã hội việc tôn trọng và thực hiện các quyền tự do của mỗi người chỉ bị giới hạn trong việc bảo đảm cho các thành viên được hưởng các quyền đó, các giới hạn này chỉ có thể do luật pháp quy định

Hiến pháp năm 2013 ở nước ta cũng đã quy định: "Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm công dân" (6)

- Tin tưởng vào khả năng thay đổi tích cực của cá nhân và xã hội: Là con

người, ai cũng có những mong muốn, khát vọng về một tương lai tốt đẹp cho cá nhân

và xã hội Họ không thể cam chịu hoàn cảnh hiện tại mà luôn đấu tranh, hành động

để tạo ra những thay đổi có lợi cho cuộc sống của họ, cho sự phát triển xã hội Lịch

sử vận động và phát triển của xã hội loài người đã chứng minh điều đó Trên thực

tế, nhiều người nghèo đã không cam phận nghèo đói và họ đã cố gắng để vượt qua tình cảnh nghèo đói; nhiều người khuyết tật đã vượt lên số phận trong sinh hoạt, học tập và lao động, hoà nhập xã hội

Công tác xã hội bao gồm cả hệ thống lý thuyết và kỹ năng để điều chỉnh hành

vi con người, hệ thống xã hội và môi trường xã hội Bởi công tác xã hội đặt niềm tin vào sự thay đổi của con người và sự thay đổi của xã hội, đó là động lực cho hành

Trang 25

động của ngành công tác xã hội, của nhân viên xã hội chuyên nghiệp trong quá trình giúp đỡ con người thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi, cũng như những thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi xã hội đối với con người trong tiến trình xây dựng và phát triển xã hội

- Đóng góp vào sự cải tiến các thể chế và thiết chế tổ chức: Vì chất lượng

cuộc sống của con người, công tác xã hội ý thức rằng, những khó khăn, trở ngại của

cá nhân, gia đình, cộng đồng không chỉ đơn thuần do những hạn chế, yếu kém từ phía bản thân mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng mà còn do từ phía môi trường xã hội tác động Những tác nhân này có thể là chính sách, thể chế và thiết chế chưa phù hợp, gây ra những bất lợi cho con người Trong quá trình hành động, người nhân viên xã hội không chỉ thuần tuý cung cấp các dịch vụ xã hội để đáp ứng các nhu cầu của con người, thực hiện công bằng xã hội mà còn tác động đến việc cải cách chính sách, thể chế và thiết chế xã hội vì cuộc sống tốt đẹp hơn cho con người

3.3 Chuẩn mực đạo đức trong Công tác xã hội (7)

Chuẩn mực đạo đức là tập hợp những quy định xã hội về các giá trị đạo đức

mà cá nhân, nghề nghiệp và xã hội cần thực hiện

Chuẩn mực đạo đức trong công tác xã hội được hiểu là tập hợp các quy định

về những giá trị chuẩn mực đạo đức của nghề mà người nhân viên xã hội cần phải thực hiện Nó mô tả trách nhiệm và hành vi của nhân viên xã hội trong thực hành công tác xã hội nhằm định hướng hành động cho nhân viên xã hội và ngăn ngừa những hành vi lệch lạc chuẩn mực đạo đức cá nhân của nhân viên xã hội trong mọi tình huống, nhất là những tình huống phức tạp mà nhân viên xã hội phải đương đầu

Mục đích của việc quy định chuẩn mực đạo đức nhằm:

- Quy định hành vi của người nhân viên xã hội,

- Xác định quyền hạn và trách nhiệm của nhân viên xã hội khi thực hiện công việc

- Bảo vệ đối tượng khỏi sự lạm dụng của những nhân viên xã hội thiếu lương tâm và trách nhiệm

Hành động của mỗi cá nhân, hoạt động của mỗi nghề trong xã hội đều bị chi phối bởi những giá trị chuẩn mực đạo đức nhất định Trong cuộc sống, trong các mối quan hệ luôn tồn tại nhiều quan niệm về đạo đức, như: Đạo đức cá nhân, đạo đức

nghề nghiệp, đạo đức xã hội Ví dụ, về đạo đức nghề nghiệp, ngành y có y đức Trong

hoạt động nghề nghiệp, ngành công tác xã hội đòi hỏi người nhân viên xã hội nếu

Trang 26

chỉ có sự nhiệt tình, có tri thức, kiến thức, kỹ năng công tác xã hội thì chưa đủ mà mỗi nhân viên xã hội khi hành nghề còn phải có "Tâm" với đối tượng, với nghề

Quy điều đạo đức được xây dựng theo từng nghề và cụ thể cho từng nước Mỗi nghề chuyên môn đều có quy điều đạo đức riêng, là kim chỉ nam định hướng hành vi của người thực hiện Đạo đức nghề nghiệp giới hạn những quyền lực của nghề, nhằm ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực và ân hưởng mà nghề nghiệp có được trong khi hành nghề

