Microsoft Word GIOI VA PHATRIEN 1 GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM TRƢỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG KON TUM GIÁO TRÌNH GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN NGHỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG Ban hành kèm th[.]
Trang 1GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG KON TUM
GIÁO TRÌNH GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN NGHỀ: CÔNG TÁC XÃ HỘI TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG
Ban hành kèm theo Quyết định số: QĐ-CĐCĐ ngày //2021 của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng cộng đồng Kon Tum
Kon Tum, năm 2021
Trang 2- MỤC LỤC
- MỤC LỤC 2
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN 7
LỜI GIỚI THIỆU 8
TÊN MÔN HỌC: GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN 9
- VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT Ý NGHĨA VÀ VAI TRÕ CỦA MÔN HỌC: 9
- MỤC TIÊU CỦA MÔN HỌC: 9
- NỘI DUNG CỦA MÔN HỌC: 10
CHƯƠNG 1: GIỚI VÀ VAI TRÕ, VỊ TRÍ CỦA GIỚI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI 10
- GIỚI THIỆU 10
- MỤC TIÊU 10
- NỘI DUNG CHÍNH 11
1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ GIỚI 11
1.1 Giới: 11
1.2 Giới tính: 11
1.3 Giới và phát triển 12
2 NGUỒN GỐC XÃ HỘI CỦA SỰ KHÁC BIỆT VỀ GIỚI 15
3 VAI TRÕ, VỊ TRÍ CỦA GIỚI TRONG SỰ PHÁT TRIỂN 17
3.1 Định nghĩa 17
3.2 Vai trò của giới 17
4 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỀ VẤN ĐỀ GIỚI VÀ PHỤ NỮ 19
4.1 Quan điểm 19
- CHỈ THỊ SỐ 21-CT/TW NGÀY 20 THÁNG 01 NĂM 2018 VỀ VIỆC TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC PHỤ NỮ TRONG TÌNH HÌNH MỚI: 21
4.2 Văn bản pháp luật Việt Nam liến quan đến vấn đề giới và phụ nữ 23
Trang 3- CÂU HỎI ÔN TẬP 26
CHƯƠNG 2: SỰ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG THEO GIỚI 28
- MỤC TIÊU 28
- NỘI DUNG CHÍNH: 29
1 KHÁI NIỆM PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG THEO GIỚI 29
2 QUAN ĐIỂM VÀ DIỄN BIẾN PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG THEO GIỚI 29
2.1 Quan điểm tiền định sinh học 29
2.2 Quan điểm xã hội hóa 30
2.3 Diễn biến của quá trình phân công lao động theo giới 30
3 PHÂN LOẠI CÔNG VIỆC THEO GIỚI 31
3.1 Sự phân công lao động truyền thống theo giới 31
3.2 Sự phân công lao động theo giới hiện nay 33
4 VAI TRÕ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA PHỤ NỮ TRONG SỰ HÕA NHẬP VÀO CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG 36
4.1 Vai trò của phụ nữ trong đời sống kinh tế 36
4.2 Vai trò của phụ nữ, giới trong sự phát triển cộng đồng 38
4.3 Sự hòa nhập xã hội của phụ nữ 41
4.4 Xu hướng biến đổi 42
4.5 Một số định hướng chính sách và giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong phát triển cộng đồng 42
- 5 NHU CẦU GIỚI 43
5.1 Nhu cầu thực tế 43
5.2 NHU CẦU GIỚI CHIẾN LƯỢC (NHU CẦU BÌNH ĐẲNG GIỚI) 43
5.3 TÓM TẮT PHÂN BIỆT NHU CẦU GIỚI THIẾT THỰC VÀ NHU CẦU GIỚI CHIẾN LƯỢC 45
5.4 CÁC PHƯƠNG THỨC ĐƯA NHU CẦU GIỚI VÀO CÁC HOẠT
Trang 4ĐỘNG DỰ ÁN 48
5.4.1 Lồng ghép giới 48
5.4.2 Giới thiệu một số dự án 51
- CÂU HỎI ÔN TẬP 53
CHƯƠNG 3: PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN (WID), PHỤ NỮ VÀ PHÁT TRIỂN (WAD), GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN (GAD) 56
- GIỚI THIỆU 56
- MỤC TIÊU: 56
- NỘI DUNG CHÍNH 56
1 NGUỒN GỐC CỦA KHÁI NIỆM “PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN” “PHỤ NỮ VÀ PHÁT TRIỂN”, “GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN” 56
2 CÁCH TIẾP CẬN, TRỌNG TÂM, VẤN ĐỀ, TIÊU TIÊU, GIẢI PHÁP VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA WID-WAD-GAD 57
2.1 Phụ nữ trong phát triển (Women in Development - WID) 57
2.2 Giới và phát triển (Gender and Development - GAD) 59
2.3 Sự khác biệt giữa Phụ nữ trong phát triển (WID) và Giới và phát triển (GAD) 60
3 MỘT SỐ KẾT QUẢ VỀ CHIẾN LƯỢC GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM 62
3.1 Kết quả 62
3.2 Hạn chế: 65
3.3 Chiến lược phát triển giới ở Việt Nam trong thời kỳ mới 66
QUYẾT ĐỊNH SỐ 2351 QĐ-TTG NGÀY 24 THÁNG 12 NĂM 2010 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ PHÊ DUYỆT CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI GIAI ĐOẠN 2011 -2020 66
4 TĂNG QUYỀN LỰC CHO PHỤ NỮ 76
4.1 Khái niệm 76
4.2 Chiến lược tăng quyền lực cho phụ nữ: 77
Trang 54.3 Tiếp cận, sử dụng và kiểm soát các nguồn tài nguyên và phúc lợi 79
4.4 Tham gia: 79
BÀI TẬP VÀ THỰC HÀNH 82
CHƯƠNG 4 CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ SỰ XÓA BỎ MỌI HÌNH THỨC PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ ĐỐI VỚI PHỤ NỮ VÀ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ 85
- GIỚI THIỆU 85
- MỤC TIÊU 85
- NỘI DUNG CHÍNH 85
1 CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ SỰ XÓA BỎ MỌI HÌNH THỨC PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ ĐỐI VỚI PHỤ NỮ 85
1.1 Bảo vệ quyền con người của phụ nữ: chống bạo lực đối với phụ nữ 90
1.2 Bạo hành trong gia đình 91
1.3 Hiếp dâm 92
1.4 Mại dâm 93
1.5 Xung đột vũ trang 93
2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM 93
3 MỘT SỐ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ XOÁ BỎI MỌI HÌNH THỨC PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI PHỤ NỮ 98
- THỰC HÀNH 102
CHƯƠNG 5 MỘT SỐ LĨNH VỰC QUAN TÂM ĐƯỢC THÔNG QUA TẠI HỘI NGHỊ BẮC KINH +5 VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA VIỆT NAM 103
- GIỚI THIỆU 103
- MỤC TIÊU 103
- NỘI DUNG CHÍNH 103
1 TUYÊN BỐ SỨ MẠNG VÀ KHUÔN KHỔ TOÀN CẦU 103
2 MỘT SỐ LĨNH VỰC BỨC XÖC CẦN QUAN TÂM ĐƯỢC THÔNG
Trang 6QUA TẠI HỘI NGHỊ BẮC KINH +5 105
2.1 Sự đói nghèo 105
2.2 Giáo dục 107
2.3 Sức khỏe 108
2.4 Bạo lực 109
2.5 Các cuộc xung đột chiến tranh và các hình thức xung đột khác 110
2.6 Chia sẻ quyền lực và ra quyết định 111
2.7 Nhân quyền 112
2.7 Em gái 113
3 MỘT SỐ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC LĨNH VỰC BỨC XÖC CẦN QUAN TÂM 114
3.1 Phụ nữ trong lĩnh vực ra quyết định 115
3.2 Phụ nữ và nạn đói nghèo 117
3.3 Phụ nữ với Giáo dục và đào tạo 117
3.4 Phụ nữ và sức khỏe 117
3.5 Bạo lực đối với phụ nữ 118
3.6 Phụ nữ và xung đột vũ trang 118
3.7 Phụ nữ và kinh tế 119
3.8 Cơ chế tổ chức vì sự tiến bộ của phụ nữ 120
3.9 Trẻ em gái 121
THỰC HÀNH: 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
Trang 7TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Giáo trình Giới và phát triển được tác giả biên soạn trên cơ sở kế thừa, tham khảo các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học và các đồng nghiệp đã từng biên soạn và giảng dạy, như: Cuốn “Giới và phát triển” của Thái Thị Ngọc Dư Trường Đại học Mở Tp.Hồ Chí Minh; Bài giảng học phần "Giới và phát triển" của thạc sỹ Nguyễn Văn Phúc - trường Cao đẳng Cộng đồng Kon Tum; cuốn "Những vấn đề về giới và vấn đề giới ở Việt Nam của Trần Thị Quế; Tài liệu chuyên khảo Giới và phát triển của Trần Xuân Kỳ; Cuốn sách "Phụ Nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam" của tác giả Lê Thi…
Khi tham khảo các tài liệu trên tác giả đã biên soạn giáo trình “Giới và phát triển” vừa mang tính khoa học vừa phù hợp với thực tế địa phương để giúp sinh viên
có tài liệu học tập hiệu quả cũng như làm tài liệu tham khảo cho giảng viên trong giảng dạy và nghiên cứu các vấn đề về giới
