Phương pháp tiếp cận (2, 7)

Một phần của tài liệu Giáo trình nhập môn công tác xã hội (Trang 45 - 51)

Chương 2. MỤC ĐÍCH, VAI TRÒ, CHỨC NĂNG VÀ NGUYÊN TẮC NGHỀ NGHIỆP TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI

3. NGUYÊN TẮC NGHỀ NGHIỆP TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI

4.1. Phương pháp tiếp cận (2, 7)

Phương pháp luận xây dựng mô hình lý thuyết và thực hành công tác xã hội được tiếp cận từ nhiều cơ sở khoa học. Với kiến thức nhập môn công tác xã hội chỉ giới thiệu một số cách tiếp cận tổng quát còn các tiếp cận cụ thể đối với từng phương pháp can thiệp giải quyết vấn đề sẽ được trình bày ở các học phần tiếp sau

4.1.1. Phương pháp tiếp cận dựa theo hệ thống nhu cầu của con người Là con người xã hội, mỗi người đều có những nhu cầu, nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần. Các nhu cầu của con người thường rất đa dạng, phong phú và phát triển. Nhu cầu con người phản ánh mong muốn chủ quan hoặc khách quan tuỳ theo hoàn cảnh sống, yếu tố văn hoá, nhận thức và vị trí xã hội của họ.

Để tồn tại, con người cần phải được đáp ứng các nhu cầu thiết yếu cơ bản cần cho sự sống, như: Ăn, mặc, nhà ở và chăm sóc y tế; để phát triển, con người cần được đáp ứng các nhu cầu cao hơn, như: Nhu cầu được an toàn, được học hành, được yêu thương, được tôn trọng và khẳng định.

Theo thuyết động cơ của Maslow, con người là một thực thể sinh - tâm lý xã hội. Do đó, con người có nhu cầu cá nhân cần cho sự sống (nhu cầu về sinh học) và nhu cầu xã hội. Theo đó, ông chia nhu cầu con người thành 5 thang bậc từ thấp đến cao:

- Nhu cầu sống còn, bao gồm: Không khí, nước, thức ăn, quần áo, nhà ở, nghỉ ngơi...

- Nhu cầu an toàn: Ai cũng có mong muốn được sống trong một thế giới hoà bình, không có chiến tranh, không có bạo lực, kể cả trong những trường hợp bị mất kế sinh nhai được Nhà nước và xã hội bảo vệ và giúp đỡ.

- Nhu cầu thuộc vào một nhóm nào đó: Là con người xã hội, con người có các nhu cầu giao tiếp, nhu cầu sự yêu thương, chia sẻ. Họ không muốn sự cô đơn, bị bỏ ra ngoài lề xã hội, họ mong muốn có hạnh phúc gia đình, sự tham gia và thuộc vào một nhóm nào đó (gia đình, bạn bè, cộng đồng).

- Nhu cầu được tôn trọng: Tự tôn trọng là giá trị của chính cá nhân mỗi người;

được người khác tôn trọng là sự mong muốn được người khác thừa nhận giá trị của mình.

- Nhu cầu hoàn thiện: Trong cuộc sống, ai cũng mong muốn tự khẳng định mình và được xã hội tạo điều kiện để hoàn thiện và phát triển cá nhân.

Xét cho cùng, sự vận động và phát triển của xã hội loài người nhằm mục đích đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của con người. Việc đáp ứng các nhu cầu con người chính là động cơ thúc đẩy con người tham gia hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội.

Tuy nhiên, trong xã hội vẫn luôn tồn tại những người thường thiếu thốn các nguồn lực để đáp ứng các nhu cầu của cá nhân và gia đình. Trong đó, có những người đặc biệt khó khăn không có khả năng tự bảo đảm cho cuộc sống của cá nhân từ việc lo ăn, lo mặc đến chữa bệnh và học hành và có nguy cơ bị đe doạ sự an toàn của cuộc sống. Những đối tượng này rất cần được sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội.