Ví dụ: Trong ngành Y, luật pháp quy định các điều kiện được hành nghề, được

cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép hành nghề; theo đó, chỉ các bác sỹ được cấp phép mới được quyền khám bệnh, kê đơn thuốc cho bệnh nhân Trong công tác xã hội hiện đại cũng vậy, nhiều nước chỉ cấp phép hành nghề cho những người đã được đào tạo kiến thức, kỹ năng công tác xã hội chuyên nghiệp Nhân viên xã hội hành động trong khuôn khổ các quy điều đạo đức do Hiệp hội các nhà công tác xã hội chuyên nghiệp xây dựng và được pháp luật bảo vệ Bất cứ hành vi vi phạm nào của nhân viên xã hội đối với quy điều đạo đức của ngành đồng nghĩa với việc tước đi những quyền lực và những ân hưởng mà xã hội dành cho họ

Quyền lực là khả năng ảnh hưởng đến người khác Cho nên nhân viên xã hội

có rất nhiều quyền lực khi làm việc với đối tượng Công cụ của nhân viên xã hội là quyền lực, đó là những kiến thức, cơ quan làm việc của nhân viên xã hội và sự uỷ thác của xã hội, của đối tượng Đó là lý do để nhân viên xã hội làm việc và hợp đồng với đối tượng, để đối tượng biết một cách rõ ràng về những gì ở nhân viên xã hội và những kết quả từ hành vi của nhân viên xã hội, đặc biệt trong những hoàn cảnh quyền lực được thể hiện rõ ràng

Quy điều đạo đức thay đổi theo từng thời kỳ phát triển của nghề và tuỳ thuộc vào bối cảnh xã hội và nền văn hoá của mỗi nước Các nhân viên xã hội ở mỗi nước cùng đến với nhau trong một Hiệp hội của mình và xây dựng quy điều đạo đức nghề nghiệp riêng cho ngành mình, đất nước mình Đó cũng là những thách thức cho những người đi tiên phong trong lĩnh vực công tác xã hội ở Việt Nam, bởi vì để quy điều đạo đức của ngành có hiệu lực phải có luật quy định các quyền lực và những ân hưởng chỉ dành cho những nhân viên xã hội được cấp phép hành nghề

Tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp của người làm công tác xã hội là các chuẩn mực đạo đức mà người làm công tác xã hội phải tuân thủ trong quá trình thực hành

Trang 27

công tác xã hội, quan hệ xã hội với đối tượng sử dụng dịch vụ công tác xã hội, đồng nghiệp, các tổ chức, cá nhân có liên quan và mối quan hệ tại nơi làm việc

- Theo quy định của Thông tư số 01/2017/TT-BLĐTBXH: Người làm công tác xã hội phải tuân thủ 06 nguyên tắc cơ bản bao gồm: (8)

Thứ nhất, tôn trọng và phát huy quyền lựa chọn, quyền quyết định mà không phân biệt giá trị, niềm tin, tư tưởng và cuộc sống của đối tượng và không ảnh hướng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác

Thứ hai, thúc đẩy sự tham gia đầy đủ của đối tượng bằng cách giúp đối tượng

tự quyết định và giải quyết các vấn đề có ảnh hưởng đến cuộc sống

Thứ ba, tập trung vào điểm mạnh, tận dụng các nguồn lực sẵn có của đối tượng

để thúc đẩy việc trao quyền

Thứ tư, chịu trách nhiệm đối với các hoạt động nghề nghiệp công tác xã hội, đảm bảo đối tượng được cung cấp dịch vụ công tác xã hội phù hợp và chất lượng

Thứ năm, thúc đẩy công bằng xã hội, bảo đảm nguồn lực một cách công bằng, minh bạch theo nhu cầu của đối tượng

Thứ sáu, tôn trọng sự đa dạng, không phân biệt đối xử về khả năng, tuổi tác, giới tính, tình trạng hôn nhân, tình trạng kinh tế xã hội, màu da, chủng tộc, quốc tịch, quan điểm chính trị, tín ngưỡng tôn giáo và các đặc điểm sức khỏe của đối tượng

- Người làm nghề công tác xã hội phải đảm bảo 07 yêu cầu về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cụ thể như sau:

Một là, cần, kiệm, liêm, chính, không được lạm dụng các mối quan hệ với đối tượng để vụ lợi cá nhân; xác định rõ ranh giới giữa cuộc sống cá nhân và nghề nghiệp

Hai là, tâm huyết, trách nhiệm, chủ động và sang tạo trong việc cung cấp dịch

vụ công tác xã hội chuyên nghiệp cho đối tượng

Ba là, kiên nhân, thấu hiểu, chia sẻ và quan tâm đối với đối tượng

Bốn là, đặt lợi ích của đối tượng là quan trọng nhất trong quá trình hoạt động nghề công tác xã hội