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo
Tài liệu sau khi được Nhà trường thẩm định, sẽ được lưu hành nội bộ, dùng cho giảng viên và cho sinh viên
Mọi mục đích khác hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ
bị nghiêm cấm
Trang 8LỜI GIỚI THIỆU
Để hoàn thành chương trình đào tạo ngành Công tác xã hội, được sự đồng ý của Trường Cao đẳng Cộng đồng Kon Tum, tôi tiến hành biên soạn giáo trình Giới và phát triển
Giáo trình được biên soạn bám sát vào chương trình đào tạo, đề cương chi tiết của môn học Giáo trình được viết thành 5 chương:
Chương 1 Giới và vai trò, vị trí của giới trong phát triển kinh tế-xã hội
Chương 2 Sự phân công lao động theo giới
Chương 3 Phụ nữ trong phát triển (WID) – Phụ nữ và phát triển (WAD) – Giới
và phát triển (GAD)
Chương 4 Công ước Quốc tế về sự xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và quyền của phụ nữ
Chương 5 Một số lĩnh vực quan tâm được thông qua tại hội nghị bắc kinh +5
và hành động của Việt Nam
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các thầy cô giáo trong Trường Cao đẳng Cộng đồng Kon Tum đã đưa ra những ý tưởng trong nghiên cứu khoa học, để giúp chúng tôi hoàn thành giáo trình này
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng, nhưng do trình độ có hạn nên giáo trình vẫn còn thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo để giáo trình này được hoàn thiện hơn
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
Kon Tum, ngày 24 tháng 12 năm 2021
Biên soạn
Trương Thị Minh Nguyệt
Trang 9TÊN MÔN HỌC: GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN
Mã môn học: 61032028
- Vị trí, tính chất ý nghĩa và vai trò của môn học:
- Vị trí: Môn học này dành cho sinh viên ngành Công tác xã hội, được bố trí học kỳ năm 1, năm thứ 2, nằm trong khối kiến thức chuyên ngành
- Tính chất: Là môn học bắt buộc đối với ngành Công tác xã hội
- Ý nghĩa và vai trò của môn học: Môn học này có đặc điểm là chú trọng nhiều đến các yếu tố nâng cao nhận thức của sinh viên Những mối quan hệ giữa nam giới
và nữ giới do các xã hội tạo nên chứa đựng những định kiến và nữ giới thường bị rơi vào tình trạng lệ thuộc, có địa vị thấp kém so với nam giới
Bình đẳng giới là một bộ phận của lý tưởng công bằng xã hội, không phân biệt đối xử nói chung Cải thiện mối quan hệ nam giới – nữ giới để tiến đến bình đẳng giới
là một trong những điều kiện cần thiết của phát triển
Từ những nhận thức nêu trên, sinh viên sẽ tiếp nhận những nội dung khác một cách thuận lợi Từ đó sinh viên sẽ có kiến thức về bình đẳng giới và những lợi ích to lớn đem lại khi thực hiện bình đẳng giới đối với sự phát triển kinh tế-xã hội và văn hóa Những kiến thức học được sẽ được vận dụng hiệu quả vào hoạt động thực tiễn trong nghề Công tác xã hội
- Mục tiêu của môn học:
cho cả hai giới và cho toàn xã hội
+ Biết vận dụng kiến thức cơ sở pháp lý thông qua tìm hiểu hai văn kiện quan trọng là Công ước Liên Hiệp Quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ
Trang 10nữ (CEDAW), 12 lĩnh vực quan tâm và chương trình hành động của Hội nghị thế giới
về phụ nữ ở Bắc Kinh năm 1995 vào hoạt động thực tiễn bình đẳng giới
- Về kỹ năng:
+ Có kỹ năng tự học, tự nghiên cứu và tích lũy kiến thức để phục vụ cho công
việc chuyên môn
+ Kỹ năng phân tích và khảo sát về giới và vai trò của bình đẳng giới đối với
- Nội dung của môn học:
CHƯƠNG 1: GIỚI VÀ VAI TRÕ, VỊ TRÍ CỦA GIỚI TRONG PHÁT TRIỂN
Trang 11- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Qua việc đánh giá dúng vai trò, vị trí của giới trong phát triển kinh tế-xã hội mà bản thân có thái độ và hành động tích cực để thực hiện bình đẳng giới
Ví dụ: Xét trong mối quan hệ xã hội hiện nay thì nam giới thường nắm các chức vụ lãnh đạo, ra quyết định, phụ nữ thường làm các công việc thừa hành
Như vậy, bản chất của giới là mối quan hệ và sự tương quan giữa phụ nữ và nam giới về quyền lực, vị trí xã hội, sự phân công lao động, cơ hội tiếp cận các nguồn
và lợi ích mà họ làm ra
Giới được đề cập đến trên cơ sở các quy tắc chuẩn mực theo nhóm tập thể chứ không theo thực thể cá nhân Vai trò giới được xác định theo văn hoá, không theo khía cạnh sinh học Khi sinh ra chúng ta không có sẵn những đặc tính giới, mà chúng
ta học đặc tính giới từ gia đình, xã hội và nền văn hoá của chúng ta [1],[2],[3]
1.2 Giới tính:
Giới tính là khái niệm dùng để chỉ sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới
và phụ nữ, nó mang tính đồng nhất mà khi chúng ta sinh ra đã có và không thể thay đổi được
Ví dụ: Phụ nữ mang thai, sinh con và nuôi con bằng sữa mẹ
Giới tính nói lên tính ổn định của giống đực và cái
Từ hai định nghĩa trên ta có thể rút ra được:
- Giống nói lên tính ổn định về tương quan giữa hai giới trong quá trình sinh sản Chức năng sinh sản của phụ nữ và nam giới là không thể thay đổi và dịch chuyển cho nhau Giống bất biến về thời gian và không gian Xét về giống, phụ nữ cổ xưa
Trang 12cũng như phụ nữ ngày nay và phụ nữ ở mọi vùng trên Trái đất đều giống nhau ở chức năng mang thai và sinh con, cũng như tất cả nam giới đều giống nhau ở vai trò sinh sản của mình
- Giới luôn biến đổi, tương quan về địa vị của phụ nữ và nam giới không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay đổi, tùy thuộc vào kinh tế, chính trị và xã hội cụ thể Ví dụ, địa vị xã hội của người phụ nữ hiện nay hoàn toàn khác với địa vị xã hội của người phụ nữ thời kỳ dưới chế độ phong kiến, hay địa vị xã hội của người phụ nữ nông thôn hiện nay không hoàn toàn giống với phụ nữ thành thị Vì vậy, khi nói đến quan hệ giới cần lưu ý đến các đối tượng cụ thể và hoàn cảnh xã hội của họ
Để dễ phân biệt sự khác nhau giữa giới và giới tính chúng ta có thể quan sát bảng
so sánh sau đây:
- Sinh học, bẩm sinh chúng ta sinh
ra đã có Ví dụ: Phụ nữ mang thai, sinh
con,…
- Đồng nhất (ở mọi nơi đều giống
nhau) Ví dụ: Trên thế giới phụ nữ đều
giống nhau về chức năng sinh sản, từ xưa
đến nay đều như thế;
- Ổn định và không thể thay đổi, ví
dụ: Chỉ phụ nữ mới sinh con và nuôi con
bằng sữa mẹ Nam giới mới có thể làm nữ
giới thụ thai,…
- Không tự nhiên có mà từ đặc trưng xã hội, văn hoá, truyền thống, chúng ta học hỏi mới có Ví dụ: Phụ nữ chăm sóc con cái và nội trợ, còn nam giới
lo kiếm tiền, là trụ cột gia đình,…
- Đa dạng, vì ở các địa phương khác nhau có phong tục, tập quán khác nhau, các nền văn hóa khác nhau Ví dụ:
Ở một số nơi phụ nữ đi kiếm tiền và là trụ cột gia đình, còn nam giới ở nhà chăm con và nội trợ
- Có thể thay đổi theo thời gian do tác động của các nhân tố bên goài Ví dụ, phụ nữ có thể làm thủ tướng; nam giới có thể chăm sóc con cái tốt
Tóm lại, Giới tính mang đặc tính sinh học, đồng nhất và không thay đổi được; còn giới tính mang đặc trưng xã hội, có sự khác nhau giữa các địa phương, vùng miền
và có thể thay đổi được [1],[2]
1.3 Giới và phát triển
1.3.1 Khái niệm phát triển
Trang 13Phát triển là một tiến trình năng động dẫn đến sự thay đổi và tăng trưởng làm cải thiện chất lượng cuộc sống của người tham gia và phát sinh từ hệ thống bên trong của họ Giúp tháo gỡ những trở ngại ngăn cản họ thể hiện toàn bộ tiềm năng của mình Sự thay đổi có thể ở hai mặt:
- Vật chất (ăn, uống, nhà ở, trường học, y tế, đường sá,….)