4.1.2. Phương pháp tiếp cận dựa theo các quyền con người và công bằng xã hội

Quyền con người là giá trị nhân văn có tính lịch sử lâu đời, nội dung rộng lớn, phức tạp và hết sức nhạy cảm. Mỗi bước phát triển quyền con người gắn liền với cuộc đấu tranh của con người nhằm cải tạo tự nhiên, phát triển xã hội, xây dựng và hoàn thiện cơ chế, thiết chế bảo đảm quyền con người. Từ thế kỷ XVII đến nay, quyền con người là khái niệm pháp lý quan trọng, không phải chỉ trong luật pháp của mỗi nước mà còn là khái niệm trọng yếu trong luật pháp quốc tế.

Hướng tới sự tiến bộ, công bằng xã hội là một trong những mục tiêu của nhân loại tiến bộ trên thế giới. Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, cộng đồng quốc tế và các lực lượng chống chiến tranh đưa ra tuyên bố chính thức về các quyền con người với Hiến chương Liên hợp quốc và Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế (năm 1948), hai Công ước quốc tế 1966 (Công ước về các quyền dân sự và chính trị, Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá) cùng hai Nghị định thư bổ sung, được cộng đồng quốc tế thừa nhận là "Bộ Luật nhân quyền quốc tế" (The International Bill of Human Rights).

Sự nghiệp đổi mới ở nước ta đặt con người vào vị trí trung tâm của các chính sách phát triển kinh tế, xã hội. Quyền con người là nhân tố cơ bản tạo nên động lực của sự phát triển đất nước. Chủ trương mở rộng dân chủ xã hội theo phương châm

"Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân hưởng lợi" vừa là nhân tố ổn định xã hội vừa là nhân tố động lực để thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh".

4.1.3. Phương pháp tiếp cận dựa theo lý thuyết hành vi con người và môi trường xã hội

Sự trưởng thành và phát triển của con người là một quá trình vận động không ngừng. Để phát triển nhân cách con người theo các chuẩn mực giá trị xã hội mong đợi, mỗi người từ khi sinh ra đến lúc chết đều trải qua các quá trình xã hội hoá, quá trình học hỏi, tương tác và hành động.

Mỗi người bước vào thế giới như một cá thể đơn nhất, không ai giống ai.

Thông qua tác động qua lại với môi trường, con người học được cách bảo vệ cuộc sống an toàn, học cách thoả mãn nhu cầu của mình theo cách có thể chấp nhận được;

đồng thời học cách sống hài hoà với người khác và sống yên bình với bản thân.

Những gì con người học hỏi được lúc còn bé sẽ ảnh hưởng đến việc anh ta sẽ trở thành một "tuýp" người như thế nào trong tương lai. Với mỗi người, cuộc sống được

tạo ra khi người ta xác định được những mục tiêu mong muốn và đạt được một hay nhiều các mục tiêu đó.

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới tương lai cuộc sống con người và quyết định hoạt động của con người trong môi trường. Nói chung, người ta đều nhất trí cho rằng cả tính di truyền và môi trường đều đóng vai trò then chốt trong sự trưởng thành, phát triển và hoạt động của con người. Và nói chung, mỗi người đều được trang bị về mặt sinh học một số phản ứng nào đó và những phản ứng này chỉ bộc lộ khi có kích thích từ môi trường mà thôi.

Điều này lý giải vì sao con người có hành vi khác nhau trong môi trường khác nhau. Vì lẽ đó mà ngạn ngữ có câu "gần mực thì đen, gần đèn thì rạng". Có người nghiện ma tuý sau khi cai nghiện đã từ bỏ được thói quen sử dụng ma tuý, bởi anh ta được sống trong môi trường lành mạnh và bản thân anh ta có nghị lực để từ bỏ thói quen sử dụng các chất ma tuý.

Ngược lại, có người được cai nghiện nhiều lần nhưng vẫn tái nghiện do sống ở môi trường có ma tuý và anh ta không có nghị lực để chiến thắng bản thân.