Năm là, chịu trách nhiệm về các hoạt động nghề nghiệp của mình theo quy định của pháp luật

Trang 28

Sáu là, giữ gìn đoàn kết với các đồng nghiệp; không lợi dụng, chia rẽ mối quan hệ giữa các đồng nghiệp

Bảy là, chăm sóc bản thân và xây dựng hình ảnh phù hợp để đảm bảo hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã hội, hiệu quả

- Ngoài ra, người làm công tác xã hội còn phải tuân thủ 13 quy định về kỷ luật nghề nghiệp:

1 Tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị Hoạt động nghề nghiệp công tác xã hội trong phạm vi nhiệm vụ được giao và không được từ chối yêu cầu cung cấp dịch vụ công tác xã hội phù hợp của đối tượng

2 Bảo mật thông tin liên quan đến đối tượng Trường hợp chia sẻ thông tin phải thực hiện theo quy định của pháp luật hoặc có ý kiến đồng ý của đối tượng và người quản lý chuyên môn

3 Tôn trọng quyền được xem hồ sơ của đối tượng Trường hợp từ chối, phải lập biên bản nêu rõ lý do cho đối tượng

4 Tôn trọng, chia sẻ, đồng cảm và giúp đỡ đồng nghiệp trong mối quan hệ công việc và xã hội

5 Sẵn sàng hợp tác với các đối tác, chuyên gia trong lĩnh vực công tác xã hội

9 Có kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ công tác xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán, tôn giáo để phục vụ cho công việc

Trang 29

10 Có trách nhiệm và khả năng hợp tác làm việc trong các nhóm liên ngành Đóng góp, chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức của mình để nhóm liên ngành hoạt động

13 Luôn yêu nghề và bảo vệ uy tín nghề nghiệp

Cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội có trách nhiệm giáo dục ý thức tuân thủ; tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ để người làm công tác xã hội thuộc phạm vi quản lý thực hiện tốt các tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp trong quá trình thực hành công tác xã hội; tổ chức đánh giá kết quả theo thẩm quyền quản lý

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Khái niệm công tác xã hội và đặc điểm nghề công tác xã hội?

2 Phân tích mối quan hệ giữa công tác xã hội với các lĩnh vực từ thiện, an sinh xã hội?

3 Triết lý giá trị nghề nghiệp của công tác xã hội là gì?

4 Quá trình hình thành và phát triển của nghề công tác xã hội trên thế giới như thế nào?

5 Những khó khăn, thách thức nghề công tác xã hội hiện nay?

Trang 30

THỰC HÀNH

1 Mục đích, yêu cầu

* Mục đích

- Cũng cố các kiến thức lý thuyết đã được học;

- Rèn luyện kĩ năng cho người học khi vận dụng các kiến thức vào các tình huống trong thực tiễn

- Tăng cường kĩ năng làm việc nhóm, tăng cường sự tương tác giữa giáo viên

và sinh viên; giữa sinh viên với nhau

* Yêu cầu

- Nắm vững lý thuyết, chuẩn bị đầy đủ dụng cụ, nội dung thực hành theo phân công

- Tiến hành nghiêm túc, đảm bảo thời gian, đúng nội dung

2 Phương tiện thảo luận

- Giấy A4, bút màu, máy tính xách tay

3 Nội dung thảo luận

(1) Yêu cầu về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp đối với những người hoạt động công tác xã hội

(2) Phân tích mối quan hệ giữa công tác xã hội với các lĩnh vực từ thiện, an sinh xã hội?

4 Cách tiến hành

- Trước khi kết thúc tiết học, giáo viên tiến hành chia nhóm (mỗi nhóm không quá 5 người); các nhóm cử nhóm trưởng, thư ký, người trình bày và giao nhiệm vụ

để các nhóm về nhà chuẩn bị

- Nội dung: mỗi nhóm chuẩn bị 1 nội dung

- Các nhóm tiến hành làm việc và trình bày kết quả trên tính cá nhân bằng phần mềm Powerpoint

5 Báo cáo kết quả và đánh giá (thực hiện vào tiết học đầu tiên của buổi

học kế tiếp), với các bước tiến hành:

- Giáo viên nêu lại mục đích, yêu cầu của tiết thực hành và nhắc lại nội dung nhiệm vụ của mỗi nhóm;

Trang 31

- Các nhóm trình bày kết quả thực hành đã chuẩn bị ở nhà theo các bước;

- Các nhóm tiến hành nhận xét lẫn nhau;

- Thực hành được các nội dung đã giao ở trên;

- Đánh giá bằng cách theo dõi hoạt động thực hiện của từng cá nhân, nhóm và kết quả của nội dung bài tập;