- Phi vật chất (nhận ra khả năng của mình, tự tin, tinh thần gắn bó với cộng đồng) và mọi sự thay đổi đều bắt nguồn từ cá nhân và mục tiêu của phát triển là:
+ Nâng cao toàn diện chất lượng cuộc sống;
+ Nâng cao sự hiểu biết tri thức của toàn xã hội;
+ Tạo cơ hội để con người có thể phát triển, phát huy và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực trong tiến trình phát triển, từ đó tặng cường sự tham gia và khả năng quyết định của mỗi người trước các vấn đề mà cuộc sống đặt ra;
+ Tạo sự công bằng xã hội trong việc sử dụng tài nguyên và phân phối lợi ích
xã hội
1.3.2 Phát triển bền vững:
Ngày nay, con người phải tính đến một mô hình phát triển mang tính bền vững,
mà ở đó mỗi một con người có cơ hội và điều kiện tiếp cận sự tăng trưởng, nền chính trị thích hợp, điều kiện kinh tế, xã hội và môi trường tự nhiên tăng trưởng trong sự hài hoà Như vậy, khái niệm tăng trưởng được hiểu theo các mô phỏng sau:
- Là một tiến trình dẫn đến sự thay đổi và tăng trưởng về lượng và chất một cách vững chắc
- Đảm bảo việc phát huy tiềm năng tối đa của mỗi người trong sự hợp tác, chia
sẻ trách nhiệm, quyền hạn, nguồn lợi và lợi ích
- Đảm bảo sự tăng trưởng tích cực và vững chắc môi trường tự nhiên – xã hội, coi môi trường tự nhiên – xã hội hài hoà vừa là điều kiện vừa là mục tiêu của sự phát triển
- Cải thiện và không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống cả về vật chất và phi vật chất
- Đảm bảo phát huy vị trí, vai trò của phụ nữ (nhất là phụ nữ chịu thiệt thòi) tạo cơ hội để họ phát huy cao độ tiềm năng cũng như việc tiếp cận các nguồn và lợi
Trang 14ích
Tóm lại: Phát triển bền vững là một tiến trình dẫn đến sự thay đổi và tăng trưởng về lượng và chất một cách vững chắc, đảm bảo việc phát huy tiềm năng cá nhân trong sự hợp tác, chia sẻ trách nhiệm, quyền hạn, nguồn lợi và lợi ích, đảm bảo
sự tăng trưởng tích cực và vững chắc môi trường tự nhiên – xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và phụ nữ phải có nhiều cơ hội để tiếp cận nguồn lợi và lợi ích [1]
Phát triển bền vững là tăng cường cơ hội lựa chọn của mọi người, trong đó nhấn mạnh 3 nội dung:
- Bình đẳng về cơ hội cho mọi thành viên trong xã hội;
- Duy trì sự bền vững của cơ hội từ thế hệ này sang thế hệ khác;
- Tạo quyền cho mọi cá nhân để họ có thể tham gia hưởng lợi từ quá trình phát triển
1.3.3 Giới và phát triển
Giới và phát triển xuất hiện từ phong trào phụ nữ quốc tế Vào thời đầu tiên,
các nhà nữ quyền đặt vấn đề nghiên cứu phụ nữ trong phát triển (Women in Development - WID) nhưng thời gian sau do nhận thấy tính không toàn diện của vấn
đề và không thu hút được sự tham gia của nam giới nên họ chuyển thành Giới và phát
triển (Gender and Development - GAD) nghĩa là nghiên cứu mối quan hệ giữa phụ nữ
và nam giới trong thế so sánh toàn diện để cùng có thể tìm giải pháp hạn chế tiến tới xóa bỏ bất bình đẳng giới trong các lĩnh vực
Nhà nghiên cứu Anh Oakley là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ "Giới" vào Xã hội học Sau này chính các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới đã khẳng định quan điểm nghiên cứu Giới trong Xã hội học, Giới với tư cách là hệ thống phân tầng trong đó nữ giới bị xếp hạng và đánh giá thấp hơn nam giới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội S.Furier, người theo chủ nghĩa không tưởng đầu thế kỷ 19 ở Pháp đã có một câu nói nổi tiếng, “Trình độ giải phóng phụ nữ là thước đo trình độ phát triển của xã hội" Điều đó cũng có nghĩa là phụ nữ chỉ thực sự được giải phóng trong một xã hội có trình độ phát triển cao và đạt được bình đẳng giới Xã hội đó sẽ không chỉ thừa nhận vai trò to lớn của phụ nữ mà còn đưa họ tới vị trí tương xứng với vai trò, với cống hiến của họ Việc so sánh giữa vai trò và vị trí của phụ nữ trong mối quan hệ với nam giới ở từng xã hội cụ thể sẽ đưa đến những cách nhìn khách quan, khoa học và chính
Trang 151.3.4 Mối quan hệ phát triển bền vững và giới
Hiện nay, để đảm bảo tính bền vững của phát triển thì vấn đề giới phải được quan tâm đúng mức Giới và phát triển chú ý vào các mối quan hệ giới, có nghĩa là những tác động qua lại giữa nam giới và nữ giới, không đưa các vấn đề ra một cách riêng rẽ Giới và phát triển nhấn mạnh vào mô hình phát triển đen lại lợi ích cho cả hai nhóm và tập trung vào tính bình đẳng và tính bền vững của sự phát triển
Mối quan hệ giữa phát triển bền vững và giới thể hiện ở các nội dung:
- Phụ nữ là một nguồn lực lớn lao của xã hội cần phải được sử dụng và phát huy;
- Mối quan hệ giới hoài hoà vừa là mục tiêu, vừa là hệ quả và là động lực của
sự phát triển bền vững;
- Phát triển bền vững quan tâm đến vấn đề giới trong hoạch định chính sách sẽ tận dụng được nguồn tiềm năng lớn về nhân lực, trí tuệ,… đảm bảo cho sự tăng trưởng vững chắc và tính hài hoà trong mối quan hệ môi trường tự nhiên – xã hội [2], [3]
2 NGUỒN GỐC XÃ HỘI CỦA SỰ KHÁC BIỆT VỀ GIỚI Người Việt Nam có cái nhìn truyền thống về phẩm chất, vai trò của mỗi giới,
đó là người phụ nữ phải dịu dàng, đảm đang, chung thuỷ, mang đầy đủ các phẩm chất công, dung, ngôn, hạnh, mang nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Á Đông; ngoài
ra còn có cả trình độ chuyên môn, khả năng thích ứng với những đòi hỏi của xã hội hiện đại Ngược lại, người đàn ông phải mạnh mẽ, quyết đoán, là trụ cột trong gia đình
Trong giáo dục con cái, sự đối xử với trẻ tùy thuộc đó là trẻ em trai hay trẻ em gái thông qua đồ chơi, trang phục, về hành vi chăm sóc, tình cảm của ông bà, cha mẹ,…đối với chúng Trẻ được dạy dỗ hàng ngày và luôn luôn được điều chỉnh hành
vi sao cho phù hợp với sự mong đợi của mọi người đã trở thành khuôn mẫu cụ thể của mỗi giới Từ quan niệm ở trên, phụ nữ làm nội trợ hay đi cấy thì đó không phải là vì
họ là phụ nữ mà là vì họ được dạy dỗ để làm những việc đó từ khi là nhưng đứa trẻ
Các quan niệm khuôn mẫu được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, con gái phỏng theo khuôn mẫu của người mẹ, con trai phỏng theo khuôn mẫu của người cha; tiếp đó là nhà trường và các quan niệm, phong tục, tập quán xã hội củng cố vào khuôn
Trang 16mẫu cho từng giới
Để hiểu rõ nguồn gốc xã hội của sự khác biệt về giới chúng ta hãy làm một bài
tập tưởng tượng Bạn hãy suy nghĩ và nêu lên những dự định đối với đứa con vừa mới sinh ra của mình:
+ Bạn trông cậy gì ở con khi còn nhỏ?
+ Bạn mong muốn gì ở con khi con trưởng thành?
+ Bạn muốn con sẽ làm nghề gì?
+ Bạn sẽ làm gì để đạt được những mong muốn đó?
Thông thường các bậc phụ huynh thường đi theo hai khuynh hướng:
Nếu là con gái, luôn mong rằng khi lớn lên nó sẽ hiền lành, thùy mị, nội trợ giỏi giang, chu đáo,…và có được nghề nghiệp phù hợp như, bác sĩ, giáo viên,…Vì thế, trong suốt thời gian ấu thơ họ luôn giáo dục con cái theo một khuôn mẫu thiên về nữ tính
Nếu là con trai, luôn mong rằng khi lớn lên nó sẽ tháo vát, nhanh nhẹn, quyết đoán,…và có được một nghề nghiệp phù hợp như, điện, cơ khí chế tạo, xây dựng,…
Vì thế, họ luôn giáo dục con cái theo một khuôn mẫu thiên về nam tính
Thông qua phân tích ở trên, chúng ta có những kết luận:
- Giới là do dạy dỗ mà có, bắt đầu từ khi sinh ra, đứa trẻ đã được đối xử tùy theo nó là con trai hay con gái
- Mô hình giáo dục của cha mẹ cũng tùy thuộc vào đứa trẻ đó là trẻ trai hay trẻ gái để có tính khuôn mẫu trong giáo dục Ở gia đình khi đứa trẻ sinh ra, bố mẹ, ông bà dạy dỗ và có cách ứng xử khác nhau đối với trẻ trai hay gái (cách ăn mặc và màu sắc quần áo, đồ chơi, uốn nắn tính cách, việc học và nghề nghiệp sau này) Đứa trẻ luôn phải điều chỉnh hành vi mà người lớn mong đợi
- Nhà trường, xã hội tiếp tục củng cố các khuôn mẫu cụ thể đối với từng giới qua các môn học, các hoạt động và sự hướng nghiệp
- Các thể chế, chính sách cũng có tác động hoặc làm thay đổi các mối quan hệ giới theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực
- Các quan niệm về khuôn mẫu được tuyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, bắt đầu từ trong gia đình, tiếp đó là nhà trường và ra ngoài xã hội, các quan niệm, phong
Trang 17tục tập quán xã hội tiếp tục củng cố vào khuôn mẫu cụ thể cho từng giới
Từ trước đến nay, người ta lấy sự khác biệt về giới tính để giải thích cho sự khác biệt về giới Đằng sau điểm xuất phát đơn giản đó là cả một vấn đề phức tạp, từ nhận thức đến tình cảm và hành vi, từ gia đình đến nhà trường, thể chế xã hội, phong tục tập quán luôn luôn có sự tác động một cách vô tình hay hữu ý nhằm duy trì hay làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội [1]
Tóm lại, Giới là sản phẩm của xã hội nên sự khác biệt giới có thể điều chỉnh
được bằng chính những nhận thức và hành vi mới của xã hội
3 VAI TRÕ, VỊ TRÍ CỦA GIỚI TRONG SỰ PHÁT TRIỂN
3.1 Định nghĩa
Vai trò giới là những công việc và hoạt động cụ thể mà phụ nữ và nam giới thực tế đang làm Ví dụ, phụ nữ làm cô nuôi dạy trẻ, nam giới làm nghề lái xe Thông thường đây cũng là một công việc mà xã hội trông chờ ở mỗi cá nhân với tư cách là đàn ông hoặc đàn bà