4.1.4. Phương pháp tiếp cận dựa theo hệ sinh thái

Xã hội là một chỉnh thể toàn vẹn có cơ cấu phức tạp, được kết cấu bởi toàn bộ các cá nhân của xã hội trong mối quan hệ tương tác lẫn nhau và tương tác với tự nhiên. Ở tầm vĩ mô, tổng thể đó được xem xét trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hoá tác động tới cuộc sống các thành viên. Ở tầm trung mô, tổng thể đó được xem xét trong sự cấu trúc gia đình và các mối tương tác giữa các thành viên. Ở tầm vi mô, là cuộc sống của mỗi con người.

Trên phạm vi xã hội, cộng đồng, các thiết chế và cơ chế tổ chức các cơ quan quyền lực, cơ quan đoàn thể có tác động mạnh mẽ đến cuộc sống con người trong xã hội và cộng đồng đó. Sự tương tác giữa cá nhân mỗi người với các cơ quan, tổ chức trong môi trường sinh sống của họ có tác động quan trọng tới cuộc sống và hành động của mỗi người.

Trong phạm vi gia đình, cấu trúc và thiết chế gia đình có tác động quyết định tới sự hình thành, phát triển nhân cách con người và sự an toàn sinh sống của các thành viên. Một gia đình lành mạnh, mọi người yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau thì các mối liên kết giữa các thành viên được bền chặt và sự tương tác phát triển, mỗi thành viên thực hiện tốt vai trò của mình. Ngược lại, trong gia đình nếu cấu trúc và thiết chế có vấn đề thì sự tương tác giữa các thành viên gặp "trục trặc", mối liên kết lỏng lẻo, mỗi thành viên không bảo đảm thực hiện đúng vai trò của mình và trong thực tế thường xảy ra những bất hoà giữa các thành viên, thậm chí còn xảy ra sự kỳ thị, phân biệt đối xử, xung đột, bạo hành... dẫn tới những bất bình đẳng giữa các thành viên.

4.1.5. Phương pháp tiếp cận dựa theo lý thuyết phát triển

Phát triển bền vững không chỉ liên quan đến các yếu tố tự nhiên, môi trường mà còn liên quan bởi nhiều yếu tố khác. Liên hợp quốc đưa ra ba yếu tố cơ bản liên quan và tương hỗ với nhau của phát triển bền vững là: Phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Ngày nay, tiêu chí để đánh giá trình độ phát triển của các quốc gia không chỉ thuần tuý dựa vào yếu tố phát triển kinh tế mà quan trọng hơn là yếu tố phát triển xã hội, chỉ số phát triển con người.

Phát triển bền vững dẫn đến sự thay đổi và tăng trưởng về lượng và chất một cách vững chắc, đảm bảo việc phát huy tiềm năng cá nhân trong sự hợp tác, chia sẻ trách nhiệm, quyền hạn, nguồn lực và lợi ích, đảm bảo sự tăng trưởng tích cực và vững chắc môi trường tự nhiên - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Phát triển bền vững và toàn cầu hoá dẫn tới những nội dung của Công tác xã hội ngày càng phong phú, da dạng và mang tính toàn cầu. Trong Đại hội công tác xã hội toàn cầu, người ta đặc biệt nhấn mạnh ảnh hưởng của toàn cầu hoá đối với đời sống xã hội. Sự liên kết các quốc gia trong các hoạt động công tác xã hội ngày càng rõ nét. Tính dân chủ và vị thế của các tổ chức dân sự xã hội, đặc biệt là các tổ chức phi Chính phủ và các tổ chức ngoài quốc doanh được đặc biệt chú ý. Sự dân chủ được tăng cường tạo nền tảng cho phát triển năng lực tiềm tàng của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng và các tổ chức dân sự xã hội. Xu hướng liên kết giữa các nước vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với ngành công tác xã hội trong sự hội nhập và phát triển công tác xã hội toàn cầu.

Phấn đấu nâng cao chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) là một trong những nhiệm vụ quan trong của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Chỉ số phát triển con người (HDI) bao gồm nhiều chỉ số bộ phận (tuổi thọ trung bình, trình độ giáo dục và thu nhập), thể hiện sự phát triển, tiến bộ của mỗi quốc gia. Cho nên, việc nâng cao các chỉ số bộ phận là một biện pháp cần thiết để nâng cao HDI.