- Giáo viên nhận xét, kết luận

Trang 32

Chương 2 MỤC ĐÍCH, VAI TRÒ, CHỨC NĂNG VÀ NGUYÊN TẮC

NGHỀ NGHIỆP TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI

- Trình bày được các mục đích, nhiệm vụ và các nguyên tắc nghề nghiệp trong

Công tác xã hội; Xác định rõ vai trò, chức năng nghề công tác xã hội; Vận dụng thường xuyên các nguyên tắc nghề nghiệp trong khi học các môn chuyên ngành công tác xã hội

- Vận dụng thành thạo các nguyên tắc trong thực hành công tác xã hội; Áp dụng linh hoạt các phương pháp tiếp cận trong công tác xã hội vào những tình huống

cụ thể

- Tôn trọng các nguyên tắc làm việc với thân chủ, đặc biệt là nguyên tắc giữ

bí mật, cá biệt hóa và giành quyền tự quyết cho thân chủ

Nội dung chính

1 MỤC ĐÍCH, VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI

1.1 Đối tượng của nghề Công tác xã hội (1)

Đối tượng trợ giúp của công tác xã hội là cá nhân, gia đình, nhóm người hay cộng đồng đang trong hoàn cảnh có vấn đề Cá nhân có thể là người già hay người trẻ, người giàu hay người nghèo Khi họ gặp phải khó khăn trong cuộc sống và không tự giải quyết được họ mong muốn có sự trợ giúp Người nghèo cần có sự trợ giúp về vật chất và tinh thần để vượt qua nghèo khó Người giàu khi rơi vào hoàn cảnh khủng hoảng tinh thần (như phá sản, thua lỗ, sức ép công việc hay sự cạnh tranh trong kinh doanh ) đều có thể cần tới

sự can thiệp trợ giúp của nhân viên xã hội Tuy nhiên, đối tượng thường được hướng tới trong hoạt động trợ giúp của công tác xã hội là những nhóm người yếu thế như người nghèo, người lang thang cơ nhỡ, những người bị HIV/AIDS hay những người mại dâm ma tuý Có thể liệt kê một số nhóm đối tượng yếu thế thường được công tác xã hội chú trọng trợ giúp:

Trang 33

- Các nạn nhân của bạo lực gia đình

- Trẻ em lang thang, bị bỏ rơi, mồ côi, trẻ bị lạm dụng

- Các nạn nhân do thiên tai, hiểm hoạ

- Người mại dâm, ma túy, HIV/AIDS

Gia đình với những vấn đề của các thành viên trong gia đình hay sự tương tác

có vấn đề trong gia đình khiến cho họ có những khó khăn và ảnh hưởng tới chức năng xã hội của thành viên hay của gia đình đều trở thành đối tượng can thiệp của công tác xã hội

Ví dụ như gia đình có mâu thuẫn giữa vợ và chồng, giữa con cái với cha mẹ, gia đình nghèo, gia đình có con nghiện hút, con vi phạm pháp luật,…

Cộng đồng nghèo khó thường là đối tượng tác động đầu tiên trong công tác

xã hội với cộng đồng Những cộng đồng có nhiều vấn đề xã hội như nghèo đói, trình

độ dân trí thấp, môi trường vệ sinh không đảm bảo… thường cần tới các chương trình dịch vụ xã hội trong công tác xã hội

Ở nước ta, do các yếu tố tác động của thiên tai, của chiến tranh, dịch bệnh và những tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế đã tồn

Trang 34

tại và phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc cần giải quyết, như: Vấn đề nghèo đói, nạn nhân chiến tranh, tệ nạn xã hội (ma tuý, mại dâm ), người nhiễm HIV/AIDS, trẻ mồ côi, người già cô đơn, người khuyết tật v.v Bên cạnh đó, nhiều bi kịch cuộc sống cá nhân, gia đình do hậu quả của việc bạo hành trong gia đình, bất bình đẳng giới vẫn đang tồn tại Những vấn đề xã hội nêu trên đang đặt ra cho các nhà lãnh đạo, quản lý đất nước, chính quyền, đoàn thể, các cơ quan chức năng và cả cộng đồng xã hội những nhiệm vụ rất to lớn trong việc tìm ra các giải pháp hữu hiệu để giải quyết một cách có hiệu quả, bền vững nhằm tiến tới thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh"

Trong nhiều năm qua, Nhà nước và xã hội đã giành những sự quan tâm nhất định đối với những cá nhân, gia đình, cộng đồng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Nhiều chính sách xã hội và phong trào xã hội đã mang lại cho những cá nhân, gia đình, cộng đồng có hoàn cảnh khó khăn vượt qua khó khăn, trở ngại vươn lên khẳng định bản thân, hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng Trong đó, có sự đóng góp đáng

kể của các nhân viên xã hội làm việc ở các lĩnh vực khác nhau

Có thể nói rằng, công tác xã hội không đơn thuần giải quyết các vấn đề xã hội

mà còn góp phần giải quyết vấn đề kinh tế, mang lại lợi ích cho cộng đồng, cho xã hội, cho đối tượng thông qua phương pháp nghiệp vụ chuyên môn Cuộc chiến chống nghèo đói, hiểm hoạ ma tuý, đại dịch HIV/AIDS, thảm hoạ của thiên tai, bất bình đẳng xã hội và việc giải quyết hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội đều liên quan đến Công tác xã hội