3.2 Vai trò của giới
Vai trò giới là những tập hợp những hoạt động và hành vi ứng xử mà nam giới
và nữ giới học được và thể hiện trong thực tế, dựa trên sự mong đợi từ phía xã hội ở một người tùy thuộc người đó nữ hay nam giới
Vai trò giới đa dạng (tùy thuộc vào vị trí và bối cảnh), thay đổi theo thời gian (tương ứng sự thay đổi của các điều kiện, hoàn cảnh) và thay đổi theo sự thay đổi trong quan niệm xã hội (tương ứng với việc chấp nhận hay không chấp nhận một hành
vi ứng xử và vai trò nào đó)
Có nhiều vai trò giới, tuy nhiên có thể nhóm các vai trò của mỗi cá nhân thành bốn nhóm chính đó là, vai trò tái sản xuất, vai trò sản xuất, vai trò cộng đồng và vai trò chính trị
3.2.1 Phụ nữ và nam giới đều thực hiện ba nhóm vai trò
Vai trò sản xuất, là những công việc do phụ nữ và nam giới làm nhằm tạo ra của cải vật chất hoặc của cải tinh thần để đam lại thu nhập hoặc để tự nuôi sống Ví
dụ, cày, cấy, dệt vải, may mặc, bán hàng, dạy học, nghiên cứu, sáng tác,… Tuy nhiên, phụ nữ thường làm những công việc giản đơn, ít kỹ thuật, thu nhập kém, giá trị công việc thấp nên địa vị kinh tế thấp
Trang 18Vai trò sinh sản, chăm sóc và nuôi dưỡng, là những công việc do phụ nữ và nam giới làm nhằm duy trì nòi giống và chăm lo nhu cầu cơ bản của con người trong gia đình như thức ăn, chỗ ở, dạy con, chăm sóc sức khỏe cho các thành viên trong gia đình Tuy nhiên, những công việc gia đình phần nhiều do phụ nữ (bà, mẹ, chị gái, em gái đảm nhận) Vai trò này diễn ra hàng ngày, tốn nhiều thời gian, sức lực nhưng chỉ được coi là “việc vặt” không được trả công
Vai trò cộng đồng gồm hai loại công việc:
- Công việc đem lại phúc lợi cho cộng đồng, là những công việc do phụ nữ và nam giới tự nguyện làm nhằm đem lại phúc lợi cho tập thể, cộng đồng Ví dụ, cọ rửa
bể nước công cộng; quét dọn đường làng ngõ xóm, giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn,…
- Công việc lãnh đạo cộng đồng là những công việc do phụ nữ và nam giới tham gia vào việc ra quyết định và quản lý lãnh đạo cộng đồng Ví dụ, tham gia Hội đồng nhân dân các cấp; thảo luận các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, [1], [2]
Tuy nhiên, việc thực hiện các vai trò này có sự khác nhau giữa phụ nữ và nam giới:
- Phụ nữ thường thực hiện cùng một lúc nhiều vai trò, trong khi nam giới thường tập trung chủ yếu vào vai trò sản xuất
- Phụ nữ thường là người làm phần lớn các công việc tái sản xuất, họ cũng làm nhiều loại công việc cộng đồng
- Phụ nữ và nam giới ngay cả khi cùng làm một loại công việc thì vẫn có thể thực hiện theo các cách khác nhau Nam giới thường là người lãnh đạo, ra các quyết định, phụ nữ thường là người thừa hành công việc
- Các vai trò do phụ nữ thực hiện thường gắn bó với nhau
- Phụ nữ thường tham gia các hoạt động góp phần cải thiện điều kiện sống của cộng đồng, ít được tham gia vào các việc lãnh đạo, ra quyết định nên địa vị xã hội thấp
3.2.2 Phụ nữ và nam giới trong gia đình
Phụ nữ và nam giới trong gia đình tuy đều thực hiện các vai trò giới, song thời gian làm những việc cụ thể của họ không giống nhau Cụ thể:
Trang 19- Phụ nữ làm nhiều giờ hơn nam giới, vì ngoài công việc đồng áng hoặc cơ quan nơi công sở, phụ nữ còn phải dành thời gian cho gia đình như, đi chợ, nấu ăn, chăm sóc con cái,…những công việc này xã hội hầu như không trông chờ người đàn ông tham gia
- Phụ nữ và nam giới có số giờ lao động sản xuất tương đương nhau, nhưng số giờ làm công việc chăm sóc, nuôi dưỡng của phụ nữ thường gấp đôi nam giới
- Vì phải tham gia công việc ở ngoài xã hội cùng với công việc gia đình, nuôi dưỡng,… nên thời gian nghỉ ngơi, ngủ của phụ nữ thường ít hơn nam giới
Các vai trò của các thành viên trong gia đình đều có sự phụ thuộc lẫn nhau Ví
dụ, vai trò sản xuất của nam giới phụ thuộc vào vai trò sinh sản và nuôi dưỡng của phụ nữ Do phụ nữ làm hầu hết công việc gia đình, nam giới thường có thời gian rảnh rỗi để làm công tác chuyên môn hoặc hoạt động chính trị Như vậy, sự phân công lao động gia đình có ảnh hưởng lớn đến phân công lao động xã hội.[4]
3.2.3 Bảng phân loại vai trò giới
- Lao động kiếm sống: làm
việc tại công sở, nhà máy, lao
động sản xuất trên đồng ruộng
(cày, cấy, làm cỏ, bón phân,…)
- Lao động nuôi dưỡng: nội
trợ gia đình và chăm sóc người
- Lao động nuôi dưỡng: Thường ít làm các công việc nuôi dưỡng, vì xã hội không trông chờ người đàn ông tham gia vào các công việc ấy
- Công việc cộng đồng: họp thôn xóm,
tổ dân phố, đi dự các đám hiếu, hỉ, tổ chức các
lễ, hội
Bảng 1: Phân loại vai trò giới
4 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỀ VẤN ĐỀ GIỚI VÀ PHỤ NỮ
4.1 Quan điểm
Trong những năm cuối thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, Đảng và Nhà
Trang 20nước ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề giới và phụ nữ trong các chương trình phát triển, nó được coi là chiến lược cơ bản cho phát triển bền vững về kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mới Quan điểm của Đảng trong Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/04/2007 của Bộ Chính trị “Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” chỉ rõ:
- Phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội là một trong những nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới
- Công tác phụ nữ phải sát hợp với từng đối tượng, vùng, miền, phát huy được tinh thần làm chủ, tiềm năng, sức sáng tạo và khả năng đóng góp cao nhất của các tầng lớp phụ nữ, góp phần tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để phát triển đất nước; đồng thời phải chăm lo cho phụ nữ tiến bộ về mọi mặt, quan tâm đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng để phụ nữ có điều kiện thực hiện tốt vai trò người công nhân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người
- Xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Đảng
- Công tác phụ nữ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và từng gia đình Trong đó, hạt nhân lãnh đạo là các cấp ủy đảng, trách nhiệm trực tiếp và chủ yếu là cơ quan quản lý nhà nước các cấp, vai trò chủ thể là phụ nữ mà nòng cốt là các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Như vậy, trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như xu thế hội nhập quốc tế và phát triển bền vững hiện nay, công tác phụ nữ và nhất là vấn đề giới cần được quan tâm những vấn đề sau:
+ Giải quyết vấn đề giới tốt trên mọi lĩnh vực sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững, ngược lại muốn phát triển bền vững phải giải quyết tốt vấn đề giới trên mọi lĩnh vực
+ Giải quyết tốt vấn đề giới phải là sự tăng cường nhận thức xã hội, nhận thức của nam giới và phụ nữ, trong đó phụ nữ phải tích cực tham gia vào sự nghiệp “tự giải phóng” thông qua các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,… trong tiến trình phát triển
Trang 21+ Trên cơ sở từng bước thay đổi cơ chế, luật pháp để có sự chuyển đổi về quan niệm giới trong nhận thức và hành động xã hội, tiến tới thực hiện bình đẳng nam-nữ trong sự tiến bộ chung
+ Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay cũng như vai trò to lớn của phụ nữ trong tiến trình phát triển, xã hội phải tạo cơ hội cho họ phát huy tiềm năng và tiếp cận với các nguồn và lợi ích một cách bình đẳng [1] , [6]
- Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 20 tháng 01 năm 2018 về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới:
Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW, để tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới, Ban Bí thư yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
1- Tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đã nêu
trong Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị khoá X Tuyên truyền sâu rộng trong xã hội nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm về vai trò, vị trí, tiềm năng to lớn của phụ nữ, về công tác phụ nữ và bình đẳng giới
2- Hoàn thiện luật pháp, chính sách về bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ
phát triển toàn diện Nghiên cứu sửa đổi Luật Bình đẳng giới, các văn bản pháp luật
có liên quan, bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, đồng bộ, thống nhất, đáp ứng yêu cầu tình hình mới Tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong thực hiện luật pháp, chính sách liên quan tới phụ nữ, bình đẳng giới, gia đình và trẻ em
Xây dựng và thực hiện các chính sách đặc thù hỗ trợ phụ nữ ở vùng cao, vùng sâu, biên giới, hải đảo, phụ nữ là người dân tộc thiểu số, phụ nữ khuyết tật, đơn thân, cao tuổi, phụ nữ mang thai và nuôi con nhỏ, lao động nữ di cư, chuyển đổi nghề Khuyến khích, hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp, thành lập hợp tác xã, tổ liên kết do phụ nữ làm chủ Tạo điều kiện để phụ nữ được tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình
độ, nghiên cứu khoa học, tiếp cận với khoa học, công nghệ đáp ứng yêu cầu hội nhập