Chỉ số HDI của Việt Nam năm 2019 là: 0,704, xếp thứ 117/189 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng 1 bậc so với năm 2018, thuộc nhóm các nước có Chỉ số HDI ở mức cao. Từ năm 1990 - 2019, giá trị HDI của Việt Nam đã tăng gần 46%, nằm trong số các nước có tốc độ tăng HDI cao nhất trên thế giới.

Đáng chú ý là tiến bộ “Phát triển con người” của Việt Nam đã đạt được với mức độ bất bình đẳng vừa phải và ổn định. Mức giảm giá trị HDI của Việt Nam do

bất bình đẳng vào năm 2019 là 16,5%, giảm thu nhập do bất bình đẳng là 19,1% và hệ số GINI (hệ số bất bình đẳng thu nhập) ở mức 35,7 - là một trong những mức thấp nhất trong khu vực Đông Á và Thái Bình Dương. Khi xem xét HDI có tính đến bất bình đẳng, Việt Nam ở mức cao hơn 10 bậc so với xếp hạng HDI vào năm 2019.

Việt Nam cũng đã và đang thực hiện tốt bình đẳng giới. Với “Chỉ số phát triển giới” là 0,997, Việt Nam đứng thứ 65 trong số 162 quốc gia và nằm trong nhóm cao nhất trong 5 nhóm trên thế giới, đặc biệt là tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đưa Việt Nam vào nhóm cao nhất trong 3 nhóm trên toàn cầu.

Về chất lượng phát triển con người, Việt Nam thực hiện tốt các chỉ số y tế, giáo dục, việc làm và phát triển nông thôn. Việt Nam nằm trong nhóm đầu trong 3 nhóm về số năm không sống khỏe theo tỷ lệ phần trăm tuổi thọ (11,7%) và số giường bệnh (32 giường/100.000 dân). Tất cả giáo viên tiểu học đều được đào tạo, điện khí hóa nông thôn đạt 100% dân số, tỷ lệ thất nghiệp thấp.

Phát biểu tại sự kiện, Trưởng Đại diện thường trú UNDP, bà Caitlin Wiesen ca ngợi Việt Nam với chủ trương phát triển lấy con người làm trung tâm, ưu tiên phát triển con người và thúc đẩy bình đẳng trong các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Theo bà Caitlin Wiesen, Việt Nam đạt được mức “Phát triển con người cao”

là một thành tựu đáng ghi nhận và cũng tạo cơ hội cho sự phát triển tốt hơn và nhanh hơn trong giai đoạn tới. Việt Nam đang ở thời điểm quan trọng xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cho giai đoạn tiếp theo. Vì vậy, những hoạch định được đưa ra tại thời điểm này sẽ quyết định Việt Nam có tiếp tục tăng trưởng với tỷ lệ bất bình đẳng thấp hay không, đồng thời Việt Nam có thể phát triển nhưng giảm áp lực lên hành tinh và tăng cường sự hài hòa của con người và môi trường. UNDP sẵn sàng hợp tác với Việt Nam trong hành trình xây dựng lại con đường phát triển, tôn trọng sự chung sống của con người và hành tinh.

Nhận định về kết quả này, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Quốc Phương cho biết, việc Việt Nam đã vào nhóm các nước có “Chỉ số phát triển con người” ở mức cao như một mốc đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển của Việt Nam. Đáng chú ý, bất bình đẳng về thu nhập (19,1%) và hệ số Gini (35.7) của Việt Nam thuộc nhóm thấp nhất trong số các quốc gia được so sánh năm 2019. Đây là thành tựu không phải quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp nào cũng đạt được. (11)

Từ những phương pháp tiếp cận nêu trên, công tác xã hội xây dựng cho mình một hệ thống lý thuyết về các quan điểm triết lý, giá trị, đạo đức và nguyên tắc hành động; đồng thời, làm cơ sở để hình thành các kỹ năng, phương pháp can thiệp giải quyết các vấn đề xã hội của con người cũng như các cách thức tác động làm thay đổi xã hội vì chất lượng cuộc sống của con người và vì sự tiến bộ và công bằng xã hội

Một phần của tài liệu Giáo trình nhập môn công tác xã hội (Trang 45 - 51)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(80 trang)