1.2 Mục đích của nghề công tác xã hội

Hoạt động lao động của con người là hành động có mục đích, có ý thức Trong hoạt động công tác xã hội, mục đích hành động của nhân viên xã hội và của ngành nhằm góp phần đem lại sự an sinh cho con người và sự phồn vinh của xã hội thông qua việc cung cấp các dịch vụ nhằm giảm bớt những khác biệt về kinh tế và xã hội giữa các thành viên, tiến tới sự công bằng xã hội Như vậy, công tác xã hội có hai

nhóm mục đích chính:

- Giúp đỡ các cá nhân, gia đình, cộng đồng gặp khó khăn để họ có thể thực hiện tốt các chức năng xã hội của họ Để thực hiện mục tiêu này, công tác xã hội triển khai các hoạt động cung cấp dịch vụ cho con người, một mặt giúp đỡ những người gặp khó khăn nâng cao năng lực, khả năng ứng phó và giải quyết các vấn đề khó khăn của họ; mặt khác, giúp những người gặp khó khăn tiếp cận các nguồn lực

Trang 35

xã hội để đáp ứng các nhu cầu cá nhân, góp phần giảm bớt những khác biệt về kinh

tế, xã hội giữa các thành viên và ngăn ngừa, phòng chống các vấn đề xã hội có thể xảy ra

- Công tác xã hội hướng tới sự thay đổi tích cực về mặt xã hội, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người, đặc biệt là những người yếu thế, dễ bị tổn thương trên cơ sở thúc đẩy sự biến đổi xã hội, tăng cường các mối tương tác, liên kết giữa các thành viên trong xã hội, tạo ra sự phát triển hài hoà giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân và xã hội, tiến tới sự tiến bộ và công bằng xã hội

Như vậy, mục đích cuối cùng của công tác xã hội là sự an sinh của mỗi cá nhân, gia đình và toàn xã hội, vì sự tiến bộ và công bằng xã hội (3)

1.3 Vai trò của Công tác xã hội

Con người là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội Vấn đề xã hội của con người và nhu cầu cần được đáp ứng của con người là rất đa dạng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cơ quan khác nhau trong xã hội Tuy nhiên, trong thực tế, mỗi ngành chỉ tham gia giải quyết một hoặc một số nhu cầu nào đó của con người

Ví dụ: ngành Y tế tham gia vào việc chăm sóc sức khoẻ cho con người; ngành Giáo

dục tham gia vào việc chăm lo giáo dục văn hoá, nghề nghiệp cho con người nhằm nâng cao trình độ dân trí, trình độ lao động; ngành Xây dựng chăm lo xây dựng nhà ở, cơ sở hạ tầng giao thông; ngành Tư pháp chăm lo xây dựng pháp luật và bảo vệ các quyền và lợi ích của con người theo quy định của pháp luật… Chẳng hạn, để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo và việc làm đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ các chính sách, giải pháp như: chính sách hỗ trợ về y tế, chính sách hỗ trợ về giáo dục, chính sách hỗ trợ vốn vay, Hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn, trợ giúp đối tượng yếu thế, hỗ trợ về nhà ở, hỗ trợ đất sản xuất và công cụ cho người nghèo, chính sách miễn giảm các loại thuế với nhiều dự án khác nhau Do vậy, không chỉ có sự tham gia của cơ quan Nhà nước các cấp từ Trung ương đến xã, phường mà còn liên quan tới nhiều Bộ, ngành và các tổ chức xã hội

Như vậy, mỗi ngành chỉ đảm trách một hay vài vai trò nên không thể đáp ứng được một cách toàn diện các nhu cầu xã hội của con người Do đó, để giải quyết các vấn đề xã hội của con người cần có sự phối hợp liên ngành Vào những năm đầu của thế kỷ XX, có một ngành mới ra đời, đó là ngành công tác xã hội Nhà nước và xã hội đã trao cho ngành công tác xã hội những vai trò nối kết các ngành liên quan trong việc giải quyết các vấn đề xã hội của con người, thực hiện nền an sinh xã hội