và phát triển của đất nước
Đổi mới, kiện toàn bộ máy thực hiện nhiệm vụ bình đẳng giới, gia đình và trẻ
em, bảo đảm liên thông, tinh gọn, hiệu quả Nâng cao trách nhiệm và hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, giữa các cơ quan quản lý nhà nước với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ
Trang 22Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong thực hiện công tác phụ nữ và bình đẳng giới
3- Xây dựng người phụ nữ Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu của
thời kỳ mới Chú trọng phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng, tôn vinh nhằm khơi dậy tiềm năng, trí tuệ, sức sáng tạo, tinh thần khởi nghiệp, khát vọng của đội ngũ nữ lãnh đạo quản lý, nữ trí thức, nữ cán
bộ khoa học, nữ doanh nhân
Đẩy mạnh việc xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh Mở rộng, nâng cao chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý, tư vấn hỗ trợ hôn nhân và gia đình Thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ phụ nữ; quan tâm vấn đề dinh dưỡng cho bà mẹ và trẻ em Xây dựng chương trình giáo dục quốc gia về gia đình, chú trọng giáo dục sớm, giáo dục tiền hôn nhân Phát triển hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo, mầm non Kiên quyết đấu tranh phòng, chống các tệ nạn xã hội, xử lý nghiêm minh các hành vi bạo lực, mua bán, xâm hại phụ nữ và trẻ em gái
4- Người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền các cấp chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ
chức thực hiện đồng bộ các giải pháp để đạt chỉ tiêu Nghị quyết số 11-NQ/TW về công tác cán bộ nữ; quan tâm tạo nguồn cán bộ nữ trẻ, nữ dân tộc thiểu số Hoàn thiện các quy định về công tác cán bộ bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ về độ tuổi trong quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm, luân chuyển đối với một số nhóm phụ nữ giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý phù hợp trong từng giai đoạn Nghiên cứu tuổi nghỉ hưu đối với một số nhóm lao động nữ phù hợp với pháp luật về lao động và quá trình phát triển của đất nước
5- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, toàn diện của cấp uỷ đối với
tổ chức và hoạt động của hội Thực hiện nghiêm túc trách nhiệm bảo đảm cho các cấp hội tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; giám sát, phản biện xã hội; đảm nhiệm một số nhiệm vụ trong chương trình phát triển kinh tế - xã hội Định kỳ hằng năm, cấp uỷ chủ trì làm việc với hội liên hiệp phụ nữ cùng cấp và tổ chức đối thoại trực tiếp với phụ nữ để giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc và những vấn đề đặt
ra trong công tác phụ nữ và tổ chức hội ở cơ quan, đơn vị, địa phương
Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam các cấp phát huy vai trò nòng cốt trong công tác phụ nữ; tinh gọn tổ chức bộ máy gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động theo hướng thiết thực, chuyên nghiệp,
Trang 23đa dạng hoá hình thức tập hợp, hướng về cơ sở, gắn với các vấn đề thiết thân của phụ
nữ Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ hội có đủ phẩm chất, năng lực, sáng tạo, tâm huyết, trách nhiệm, giỏi vận động phụ nữ; tích cực tạo nguồn cán
Hiến pháp năm 1959, tại Điều 24 quy định “Phụ nữ Việt Nam có quyền bình đẳng với nam giới về tất cả các mặt: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình”
Hiến pháp năm 1980, tại Điều 63 quy định “phụ nữ và nam giới có quyền ngang nhau về mọi mặt: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Nhà nước và
xã hội chăm lo nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật và nghề nghiệp của phụ nữ”
Hiến pháp năm 1992, tại Điều 63 cũng khẳng định “công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ”
Hiến pháp năm 2013 đã quy định sự bình đẳng nam - nữ một cách toàn diện hơn, tổng quát hơn và tiến bộ hơn Cụ thể, tại Điều 16 Hiến pháp 2013 quy định:
“mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” và Điều 26 “công dân nam nữ bình đẳng về mọi mặt; Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới; Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội; Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới” Đây không chỉ
là bình đẳng về quyền lợi mà còn là bình đẳng về trách nhiệm, nghĩa vụ trong mọi lĩnh vực [1]
4.2.2 Hệ thống văn bản pháp luật
Trang 24- Đối với lĩnh vực kinh tế:
Đảng và Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, đặc biệt khuyến khích thành phần kinh tế có phụ nữ làm chủ, có nhiều phụ nữ tham gia
Bộ luật Lao động dành một chương quy định về vấn đề lao động nữ: vấn đề lao động, vấn đề tuyển dụng, vấn đề bảo hiểm, vấn đề bảo hộ lao động,…, nội dung chủ yếu bảo vệ quyền lợi chính đáng của người phụ nữ
Trong lĩnh vực kinh tế, Luật Bình đẳng giới (Điều 12) cũng quy định “nam, nữ bình đẳng trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn vố, thị
trường và nguồn lao động”
- Đối với lĩnh vực chính trị:
Đảng và Nhà nước khuyến khích phụ nữ tham gia vào hoạt động chính trị và hoạt động quản lý Mỗi lần bầu cử Quốc hội hay Hội đồng nhân dân các cấp thì danh sách ứng cử phải đảm bảo đủ các thành phần tham gia, trong đó phụ nữ chiếm từ 20 – 30% Khoản 1, Điều 11, Luật bình đẳng giới quy định “nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội”; hay “nam, nữ bình đẳng trong việc ứng cử và được ứng cử vào đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử
và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp” (khoản 3, Điều 11)
Luật dân sự quy định nam nữ có quyền dân sự lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng, xác định vai trò phụ nữ trong gia đình, quyền thừa kế tài sản của người phụ
nữ, …
- Đối với lĩnh vực văn hóa – xã hội:
Ở lĩnh vực này có đến hơn một nửa tham gia Nhiều hoạt động phụ nữ giữ vai trò chủ chốt Trong các lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo dục,… phụ nữ có nhiều cơ hội đẻ tham gia hoạt động và phát triển
Sự bình đẳng giới và cơ hội tiến bộ của phụ nữ được thể hiện rất rõ trong các luật như, Luật hôn nhân và gia đình, Luật lao động, Luật Dân sự, Pháp lệnh Dân số,… Ngoài ra, còn có rất nhiều văn bản dưới luật cũng thể hiện sự bình đẳng nam – nữ và tạo cơ hội tiến bộ cho phụ nữ
Trang 25- Đối với lĩnh vực hôn nhân và gia đình:
Luật Hôn nhân và gia đình (sửa đổi) năm 1986 quy định “chế độ một vợ, một chồng” và tại Điều 10 quy định “Vợ chồng có quyền hạn ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, có nghĩa vụ chung thủy với nhau, thương yêu quí trọng nhau, cùng nhau thực hiện sinh đẻ có kế hoạch; chồng có nghĩa vụ tạo điều kiện cho vợ thực hiện tốt chức năng của người mẹ”
Luật Hôn nhân và gia đình – 2014: Điều 17 Bình đẳng về quyền, nghĩa vụ giữa
vợ, chồng: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác có liên quan”
Luật Dân sự năm 2015 quy định nam nữ có quyền dân sự lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng, xác định vai trò người phụ nữ trong gia đình, quyền thừa kế của phụ nữ,…
Luật chống bạo hành được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 21/11/2007 Đây là một trong những dự luật được sự ủng hộ của toàn xã hội nhằm bảo vệ thân thể, danh dự và những lợi ích chính đáng,… của phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội
Cùng với các văn bản Hiến pháp và Luật pháp, Đảng và Nhà nước ta còn ban hành các Chỉ thị, Nghị quyết, Quyết định,… để bảo vệ và phát huy vai trò của người phụ nữ
Ngoài ra, ngày 29/7/1980, Việt Nam đã ký Công ước Quốc tế “xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ” (CEDAW); Công ước này được coi là bản dự luật chung của Quốc tế về quyền của người phụ nữ và Việt Nam đã tham gia một cách tích cực việc thực thi Công ước này Đây là một trong những cam kết Quốc tế mà Việt Nam tham gia, đã thúc đẩy việc tăng cường các hoạt động liên quan tới bình đẳng giới.[5],[6]
* Tóm tắt
Giới tính mang đặc tính sinh học, đồng nhất và không thay đổi được; còn giới mang đặc trưng xã hội, có sự khác nhau giữa các địa phương, vùng miền,… và có thể thay đổi được Giới và phát triển là nghiên cứu mối quan hệ giữa phụ nữ và nam giới trong thế so sánh toàn diện để cùng có thể tìm giải pháp hạn chế tiến tới xóa bỏ bất bình đẳng giới trong các lĩnh vực
Trang 26Giới là sản phẩm của xã hội nên sự khác biệt giới có thể điều chỉnh được bằng chính những nhận thức và hành vi mới của xã hội Trên cơ sở đó xét lại các quan niệm rập khuôn và định kiến về nữ giới và nam giới
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về giới đã được thể hiện rõ thông qua các nghị quyết của đảng, hiến pháp, pháp luật và tham gia tích cực trong việc cam kết, triển khai các công uớc Quốc tế về quyền của phụ nữ
Giáo dục ảnh hưởng đến nhận thức của cá nhân và sự phân công vai trò giữa nam và nữ trong đời sống xã hội
- Câu hỏi ôn tập
1 Anh (chị) hiểu như thế nào về khái niệm giới và phát triển? Vấn đề giới và phát triển hiện nay ở địa phương như thế nào? Cho ví dụ minh họa