Trang 36

Trước hết, hoạt động công tác xã hội như một công cụ, một phương tiện để thực hiện mục đích, mục tiêu của an sinh xã hội Nếu như an sinh xã hội là hệ thống các chính sách, chương trình nhằm bảo đảm an sinh cho con người và xã hội thì công tác xã hội như một công cụ để chuyển giao và triển khai các chính sách, chương trình, dịch vụ nhằm thực hiện các mục tiêu của an sinh xã hội Mỗi ngành khác nhau

có vai trò đóng góp khác nhau cho nền an sinh xã hội, trong đó ngành công tác xã hội đóng vai trò trung tâm, là cầu nối giữa các ngành liên quan trong thực hiện các mục tiêu của an sinh xã hội Trong hoạt động công tác xã hội, người Nhân viên xã hội có vai trò nối kết sự tham gia của các ngành, các chuyên môn khác nhau trong quá trình thực hiện các mục đích, mục tiêu của an sinh xã hội Trong quá trình làm việc với đối tượng, nhân viên xã hội sử dụng mình như một công cụ hữu hiệu để giúp đối tượng tăng năng lực và tự lực giải quyết vấn đề

Ngày nay, các quốc gia trên thế giới đều thống nhất nhận định về vai trò của công tác xã hội như sau: công tác xã hội góp phần thúc đẩy quá trình giải quyết các vấn đề xã hội, mối quan hệ của con người, tăng cường sự thay đổi chất lượng xã hội, nâng cao năng lực, an sinh của mỗi người, cộng đồng và xã hội (9)

2 CHỨC NĂNG CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI (1, 10)

Ngành y học hiện đại có 4 chức năng cơ bản: Phòng ngừa, chữa trị, phục hồi

và phát triển Tuy nhiên, ngành y học chữa trị về mặt sinh học của con người Trong công tác xã hội, nhân viên xã hội với tư cách là bác sỹ xã hội thực hiện chức năng can thiệp giải quyết các vấn đề xã hội của con người

Là một ngành khoa học ra đời sau ngành y học, công tác xã hội hiện đại ứng dụng 4 chức năng cơ bản của ngành y học trong hoạt động của mình Như vậy, công tác xã hội có các chức năng cơ bản: Phòng ngừa, can thiệp, phục hồi và phát triển

2.1 Phòng ngừa

Chức năng đầu tiên của công tác xã hội là phòng ngừa, ngăn chặn cá nhân, gia đình và cộng đồng rơi vào tình huống khó khăn chứ không phải để đối tượng rơi vào hoàn cảnh khó khăn rồi mới giúp đỡ Chức năng phòng ngừa của công tác xã hội thể thiện qua các hoạt động giáo dục, phổ biến tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cá nhân, gia đình và cộng đồng về luật pháp, chính sách xã hội và những vấn đề xã hội, như hoạt động giáo dục cộng đồng về kiến thức Luật phòng, chống bạo lực gia đình hay tuyên truyền phòng chống tệ nạn xã hội v.v Thông qua các hoạt động giáo dục như vậy, công tác xã hội đã giúp ngăn ngừa các vấn đề xã hội có thể xảy ra với cá

Trang 37

nhân, gia đình và cộng đồng Bên cạnh đó chức năng phòng ngừa còn thể hiện thông qua các hoạt động xây dựng văn bản, chính sách xã hội góp phần cải thiện và nâng cao đời sống, ngăn chặn gia tăng đối tượng rơi vào hoàn cảnh khó khăn

Với quan điểm phòng bệnh hơn chữa bệnh được đúc kết kinh nghiệm từ ngành

y học Trong hoạt động thực tiễn, ngành công tác xã hội tuy ra đời muộn hơn so với ngành y nhưng đã sớm ý thức rằng cách để giải quyết tốt nhất các vấn đề xã hội của con người là ngăn ngừa, phòng chống các nguyên nhân nảy sinh các vấn đề xã hội của con người Bởi vì, trong công tác xã hội nếu nhân viên xã hội chờ tới khi cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng xã hội rơi vào tình huống khó khăn, có vấn đề mới tiến hành các hình thức và biện pháp giúp đỡ thì sẽ hao tốn công sức, thời gian, tiền của và sẽ không có lợi cho đối tượng được giúp đỡ

Ví dụ: Trong công tác phòng chống ma tuý, nếu không quan đến công tác

tuyên truyền, giáo dục phòng ngừa mà chờ tới khi con người nghiện ngập ma tuý mới tiến hành các biện pháp can thiệp chữa trị, phục hồi thì sẽ tốn công sức, thời gian và tiền bạc mà hiệu quả lại không như mong muốn của người giúp đỡ

Trong công tác xoá đói giảm nghèo cũng vậy, nếu để người dân lâm vào tình cảnh nghèo đói mới tiến hành các biện pháp giúp họ giải quyết vấn đề nghèo đói thì bản thân họ đã phải gánh chịu những thiệt thòi từ nghèo đói đưa đến, như con cái không được học hành tử tế, ốm đau không có tiền để chữa bệnh … do họ không được tiếp cận và hưởng lợi từ các nguồn và lợi ích của xã hội do thiếu sự quan tâm đến việc phòng ngừa các nguyên nhân dẫn đến sự nghèo đói