2 Thông qua giáo dục để thay đổi đặc điểm giới được không? Thay đổi như thế nào?
3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề giới và phụ nữ được thể hiện trong các văn bản pháp luật như thế nào? Cho ví dụ minh họa
THỰC HÀNH:
Điền các thông tin sau vào ô thích hợp cho nam, nữ, cả nam và nữ để phân biệt
sự tương đồng và khác biệt giữa giới và giới tính:
Gia trưởng, Dịu dàng, Tự tin, Hút thuốc, Nội trợ, Nóng nảy, Thư ký, Chăm sóc con, Uống bia, Quyết đoán, Cứng rắn, Hành kinh, Đảm đang, Vị tha, Thích làm đẹp, Sinh con, Mạnh mẽ, Có tinh trùng, Có râu, Tinh hoàn, Mang thai, Điệu, Buồng trứng, Giám đốc
5.1 Mục tiêu: Sinh viên vận dụng được những hiểu biết về giới, giới tính
để điền thông tin vào ô thích hợp
5.2.Tiến hành:
Trang 27Bài tập được thực hiện tại lớp, theo nhóm từ 3-4 sinh viên
- Sau khi hoàn thành, các nhóm cử đại diện trình bày kết quả chuẩn bị và các nhóm khác lắng nghe, trao đổi ý kiến về bài làm của bạn theo hướng phân tích, lý giải
về mức độ phù hợp của việc lựa chọn và điền thông tin của nhóm bạn
- Giảng viên tổ chức cho cả lớp thảo luận để thống nhất những vấn đề của các nhóm đã đạt được và chưa đạt được
- Giảng viên đi đến thống nhất và củng cố lại nội dung đã được học của chương
về giới và giới tính
Trang 28CHƯƠNG 2: SỰ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG THEO GIỚI Giới thiệu
Phân công lao động theo giới là sự khác biệt về tính chất và mức độ tham gia các công việc giữa nam và nữ khi thực hiện các vai trò sản xuất, tái sản xuất, cộng đồng và lãnh đạo Chương này giới thiệu những nội dung cơ bản về khái niệm, quan điểm và sự phân công lao động theo giới; phân tích và làm rõ các nội dung về phân công lao động theo giới được dựa trên cơ sở tiền định sinh học (bắt nguồn từ sự khác biệt về sinh học giữa người đàn ông và người đàn bà), quan điểm xã hội hóa (sự phân công rạch ròi về công việc giữa nam và nữ phụ thuộc vào bối cảnh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội); phân công lao động theo giới cho thấy phụ nữ và nam giới tham gia công việc sinh sản nuôi dưỡng, công việc sản xuất ở mỗi gia đình, mỗi vùng miền khác nhau, thể hiện phân công lao động theo giới rất cơ động và có thể thay đổi được
Do đó, trong những giải pháp để tiến tới bình đẳng giới là thay đổi phân công lao động theo giới truyền thống; về vai trò và tầm quan trọng của phụ nữ trong sự hòa nhập vào các Dự án phát triển cộng đồng và một số định hướng chính sách nhằm tăng
cường sự tham gia của phụ nữ trong phát triển cộng đồng
+ Phân biệt được nhu cầu giới thực tế và nhu cầu giới chiến lược
- Kỹ năng: Sinh viên vận dụng được các kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực giới Biết nhận diện lồng ghép nhu cầu giới vào dự án để đáp ứng nhu cầu giới, tiến tới bình đẳng giới
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Sinh viên chia sẻ công việc trong gia đình cũng như đóng góp nhiều hơn để nâng cao nhận thức của gia đình và công đồng trong thực hiện bình đẳng giới
Trang 29- Nội dung chính:
1 KHÁI NIỆM PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG THEO GIỚI Phân công lao động theo giới là sự khác biệt về tính chất và mức độ tham gia các công việc giữa nam và nữ khi thực hiện các vai trò sản xuất, tái sản xuất, cộng đồng và lãnh đạo Điều này thường gắn với việc quy định về hình thành tính cách, chọn nghề nghiệp của mỗi giới
Phân công lao động theo giới nói đến việc ai làm gì trong gia đình, cộng đồng,
xã hội Xem xét phân công lao động cũng nhằm chỉ ra những tác động của sự phân công này đối với lợi ích và trách nhiệm của các thành viên nam, nữ trong một tổ chức
xã hội cụ thể
Phân công lao động theo giới trả lời câu hỏi ai làm gì? Trong hầu hết các xã hội, phụ nữ và nam giới tham gia vào các công việc khác nhau Bản chất và quy mô tham gia của họ ở mỗi hoạt động phản ánh thực tế phân công lao động theo giới trong một bối cảnh cụ thể Lợi ích và vị thế xã hội mà họ có được dựa trên những công việc
họ thực hiện cũng khác nhau Phân công lao động theo giới cho phép chỉ ra những khác biệt và bất hợp lý từ góc độ giới trong công việc, lợi ích và địa vị xã hội của phụ
nữ và nam giới
Phân công lao động theo giới có thể thực hiện ở gia đình, cộng đồng, tại một tổ chức hoặc ở cấp vĩ mô Trong các hoạt động giảm nghèo, phân công lao động theo giới được sử dụng chủ yếu để xem xét các hoạt động ở cấp độ gia đình và cộng đồng [2]
Ở các nền văn hoá khác nhau có sự qui định khác nhau về trách nhiệm của nam, nữ trong thực hiện các vai trò sản xuất, tái sản xuất, cộng đồng, ra quyết định Thông thường đối với đa số các nền văn hoá vẫn thực hiện phân công lao động theo giới một cách truyền thống, phụ nữ và nam giới dành thời gian cho lao động sản xuất như nhau; phụ nữ dành thời gian cho việc nhà nhiều hơn và thu nhập của nữ thường thấp hơn nam; nữ thường làm người thừa hành, nam thường lãnh đạo Điều này thường gắn với việc hình thành tính cách, chọn nghề nghiệp của mỗi giới và ảnh hưởng đến sự tham gia, thụ hưởng, vai trò, vị trí trong gia đình, cộng đồng và xã hội của cả hai giới [5]
2 QUAN ĐIỂM VÀ DIỄN BIẾN PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG THEO GIỚI
2.1 Quan điểm tiền định sinh học
Trang 30Mọi sự khác biệt trong xã hội đều bắt nguồn từ sự khác biệt về sinh học giữa người đàn ông và người đàn bà Trong xã hội có sự phân chia một cách tự nhiên, nữ giới là người sinh con, họ cũng là người lệ thuộc vì không có sức mạnh cơ bắp như nam giới Nam giới do sự mạnh mẽ của cơ thể nên là người làm chủ tình thế và chiếm giữ các đặc quyền, đặc lợi mà phụ nữ không bao giờ có được Trong lao động, nếu theo quan điểm này, có những công việc định sẵn cho nữ giới và nam giới Ví dụ, công việc của nữ giới là sinh con, nuôi con và nội trợ,… những cái đó gọi là công việc
“phù hợp” tự nhiên và vì thế chúng không thể đảo ngược
2.2 Quan điểm xã hội hóa
Sự phân công rạch ròi về công việc giữa nam và nữ phụ thuộc vào bối cảnh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội Tôn giáo, niềm tin hoặc các chính sách xã hội có ảnh hưởng nhiều đến công việc của mỗi giới Ví dụ, việc phục vụ trong khách sạn, nhà hàng ở nước ta được coi là công việc phù hợp với nữ giới, nhưng ở các nước Nam
Á những công việc này do nam giới đảm nhận, vì theo quy định của tôn giáo, phụ nữ không được phục vụ ở những nơi công cộng
Phân công lao động theo giới còn dẫn đến sự khác nhau về bản chất và giá trị trong công việc của phụ nữ và nam giới Công việc của phụ nữ ít được tôn trọng, kém giá trị, ít được trả công Để phát huy vai trò của phụ nữ, tăng cường sự đóng góp của
họ và sự phát triển kinh tế - xã hội, cần nghiên cứu một cách sâu sắc về phân công lao động theo giới Trên cơ sở đó, nhằm xóa bỏ vị trí yếu kém và lệ thuộc của phụ nữ, tiến đến công bằng và bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực [2], [3]
2.3 Diễn biến của quá trình phân công lao động theo giới
Một hình thái phân công lao động tự nhiên, tồn tại ở giai đoạn đầu của xã hội nguyên thuỷ, trong một tập thể hoặc một nhóm người sống chung với nhau, các loại hình lao động được phân theo nam nữ, đàn ông lo việc săn bắt, đàn bà hái lượm Cách phân công lao động này tiếp tục duy trì trong những thời kì lịch sử muộn hơn, vào cuối xã hội nguyên thuỷ và ngay cả trong xã hội có giai cấp tiền tư bản chủ nghĩa, tuy phạm vi có thu hẹp lại rất nhiều Ví dụ, ở các tộc người lấy nương rẫy làm loại hình kinh tế chủ yếu thì đàn ông lo việc chặt cây to, làm hàng rào bảo vệ rẫy khỏi sự phá hoại của thú rừng, đây là những công việc nặng nhọc; còn làm cỏ là công việc của đàn bà; gieo hạt là việc chung, Khi nông nghiệp dùng cày xuất hiện, các công việc sản xuất chính nằm trong tay đàn ông, đàn bà chủ yếu chăm lo công việc gia đình Ở các
Trang 31cư dân du mục, công việc chăn nuôi và bảo vệ gia súc do đàn ông đảm nhiệm
Qua các giai đoạn lịch sử, do sự thay đổi về hoàn cảnh chính trị, kinh tế nên vai trò của giới nam và giới nữ trong gia đình và xã hội cũng thay đổi Do đó, quan niệm
về tính cách, quy tắc xử thế của mỗi giới cũng biến đổi không ngừng Xã hội càng văn minh, người ta càng công nhận quyền bình đẳng của hai giới Trong phân công lao động, vai trò của hai giới xích lại gần nhau, hệ thống giáo dục cũng không phân biệt giới tính Về nguyên tắc, ngày nay mỗi một con người, dù nam hay nữ, đều có điều kiện phát triển toàn diện hơn, không phải bó hẹp trong các khuôn mẫu cổ xưa về đàn ông và đàn bà nữa Mỗi con người đều là tổng hoà của nhiều phần tính cách Dù là nam hay nữ thì cũng không ai chỉ có cương hay chỉ có nhu, mà cương nhu thường hoà trộn [2], [7]
Xã hội hiện đại công nhận mỗi người đều có quyền làm chủ bản thân và mưu cầu hạnh phúc, không phân biệt địa vị xã hội hay giới tính Chúng ta hãy cởi bỏ những định kiến cũ kỹ để mỗi cá nhân có thể phát triển hết tiềm năng của mình, thực
sự làm người tự do và cũng để hai giới học ở nhau những điều tốt đẹp, để mối quan hệ giữa hai giới thêm yêu thương, chân thành và tôn trọng
3 PHÂN LOẠI CÔNG VIỆC THEO GIỚI
3.1 Sự phân công lao động truyền thống theo giới
- Phần lớn các công việc do phụ nữ thực hiện bị đánh giá thấp hơn công việc do nam giới, do đó địa vị kinh tế của phụ nữ thấp hơn nam giới là một trong những nguyên nhân của bất bình đẳng giới
- Phân công lao động theo giới cho thấy phụ nữ và nam giới tham gia vào công việc sinh sản, nuôi dưỡng, công việc sản xuất ở mỗi gia đình, mỗi vùng miền khác nhau, thể hiện phân công lao động theo giới rất cơ động và có thể thay đổi được Do
đó một trong những giải pháp để tiến tới bình đẳng giới là thay đổi phân công lao động theo giới truyền thống
Nghiên cứu các hoạt động của phụ nữ, nam giới trong một gia đình ở nông thôn Việt Nam và thời gian một ngày (24 giờ) chúng ta sẽ thấy rõ khoảng cách giới và sự bất bình đẳng nam - nữ:
Trang 32Buổi sáng
6 giờ Kết thúc công việc nấu ăn Thức dậy
6 giờ 45 phút Đi làm đồng thì gieo hạt, trồng cây,
11 giờ 45 phút Về nhà, nấu ăn, ăn cơm, cho con ăn,… Về nhà, xem tivi, ăn
cơm,…
Buổi chiều
12 giờ 30 phút Làm việc nhà, rửa chén bát, lau dọn
17 giờ 30 phút Về nhà, chuẩn bị bữa tối cho cả gia
21 giờ Đi ngủ, cho con ăn ban đêm Đi ngủ hoặc ngủ muộn
Trang 33khoảng cách giới trong quan hệ nam nữ:
Thời gian dành cho công việc gia
vị trí xã hội của phụ nữ thấp, nên họ thường ít được lựa chọn công việc mà thường làm theo sự phân công lao động truyền thống
Phụ nữ thường mất nhiều thời gian nghỉ ngơi để dành thời gian lo cho công việc gia đình Đây cũng thể hiện rõ bất bình đẳng giới vẫn đang tồn tại trong xã hội của chúng ta hiện nay [2], [3]
3.2 Sự phân công lao động theo giới hiện nay
3.2.1 Công việc sản xuất
Công việc này thường liên quan đến sản xuất ra hàng hóa và các loại dịch vụ nhằm trao đổi hàng hóa và mua bán như, làm ruộng, đánh cá, làm thuê hoặc tự sản xuất Công việc sản xuất là loại công việc được trả công hay tạo ra thu nhập Phụ nữa
và nam giới đều tham gia vào công việc sản xuất, nhưng chức năng và trách nhiệm của họ đối với mỗi loại công việc thường khác nhau tùy thuộc vào sự phân công lao động theo giới
Cho dù tư tưởng phụ hệ cố gắng khắc họa hình ảnh của nam giới là người kiếm cơm, phụ nữ là chủ bếp thì trên thực tế, phần lớn phụ nữ ở các gia đình nghèo đều tham gia các công việc sản xuất với cường độ cao Mặc dầu công việc sản xuất của
Trang 34người phụ nữ thường được đánh giá thấp hơn và khó nhận biết hơn so với việc của nam giới
3.2.2 Công việc tái sản xuất (tái sản xuất sức lao động)
Công việc tái sản xuất liên quan đến việc chăm sóc và duy trì hộ gia đình Bao gồm, chăm sóc con cái, lấy nước, lấy củi, đi chợ, nấu ăn, giặt dũ, chăm sóc sức khỏe cho các thành viên trong gia đình,… Tái sản xuất là công việc thiết yếu để duy trì cuộc sống của con người, nhưng trên thực tế loại công việc này thường không được coi là công việc thực sự và ít khi được đánh giá đầy đủ
Ở những nước đang phát triển, những công việc này thường do phụ nữ và trẻ
em gái thực hiện Vì không được coi là công việc “thực” mà chỉ coi là “việc vặt” nên
họ phải làm nhiều việc cùng một lúc, phải thực hiện trong một thời gian kéo dài và rất
ít khi được nghỉ ngơi Ở hầu hết các xã hội, phụ nữ thường làm việc nhiều hơn nam giới Họ không chỉ là người dậy đầu tiên trong nhà, mà còn là người đi ngủ muộn nhất
3.2.3 Công việc cộng đồng
Công việc cộng đồng liên quan đến những hoạt động tập thể như, hội hè, ma chay, cưới xin hoặc các hoạt động cải thiện cuộc sống cộng đồng như, dọn vệ sinh thôn xóm, đường làng,…các hoạt động lãnh đạo xã hội như, tham gia lãnh đạo các cấp, tổ chức, đoàn thể Công việc cộng đồng có sự tham gia của phụ nữ và nam giới nhưng mức độ và tính chất hoạt động có thể khác nhau Nếu phụ nữ tham gia vào các hoạt động cộng như là sự nối tiếp hoạt động tái sản xuất và sản xuất mà họ thường làm như, thăm hỏi lẫn nhau, dọn vệ sinh thôn xóm,…và các hoạt động này là tự nguyện, không được trả công, thì đàn ông tham gia vào để thực hiện vai trò chính trị trong cộng đồng hay để khẳng định thêm vai trò, vị trí quyền lực của họ trong gia đình và cộng đồng Ví dụ, nam giới là người tổ chức các hoạt động cộng đồng, khi tham gia các hoạt động đắp đường, nạo vét kênh mương,…và họ được trả tiền công [2]
Bảng 2: Bảng phân công lao động theo giới tại địa bàn
(%)
Nam giới (%)
Tính chất giá trị công việc
Trang 35- Kỹ thuật, thu nhập cao
16
…
…
- Ra quyết định,
có địa vị, đƣợc coi trọng
Trang 36(trích nguồn Giới và quyền của phụ nữ trong pháp luật-trang 19)
Qua bảng phân công lao động theo giới ở trên cho thấy, phụ nữ và nam giới đều thực hiện ba vai trò nhưng công việc cụ thể của họ có sự khác nhau:
- Vai trò sản xuất, phụ nữ và nam giới đều tham gia nhưng phụ nữ thường làm những công việc giản đơn, ít kỹ thuật, thu nhập thấp, giá trị công việc thấp nên địa vị kinh tế thấp
- Vai trò chăm sóc nuôi dưỡng, phần lớn do phụ nữ đảm nhận Vai trò này diễn
ra hàng ngày, tốn nhiều thời gian, sức lực nhưng chỉ được coi là “việc vặt” và không được trả công
- Vai trò cộng đồng, phụ nữ thường tham gia các hoạt động góp phần cải thiện điều kiện sống của cộng đồng, ít được tham gia vào các việc lãnh đạo, ra quyết định nên địa vị xã hội thấp
Phụ nữ thường tham gia vào cả việc sản xuất và việc gia đình, nên họ có “thời gian làm việc gấp đôi” Do phụ nữ ít có thời gian nghỉ ngơi, giải trí, học tập, giao tiếp
xã hội,…nên năng lực bị hạn chế, ảnh hưởng đến năng suất, hiệu quả lao động và tham gia lãnh đạo cộng đồng Điều đó làm ảnh hưởng đến sự tiến bộ của phụ nữ và hạn chế tham gia của họ vào quá trình phát triển KT-XH
Phân công lao động theo giới cho thấy phụ nữ và nam giới tham gia công việc sinh sản nuôi dưỡng, công việc sản xuất ở mỗi gia đình, mỗi vùng miền khác nhau, thể hiện phân công lao động theo giới rất cơ động và có thể thay đổi được Do đó, trong những giải pháp để tiến tới bình đẳng giới là thay đổi phân công lao động theo giới truyền thống [3], [7]
4 VAI TRÕ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA PHỤ NỮ TRONG SỰ HÒA NHẬP VÀO CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
4.1 Vai trò của phụ nữ trong đời sống kinh tế
Từ những năm 80 của thế kỷ XX, các dự án đã chú ý đến sự phát triển của phụ
nữ Người ta nhận thấy một điều, khi phụ nữ không phải là mục tiêu trực tiếp của phát triển cộng đồng thì họ không có tiếng nói riêng của mình và ít được chú ý trong việc hình thành các chương trình phát triển Họ không được hưởng lợi từ dự án và vai trò của họ bị lu mờ so với nam giới, vì nam giới có nhiều cơ hội hơn
Có thể phụ nữ có được nhu cầu thực tiễn nhưng họ không có lợi ích chiến lược
Trang 37Dự án phát triển cộng đồng hướng đến phát triển chung chung, đảm bảo nhu cầu thực tiễn của người dân, nhưng lại không chú trọng nhiều đến phụ nữ, khiến cho lợi ích chiến lược không được thực hiện
Trong giai đoạn này các tổ chức phát triển đã nhận thấy ngay cả khi lấy phụ nữ làm mục tiêu cũng chưa đủ Do vậy, xu hướng là xem xét phụ nữ trong mối tương quan và sự kết hợp hài hòa với nam giới tạo ra sự phát triển có hiệu quả nhất Có nghĩa là người ta không nhìn nhận phụ nữ một cách biệt lập nữa, đây là cách tiếp cận mới trên quan điểm về giới và phát triển
Trong nhiều thập kỉ qua, vấn đề chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em, việc làm cho lao động nữ, sinh đẻ có kế hoạch,…được xem xét giải quyết một cách độc lập và được coi là vấn đề riêng của nam hoặc nữ giới Các vấn đề này thường được đặt ra riêng rẽ bên các vấn đề chung cần giải quyết, tách rời các vấn đề về phát triển của xã hội Song trong lịch sử, nam giới và nữ giới có tương quan và tác động qua lại trong quan
hệ gia đình, xã hội và chỉ trong sự tương quan ấy mới thấy vai trò của giới
Bất kì ở đâu, lúc nào người ta cũng thấy sự đóng góp công sức to lớn của nữ giới trong các công việc gia đình và xã hội, song dường như sự đóng góp này lại không được công nhận một cách chính thức và được đánh giá đúng mức trong các tài liệu thống kê Nhiều số liệu thống kê không đề cập đến vai trò của nữ giới, mặc dù nữ giới đảm nhiệm rất nhiều công việc như, công việc nội trợ, phát triển kinh tế hộ gia đình,… Đây cũng là những công việc khó có thể đo, đếm chính xác, nhưng qua đó có thể nói phụ nữ là người chủ yếu chăm lo công việc nuôi sống bản thân gia đình Ở các nước đanh phát triển, trong đó có Việt Nam, nơi gần 80% dân số đang sống ở nông
thôn, trong đó phụ nữ chiếm 51% dân số và hơn 52% lực lượng lao động (số liệu thống kê năm 2009 của tổng cục thống kê) người phụ nữ phải gánh vác phần lớn công
việc trên đồng ruộng Họ không chỉ lo sản xuất đủ lương thực cho tiêu dùng mà còn cho cả việc xuất khẩu gạo, đóng góp nuôi sống một phần thế giới Người phụ nữ phải lao động với một cường độ rất lớn, thời gian làm việc kéo dài mà ít có điều kiện nghỉ ngơi [2], [5]
Tại thành phố, người phụ nữ cũng chịu một sức ép rất lớn về việc làm Họ cũng phải chịu một gánh nặng về đời sống kinh tế, xã hội và cũng phải hy sinh cho công việc chăm sóc gia đình mà dường như xã hội không tính đến và không trả công cho
họ Những con số do chương trình phát triển phụ nữ đã đưa ra vào năm 1985 tại Hội nghị thế giới về phụ nữ lần thứ hai tại Nairobi, thủ đô Kenya đã làm chấn động thế
Trang 38giới:
- Phụ nữ chiếm ½ dân số thế giới;
- Phụ nữ làm việc 2/3 tổng số thời gian làm việc của thế giới;
- Sản xuất ra ½ sản lượng nông nghiệp thế giới
Nhưng:
- Họ chiếm 2/3 số mù chữ thế giới;
- Được hưởng thụ 1/10 thu nhập thế giới;
- Phụ nữ chiếm 70% số người nghèo trên thế giới
Phụ nữ tham gia và có tầm quan trọng trong phát triển thế giới nhưng họ lại là người thiệt thòi nhất, sự thiệt thòi này kéo theo nhiều vấn đề xã hội cản trở phát triển cộng đồng như, bệnh tật, sản xuất thấp, hạn chế về dân trí,… Nói về nguyên nhân của vấn đề này, Viện nghiên cứu Phát triển xã hội của Liên hiệp quốc nhận định rằng đó
là sự thất bại về mặt kiến thức, cơ cấu tổ chức của phong trào phụ nữ và phát triển Một sự thật hiển nhiên cùng với sự bất bình đẳng về giới đang là vấn đề mang tính toàn cầu Đây cũng là vấn đề lớn nhất mà các dự án phát triển cộng đồng đang hướng tới [4], [5]
Vì sự tiến bộ của xã hội, đặc biệt là sự tiến bộ về giới, mối quan hệ giữa hai giới trong hiện tại và tương lai của sự phát triển, cách tiếp cận giới và phát triển phải được xem xét thực trạng giới nữ ở một vùng, một nước một dân tộc và cả thế giới trong sự so sánh với nam giới Giải quyết các vấn đề của nữ giới trong mối liên hệ gắn bó với vấn đề chung và cả với nam giới nữa
Cách tiếp cận giới và phát triển khi nhìn vào thực tế xã hội có cùng sự tồn tại,
đó là nhìn vào sự chung sống của hai giới trong sinh hoạt gia đình và cộng đồng, những vấn đề riêng của từng giới chỉ được giải quyết trong cái chung dưới sự quan tâm của xã hội Không chỉ riêng nữ giới mà cần có sự hợp tác chung của hai giới vì lợi ích của sự tiến bộ xã hội Bởi lẽ một quốc gia muốn phát triển bền vững là một quốc gia ở đó sự tăng trưởng kinh tế không làm xấu đi mối quan hệ giữa con người với con người, không gây ra hoặc tăng thêm sự bất công, tệ nạn xã hội, không kèm theo sự suy giảm đạo đức, sự xói mòn bản sắc dân tộc và hủy hoại môi trường [5], [7]
4.2 Vai trò của phụ nữ, giới trong sự phát triển cộng đồng
Trang 39Trên quan điểm tiếp cận giới trong sự phát triển và vai trò của nữ giới đã được chú trọng trong các dự án phát triển cộng đồng Họ vừa là người quản lý, vừa là người thực hiện các hoạt động của dự án Sự tham gia của họ là yếu tố cơ bản cho một sự phát triển cân bằng và bền vững, song thực tế những người nghèo và nhất là phụ nữ rất hay bị lãng quên trong các dự án phát triển cộng đồng Vì vậy, việc giám sát giới trong dự án là việc luôn được đặt ra Việc tiếp cận giới không phải là giải pháp dùng cho mọi vấn đề, nó luôn gặp khó khăn trong công tác thực hiện phát triển cộng đồng
Nó chỉ có thể thực sự có hiệu quả khi trở thành một phần của phương pháp tiếp cận toàn diện với việc phát triển bao gồm cả công tác vận động quần chúng tham gia và hoàn thành mạng lưới hoạt động Nhìn chung, trong các dự án phát triển được thiết kế
có sự tham gia của người dân trong cộng đồng những người sẽ được hưởng lợi, các cán bộ phát triển hỗ trợ có thể bằng các hình thức khác nhau Chẳng hạn như dạy nghề, tạo điều kiện phát triển hay cung cấp nguồn vốn để người dân có thể sử dụng tốt Đó là phát triển từ dưới lên trên, từ nhu cầu và nỗ lực của quần chúng tạo ra sự phát triển cộng đồng
Khi lập kế hoạch phát triển làng xã, phương pháp đánh giá nông thôn có người dân tham gia thường được sử dụng để xem xét nhu cầu, theo dõi hoặc đánh giá các giai đoạn của dự án, nâng cao chất lượng của chu trình, dự án đang được tiến hành Phương pháp này cần có nhiều thời gian và tạo điều kiện để khai thác chia sẻ thông tin giữa người dân địa phương và cán bộ phát triển một cách tối ưu Tuy nhiên, các thành viên trong cộng đồng có hoàn cảnh khó khăn, thường là người nghèo và đặc biệt là phụ nữ Họ có trình độ học vấn thấp, do đó họ thường khó tiếp cận với các kế hoạch phát triển ban đầu cũng như các chương trình của dự án Nếu như những người làm công tác phát triển không khuyến khích họ tham gia thì khó thu hút được sự quan tâm của người dân đặc biệt là nữ giới Thậm chí, hoạt động này có lợi cho họ nhưng nhận thức của họ có hạn cũng khó khăn trong tổ chức [2], [3]
Thực tế cho thấy, các dự án phát triển cộng đồng thường hướng tới phát triển các vùng sâu, vùng xa, nơi có nhiều người dân tộc thiểu số Trong số họ có nhiều người không biết chữ, thậm chí không nói được tiếng Kinh, nhiều cuộc họp thôn bản cũng như các lớp tập huấn cho phụ nữ, phải cử nam giới đi thay để về truyền đạt lại Đặc biệt là các dự án cho vay vốn của Hội phụ nữ, người quản lý vốn lãi trong các nhóm tiết kiệm, tín dụng của phụ nữ đòi hỏi phải có trình độ đủ để tính toán các loại lãi, vốn và số tiền phải trả Công việc này rất khó, đòi hỏi sự tỉ mỉ cẩn thận và phải
Trang 40biết cách làm, cách giải thích cụ thể cho người vay, vì không phải người vay nào cũng hiểu cách tính Song, chính qua các hoạt động vay vốn này, cán bộ phụ nữ đã được bồi dưỡng về kiến thức tài chính nâng cao năng lực quản lý và kinh doanh cho bản thân Hơn nữa, đa số các dự án cho vay đều quy định phụ nữ phải có phương án sử dụng có hiệu quả, hợp lý số tiền vay và mục đích sinh lời, vì thế họ phải có các phương án trước khi nhận tiền, từ đó họ chủ động hơn trong tiếp cận vốn và sử dụng vốn Chính cách này đã tạo cho chị em cách làm ăn và biết tính toán kinh tế Hoạt động của các dự án này không chỉ cung cấp lợi ích kinh tế mà thực sự đã tạo ra khả năng kĩ thuật cho phụ nữ Vai trò của phụ nữ trong dự án được đẩy mạnh, vì họ ngày càng có khả năng, tự tin hơn vào công việc xác định và đưa ra giải pháp cho vấn đề riêng của mình mà không chỉ là vấn đề phát triển kinh tế [2], [7]
Khi được tiếp cận với vốn và biết cách sử dụng vốn, người phụ nữ đã mang lại nguồn lợi kinh tế cho gia đình, giúp gia đình có cuộc sống tốt, ngoài ra họ còn nâng cao vị thế của mình trong gia đình và xã hội; vai trò của người phụ nữ ngày càng được nâng cao Người phụ nữ tự khẳng định được mình, không phải phụ thuộc vào nam giới nữa Đồng thời họ còn giúp cho sự thúc đẩy của những người phụ nữ khác tham gia vào cộng đồng Một yếu tố quan trọng khác là họ giúp cho cộng đồng đoàn kết hơn và nâng cao sự công bằng trong cộng đồng
Trong các dự án phát triển cộng đồng, đặc biệt là các tổ chức phi chính phủ thường có một số loại khác nhau Các hoạt động có liên quan trực tiếp đến phụ nữ như, tín dụng, chăm sóc sức khỏe được thực hiện tốt, ở đó vai trò của phụ nữ đã được khẳng định Trong các dự án khác như, kế hoạch hóa gia đình, quản lý rừng đầu nguồn, chương trình nước sạch, làm ruộng nương đã thu hút được cả nữ giới và nam giới tham gia Trong nhiều trường hợp nữ giới đã vượt xa nam giới khi đảm nhận các công việc như, làm giống lúa, vườn ươm, chăn nuôi, quản lý và phòng trừ dịch hại tổng hợp Có thể nói, tuy còn một số nhóm phụ nữ còn thiếu kinh nghiệm và kĩ năng quản lý nhưng bù lại là sự nhiệt tình và tập trung trong công việc Khi sử dụng phần thu nhập bổ sung của mình, phụ nữ có xu hướng dành nhiều ưu tiên cho con cái hơn
là nam giới Đồng thời họ cũng xây dựng tình đoàn kết xóm làng qua các hoạt động
hỗ trợ nhau trả nguồn vốn trong tiết kiệm của họ, khuyến khích con người gần gũi nhau hơn trong cuộc sống Trước khi vay vốn, họ làm ăn tự phát mạnh ai nấy làm, không có sự tác động qua lại Khi có dự án vay vốn, họ được vay vốn cùng nhau, cùng nhau học kĩ thuật, cách quản lý vốn và cùng nhau trả vốn đúng lúc Từ đó hình