Để phòng ngừa có hiệu quả các vấn đề xã hội có thể xảy ra cần tiến hành đồng

bộ các giải pháp của cả chủ thể quản lý và khách thể Trong đó, cần quan tâm tạo dựng môi trường xã hội hài hoà và an toàn mà trong đó con người đang sinh sống thông qua hệ thống các chính sách, chương trình kinh tế - xã hội đúng đắn, lấy con người làm trung tâm, hướng vào con người, cho con người, vì lợi ích của con người; đồng thời cần tăng cường cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản phục vụ nhu cầu thiết yếu của đời sống con người về dinh dưỡng, nước sạch sinh hoạt, nhà ở, chăm sóc y

tế, giáo dục.v.v

Trong các hoạt động công tác xã hội, cần đặc biệt quan tâm đến công tác tuyên truyền, vận động xã hội và tham vấn, nhất là các nội dung tuyên truyền, giáo dục và tham vấn có tính chất phòng ngừa sự nảy sinh các vấn đề xã hội Mặt khác, mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng cũng cần tự ý thức phòng ngừa các vấn đề xã hội có thể

Trang 38

xảy ra cho chính bản thân mình, gia đình mình và cộng đồng của mình trên cơ sở nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cá nhân đối với xã hội và sự tham gia tích cực vào các chương trình kinh tế - xã hội, nhất là các chương trình phát triển xã hội

Ở nước ta hiện nay, Nhà nước đã và đang triển khai thực hiện nhiều chương trình quốc gia vì sự an sinh của mỗi cá nhân, gia đình và toàn xã hội, như:

- Chương trình quốc gia xoá đói giảm nghèo và việc làm,

- Chương trình dân số - kế hoạch hoá gia đình,

- Chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân,

- Chương trình phổ cập giáo dục,

- Chương trình quốc gia hành động vì trẻ em,

- Chương trình mục tiêu quốc gia bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn,

- Chương trình hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ,

- Chương trình quốc gia phòng chống ma tuý, mại dâm, HIV/AIDS.v.v Trong mỗi chương trình lớn lại cụ thể hoá thành các chương trình mục tiêu quốc gia nhỏ hơn gắn với từng giai đoạn phát triển xã hội Chẳng hạn như:

+ Chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng các xã vùng sâu, vùng xa và các xã đặc biệt khó khăn,

+ Chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ em,

+ Chương trình phòng chống suy dinh dưỡng,

+ Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường,

Trang 39

Can thiệp giải quyết các vấn đề xã hội (theo quan niệm trước đây gọi là chữa trị trong công tác xã hội) được hiểu là những hoạt động can thiệp của ngành công tác xã hội mà trực tiếp là các nhân viên xã hội trong việc cung cấp các dịch vụ để giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết các vấn đề mà họ đang gặp phải nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng có vấn đề giảm bớt hay loại trừ những khó khăn hiện tại để hoà nhập vào cuộc sống của cộng đồng

Ví dụ: giải quyết vấn đề nghèo đói; chữa trị, phục hồi cho người nghiện ma tuý; chữa bệnh và giáo dục người mại dâm; trợ giúp người khuyết tật; giải quyết tình trạng trẻ em lang thang

Mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng khi gặp khó khăn đều không giống nhau, nhu cầu cần được giúp đỡ cũng không giống nhau Vì vậy, trong can thiệp giải quyết vấn đề của đối tượng cần tiến hành các hình thức, biện pháp can thiệp khác nhau tuỳ theo từng hoàn cảnh khó khăn, nguyên nhân của vấn đề và nhu cầu cần được đáp ứng

2.3 Phục hồi

Một trong các mục tiêu của công tác xã hội là góp phần tạo ra những điều kiện

và cơ hội để con người tham gia đầy đủ vào các hoạt động chung của cộng đồng, của xã hội Vì vậy, trong các hoạt động can thiệp giải quyết vấn đề, nhân viên xã hội đặc biệt quan tâm tới khả năng đáp ứng việc phục hồi các chức năng xã hội của con người thông qua việc cung cấp các dịch vụ xã hội phù hợp

Ví dụ: Trong công tác cai nghiện cho người nghiện ma tuý, cùng với việc điều

trị cắt cơn giải độc, cần quan tâm tiến hành các hoạt động phục hồi sức khoẻ, phục hồi hành vi và nhân cách của người nghiện để người nghiện sau khi cai nghiện tái hoà nhập với gia đình và cộng đồng

Hay trong các hoạt động can thiệp giúp đỡ người khuyết tật cũng vậy, sau các can thiệp về y học cần tiến hành các hoạt động phục hồi sức khoẻ, phục hồi chức năng, phục hồi lao động để người khuyết tật có thể tự phục vụ sinh hoạt cá nhân, tham gia lao động sản xuất phù hợp với khả năng lao động của chính họ

Trong công tác xã hội nhóm, việc giải quyết các mâu thuẫn, xung đột nhóm giúp các thành viên trong nhóm tăng cường sự hiểu biết, sự liên kết và tương tác giữa các thành viên làm cho bầu không khí nhóm được hoà thuận, đoàn kết, hợp tác

để cùng thực hiện những công việc chung của nhóm

Trang 40

Trong Phát triển cộng đồng, ngoài việc các cộng tác viên làm phát triển cộng đồng giúp người dân trong cộng đồng phân tích các khó khăn, trở ngại, tiềm năng của cộng đồng, còn giúp họ nâng cao năng lực, quyền lực và ý thức tự lực trong việc giải quyết các vấn đề của cộng đồng

2.4 Phát triển

Mục tiêu hoạt động của công tác xã hội là hướng vào phát triển con người, phát triển xã hội Vì vậy trong các hoạt động công tác xã hội, nhân viên xã hội không chỉ quan tâm đến việc phòng ngừa và giải quyết các vấn đề xã hội mà còn đặc biệt quan tâm đến việc giải phóng con người, phát huy tiềm năng vốn có của con người nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng để đối phó và tự lực giải quyết những vấn đề của chính họ mà không cần tới sự trợ giúp của nhân viên xã hội trên cơ sở phát huy tiềm năng cá nhân và xã hội, nâng cao năng lực

và tự lực của các thành viên

Ngày nay, việc phát triển con người, phát triển xã hội được quốc tế và nhiều quốc gia coi trọng Ở nước ta, Đảng và Nhà nước đã xác định: "Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển" Để tạo dựng nền tảng xã hội ổn định làm cơ sở cho việc tăng trưởng kinh

tế bền vững, hàng năm Nhà nước đã tăng các khoản chi ngân sách để cải thiện việc cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản (giáo dục, y tế, nước sinh hoạt ) cho người dân thông qua phát triển hệ thống chính sách an sinh xã hội, các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án phát triển để giúp người dân tăng cường năng lực giải quyết vấn

đề, phát huy tiềm năng, tham gia vào các chương trình phát triển xã hội vì hạnh phúc của mỗi cá nhân và sự phồn vinh của đất nước

Tuy nhiên, trong hoạt động công tác xã hội, việc phân chia các chức năng như trên chỉ có ý nghĩa tương đối về mặt lý thuyết để làm rõ chức năng hoạt động của ngành Còn trong hành động thực tế, việc thực hiện các chức năng lại có sự liên hệ chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau Thực hiện chức năng này là điều kiện, tiền đề cho việc thực hiện các chức năng khác Vì vậy, trong thực hành công tác xã hội, nhân viên xã hội phối hợp thực hiện đồng bộ các chức năng Bởi vì, nếu làm tốt chức năng phòng ngừa có nghĩa là đã tạo ra điều kiện tiền đề để giảm bớt các vấn đề xã hội nảy sinh, giảm bớt các đối tượng khó khăn cần sự giúp đỡ và đương nhiên cá nhân, gia đình

và xã hội đã tự lực phát triển Còn nếu công tác chữa trị tốt sẽ giúp cho sự phục hồi

và phát triển có khả năng thực hiện Ngược lại, nếu thực hiện tốt chức năng phục hồi

Ngày đăng: 22/11/2022, 22:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Thị Xuân Mai. Giáo trình Nhập môn công tác xã hội. Hà Nội: Nxb Lao động - Xã hội; 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nhập môn công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2012
4. Bùi Thị Xuân Mai. Giáo trình Nhập môn công tác xã hội: Nxb Lao động xã hội; 2010.5. Hiến pháp 1946 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nhập môn công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2010
7. Nguyễn Thị Oanh. Mấy vấn đề phát triển xã hội: Đại học mở bán công Tp Hồ Chí Minh; 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề phát triển xã hội
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Nhà XB: Đại học mở bán công Tp Hồ Chí Minh
Năm: 1995
8. 01/2017/TT-BLĐTBH Tt. quy định về tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp đối với người làm công tác xã hội, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư quy định về tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp đối với người làm công tác xã hội
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Năm: 2017
9. Gia NV, Bùi Xuân Mai. Công tác xã hội Trường cao đẳng Lao động - Xã hội; 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội Trường cao đẳng Lao động - Xã hội
Tác giả: Gia NV, Bùi Xuân Mai
Năm: 2001
2. Bùi Thị Xuân Mai. Nhập môn công tác xã hội. Hà Nội: Bộ Lao động TB-XH; 2016 Khác
3. Lê Hùng Cường. Giáo trình nhập môn Công tác xã hội: Ninh Bình; 2018 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN