NHAÄP MOÂN XAÕ HOÄI HOÏC 1 Chöông I XAÕ HOÄI HOÏC VÔÙI TÖ CAÙCH LAØ MOÄT KHOA HOÏC Xaõ hoäi hoïc laø moät ngaønh khoa hoïc coøn non treû so vôùi moät soá ngaønh khoa hoïc xaõ hoäi khaùc Tuy nhieân vôù.
Trang 1Chương I
XÃ HỘI HỌC VỚI TƯ CÁCH
LÀ MỘT KHOA HỌC
Xã hội học là một ngành khoa học còn non trẻ so với một số ngành khoa học xã hội khác Tuy nhiên với cách tiếp cận đặc thù của mình, nó đã dần dần chiếm được vị trí quan trọng trong hệ thống các khoa học xã hội cả về mặt lý thuyết lẫn ứng dụng
Ngày nay, xã hội học đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong chương trình đào tạo cử nhân của các ngành khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta và nhiều nước trên thế giới
Với tư cách là một khoa học độc lập, xã hội học đã xác định được cho mình đối tượng, nhiệm vụï hệ phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Mặc dù ra đời muộn, nhưng xã hội học cũng có một lịch sử phát triển lâu dài và phức tạp
Ở phần này, chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu một số vấn đề cơ bản sau : + Đối tượng và chức năng của xã hội học
+ Khái quát lịch sử hình thành xã hội học
I Đối tượng và chức năng của xã hội học
Xã hội học là gì?
Thuật ngữ “xã hội học” được một nhà xã hội học người Pháp - Auguste Comte (1798-1857) sử dụng vào năm 1838 Nó được ghép từ hai chữ, có nguồn gốc khác nhau: “Socius” từ tiếng Latinh có nghĩa là xã hội, và “Logos” có nguồn gốc từ tiếng gốc Hi Lạp có nghĩa là học thuyết bộ môn tạo thành thuật ngữ “Sociologie” - bộ môn nghiên cứu về xã hội Ông được coi là người có công xây dựng nền móng đầu tiên cho ngành khoa học này
Ngay từ khi mới hình thành đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về xã hội học Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng vì sự ra đời của bộ môn này không đồng nhất trên thế giới nên khó lòng có được sự thống nhất trong định nghĩa
Trang 2về nó Chẳng hạn, Auguste Comte (1798-1857) cho rằng, con người là một thực thể xã hội Vì vậy, không thể giải thích các hiện tượng xã hội từ cá nhân mà phải xuất phát từ cái tổng thể để tìm hiểu các bộ phận của nó (cá nhân hoặc gia đình…) Theo ông, khoa học xã hội học là tìm hiểu các quy luật xã hội giống như các quy luật vật lý cho phép tìm ra những hệ quả của sự liên kết những hiện tượng xã hội Còn theo Emile Durkheim (1858-1917) lại nhận định rằng xã hội học là khoa học nghiên cứu về những sự kiện xã hội Ông đã dựa vào mô hình của các khoa học tự nhiên để xây dựng một ngành xã hội học mang tính thực chứng Ông coi các sự kiện xã hội như là những cách thức suy nghĩ hành động và cảm xúc tồn tại ở bên ngoài ý thức của cá nhân, có sức mạnh áp đặt lên cá nhân làm cho cá nhân hành động theo sự tác động của những yếu tố bên ngoài đó Khi nghiên cứu về xã hội, ông cho rằng xã hội được tạo nên bởi các cá nhân và các cá nhân luôn nỗ lực hội nhập với xã hội
Ở đây, hai yếu tố cùng tồn tại trong mỗi con người, đó là “ý thức cá nhân” và
“ý thức tập thể” Ý thức cá nhân được hình thành từ những ý kiến riêng của cá nhân nào đó, còn ý thức tập thể là toàn bộ những tư tưởng chung nhất cho tất cả các thành viên trong xã hội Ý thức tập thể này là kết quả của những kinh nghiệm và kiến thức được đúc kết qua nhiều thế hệ, vì vậy nó vượt lên trên những kinh nghiệm vốn có của một cá nhân
Trong khi đó, Max Weber (1864-1920) cho rằng xã hội học là khoa học nghiên cứu các hành động xã hội Theo ông, khác với khoa học tự nhiên, xã hội học nghiên cứu những hiện tượng phụ thuộc vào động cơ của con người
Vì vậy, cần phải nghiên cứu những động cơ của các cá nhân trước khi xem xét những mối quan hệ nhân quả mà không cần phải tách rời một biến số nào đó để nghiên cứu nó như trong phòng thí nghiệm Có một số mối quan hệ xã hội có thể hiểu ngay được một cách rõ ràng vì mối quan hệ giữa những động
cơ và những hành động là rõ ràng Tuy vậy, cũng có một số mối quan hệ xã hội khác phức tạp hơn và nhà xã hội học cần phải tạo dựng nên ý nghĩa của những hành động đó bằng cách tìm ra những động cơ chính thức hoặc bí mật của mỗi kẻ hành động Vì thế, trong xã hội học không có những quy luật chung nhất có thể so sánh với các quy luật của các khoa học tự nhiên Ngược lại với những quan điểm trên, George Simmel (1859-1918) tìm thấy trong cá nhân và trong tâm lý của cá nhân những cơ sở của các hiện tượng xã hội Ông cho rằng, những mối quan hệ tương hỗ giữa các cá nhân với nhau là nguồn gốc của các hiện tượng xã hội và sau đó đến lượt chúng, khi được thể chế hoá, lại định hướng những mối quan hệ giữa các cá nhân
Trang 3Trong khi, đa số các nhà xã hội học quan tâm tới những hành động của các nhóm đồng nhất với nhau, phù hợp với chuẩn mực xã hội thì Pareto lại quan tâm tới các hành động phi logic được đặc trưng hơn sự khác biệt giữa mục đích chủ quan với mục đích khách quan (một nhà hoạt động chính trị muốn hành động vì lợi ích chung nhưng động cơ trong hành động của ông ta lại hướng vào tầng lớp tinh hoa của chính phủ)
Như vậy, tuy có những hướng nghiên cứu khác nhau nhưng nhìn chung, các nhà Xã hội học thống nhất với nhau ở một điểm: Xã hội học là một ngành khoa học nghiên cứu một cách hệ thống các nhóm người Nó tập trung nghiên cứu các mối quan hệ hỗ tương và hành vi chung của các nhóm người
Khi một người phụ nữ ly dị chồng, các nhà tâm lý học thường đi tìm căn nguyên từ sự phù hợp hay không những yếu tố về tâm lý, sở thích của các cặp vợ chồng Họ giải thích nguyên nhân của hiện tượng này là để các cá nhân phát triển tiềm năng của mình Nhưng dưới cách tiếp cận của xã hội học, hiện tượng ly hôn từ phía phụ nữ là do xu hướng bình đẳng về giới tính trong xã hội Một người tự tử có thể được coi là có sự “bất bình thường” trong đầu hoặc
vì cá nhân muốn trốn tránh sự thất vọng hay cô đơn, theo suy nghĩ thông thường, các nhà xã hội học lại tìm nguyên nhân từ phía các tác nhân xã hội, ví dụ, sự thất nghiệp hay sự hụt hẫng trong thời gian đầu mới nghĩ việc của những người về hưu Như vậy, các nhà xã hội học không quan tâm tới đặc điểm của cá nhân mà chỉ quan tâm tới các nhóm người mà thôi Theo họ, những giải thích có tính cách cá nhân về những hành vi của nhóm là không hợp lý vì các hành động của con người chịu sự tác động của các lực lượng xã hội mà các cá nhân dù muốn dù không, cũng không thể tự tạo ra hay kiểm soát nổi (Emile Durkheim)
Các nhà xã hội học cho rằng, khi tham gia vào một nhóm nào đó, chúng
ta luôn có xu hướng tuân theo khuôn mẫu của nhóm Vì vậy, những người thuộc về các nhóm giống nhau thường có những khuynh hướng tư duy, cảm xúc, ứng xử gần nhau hơn Chẳng hạn, những người ở cùng một quốc gia hay một lãnh thổ, một dân tộc thường có thói quen sinh hoạt như ăn mặc, tín ngưỡng, tâm thế gần như nhau
Theo quan sát của các nhà xã hội học, những hành vi của con người được thực hiện theo khuôn mẫu mang tính đều đặn, lặp đi lặp lại và có sự phối hợp
Ví dụ khi đi xe trên đường, chúng ta luôn đi về phía bên phải của đường, cầm đũa bằng tay phải, cầm bát bằng tay trái, khi được giúp đỡ phải cám ơn, v.v
Trang 4Như vậy, các nhà xã hội học cho rằng, đời sống xã hội gồm những sự điều chỉnh theo khuôn mẫu và chính những sự điều chỉnh theo khuôn mẫu này cho phép chúng ta dự báo những hành vi xã hội Vì vậy có thể đưa ra nhận định về hành vi của con ngươì như sau:
Các cá nhân trong thiết chế xã hội giống nhau cũng sẽ có những hành vi tương tự như nhau; Những hành vi này là sản phẩm của sự tương tác xã hội cụ thể; những kinh nghiệm và các quan hệ xã hội tạo nên đời sống xã hội con người
Đối tượng và bản chất của xã hội học
Muốn hiểu rõ xã hội học là gì, phải xác định được rõ những phạm vi cụ thể của hành vi xã hội mà xã hội học quan tâm
Các hiện tượng xã hội là đối tượng của tất cả các ngành thuộc về khoa học xã hội chứ không chỉ riêng ngành xã hội học Chẳng hạn, tội phạm là đối tượng nghiên cứu của một loạt các ngành như xã hội học, tâm lý học xã hội, luật học Hiện tượng ly hôn cùng một lúc được các nhà tâm lý học, xã hội học, phụ nữ học quan tâm Vậy ranh giới dành cho đối tượng xã hội học là gì? Trả lời câu hỏi này quả không đơn giản chút nào Lược lại lịch sử phát triển xã hội học chúng ta thấy, những vấn đề xã hội mà xã hội học nghiên cứu vô cùng đa dạng
Có lúc chủ nghĩa thực chứng (Pisitivisme) được coi là nền tảng khoa học của nghiên cứu xã hội học (như A.Comte, Saint Simon và H.Spencer - thế kỷ XIX) Họ có tham vọng đi tìm những quy luật tổng quát của xã hội và biến đổi xã hội A Comte cho rằng, xã hội học cần áp dụng phương pháp luận của khoa học tự nhiên và chủ nghĩa thực chứng Các phương pháp mà ông đề nghị để nghiên cứu xã hội là thực nghiệm, quan sát so sánh và phân tích lịch sử Có lúc ý nghĩa của hành vi và tính chất duy nhất của các sự kiện lịch sử là vấn đề xã hội học cần phải quan tâm như Max Weber (1860-1920) quan niệm Còn xã hội học Pháp với đại diện là Emile Durkheim (1858 - 1917) dựa trên nhận định về sự tồn tại của một số định chế luân lý, luật lệ và một số tín ngưỡng tôn giáo trong các xã hội rất khác nhau đã chứng minh rằng dù sao xã hội vẫn chịu sự chi phối của một số quy luật phổ quát
Một số tác giả khác lại cho rằng những vấn đề phát sinh trong chuyển biến từ xã hội cổ truyền sang xã hội công nghiệp mới chính là đối tượng
Trang 5phần lớn được coi là những thay đổi nhanh chóng phá vỡ lối sống cổ truyền, gây ra những vấn đề phải đối phó với môi trường bên ngoài
Có những quan điểm tuy giống nhau ở chỗ đều coi hành vi xã hội như sản phẩm của những điều chỉnh xã hội, những tương tác và điều kiện xã hội (các quan điểm cá nhân, gia đình và xã hội) nhưng lại khác nhau trong cách lý giải căn cứ trên những nhân tố hay biến số cụ thể để giải thích hành vi
Sự đa dạng và không đồng nhất của các quan điểm xã hội học cho thấy không có một “xã hội học” duy nhất được thừa nhận và có thể cung cấp được tất cả các câu trả lời cho mọi hiện tượng trong xã hội
Các nhà xã hội học xã hội chủ nghĩa thời kỳ “Chiến tranh lạnh” khi phê phán xã hội học tư sản thường cho rằng các lý thuyết của họ thường thiếu tính hệ thống hoặc quá thiên về cá nhân hay quá thiên về tính quy luật chung nhất của xã hội Để có thể khắc phục những hạn chế trên, Osipov đã cố gắng đưa
ra một định nghĩa mang tính “trung gian” hơn Ông định nghĩa: “Xã hội học là khoa học về các quy luật mà tính quy luật của xã hội chung nhất và đặc thù của sự phát triển và vận hành của hệ thống xã hội, được quy định về mặt lịch sử, là khoa học về những cơ chế tác động và các hình thức biểu hiện của các quy luật đó trong hoạt động của các cá nhân, nhóm xã hội, giai cấp và dân tộc”i (G.V Osipov,1992) Tuy vậy, định nghĩa này thực tế lại quan tâm tới yếu tố vĩ mô nhiều hơn những mối quan hệ giữa các cá nhân như là những thành tố xã hội
Còn Peter Berger đã đưa ra khái niệm về cách nhìn nhận xã hội học trong nghiên cứu xã hội học với tư cách là một hình thái ý thức xã hội như sau: ông coi các từ “xã hội” và “tính xã hội” như là yếu tố then chốt Thuật ngữ “xã hội” nhấn mạnh đến những mối quan hệ phức tạp trong nội bộ một hệ thống tương tác độc lập, còn từ “tính xã hội” nhằm vào bản chất của sự tương tác Ông cho rằng, đây là cách mà các yếu tố hoặc các thành viên tác động và bị tác động lẫn nhau Nhà xã hội học tiếp cận với đề tài bằng cách sử dụng xã hội và những sự kiện xã hội như một khung quy chiếu khi nghiên cứu hoạt động của con người Khung quy chiếu đó chính là các quy tắc cơ bản Và các khung quy chiếu đó hướng sự chú ý của nhà xã hội học vào một số khía cạnh của một sự kiện mà chỉ có ngành xã hội học quan tâm tới
Sau một thời gian tranh luận và hiểu ra rằng cuộc tranh luận khó đi tới chỗ kết thúc, cuối cùng, người ta cũng đi tới chỗ thống nhất rằng: vấn đề ở
Trang 6đây không phải là xã hội học nghiên cứu cái gì mà nghiên cứu như thế nào? Tức là phải chỉ ra được cái đặc trưng của cách tiếp cận xã hội học
Một trong những khía cạnh quan trọng trong đánh giá bản chất của xã hội học là sự quan tâm của nó về mối quan hệ tương tác giữa người với người (xã hội học vi mô) và cơ cấu xã hội (xã hội học vĩ mô)
Xã hội học vi mô quan tâm tới con người khi họ quan hệ qua lại với nhau theo những khuôn mẫu và lặp đi lặp lại trong đời sống hàng ngày
Xã hội học vĩ mô tập trung vào những cơ cấu và quá trình ở qui mô lớn mà không cần quan tâm đến những quan hệ của những người liên quan Xã hội học nhấn mạnh đến mô hình quan hệ bên trong và giữa các cơ cấu có quy mô lớn Chẳng hạn sự tác động của công nghiệp hóa đến tỷ lệ ly dị như thế nào?
Ví dụ, trong nghiên cứu về vấn đề ngược đãi trẻ em: ở mức độ vi mô, nhà xã hội học sẽ quan tâm tìm hiểu xem những người hiện nay ngược đãi trẻ
em trước kia được cha mẹ đối xử như thế nào? Hoặc họ tìm mối liên hệ giữa loại hình và tần số ngược đãi trẻ em với thực chất của mối quan hệ giữa cha và mẹ trong gia đình Còn ở mức độ vĩ mô, nhà xã hội học có thể so sánh tính phổ biến của sự ngược đãi trẻ em ở các nước công nghiệp phát triển và các nước thuộc thế giới thứ ba hoặc cố gắng liên hệ tần số và loại hình ngược đãi trẻ em với mức độ bất ổn định của gia đình trong một xã hội hoặc qua các loại hình xã hội khác nhau
Vấn đề thất nghiệp cũng tương tự Nếu chỉ một cá nhân bị thất nghiệp, đây không phải là vấn đề xã hội mà là vấn đề có liên quan tới tính cách hoặc khả năng của cá nhân ấy Đây là một vấn đề cá nhân, không xuất hiện như là hậu quả của một vấn đề xã hội Mặt khác, một tỉ lệ thất nghiệp tới 7,5% bao hàm một ý nghĩa lớn hơn là những chuyện bất ổn cá nhân, nó phản ánh một điều kiện xã hội đặc biệt nằm trong lòng những lĩnh vực chính trị của xã hội Hoặc nữa, một trường hợp ly dị cá biệt có thể được nghiên cứu một cách khác với một tỉ lệ ly dị là 45% Trường hợp đầu là vấn đề cá nhân, còn tỉ lệ ly hôn cao thì gợi lên một cuộc khủng hoảng về thiết chế đang tác động vào cơ cấu của xã hội Ở đây, những yếu tố tác động đến cá nhân nằm ở tầm vĩ mô Như vậy, cũng có thể thấy một mức độ trung gian giữa hai cấp độ nói trên Ở đây có thể thấy, xã hội học không chỉ nghiên cứu mối quan hệ giữa các cá nhân và mà còn nghiên cứu mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội cho
Trang 7hợp với nghiên cứu xã hội học đều bao hàm cả những bất ổn cá nhân lẫn các vấn đề của đông đảo công chúng Các bất ổn là những chuyện riêng tư thuộc vào tiểu sử cá nhân, và việc giải quyết những bất ổn này phải được đặt vào phạm vi khung cảnh xã hội trực tiếp của cá nhân Còn các vấn đề quần chúng là những sự kiện lịch sử của xã hội, chúng phản ánh các điều kiện góp phần vào những chuyện bất ổn cá nhân Xã hội học quy định rằng ứng xử con người là ứng xử xã hội và rằng hầu hết các ứng xử và kinh nghiệm đều liên quan đến những biến cố xảy ra trong môi trường xã hội cụ thể
Còn George Simmel lại tìm thấy trong cá nhân và trong tâm lý của cá nhân, những cơ sở của hiện tượng xã hội Những mối quan hệ hỗ tương với nhau của các cá nhân là nguồn gốc của mối quan hệ xã hội và sau đó, đến lượt mình, khi được thể chế hoá chúng lại được định hướng quan hệ giữa các cá nhân
Chức năng của xã hội học
Từ khi hình thành, xã hội học đảm bảo ba chức năng cơ bản đó là: chức năng nhận thức, chức năng thực tiễn, chức năng tư tưởng
Chức năng nhận thức của xã hội học được thể hiện ở chỗ nó cung cấp những tri thức về những quy luật khách quan của sự phát triển xã hội cũng như những quy luật, nguồn gốc và cơ chế của qúa trình phát triển đó Những tri thức này còn có khả năng tạo ra các tiền đề để nhận thức về sự phát triển xã hội trong tương lai và dự báo về triển vọng của nó Chức năng nhận thức còn thể hiện ở chỗ nó có nhiệm vụ xây dựng hệ thống lý luận và phương pháp luận nhận thức xã hội Ở khía cạnh này, lịch sử xã hội học đã chứng kiến nhiều quan điểm khác nhau, chẳng hạn, A Comte và E Durkheim cho rằng giống như khoa học tự nhiên, xã hội học cần sử dụng hệ thống phương pháp luận, các kỹ thuật và thao tác nghiên cứu khoa học để tìm ra quy luật và đề ra lý thuyết với hệ thống các phạm trù khái niệm Một hướng nghiên cứu khác bắt nguồn từ khoa học nhân văn xác định chức năng nhận thức của xã hội học là phải lý giải được những động cơ của những hành động xã hội (M Weber) Trong khi đó, các nhà xã hội học Mác-xít lại xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử cho rằng chức năng nhận thức của xã hội học là phân tích lý luận hoạt động nhận thức trong các công trình nghiên cứu xã hội học và các nghiên cứu xã hội khác
Chức năng thực tiễn của xã hội học có mối quan hệ với chức năng nhận thức nói trên Chức năng thực tiễn không chỉ dừng lại ở chỗ phản ánh các
Trang 8hiện tượng đang diễn ra trong xã hội mà còn có nhiệm vụ dự báo những xu hướng vận động của xã hội trong tương lai Việc dự báo này là điều kiện và tiền đề để xây dựng các kế hoạch và quản lý xã hội một cách khoa học Cùng với hai chức năng trên, xã hội học còn thực hiện chức năng tư tưởng Các nhà xã hội học Mác–xít cho rằng lý luận xã hội học trang bị cho nhà nghiên cứu về thế giới quan khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Bên cạnh đó, xã hội học Mác-xít có nhiệm vụ giáo dục tinh thần yêu nước, ý thức công dân cho mọi người trong công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Đồng thời góp phần đấu tranh phê phán các trào lưu tư tưởng sai trái, những hiện tượng tiêu cực trong xã hội và bảo vệ lợi ích của quần chúng nhân dân lao động
Các chức năng nói trên đều có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau, trong đó, chức năng tư tưởng mang tính xuyên suốt và chỉ đạo Những người làm xã hội học cần kiên định trong cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh tư tưởng “Lập trường xã hội của nhà xã hội học xã hội chủ nghĩa dựa trên nguyên tắc tính Đảng trong khoa học xã hội, dựa vào quan điểm giai cấp của Đảng đối với các hiện tượng nghiên cứu và tính khách quan của khoa học” (G V Ô-xi-pốp và những người khác, 1988)
II Mối quan hệ của xã hội học với các ngành khoa học xã hội
Mặc dù có những điểm chung giữa các ngành khoa học xã hội, mỗi một ngành đều có những đặc thù của mình Muốn hiểu rõ hơn những đặc trưng của cách tiếp cận xã hội học với các ngành khoa học khác và có thể chỉ ra sự khác biệt giữa các ngành này, chúng ta hãy lần lượt so sánh xã hội học với một số ngành khác
Xã hội học và nhân loại học
Khoa học xã hội gần gũi với xã hội học là nhân loại học Về mặt lịch sử, các nhà nhân loại học tập trung nghiên cứu các xã hội chưa có chữ viết hoặc các xã hội nguyên thủy, trong đó xã hội học tập trung vào các xã hội phức tạp, công nghiệp của nền văn minh phương Tây Vì các nhà nhân loại học quan tâm chủ yếu đến các xã hội nhỏ không có nền công nghiệp, họ có khuynh hướng nghiên cứu nền văn hóa trong tổng thể của nó Các nhà xã hội học không thể sử dụng cách tiếp cận này để nghiên cứu các xã hội hiện đại
Trang 9nhau của xã hội học hiện đại như các cuộc cách mạng chính trị hoặc địa vị của phụ nữ so với nam giới ở nơi làm việc
Nhân loại học chia làm hai ngành chủ yếu : nhân loại học về tự nhiên và nhân loại văn hóa Nhân loại học tự nhiên quan tâm đến sự tồn tại của con người như những động vật sinh học Họ chú ý đến những vấn đề như nguồn gốc loài người, sự khác nhau về giải phẫu học giữa các chủng tộc và những tác động của các môi trường tự nhiên đến các tổ chức cơ thể con người Nhân học văn hóa liên quan đến nền văn hóa của một cộng đồng hoặc một xã hội Các nhà nhân học văn hóa tập trung vào những vấn đề như những đặc điểm hiện đại của nền văn hóa, sự phát triển của nền văn hóa, sự phát triển của văn hóa và biến đổi trong một nền văn hóa
Xã hội học và tâm lý học
Các nhà tâm lý học quan tâm tới sự phát triển và sự hoạt động của quá trình tinh thần - xúc cảm của con người Trái lại, xã hội học và nhân loại học lại tập trung vào các nhóm người Hai bộ phận cơ bản trong tâm lý học: tâm lý hành vi và tâm lý ứng dụng Các nhà tâm lý học chú ý đến các quá trình tâm lý như nhận thức, tư duy, trí thông minh, trí nhớ và quan niệm Những người quan tâm tới tâm lý học ứng dụng tập trung đến việc điều trị những vấn đề cá nhân khác nhau như rối loạn thần kinh và các bệnh tinh thần Xã hội học và tâm lý học chia sẻ một số quan tâm chung về phương diện khoa học hành vi gọi là tâm lý học xã hội, một lĩnh vực mà tiêu điểm của nó là sự tương tác giữa các cá nhân và các nhóm Ví dụ, một nhà tâm lý xã hội có thể quan tâm đến cách khuyến khích sự phù hợp trong nhóm giữa các thành viên Các nhà xã hội học không chỉ nghiên cứu các mối quan hệ bên trong nhóm mà còn quan tâm đến những yếu tố tác động từ ngoài nhóm Đặc biệt, họ chú ý đến các vai trò mà mỗi cá nhân đóng
Xã hội học và kinh tế học
Kinh tế học nghiên cứu những quá trình sản xuất, phân phối, tiêu dùng và dịch vụ Nó giải quyết những vấn đề như tác động của tỷ suất lợi nhuận đến dòng tiền tệ và ảnh hưởng của thuế đến người tiêu dùng
Kinh tế học có khả năng dự báo rất cao về dự báo, những biến đổi kinh tế Người ta sử dụng các mô hình toán học mặc dù không phải lúc nào cũng đúng Chúng là những phương tiện tinh vi tạo cho các nhà kinh tế học có khả năng dự báo lớn hơn các nhà khoa học xã hội khác Xã hội học và kinh tế học
Trang 10kết hợp trong lĩnh vực nghiên cứu xã hội học kinh tế tập trung vào mối quan hệ giữa những khía cạnh kinh tế và phi kinh tế của đời sống xã hội Ví dụ, một nhà xã hội học kinh tế sẽ quan tâm đến quan hệ giữa trình độ khoa học - công nghệ trong các xí nghiệp và mức độ tham gia của công nhân trong hoạt động Công đoàn
Xã hội học và khoa học chính trị
Khoa học chính trị trước kia thường nghiên cứu những vấn đề tổ chức, quản lý, lịch sử, lý thuyết và chính phủ Các nhà khoa học chính trị quan tâm đến các mô hình bầu cử và sự tham gia trong các đảng phái chính trị Tuy vậy, trong những năm gần đây, khoa học chính trị quan tâm của mình trong phạm
vi hoạt động của chính phủ mà hướng đến nghiên cứu hành vi chính trị trong
ý nghĩa rộng hơn của nó Khuynh hướng này làm cho các nhà khoa học – chính trị và các nhà xã hội học xích lại gần nhau hơn, tạo nên một lĩnh vực mới là xã hội học chính trị Các nhà khoa học – chính trị và xã hội học chính trị chia sẻ sự quan tâm về sự tương tác của các yếu tố bên trong thiết chế chính trị với nhau và giữa thiết chế chính trị với các thiết chế khác (kể cả các thiết chế kinh tế và giáo dục) Cả hai nhóm này đều tiến hành nghiên cứu về việc sử dụng quyền lực, quá trình xã hội hóa chính trị hoạt động các nhóm đặc thù và các hoạt động đấu tranh chính trị
Với những góc nhìn khác nhau, các nhà nghiên cứu thuộc những ngành khoa học khác nhau có thể gán ghép những ý nghĩa khác nhau cho cùng một sự kiện
Đứng trước một hành vi phạm pháp, một luật gia sẽ quan tâm tới những giải thích pháp lý về hành động phạm pháp Còn nhà xã hội học thì quan tâm tới không chỉ hành vi tội phạm của người phạm tội mà cả những điều kiện xã hội dẫn đến hành động tội phạm và sự tương tác của kẻ tội phạm trong hệ thống pháp lý
Như vậy, các ngành nói trên, mỗi ngành đều có những cách tiếp cận đặc trưng của mình và khảo sát những hệ thống các yếu tố khác nhau Nhà tâm lý học nghiên cứu về ứng xử của con người nhưng lại tập trung nghiên cứu về những yếu tố cá nhân và nhân cách còn các nhà nhân chủng học, khi nghiên cứu ứng xử của con người lại chú ý đến nguồn gốc và sự tiến hóa của loài người (nhân chủng học vật chất) và của văn hóa (nhân chủng học văn hóa) Để tách bạch được quan điểm nghiên cứu của những cách nhìn xã hội
Trang 11bản của xã hội học, để mô tả và phân tích những loại câu hỏi riêng biệt , sự chọn lọc những những biến lượng hoặc những nhân tố cần được nhà xã hội học nghiên cứu Khái niệm quy tắc cơ bản sau này sẽ làm sáng tỏ cách tiếp cận và có thể được áp dụng cho một ngành khoa học Các nhà xã hội học - cũng như các nhà tâm lý học và các thành viên của các ngành khác – tuân theo một số quy tắc hoặc thủ thuật nhất định bằng cách chọn lọc những câu hỏi và những nhân tố phù hợp với những lĩnh vực quan tâm của chính mình Những lý giải mà họ đưa ra đều phù hợp với những quy tắc ấy Các ví dụ về những nhân tố được khảo sát trong việc sử dụng ma tuý bất hợp pháp có thể giúp ta hiểu cặn kẽ hơn phần nào về những khác biệt trong các quy tắc cơ bản
- hoặc các khung quy chiếu – của các cách nhìn khác nhau của cả ba ngành nghiên cứu
Như vậy, từ những quan điểm khác nhau của các nhà xã hội học, từ những tranh luận về đối tượng nghiên cứu của ngành khoa học mới mẻ này, các nhà xã hội học kinh điển, những nhà nghiên cứu xã hội học hiện đại và về sau này, với muôn vàn ý kiến khác nhau nhưng đã thống nhất với nhau ở một điểm, không có một định nghĩa nào có thể đáp ứng được cho sự giải thích đối với mọi hiện tượng xã hội
Thực tế nghiên cứu xã hội học trên thế giới và tại Việt Nam cho thấy những công trình nghiên cứu xã hội học thực nghiệm phần lớn dựa trên một hoặc vài cách tiếp cận khác nhau Điều mà người ta quan tâm là chúng đã được thực hiện như thế nào và đã giải quyết được những vấn đề gì cho các cá nhân, các nhóm người và cả xã hội nói chung chứ không phải là tính ưu việt của một lý thuyết nào đó so với một lý thuyết khác Vả lại, các lý thuyết là sự phản ánh khách quan những quy luật và hiện tượng xã hội của những xã hội cụ thể Trong điều kiện xã hội luôn biến đổi như hiện nay, đòi hỏi các lý thuyết cũng phải thay đổi
Xã hội học là một ngành có những đối tượng nghiên cứu giống một số ngành khoa học xã hội khác nhưng có cách tiếp cận đặc thù của mình, và càng ngày, người ta càng chú ý tới hướng nghiên cứu kết hợp những nét đặc trưng của một số ngành khoa học để nhận biết và dự báo các sự kiện, các hiện tượng xã hội một cách toàn diện hơn Đó là phương pháp nghiên cứu liên ngành
III.Khái quát lịch sử hình thành xã hội học
Trang 12Sự ra đời của xã hội học trước hết, xuất phát từ nhu cầu nhận thức về xã hội, vì xã hội như một cơ thể sống luôn luôn biến đổi, mỗi một giai đoạn phát triển quan trọng của nó đều gắn liền với một sự xáo trộn, sự đảo lộn các trật tự cũ, buộc con người phải quan tâm tới nó, đến nhu cầu nhận biết về thực trạng của các hiện tượng xã hội, những nguyên nhân phát sinh của nó và sự vận hành nói chung của xã hội
Ngoài ra trong hoạt động thực tiễn, con người xuất phát từ nhu cầu hiểu biết về thực tại trong các lĩnh vực của mình (ví dụ như những người làm việc trong chính phủ, trong công tác quản lý các ngành) đòi hỏi phải được trang bị những kiến thức đặc biệt về xã hội với mong muốn làm cho công việc của họ có hiệu quả hơn
Con người không đơn thuần chịu sự tác động của xã hội mà còn là một chủ thể tích cực cải tạo xã hội, làm cho nó ngày càng hoàn thiện hơn Muốn cho công việc cải tạo có hiệu quả và có cơ sở vững chắc, đòi hỏi phải có những kiến thức nhất định về xã hội, về những cá nhân, các nhóm xã hội và
sự tương tác giữa các vai trò của họ
Điều kiện và tiền đề của sự ra đời bộ môn xã hội học
Khi nghiên cứu bối cảnh xã hội trong thời điểm xã hội học ra đời, người
ta nhận ra rằng, các quan điểm không thống nhất với nhau và không nảy sinh trong cùng một thời điểm Những tài liệu trình bày về lịch sử xã hội học đều cho rằng xã hội học đã ra đời và phát triển trong những bối cảnh xã hội - tư tưởng và lịch sử khác nhau và là sản phẩm của giai đoạn đặc biệt của một xã hội nhất định
Những tiền đề tư tưởng lí luận khoa học của việc ra đời môn xã hội học
Sự ra đời của bất kỳ bộ ngành khoa học nào cũng có những tiền đề của nó Trước hết phải kể đến tư tưởng của các nhà triết học cổ Hy Lạp và La Mã: mối quan tâm về cá nhân và xã hội ngay từ thời đó của họ cho thấy một nhu cầu không thể thiếu được về sự nhận thức những biến đổi xã hội Về sau, những vấn đề đó luôn là trọng tâm nghiên cứu của các nhà triết học Tuy nhiên, những giải thích mang tính triết học về xã hội trong thời kỳ đầu đã không được kiểm nghiệm mà dựa trên sự suy diễn về mặt lý luận, thiếu khoa học Họ cũng đã xây dựng được mô hình lý thuyết về con người và xã hội nhưng không chỉ ra được sự vận hành của xã hội
Trang 13Đến thế kỷ thứ XV- thời kỳ Phục hưng trở đi, đặc biệt thế kỷ XVIII ở Tây Âu, những hiểu biết về cá nhân và xã hội đã đạt được nhiều tiến bộ trong những khám phá của khoa học kỹ thuật về cấu trúc và thành phần của thế giới bao quanh con người cũng như về thể trạng và bản chất của chính con người Các nhà xã hội học quan tâm tới lịch sự hình thành của xã hội học thường cho rằng, ba yếu tố cơ bản trong lịch sử tư tưởng của loài người từ thế kỷ thứ XV đến nửa đầu thế kỷ XIX tạo ra tiền đề cho sự ra đời của xã hội học là nền triết học cổ điển Đức, trào lưu Khai sáng và Chủ nghĩa Xã hội ở Pháp và các lý thuyết kinh tế học, chính trị học của Anh Các trào lưu tiến bộ của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội dưới nhiều hình thức đã trở thành tiền đề của hệ thống xã hội học thế kỷ XIX Các nhà tư tưởng Anh thường cổ vũ và bênh vực cho quyền con người nói chung nhằm biện minh cho Chủ nghĩa
tư bản công nghiệp phát triển nhanh (A Smith (1823- 1970) và D Ricadro (1722- 1823)) Các nhà kinh tế học đưa ra quan điểm cho rằng các cá nhân có quyền tự do cạnh tranh, muốn vậy họ phải được tự do thoát khỏi những ràng buộc và hạn chế từ phía xã hội Cứ theo hướng như vậy, theo họ, xã hội mới phát triển được Như vậy, chính quan niệm kinh tế học đã góp phần váo quá trình phát triển quan điểm duy vật biện chứng đối với các vấn đề xã hội mới đang hình thành từ nền kinh tế tư bản với quá trình công nghiệp hoá và đi cùng với nó là sự phân hoá xã hội ngày càng tăng
Trong khi đó, tại Pháp những tư tưởng khai sáng và chủ nghĩa xã hội của
F Voltaire (1694-1778), J.Rouseau (1712-1778), C.H De Sant Simon 1825) … đã khởi xướng một trào lưu duy lý mới Các nhà tư tưởng tiên tiến của Pháp thời bấy giờ quan niệm rằng, cách ứng xử của con người trong xã hội không hình thành một cách tự nhiên mà bị quy định bởi hoàn cảnh xã hội Tuy nhiên, thực tế con người luôn phải chịu những điều bất công trong xã hội,
(1760-vì vậy cần thay đổi trật tự làm cản trở sự tự do của con người đang hiển hiện trong xã hội bằng một con đường mang tính chất hợp pháp và duy lý làm thay đổi tư tưởng và nhận thức của con người, thậm chí bằng cuộc cách mạng Cuộc đại Cách mạng Pháp năm 1789 là đỉnh cao của trào lưu “Khai sáng” đó Khoa học tự nhiên, trong khi nghiên cứu thế giới vật chất và con người
cũng như vai trò của nó đã phát triển một hệ thống phương pháp thực nghiệm
Chính xu hướng đòi hỏi các lý thuyết khoa học phải được kiểm chứng bằng thực nghiệm đã làm cho các nhà tiền bối xã hội học có ý tưởng áp dụng những phương pháp tương tự vào bộ môn nghiên cứu về xã hội và sự vận hành của nó Xã hội học trở thành một khoa học là chính ở tinh thần đó
Trang 14Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội để xã hội học trở thành một khoa học độc lập
Chính những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và tư tưởng tiến bộ về xã hội thời kỳ này đã đặt nền móng cho những biến đổi kinh tế - chính trị - xã hội Cuộc cách mạng công nghiệp và thương mại đã làm biến đổi căn bản thiết chế kinh tế - xã hội cũ có lịch sử lâu dài trước đó trong các nước như: Anh, Pháp, Đức, Italia, v.v… Trước sự phát triển của lực lượng sản xuất và thị trường của nền đại công nghiệp, hình thái kinh tế - xã hội phong kiến đã bị thay thế với một hình thái kinh tế - xã hội mới là tư bản chủ nghĩa
Những phát minh, sáng chế và sự phát triển trên trình độ cao hơn của các phương pháp, kỹ thuật, công nghệ của sản xuất trong mỗi lĩnh vực kinh tế, đã làm thay đổi quy mô và đối tượng sản xuất - từ đất đai nông nghiệp sang thành phố, từ các xí nghiệp nhỏ sang các nhà máy có quy mô lớn hơn và hiện đại hơn Phân công lao động đi theo hướng chuyên môn hóa Các ngành nghề ngày càng phát triển và đa dạng Do vậy đã xuất hiện những biến đổi trong đời sống sinh hoạt của mọi người dân: từ lối sống nông thôn chuyển sang lối sống đô thị, từ lối sống nông nghiệp sang lối sống công nghiệp, từ lao động chân tay chuyển sang lao động “cơ khí hóa”
Nhưng những biến đổi sâu sắc có liên quan đến quá trình công nghiệp hóa này lại có tính hai mặt của nó: Một mặt, nó đem lại một xã hội mới với tiềm năng sản xuất lớn và lối sống phong phú đa dạng hơn, mức sống cao hơn Mặc khác, nó lại phá vỡ những chuẩn mực và các quan hệ truyền thống trong cuộc sống, gây nên những đảo lộn mới như tình trạng quá đông dân cư ở thành phố, nạn nghèo đói, thất nghiệp, các mâu thuẫn xã hội trở nên gây gắt Các nhà nghiên cứu lịch sử xã hội học cho rằng, sự ra đời của xã hội học như là một quá trình hình thành một cách khách quan và mang tính tất yếu
“Tính tất yếu đó bộc lộ ở nhu cầu và sự phát triển chín muồi các điều kiện vật chất và tinh thần, các tiền đề cần thiết cho sự nhận thức đời sống xã hội” (Phạm Tất Dong và Lê Ngọc Hùng, 2001) Đó là những điều kiện về kinh tế - xã hội của sự ra đời khoa học xã hội Tuy vậy, đó mới chỉ là yếu tố cần, xã hội học muốn ra đời được và phát triển như một ngành khoa học độc lập cũng cần những điều kiện về chính trị văn hoá và tư tưởng nữa
Khi xem xét bối cảnh chính trị , văn hoá và tư tưởng của sự hình thành xã hội học, người ta không thể không kể đến các sự kiện chính trị quan trọng làm thay đổi căn bản chế độ chính trị và trật tự xã hội của các quốc gia ở Châu
Trang 15Âu – các cuộc cách mạng , đặc biệt Cách mạng Pháp 1789 Cuộc cách mạng này với khẩu hiệu “bình đẳng, bác ái” đã làm thức tỉnh về mặt tư tưởng nhận thức và hành động của các tầng lớp lao động Họ đã nhận ra rằng mình cũng có quyền bình đẳng như mọi người khác, mọi giai cấp khác, rằng những trật tự xã hội đã buộc họ phải xếp mình xuống tầng lớp dưới không phải là tiền định và có thể thay đổi được Cuộc cách mạng ở Pháp còn ảnh hưởng sâu rộng tới các quốc gia khác Sự tác động này cùng với những diễn biến chính trị mang tính khách quan ở các quốc gia khác ở Châu Âu như Anh, Đức, Ý, v.v… đã tạo ra sự chuyển biến xã hội lớn lao Kết quả của chuyển biến này dẫn đến tình hình là các quyền lực kinh tế và chính trị đã chuyển sang giai cấp tư sản Điều này làm cho một loạt các yếu tố như sản xuất, cạnh tranh, ngôn luận, đã trở lên tự do hơn, dẫn đến tình hình là sự tích luỹ tài sản và quyền lực tập trung vào một nhóm thiểu số trong xã hội Đối lập với nhóm này là những người lao động bị bóc lột đến tột cùng Sự đối lập về quyền lợi và quyền lực ngày càng trở nên căng thẳng hơn, tạo ra những mâu thuẫn đối kháng này, tất yếu dẫn đến các cuộc cách mạng do giai cấp vô sản tiến hành để làm thay đổi trật tự bất công của xã hội tư bản mà cuộc cách mạng Công xã Paris (1871) và cách mạng tháng Mười Nga (1917) là những minh chứng sống động của lịch sử
Đứng trước tình hình đó, một số nhà trí thức tỏ ra rất lo ngại và muốn đi tìm nguyên nhân của các hiện tượng thu thập các kiến thức chính xác về những biến đổi của xã hội Để thực hiện điều đó, họ đã vận dụng những thành quả của các phương pháp trong khoa học tự nhiên vào những nghiên cứu xã hội trong thời gian đầu Như vậy, xã hội học như một ngành khoa học độc lập có đối tượng, phương pháp và chức năng riêng đã ra đời từ những biến đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế - chính trị - xã hội nửa sau thế kỷ XIX
ở Châu Âu
Sự phát triển của xã hội học trên thế giới
Tuy nhiên, sự phát triển của xã hội học và sự thừa nhận nó như một ngành khoa học độc lập hoàn toàn không suông sẻ một chút nào
Về thời gian, có thể tóm lược lịch sử hình thành xã hội học bằng ba giai đoạn (Lê Ngọc Hùng, 2002) như sau:
Giai đoạn hình thành - giai đoạn này được khởi động bởi nhà xã hội học người Pháp Auguste Comte - người đã được ghi nhận là cha đẻ của ngành xã hội học Giai đoạn này kéo dài cho đến khi xảy ra hàng loạt các sự kiện quan
Trang 16trọng nổi bật, chẳng hạn như môn Xã hội học được G Simmel đưa vào giảng dạy tại trường đại học ở Đức (1885), A Small đề nghị thành lập khoa Xã hội học ở trường đại học Chicago ở Mỹ và E Durkheim bắt đầu giảng xã hội học tại Pháp (1895), đồng thời sự ra đời của Tạp chí xã hội (1896) Giai đoạn này kết thúc vào những năm cuối thế kỷ XIX, là thời điểm hình thành các khoa xã hội học, Tạp chí Xã hội học và sự phát triển đội ngũ nghiên cứu và giảng dạy xã hội học
Giai đoạn thứ hai là giai đoạn trưởng thành Giai đoạn này khẳng định
vị trí, vai trò của xã hội học trong xã hội Thời kỳ này đã hình thành một hệ thống các trường phái lý thuyết khắp nơi trên thế giới, đặc biệt ở Châu Âu và cùng với nó là xu hướng nghiên cứu thực nghiệm Những kiến thức xã hội học không chỉ được giới hạn trong những nhà nghiên cứu mà còn được phổ biến rộng rãi và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, chẳng hạn như trong phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục
Giai đoạn ba là giai đoạn ứng dụng mà các nhà xã hội học gọi là “đi vào cuộc sống” (Phạm Tất Dong – Lê Ngọc Hùng, 2001) Trong giai đoạn này, xã hội học đã phát huy mạnh mẽ vai trò của mình trong quá trình phát triển xã hội Cách tiếp cận và hệ thống phương pháp của nó không những ngày càng hoàn thiện hơn và thích ứng nhiều hơn trong việc lý giải các quy luật trong mối quan hệ qua lại giữa người với người và quan hệ hỗ tương giữa con người với xã hội, mà còn được nhiều ngành nghiên cứu về xã hội khác nhau ứng dụng Ngày nay, hầu hết các chính sách của các đảng phái, các quốc gia trước khi ban hành đều có sự tham khảo ý kiến của các nhà xã hội học Các công trình phát triển kinh tế muốn được chuẩn y cũng đòi hỏi phải có sự đóng góp của các chuyên gia xã hội học hoặc được đánh giá bằng các phương pháp nghiên cứu xã hội học Nếu như trước kia, người ta chỉ quan tâm tới chỉ báo kinh tế thì ngày nay hàng loạt các chỉ báo mang tính xã hội cũng được đề xướng để đánh giá trình độ phát triển của quốc gia, ví dụ như chỉ số phát triển con người (HDI), chỉ số về nghèo (HPI), hoặc chỉ số phát triển giới (GDI) (Lê Ngọc Hùng, 2002)
Nếu xét về địa dư, khu vực, có thể nhận thấy xã hội học được bắt đầu ở Pháp (A Comte và E Durkheim) Sau đó phát triển mạnh ở Đức (K Marx,
M Weber, G Simmel…) và tiếp đó là ở Anh (H Spencer, A Giddens…) Xã hội học được phát triển mạnh ở Hoa Kỳ và được chấp nhận rộng rãi hơn ở Anh Xã hội Mỹ thời kì này là một mảnh đat tốt cho xã hội học phát triển Đó là một xã hội rộng, công nghiệp hóa nhanh mang tính quốc tế dựa trên cơ sở
Trang 17nhập cư đã trải qua những biến đổi xã hội rộng lớn về mọi mặt Chính vì vậy, không ngẫu nhiên mà xã hội học Mỹ được đặc trưng bằng những nghiên cứu thực nghiệm về mọi mặt của đời sống xã hội Mỹ, đặc biệt là những khía cạnh tiêu cực như vấn đề tội phạm, về các nhóm thiểu số đặc biệt, tự sát v.v Cố gắng khắc phục xu hướng quá chú trọng đến thực nghiệm, Parsons (1902-1979)– một nhà xã hội học người Mỹ đã đưa ra một hệ thống lý thuyết để phân tích hành vi của con người
Như vậy, qua các tác phẩm của thời kỳ này, một số điểm cần lưu ý sau: Xã hội học trong thời kỳ đầu có mối quan hệ trực tiếp với triết học với những cách thức khác nhau Có lúc xã hội học được coi là một hệ thống lý thuyết bao trùm lên tất cả mọi trí thức khác (như quan niệm của Comte) Có lúc xã hội học lại được nhìn nhận là một phần trong hệ thống triết học tổng quát (như Spencer)
Nhưng đến thế kỷ XX, xã hội học có xu hướng giải phóng mình khỏi khuôn khổ của triết học
Đến cuối thế kỷ thứ XIX và đầu thế kỷ thứ XX xuất hiện nhiều trường phái xã hội học khác nhau, đưa ra những giải thích thực trạng xã hội dưới các cách tiếp cận khác nhau Chẳng hạn, như địa lý, tâm lý, sinh lý, kinh tế hay kỹ thuật
Trường phái sinh lý xã hội học - quan niệm xã hội như cơ thể sống, còn trường phái tâm lý xã hội học - giải thích hiện tượng xã hội bằng hiện tượng tâm lý hoặc những thuộc tính tâm lý cá nhân hoặc nhóm Trong khi đó, trường phái địa lý - xã hội học - giải thích bằng những yếu tố địa lý
Xã hội phát triển không ngừng và mỗi thời kỳ xã hội có những đặc trưng riêng Trong giai đoạn hiện nay - giai đoạn toàn cầu hoá thì những biến chuyển xã hội diễn lại càng diễn ra mạnh mẽ hơn Trong phiên họp khai mạc Đại hội Xã hội học thế giới lần thứ 15 tổ chức tại Brisbane, Australia từ 7 đến
13 tháng 7 năm 2002, Giáo sư Alberto Martinelli – Chủ tịch Hội Xã hội học thế giới nhiệm kỳ khóa 14 - đã đọc bài diễn văn đề cập những vấn đề của xã hội học trong bối cảnh thế giới hiện nay
Ông cho rằng, những biến đổi xã hội sâu rộng như trong kỷ nguyên toàn cầu hóa đã thúc đẩy nhu cầu cần có thêm những khái niệm mới, lý thuyết mới và những mô tả mới Cuộc cách mạng khoa học thế kỷ XVII – XVIII đã diễn
ra cùng với những cách mạng về kinh tế và chính trị, lúc đầu là trong khoa
Trang 18học vật lý và khoa học tự nhiên, sau rồi đến các khoa học xã hội Ngày nay, tốc độ của những đổi mới về khoa học - công nghệ và phạm vi biến đổi xã hội không song hành với sự phát triển của các hệ khái niệm và lý thuyết mới về thế giới xã hội Một số người cho rằng nguyên nhân chính của tình trạng này là sự manh mún về tri thức, trong khi những người khác thì lại cho đó là
do thiếu lòng tin vào năng lực lý giải của chính các nhà khoa học xã hội Kết quả là trí tưởng tượng xã hội học thường tạo nên cảm giác của sự tụt hậu và chưa đủ sức đối diện với phạm vi của sự biến đổi
Cuối phần phân tích về đặc điểm của các xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa, Alberto Martinelli đã đề nghị một số điểm cần thay đổi trong cách tiếp cận xã hội học như sau:
Trước hết, các nhà xã hội học nhìn chung đã nghiên cứu các xã hội của chính mình và đôi khi tìm hiểu những xã hội khác nhưng họ thường xem các xã hội như thể chúng là những đơn vị riêng lẻ, mỗi đơn vị được khoanh vùng bởi đường biên giới quốc gia rất rạch ròi và rất ít khi công khai xét dưới góc độ so sánh
Toàn cầu hóa hiện nay ẩn chứa trong nó không chỉ sự xuất hiện của một đối tượng nghiên cứu mới là thế giới, mà nó còn đòi hỏi rằng bất kỳ nghiên cứu cụ thể nào (một nghiên cứu so sánh về tỷ suất sinh và mẫu hình gia đình, hay nghiên cứu về tổ chức lao động trong một công ty) cũng đều phải đặt trong bối cảnh toàn cầu, bởi mỗi bộ phận của thế giới đang ngày càng hiện hữu rõ ràng trong từng bộ phận của nó Thế giới đương đại ngày càng giống như một chùm sáng không gian ba chiều trong đó mỗi điểm sáng đều chứa đựng thông tin về tổng thể, vì mỗi người chúng ta ngày càng có xu hướng tiếp nhận thông tin và nguồn tin từ nhiều phía Do đó, cần phải nâng cao tầm phân tích lên cấp độ toàn cầu và áp dụng tiếp cận hệ thống thế giới trong bất kỳ nghiên cứu nào
Có thể tóm tắt đặc điểm xã hội học của các nước trong bối cảnh xã hội hiện đại ở một số điểm sau:
Đối với xã hội học ở Pháp, ngay từ đầu xã hội học tại quốc gia này đã có
một nền tảng lý thuyết rất vững chắc Các nhà xã hội học Pháp quan niệm xã hội học phải là ngành khoa học độc lập, có phương pháp và có đối tượng riêng Đặc trưng của xã hội học Pháp thể hiện ở chỗ nó thường kết hợp với những khoa học nhân văn khác như nhân học, địa lý, lịch sử, kinh tế pháp luật Nó vừa chịu ảnh hưởng các ngành này, vừa có tác động ảnh hưởng tới
Trang 19chúng Tuy nhiên, trong thời gian đầu, xã hội học Pháp vẫn tồn tại khoảng cách giữa lý thuyết và các sự kiện cụ thể
Xã hội học Đức cũng ra đời tương đối sớm Nó vừa mang đặc trưng của lý thuyết hệ thống vừa phản ánh phương pháp lịch sử Các nhà xã hội học Đức đã luôn mong muốn tìm ra những quy luật phổ biến của xã hội trên cấp độ vĩ mô (K.Marx) và vi mô (Max Weber)
Xã hội học Mỹ ra đời muộn hơn nhưng lại kế thừa được nhiều tinh hoa
của những người đi trước Với đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ ở thời kỳ đầu thế kỷ XX, khác với xã hội học các nước khác, xã hội học Mỹ ít chú trọng đến đến lý thuyết căn bản mà chú trọng nhiều tối mặt thực tiễn, khảo cứu những cái cụ thể, thực nghiệm Các nhà xã hội học Mỹ quan tâm nhiều tới những khảo cứu có phạm vi hẹp Nhiều nhà xã hội học Mỹ quá giới hạn quan hệ xã hội vào quan hệ tâm lý giữa các cá nhân với nhau
Những xu hướng chính của xã hội học Mỹ là: xã hội học chuyên ngành (kỹ nghệ xã hội học, đô thị xã hội học…); nghiên cứu những vấn đề của các chủng tộc và những nền văn minh khác nhau; nhóm và quan hệ giữa các cá nhân trong nhóm nhỏ
Xã hội học ở Việt Nam hiện nay vẫn còn được xem là một ngành khoa học mới, đang trong giai đoạn hình thành và phát triển Tuy vậy, xã hội học đã sớm khẳng định được vị trí của mình trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước Nó ngày càng đi sâu vào cuộc sống và phát huy vai trò trong việc bảo đảm về mặt khoa học cho việc đổi mới các phương pháp tổ chức và quản
lí xã hội Nó đã trở thành phương tiện nhận thức không thể thay thế của xã hội, là công cụ dự báo, mô hình hóa các quá trình cải tạo xã hội
Trong những năm gần đây, các cuộc điều tra xã hội học ở Việt Nam đã gia tăng về số lượng lẫn chất lượng Chính bối cảnh kinh tế xã hội của đất nước thời kỳ đổi mới là xuất phát điểm, nơi đặt hàng cho các nghiên cứu đó Những vấn đề và sự kiện xã hội quan trọng xảy ra trong vòng năm thập niên cuối thế kỷ XX là nguồn đề tài rất thực tế, phong phú cho các cuộc nghiên cứu, điều tra xã hội học Đa số các đề tài đã thực hiện trong thời kỳ này đều bám sát và phản ánh đúng hiện thực, giải thích và dự báo được các hiện tượng và sự kiện xã hội Các hướng nghiên cứu đã thực hiện trong thời gian qua là tập trung nghiên cứu về sự phân tầng xã hội, sự phân hoá giàu nghèo và công bằng xã hội trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nghiên cứu hệ thống chính trị và dân chủ cơ sở,
Trang 20đánh giá, nghiên cứu đánh giá tác động xã hội và thẩm định chính sách xã hội
Hệ thống các phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật và cách tiếp cận các vấn đề xã hội thực tế của xã hội học ở Việt Nam những năm gần đây được đánh giá cao Đây là một lợi thế của ngành này Theo thống kê, hiện nay có đến 80% đề tài của các ngành khoa học xã hội đã sử dụng phương pháp xã hội học Các phương pháp, kỹ thuật và công cụ nghiên cứu xã hội học đã góp phần đem lại một phong cách, một sức sống mới cho một lĩnh vực nghiên cứu rộng lớn bao gồm nhiều bộ môn khoa học xã hội Đó chính là linh hồn và bản chất của tính thực chứng xã hội học, là logic thực nghiệm, quy nạp của các môn khoa học tự nhiên đầy sức thuyết phục Trên cơ sở phát huy những thế mạnh đó, xã hội học có khả năng tiếp tục thâm nhập sâu hơn vào những chiều cạnh đa dạng, phong phú và cũng rất nhạy cảm của sự phát triển xã hội nước
ta hiện nay
Bên cạnh những ưu điểm rất đáng khích lệ trên, xã hội học Việt Nam đang phải đối mặt với những yêu cầu mới ở tầm cao hơn để đáp ứng nhu cầu của xã hội Về quy mô và tầm bao quát của các nghiên cứu, xã hội học Việt Nam vẫn còn thiếu những công trình mang tính tổng kết ở tầm quốc gia, vĩ mô, giúp trả lời trực tiếp những vấn đề nảy sinh trong quá trình lập chính sách và chỉ đạo thực hiện Các cuộc nghiên cứu vẫn thường tập trung vào nghiên cứu định lượng, thực nghiệm được triển khai theo chiều rộng, như là các nghiên cứu thử nghiệm, dẫn đường
Trong khi đó, để đáp ứng được yêu cầu phát triển của một bộ môn khoa học, đòi hỏi những nhà xã hội học cần phải có những cuộc nghiên cứu có tính khái quát cao hơn, “có luận điểm” và trên cơ sở lý luận, phát hiện được những vấn đề, tìm kiếm những lời giải đáp ở cấp độ vĩ mô
Về mặt tổ chức, sự phối hợp nghiên cứu liên ngành, tính tập trung trong chủ đề và cách tổ chức nghiên cứu vẫn còn chưa có hiệu quả, cần được nâng cao hơn Về mặt học thuật, các nghiên cứu xã hội học đã đưa ra quá ít các sản phẩm cuối cùng như sách tổng kết hoặc khái quát lý luận, sách chuyên khảo, các số tạp chí chuyên đề Đó là một số điểm mà xã hội học Việt Nam cần phải khắc phục và vượt qua trong quá trình phát triển
Muốn vậy, xã hội học cần phải xây dựng đội ngũ những nhà khoa học giỏi, có nhiều tâm huyết với ngành Hiện nay, nguồn nhân lực đáp ứng cho nhu cầu phát triển của xã hội học nhìn chung chưa nhiều và chưa phát huy hết
Trang 21khả năng nghiên cứu, lý luận Do vậy, cần phải đầu tư xây dựng lực lượng này ngay từ bây giờ bằng nhiều hình thức khác nhau để có thể phát huy tối đa và tập trung trí tuệ của những nhà nghiên cứu xã hội học ở các lĩn h vực khác nhau Bên cạnh đó, cần phải thường xuyên cập nhật thật sự những tri thức lý luận và phương pháp luận và đặc biệt là khẳng định lại những phong cách và đường hướng triển khai các hoạt động nghiên cứu
Xuất phát từ những đòi hỏi thực tế của sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước hiện nay, trên cơ sở nhận thức được những thế mạnh cũng như điểm yếu của mình, phương hướng nghiên cứu của xã hội học Việt Nam trong giai
đoạn mới là tập trung nghiên cứu động thái những biến đổi xã hội và văn hóa
ở Việt Nam trong quá trình công nghiệp và hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Nhân dịp tổng kết 20 năm thành lập Viện Xã hội học, Viện trưởng Viện Xã hội học, PGS.TS Trịnh Duy Luân đã tổng kết những chủ đề nghiên cứu và có thể triển khai thành các phương hướng nghiên cứu sau:
Nghiên cứu những vấn đề lý thuyết về vấn đề hiện đại hoá xã hội ở Việt Nam
Nghiên cứu cấu trúc xã hội và phân tầng xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác động của công nghiệp hóa và hiện đại hóa tới thiết chế gia đình: sự thích ứng và hình thành những chiến lược sống mới
Những vấn đề xã hội học của đời sống kinh tế và nguồn nhân lực
Xã hội học về đời sống hằng ngày trong biến đổi xã hội và văn hóa
Biến đổi hệ thống phúc lợi xã hội trong thời kỳ quá độ
Vai trò của truyền thông đại chúng và dư luận xã hội
Động thái dân số trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Các vấn đề xã hội học của sức khỏe dân cư và hệ thống chăm sóc sức khỏe
Xã hội học và vấn đề phát triển bền vững về xã hội
IV Ý nghĩa của sự ra đời xã hội học
Trang 22Sự ra đời của xã hội học có ý nghĩa quan trọng trong các lĩnh vực khác nhau
- Nhờ có xã hội học mà chúng ta có khả năng nhận thức về xã hội theo một cách hoàn toàn khác mà trước đó chúng ta chưa hề biết
- Xã hội học giúp ta nhìn nhận xã hội và các hiện tượng xã hội một cách khách quan và không thành kiến trong cách đánh giá của mình
- Nhờ có phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội học đã giúp chúng ta trong việc tổ chức các quá trình hoạt động xã hội và xây dựng các khuôn mẫu xã hội có hiệu quả, vạch các kế hoạch, các chính sách trong tương lai
- Do thấu hiểu được bản chất thực sự của sự vật Những kết luận, ý tưởng của các nhà xã hội học mang lại giá trị to lớn cho các nhà hoạt động thực tiễn (các nhà chính trị, giáo dục, y học, quản lý kinh doanh, thương mại v.v )
Như vậy, xã hội học trở thành một ngành khoa học độc lập với những tiền đề tư tưởng lý luận khoa học là nền triết học cổ điển Đức, trào lưu khai sáng, chủ nghĩa xã hội ở Pháp và chính trị học ở Anh, trong điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của nửa cuối thế kỷ XIX ở Tây Âu Sự ra đời ngành khoa học này như một quá trình tất yếu, khách quan Xã hội học có hệ thống lý luận và phương pháp luận riêng, có đối tượng nghiên cứu riêng biệt vô cùng phong phú Nói đến sự ra đời của ngành khoa học độc đáo này, không thể không kể đến công lao của những bậc tiền bối đã đặt nền móng đầu tiên, tạo điều kiện cho sự pháp triển của nó
Chương tiếp theo chúng tôi sẽ trình bày về cuộc đời, sự nghiệp và công lao của những nhà xã hội học đầu tiên, phần phương pháp nghiên cứu sẽ được trình bày ở chương cuối cùng của cuốn sách
Nội dung chính
Đọc xong chương này, sinh viên cần nắêm được một số điểm cơ bản như: đối tượng và chức năng của xã hội học, từ đó chỉ ra được bản chất của khoa học xã hội học; điều kiện và tiền đề của sự ra đời ngành này; khái quát lịch sử hình thành xã hội học và so sánh xã hội học với một số ngành khác; cuối cùng, chỉ ra được những chức năng và ý nghĩa của sự ra đời ngành xã hội học
Trang 23Chương II
CÁC NHÀ XÃ HỘI HỌC KINH ĐIỂN
Auguste Comte (1798 - 1857) là người Pháp, sinh trong một gia đình
công chức Ông bị đuổi khỏi trường Đại học Bách Khoa Ecole vì đã phản đối những thủ tục thi cử Một năm sau ông trở thành thư ký của nhà triết học nổi tiếng Henri Saint Simon Thời gian đầu các ý tưởng quan trọng của Comte được phản ảnh trong các tác phẩm của ông và Saint Simon Tuy nhiên, sự khác nhau trong quan điểm của hai người đã làm cho quan hệ của họ trở nên xấu đi
Comte được coi là người sáng lập ra ngành xã hội học Như nhiều nhà triết học của thời đó, Comte vừa bối rối vừa bị lôi kéo bởi sự rối loạn xã hội
do Cách mạng Pháp tạo ra Ông muốn làm cho xã hội ngày càng trở nên hoàn thiện hơn
Comte cho rằng đời sống xã hội phải được nghiên cứu một cách khoa học, Nhưng lúc bấy giờ chưa có một khoa học về xã hội nên Comte đã cố gắng tạo ra nó Khi Comte viết rằng xã hội học cần dựa trên quan điểm thực chứng, có nghĩa là ông muốn xã hội học cần phải là một khoa học dựa trên thực tiễn, trên sự vật mà từ đó chúng ta có thể khẳng định
Ông phân lịch sử phát triển tư duy loài người thành ba giai đoạn:
Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn thần học, con người tìm thấy những giải thích siêu nhiên đối với các hiện tượng, dù là những hiện tượng thuần tính tự nhiên hay xã hội
Giai đoạn siêu hình được phát sinh từ trạng thái đầu tiên, “những tác nhân siêu nhiên được thay thế bởi các lực lượng trừu tượng” Cũng vậy, ví dụ, trật tự xã hội không còn mang nguồn gốc thần thánh nữa mà là một sự kiện tự nhiên
Cuối cùng là trong giai đoạn thực chứng, con người, xuất phát từ việc quan sát và với sự giúp đỡ của toán học, đã vạch ra được các mối quan hệ ổn định (các qui luật) giữa các hiện tượng
Từ đó Comte đưa ra ba loại thiết chế kinh tế và chính trị là tư duy thần học, tư duy siêu hình, tư duy thực chứng
Trang 24Tư duy thần học là đặc trưng của các xã hội được thứ bậc hoá và quân sự mà thời kỳ trung cổ đã cung cấp những ví dụ có ý nghĩa nhất
Tư duy siêu hình, thống trị ở châu Âu từ thời kỳ Phục hưng đến thời kỳ Ánh sáng, được gắn liền với các thiết chế quá độ cắt đứt liên hệ với trật tự cũ nhưng không đảm bảo một cách đầy đủ cho sự ưu thế của công nghiệp trước tổ chức quân sự
Tư duy thực chứng hợp với một tổ chức xã hội được xây dựng trên nền sản xuất công nghiệp và sản sinh ra hoạt động chủ yếu của xã hội
Như vậy, xuất phát từ quan điểm về quá trình tiến hoá trong tư tưởng của con người, Comte đã đưa ra quan niệm về sự tiến hoá của các xã hội Ông muốn xây dựng nên một ngành xã hội học khách quan xác định các quy luật xã hội và đặc biệt là các quy luật về sự tiến hoá của xã hội Xã hội học, mà Comte muốn xây dựng, trước tiên phải được đặt trong sự kế thừa tiếp tục với các khoa học có trước nó Và như vậy, theo ông, xã hội học đã thừa hưởng toàn bộ những hiểu biết mà các khoa học đó tích luỹ được Vì thế mà xã hội học, trong tâm tưởng của A.Comte sẽ phải hoàn thiện các nghiên cứu đã được thực hiện trước khi quan điểm xã hội học của ông ra đời
Comte chia khoa học thành hai khối Khoa học hữu cơ và khoa học vô
cơ Khoa học hữu cơ bao gồm các môn: toán học, thiên văn học, vật lí học, hoá học; còn khoa học vô cơ gồm sinh vật học và xã hội học Sự sắp xếp này không mang tính ngẫu nhiên mà mang tính logic Các khoa học hình thành trước, đơn giản hơn được xếp trước Các môn hình thành sau và phức tạp được xếp ở vị trí sau và cao hơn Theo Comte, xã hội học vừa ra đời sau vừa phức tạp nhất nên được xếp ở vị trí cao nhất Tuy nhiên, Comte coi xã hội học như một triết lý duy nghiệm, thực chứng
Từ quan điểm nghiên cứu về xã hội học như vậy, Comte đã đề xướng ba phương pháp nghiên cứu của xã hội học là phương pháp quan sát, phương pháp thực nghiệm, phương pháp so sánh
Đối với phương pháp quan sát, ông cho rằng cần phải có giả thiết khi quan sát và cần bỏ thái độ hoài nghi tới phương pháp này Đối với phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, cần thực hiện nghiên cứu hiện tượng xã hội trực tiếp hoặc gián tiếp Cuối cùng, theo Comte, khi thực hiện nghiên cứu có thể so sánh xã hội loài người và loài vật để chỉ ra mối quan hệ xã hội là bản tính tự nhiên của con người, so sánh các xã hội loài người với nhau Từ đó có
Trang 25hóa khác nhau của nhân loại Nhân loại tiến hóa như nhau theo một con đường chỉ có điều nhanh hay chậm mà thôi
Qua đó, chúng ta thấy nhược điểm của Comte là:
1 Coi xã hội học như là một khoa học trên mọi khoa học khác Là tổng hợp của tất cả các khoa học, vì vậy xã hội học của ông bị đồng nhất với triết
lí, không có đối tượng riêng, mất đi tính cách độc lập của nó
2 Mặc dù đề cao thực nghiệm nhưng vì xây dựng trên quan niệm triết lí loài người là tổng quát của ba giai đoạn (ba thời kỳ phát triển của nhân loại) xã hội học mang tính triết lý lịch sử hơn là một xã hội học
3 Quan điểm xã hội học của ông còn mang tính giáo điều, thể hiện sự cứng nhắc Chẳng hạn, ông cho rằng con người đều có một bản chất như nhau, quá trình tiến hóa nhân loại phát triển theo đường thẳng, ngay cả trong cách sắp xếp thứ tự các khoa học Nhưng thực ra không có khoa học nào quan trọng hơn cả
Comte qua đời trước khi những đồng nghiệp đánh giá đúng tác phẩm của ông Tuy vậy, một khi được thừa nhận, niềm tin của ông rằng xã hội học có thể thúc đẩy tiến bộ xã hội đã được các học giả châu Âu thừa nhận
Herbert Spencer (1820-1903) là người con duy nhất còn sống trong số
chín đứa trẻ được sinh ra trong một gia đình có bố là giáo viên trường Đại học
ở Anh Do bị ốm yếu liên tục, Spencer được cha và chú dạy riêng ở nhà, chủ yếu là toán học và các khoa học tự nhiên
Nghề nghiệp của ông là sự kết hợp của những công việc như kỹ sư, nhân viên nhà băng, nhà báo, nhà văn, phát minh
Herbert Spencer cũng phát triển lý thuyết về xã hội và biến đổi xã hội Ông sử dụng sự giống nhau của cơ cấu xã hội với tổ chức hữu cơ để giải thích sự ổn định xã hội Giống như con người, một xã hội được tạo thành từ những bộ phận liên quan lẫn nhau, cùng hoạt động để thúc đẩy sự sống còn và phát triển của nó Nếu như mỗi cá nhân có bộ óc, dạ dày, hệ thống thần kinh, chân tay thì mỗi xã hội có những hình thái kinh tế, tôn giáo, nhà nước và gia đình Giống như mắt và trái tim góp phần quan trọng đến sự hoạt động của cơ thể con người, hệ thống luật pháp và giáo dục là quan trọng đối với sự hoạt động của xã hội Sở dĩ xã hội tồn tại và phát triển là do sự kết hợp giữa các bộ phận khác nhau giống như các tổ chức hữu cơ của một cơ thể sống
Trang 26Lý thuyết biến đổi của Spencer dựa trên cơ sở lý thuyết tiến hóa của Charles Darwin Ông cho rằng, biến đổi xã hội dẫn đến tiến bộ, miễn là con người không can thiệp Vì xã hội giống như con người, khi đi qua giai đoạn trưởng thành tự nhiên sẽ đảm bảo rằng các tổ chức xã hội thấp hơn sẽ thoái hoá và mất đi và các tổ chức xã hội cao hơn sẽ tồn tại Trên cơ sở này, Spencer phản đối cải cách xã hội Theo lập luận của ông, người nghèo xứng đáng trở thành nghèo vì không có năng lực và không có cơ may, còn người giàu có năng lực, có cơ may sẽ trở nên giàu hơn, đó là quy luật đương nhiên
Vì vậy, cứ cho phép các cá nhân tìm địa vị giai cấp xã hội riêng của họ mà không có sự giúp đỡ và ngăn cản, thì xã hội sẽ có lợi hơn Can thiệp vào sự tồn tại của tình trạng nghèo khổ hoặc kết quả của bất kỳ quá trình tự nhiên nào sẽ có hại đối với xã hội
Khi thăm nước Mỹ vào năm 1882, Spencer đã được chào mừng nhiệt liệt, đặc biệt là các nhà lãnh đạo công nghiệp Ý tưởng của ông về việc không can thiệp vào các quá trình tự nhiên và sự tồn tại của những cái phù hợp nhất đã ủng hộ cho tính ích kỷ, tàn nhẫn, và thường bao che cho những thực tiễn kinh tế của bộ phận giàu hơn trong xã hội Và như vậy, khi sự ủng hộ kiểm soát xã hội tăng lên, những ý tưởng của Spencer bắt đầu rơi vào sự lạc hậu Spencer mất trong cảm giác về sự thất bại
Karl Marx (1818 - 1883) sinh ở Đức trong một gia đình cả cha và mẹ
đều có nguồn gốc Do Thái Marx từ bỏ tham vọng trở thành giáo sư triết học sau khi đang học ở trường Đại học Berlin sau khi tham gia vào các phong trào cấp tiến Sau đó, Marx nhận viết cho một từ báo cấp tiến Về sau, trong vai trò tổng biên tập, một loạt bài báo của Marx bóc trần những vấn đề xã hội và phê phán chính sách của chính phủ dẫn đến việc chính phủ đóng cửa tờ báo Không thể tìm được vị trí ở nước Đức bảo thủ, Marx chuyển đến Paris và trở thành một người xã hội chủ nghĩa
Marx có những quan niệm rất khác về bản chất xã hội và biến đổi xã hội
so với Herbert Spencer Nếu Spencer miêu tả xã hội tồn tại được là nhờ một tập hợp các bộ phận liên quan với nhau và thúc đẩy sự thịnh vượng của nó, thì Marx miêu tả xã hội như một tập hợp các nhóm xung đột có những giá trị và lợi ích khác nhau, sự ích kỷ và cạnh tranh tàn nhẫn của họ làm hại xã hội Theo Spencer, các xã hội hoàn thiện khi chúng biến đổi, còn Marx cho rằng, sự biến đổi không tất yếu mang lại sự tiến bộ Spencer xem sự tiến bộ chỉ trong sự không can thiệp vào quá trình tự nhiên, tiến hóa, Marx tin rằng, tiến bộ chỉ đến bằng cách mạng có kế hoạch
Trang 27Chủ nghĩa quyết định luận kinh tế là một ý tưởng thường được gắn liền với quan điểm của Marx Không giống như Hegel, Marx cho rằng, kinh tế là nền tảng mà nhà nước và các tư tưởng phải lệ thuộc vào Theo nguyên tắc của thuyết quyết định luận kinh tế, người nào nắm được kinh tế, người đó sẽ nắm vai trò quyết định những vấn đề còn lại Họ sẽ giữ vị trí thống trị Marx nghiên cứu về nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng liên quan đến xã hội học có hai nền tảng lý luận cơ bản, đó là chủ nghĩa duy vật lịch sử và lý luận về giai cấp và nhà nước Trong chủ nghĩa duy vật lịch sử, Marx xác định xã hội được quy định bởi phương thức sản xuất (quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất tương ứng)
Phương thức sản xuất là một hệ thống kinh tế được cấu thành từ các lực lượng sản xuất và các quan hệ sản xuất Trong những thời kỳ đầu của sự vận hành của một phương thức sản xuất, những quan hệ sản xuất mới ủng hộ sự phát triển của những lực lượng sản xuất, sau đó dần dần, những quan hệ sản xuất này trở thành trở ngại cho sự phát triển đó Do đó, theo Marx, cần phải thay đổi phương thức sản xuất để giải phóng các lực lượng lao động
Trong lịch sử, phương thức sản xuất phong kiến đã kế thừa phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ, trước khi nhường lại vị trí cho chủ nghĩa tư bản, được đặc trưng bởi sự sở hữu tư nhân về các phương tiện sản xuất và, từ đó, bởi sự đối lập giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Phương thức sản xuất tư bản trong thời gian đầu, đã cho phép phát triển một cách mạnh mẽ các lực lượng sản xuất trước khi diễn ra cuộc khủng hoảng công nghiệp Tương tự như vậy, Marx đã dự đoán phương thức sản xuất này sẽ bị thay thế bởi phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa và sau đó là cộng sản chủ nghĩa mà trong đó, không có sự bóc lột, sự phát triển của lực lượng sản xuất sẽ được cổ vũ và dành cho tất cả mọi người trong xã hội
Marx cho rằng các quan hệ xã hội bị nhào nặn bởi hạ tầng cơ sở kinh tế Dựa trên nền tảng kinh tế này, gọi là hạ tầng cơ sở, ông đặt một thượng tầng kiến trúc pháp luật và chính trị có sự gắn kết với các lĩnh vực văn hóa hay tôn giáo Vì vậy, theo ông, kinh tế quyết định hệ thống pháp luật và chính trị cũng như các hiện tượng văn hóa và các tư tưởng
Các cá nhân dường như là hiện thân của giai cấp xã hội mà các cá nhân đó là thành viên mà không có sự tự do chọn lựa nào Cũng như việc nhà tư bản không có cách nào khác ngoài việc đem lại những điều kiện làm việc tồi tệ cho những người làm công của anh ta Nhà tư bản chỉ thấy hợp lý khi tìm
Trang 28cách tối đa hóa lợi ích của anh ta, đối lập lợi ích với tất cả mọi thành viên của giai cấp lao động
Theo Marx, các giai cấp xã hội là những người hành động tâïp thể, thông qua những cuộc đấu tranh của mình, làm biến đổi tổ chức kinh tế và xã hội Trong xã hội tư bản, giai cấp công nhân là người hành động chủ yếu sẽ làm biến đổi hệ thống kinh tế thông qua cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản Giai cấp vô sản, theo Marx tiên đoán, sẽ phải thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội và kế đó là chế độ cộng sản chủ nghĩa
Khi trình bày quan điểm của mình, Marx phân biệt các giai cấp “tự nó” với các giai cấp “vì nó” Điểm đầu tiên trong các tiêu chí mà Marx sử dụng để định nghĩa một giai cấp xã hội đó là vị trí của giai cấp đó trong các quan hệ sản xuất Ở đây, vai trò mà một giai cấp nào đó đảm nhận trong nền sản xuất vật chất mang tính quyết định Marx đã đặt giai cấp sở hữu các phương tiện sản xuất và giai cấp bán sức lao động của chính mình ở hai cực đối lập Tiêu chuẩn thứ hai mà Marx sử dụng để định nghĩa một giai cấp đó là ý thức giai cấp, tức là cảm xúc thuộc về một nhóm nào đó có những lợi ích chung Tuy nhiên, sự ra đời của ý thức giai cấp là không có tính tất yếu Marx dẫn ra ví dụ về những người nông dân, những người này, sống khép kín trong việc khai thác tự nhiên mang tính gia đình của họ, có rất ít các mối quan hệ qua lại với nhau và đã không phát triển được ý thức giai cấp Theo ngôn ngữ của Marx, người nông đân đó tạo thành một giai cấp “tự do” (họ được xác định một cách khách quan) nhưng không phải là một giai cấp “tự nó” (họ không có ý thức về vai trò mà họ có thể đảm nhận)
Cuối cùng, một giai cấp xã hội được xác định bởi các mối quan hệ xung đột giữa cấp này với các giai cấp khác Marx quan tâm trước hếát đến mối xung đột đối lập giữa hai giai cấp có ý thức về những lợi ích của mình (giai cấp tư sản và giai cấp vô sản) Nhiều giai cấp cũng có thể liên kết lại với nhau để chống lại một kẻ thù chung
Hơn nữa, như Marx nói, sự tích tụ kinh tế sẽ đưa đến quá trình lưỡng cực hóa xã hội bằng cách tách giai cấp nông dân và giai cấp tiểu tư sản ra thành hai: bộ phận lớn nhất trong hai giai cấp này sẽ bị vô sản hóa trong khi một thiểu số ít hơn sẽ trở nên giàu có và nhập vào giai cấp tư sản
Marx phân tích nhà nước như là một công cụ thống trị phục vụ cho giai cấp bóc lột Lấy bằng chứng là những hành động bạo lực mà các nhà tư bản
Trang 29nước trong các xã hội tư bản có cùng hướng duy trì sự bóc lột của giai cấp tư sản đối với giai cấp vô sản
Ngoài việc giới hạn nhà nước vào những lợi ích của một giai cấp bóc lột, Marx đã chống lại những luận đề của Hegel mà theo đó, nhà nước là hiện thân của sự hợp lý Thật vậy, Marx khẳng định nhà nước không hề nằm ngoài hay bên trên xã hội; ngược lại, nó là sự biểu hiện của xã hội
Về học thuyết giai cấp và nhà nước, Marx đem lại cho nhân loại cách nhìn mới về sự phân công lao động, về sản xuất xã hội theo các ý thức hệ, về giai cấp xã hội và nhà nước
Marx quan niệm các thiết chế kinh tế đạt đến đỉnh cao trong xã hội tư bản, ông tin rằng tất cả các xã hội hoạt động theo cùng những nguyên tắc Hơn nữa, Marx thừa nhận ngay trong xã hội tư bản, các thiết chế kinh tế và phi kinh tế tác động lẫn nhau Marx viết, đôi khi “những điều kiện kinh tế quyết định lịch sử trong xã hội tư bản”
Emile Durkheim (1858-1917) sinh trong gia gia đình Do Thái ở Pháp
Lúc đầu, Durkheim có ý định đi theo truyền thống gia đình trở thành một giáo sỹ Do Thái Tuy nhiên, những kinh nghiệm sống khiến ông trở thành một người vô thần, mặc dù ông vẫn quan tâm đến tôn giáo trong suốt cuộc đời Trong thực tế, mối quan tâm chủ yếu của Durkheim là trật tự xã hội và trật tự đạo đức Chính vì vậy, ông đã sử dụng các kỹ thuật thống kê để nghiên cứu các nhóm người trong vấn đề tự tử Trong nghiên cứu này, Durkheim chứng minh rằng tự tử liên quan nhiều hơn đến những cá nhân hoạt động đơn độc Bằng việc chứng minh tỷ lệ tự tử thay đổi theo những đặc điểm của nhóm - tỷ lệ tự tử của những người Cơ đốc giáo thấp hơn những người theo đạo Tin lành, những người kết hôn thấp hơn những người độc thân Từ đó, ông chia tự tử thành tự tử vị kỷ, tự tử vị tha và tự tử phi chuẩn mực Durkheim chứng minh một cách thuyết phục ý tưởng rằng đời sống xã hội phải được giải thích bởi những yếu tố xã hội hơn là bởi những yếu tố cá nhân
Ông đã đề xuất việc xây dựng một ngành khoa học mà đối tượng nghiên cứu của nó là những “sự kiện xã hội” nhằm làm rõ được sự vận hành của xã hội và hướng dẫn người dân trong việc tiến hành những cuộc cải cách xã hội
Vì vậy, bằng cách dựa vào mô hình của các khoa học tự nhiên, ông muốn làm cho xã hội học thành một khoa học thực chứng đoạn tuyệt với siêu hình học Đó là một bước tiến bộ mang tính kế thừa những thành tựu khoa học
Trang 30trước đó Ở điểm này, Durkheim tự đặt mình trong truyền thống thực chứng Quan niệm về các sự kiện xã hội của ông được thể hiện như sau:
Ông định nghĩa các sự kiện xã hội như là “những cách thức suy nghĩ, hành động và cảm nhận” tồn tại bên ngoài những ý thức của các cá nhân và chúng mang sức mạnh có tính cưỡng bức đối với các cá nhân
Vì thế, một sự kiện xã hội là toàn bộ hành động hay tư tưởng tuân thủ theo hai điều kiện Điều kiện thứ nhất là hành động hay tư tưởng đó có một nguồn gốc xã hội Ông nói, một vị khách mời mang theo hoa tặng cho chủ nhà là một hành động không tuân theo “ý thức cá nhân của anh ta”, thực tế anh ta làm điều đó theo một “ý thức tập thể” vượt trên bản thân anh ta, ý thức đó được phổ biến cho mọi thành viên của xã hội và anh ta đã nhập tâm ý thức xã hội đó
Điều kiện thứ hai, xã hội gây áp lực lên cá nhân để cá nhân thực hiện hành động đó Khi cá nhân tôn trọng các chuẩn mực, họ vẫn nghĩ rằng hành
vi đó xuất phát từ suy nghĩ của chính bản thân họ, và họ không cảm nhận được sức mạnh có tính cưỡng bức của các sự kiện xã hội Nhưng, theo Durkheim, tất cả các sự kiện xã hội đều có tính cưỡng bức và việc vi phạm một quy tắc nào đó cũng đủ gây nên một sự trừng phạt chính thức hoặc một sự phản ứng tiêu cực từ phía những người xung quanh
Nhà xã hội học, theo Durkhiem cần phải tôn trọng hai qui tắc cơ bản: Nguyên tắc đầu tiên là “xem các sự kiện xã hội như những sự vật” Nếu muốn nghiên cứu của mình có tính khoa học, nhà xã hội học cần phải có khả năng đứng bên ngoài đối tượng nghiên cứu của mình Vì thế, nhà xã hội học cần phải loại bỏ những quan niệm tiên nhiên (những ý tưởng phi khoa học) những định kiến có được từ những kinh nghiệm cá nhân của mình và chính là những trở ngại cho sự nhận thức mang tính khoa học
Nguyên tắc thứ hai là: một sự kiện xã hội nào đó chỉ có thể giải thích bằng một sự kiện xã hội khác có trước nó Tức là, để hiểu được các sự kiện xã hội, nhà xã hội không thể dừng lại ở chỗ tìm hiểu những động cơ hành động của các cá nhân bởi vì ý thức tập thể là nguồn gốc của những hành động của các cá nhân, nằm ở bên ngoài các cá nhân Nhà xã hội học cũng không nên giải thích các hành động của các cá nhân bằng cách gán cho những sự kiện xa lạ với lĩnh vực xã hội một vị trí có ưu thế hơn Ông cũng bác bỏ những giải thích về hiện tượng tự tử theo quan niệm di truyền hoặc sự hạn chế trong tính
Trang 31Trái lại, ông khẳng định rằng “nguyên nhân quyết định của một sự kiện xã hội cần được tìm kiếm trong các sự kiện có trước đó” Vì vậy, ông khuyên nếu thấy xuất hiện hai biến số thì cần phải kiểm tra mối quan hệ giữa hai biến số có tính thống kê, trước khi xem xét đến mối quan hệ nhân quả có thể có giữa hai hiện tượng được quan sát Một hiện tượng nào đó trong số các hiện tượng có thể là nguyên nhân của một hiện tượng khác nhưng Durkhiem cũng đôi khi đưa vào một yếu tố thứ ba mà ông cho rằng có khả năng quyết định cả hai hiện tượng kia Ví dụ, sau khi đã nhận thấy về mặt thống kê rằng nam giới tự tử thường xuyên hơn nữ giới, ông giải thích sự khác biệt này là do sự hội nhập xã hội yếu ớt của nam giới
Quan điểm của Durkheim đã mở đường cho một dòng tư tưởng khác với những truyền thống xã hội học của Marx hay Weber Ông đã xây dựng một phương pháp nghiên cứu định lượng bởi vì ông đã xây dựng nó dựa trên cơ sở tính thống kê
Về quan điểm xã hội của Durkheim có thể tóm tắt như sau:
Durkheim cho rằng xã hội được tạo nên bởi các cá nhân Quan tâm đến sự hội nhập xã hội của các cá nhân trong xã hội, ông đã tiến hành việc phân biệt giữa “ý thức cá nhân” và “ý thức tập thể” cùng tồn tại trong mỗi một con người Theo ông, ý thức cá nhân được hình thành từ những ý kiến riêng của mỗi cá nhân nào đó Còn ý thức tập thể là toàn bộ những tư tưởng chung cho tất cả mọi thành viên trong xã hội Nó là kết quả của quá trình kết hợp những hành vi và những tư tưởng mà các thành viên của một xã hội nào đó đã thực hiện từ rất nhiều thế hệ và nó có một sự phong phú và phức tạp hoàn toàn vượt trên sự phong phú và phức tạp của chỉ một cá nhân
E Durkheim coi tôn giáo như là sự minh họa cho luận đề của ông về tính vượt trội của xã hội so với cá nhân Trong tác phẩm “Những hình thức cơ bản của đời sống tôn giáo”, ông đã định nghĩa tôn giáo qua khả năng phân biệt giữa cái linh thiêng và cái trần tục của tôn giáo
Theo ông, mọi điều linh thiêng đều được tách rời với cái trần tục và được bảo vệ bởi những sự cấm kỵ Cái linh thiêng đó có thể là các thần linh, những địa điểm, những sự vật, những cử chỉ, những lễ thức và những niềm tin….Vì thế, tất cả mọi tôn giáo đều có sự ngăn cấm một số thái độ hoặc việc mặc một số loại quần áo tại những nơi linh thiêng
Ông quan niệm trong các cộng đồng nguyên thủy ở Úc thì Totem, với tư cách là đại diện huyền thoại của thị tộc (nhóm họ hàng nguyên thuỷ), là trung
Trang 32tâm của cái linh thiêng Trong các nghi lễ tôn giáo, mỗi người tham dự đều cảm nhận mình như được truyền cho một năng lực nào đó (mama) tạo nên sự thống nhất trong nhóm Vì thế, theo Durkheim đằng sau việc tôn thờ tôtem ẩn chứa sự tôn thờ thị tộc Đây là một thực tại duy nhất vượt trên các cá nhân và có khả năng tập hợp được cá nhân
Giống như H Spencer, Durkheim nhìn nhận sự tồn tại của xã hội là nhờ sự kết hợp các bộ phận chức năng Từ đó, ông phát triển hướng quan tâm của mình vào lĩnh vực phân công lao động xã hội Trong tác phẩm nghiên cứu về sự phân công lao động, Durkheim phân tích sự phân công này như là một hiện tượng xã hội (không phải là hiện tượng kinh tế) là nguyên nhân tạo nên một sự đoàn kết mới giữa các thành viên trong xã hội Trong khi ở các xã hội
“đoàn kết máy móc” (các xã hội nguyên thuỷ), các cá nhân đều giống như nhau, thì ở các xã hội “đoàn kết có tổ chức” (các xã hội hiện đại ) các cá nhân thực hiện các chức năng khác nhau và vì thế mà lệ thuộc vào nhau Giống như trong cơ thể của con người, các cơ quan tuy khác nhau nhưng tất cả chúng đều góp phần tạo nên sự sống, Durkheim gọi đây là sự đoàn kết có tổ chức Vì vậy, sự phân công lao động tạo nên sự đoàn kết trong xã hội Tuy nhiên, sự phát triển của ý thức cá nhân trong các xã hội đoàn kết có tổ chức được giải thích bởi sự yếu kém của ý thức tập thể và có thể đưa đến quá trình trung hòa hóa của sự đoàn kết theo giả thiết cho rằng một sự cân bằng tương đối giữa hai loại ý thức đó có lẽ sẽ không được duy trì
Durkhiem cho rằng sự yếu kém của ý thức tập thể thúc đẩy cho sự phát triển của những hành vi phi chuẩn mực Vì vậy, trong tác phẩm “Tự tử” Durkheim chứng minh rằng tỷ lệ tự tử trong các xã hội hiện đại thường cao hơn trong các xã hội nguyên thuỷ Theo ông, tự tử cũng có những loại hình khác nhau như: tự tử vị tha (đặc trưng của các xã hội có ý thức tập thể mạnh mẽ là việc các cá nhân từ bỏ cuộc sống nhân danh một giá trị tuyệt đối nào đó); tự tử vị kỷ (xảy ra thường xuyên hơn nơi các xã hội có ý thức cá nhân mạnh mẽ, là việc các cá nhân từ chối tuân thủ các chuẩn mực xã hội và yêu cái chết hơn là sự tuân thủ); cuối cùng là tự tử phi chuẩn mực Không giống như loại tự tử trên, nó được đặc trưng trong các xã hội hiện đại Trong thời kỳ mất ổn định và bấp bênh chẳng hạn như sự khủng hoảng kinh tế, một số cá nhân bị thất vọng vì không thể đạt được những mục tiêu của mình, có thể bị cám dỗ bởi việc tự tử khi mà ý thức tập thể không còn mạnh mẽ nữa Từ loại hình tự tử phi chuẩn mực này đã đưa Durkhiem đi đến định nghĩa về sự phi chuẩn mực như là một tình trạng mà trong đó các cá nhân không còn nhận
Trang 33thức tập thể mạnh mẽ, các cá nhân thường xuyên có những hành vi phi chuẩn mực mà ông gọi là những hành vi bệnh hoạn và tự tử chỉ là một ví dụ cực đoan của những hành vi đó Sự yếu kém của ý thức tập thể tạo điều kiện cho sự lệch lạc
Max Weber (1864-1920) là con cả của một luật gia và chính trị gia nổi tiếng ở Đức Mặc dù ông là giáo sư đại học dạy về luật và kinh tế nhưng xã hội học và chính trị lại là hai lĩnh vực ông quan tâm theo đuổi và gặt hái được rất nhiều thành công Ông đã có những đóng góp rất lớn lao cho sự phát triển của khoa học xã hội học Qua các nghiên cứu của mình, ông đã tìm cách phân biệt xã hội học với các khoa học tự nhiên và xây dựng một phương pháp luận đặc thù cho xã hội học Ở điểm này, ông có quan điểm đối lập với E Durkheim - người có khuynh hướng dựa vào khoa học tự nhiên Theo ông, các hiện tượng có thể được lặp lại trong phòng thí nghiệm, vì vậy, có khả năng vạch ra được mối quan hệ nhân quả với sự trợ giúp của mô hình toán học Từ đó, có thể đưa ra được quy luật chung nhất Tuy nhiên, xã hội học lại không như vậy Cần phải nghiên cứu động cơ của các cá nhân trước khi xem xét những mối quan hệ nhân quả mà không cần phải tách rời biến số nào đó để nghiên cứu trong phòng thí nghiệm Những quan điểm của ông mang tính độc đáo, do vậy được nhiều người hưởng ứng
Weber cho rằng đối tượng của xã hội học là các hành động xã hội Ông định nghĩa hành động xã hội là những ứng xử được cá nhân gán cho một ý nghĩa, một động cơ Hành động xã hội như là một hành động có tính đến những phản ứng của người khác Một số quan điểm chính của ông sẽ được phân tích dưới đây
Theo ông, xã hội học không dừng ở việc chỉ tìm hiểu các hiện tượng xã hội mà còn phải giải thích các hiện tượng đó Nhà xã hội học cần tìm hiểu một hành động xã hội nào đó từ bên trong bằng cách tìm ra những động cơ của những hành động đó Không giống hiện tượng tự nhiên, trong xã hội có một số mối quan hệ có thể nhận biết ngay được vì mối liên hệ giữa động cơ và hành động rất rõ ràng Tuy nhiên, một số mối quan hệ khác lại phức tạp hơn, do vậy, nhà xã hội học cần tạo dựng nên ý nghĩa của những hành động đó bằng cách tìm ra những động cơ công khai và tiềm ẩn của hành động Tiếp theo đó, việc tìm hiểu các hiện tượng phải được bổ sung bằng sự giải thích về các mối quan hệ nhân quả Sau khi làm sáng tỏ những động cơ của tất cả hành động có liên quan đến nhau, cần phải tìm ra những hành động và những hậu quả đôi khi vượt xa cả xuất phát điểm của những động cơ đó Ở đây, Max
Trang 34Weber đã mở đường cho những phân tích về “những tác động ngược” (Montouss’e và Gilles Renouard, 1997)
Để tìm hiểu các hiện tượng xã hội, nhà xã hội học cần phải sử dụng một loại công cụ riêng của nhà xã hội học mà Weber gọi đó là “mô hình lý tưởng”
Một quan điểm độc đáo khác của Weber là ý tưởng cho rằng mô hình lý tưởng là sự thể hiện được đơn giản hoá của thực tại được xây dựng nên bằng cách loại bỏ những gì không đặc trưng của hiện tượng được nghiên cứu và nhấn mạnh đến những nét đặc thù của hiện tượng đó Để xác định đặc trưng của một mô hình lý tưởng nào đó, nhà xã hội học cần phải tiến hành so sánh và quan sát xem một tổ chức kinh tế, một hình thức thống trị nào đó có quan hệ nhiều hay ít với những yếu tố khác trong xã hội Max Weber cũng quan tâm quan sát sự duy lý hoá của các hành động xã hội Theo ông có bốn hình thức chủ yếu của các hành động cá nhân mà trong đó mỗi một hành động đều tương ứng với một lo-gic đặc biệt nào đó
- Hành động theo truyền thống: tôn trọng những luật lệ mà không cần đặt vấn đề về mục đích của hành động
- Hành động theo cảm tính: là những hành động tuân theo tình cảm, mang tính bản năng nhiều hơn Hành động này khó đo lường được
- Hành động hợp lý theo giá trị: hành động có tính định hướng giá trị, tức là hành động theo cái mà họ cho là có giá trị
- Hành động hợp lý theo mục đích: ở loại hành động này, người hành động phải suy nghĩ và quyết định xem mình chọn mục đích nào và dùng phương tiện nào để đạt được mục đích Loại hành động này thường diễn ra trong xã hội tư bản Khi tính mục đích được đề cao, người ta không còn quan tâm tới giá trị đối với ứng xử của con người Theo Weber, cùng với việc suy yếu của hệ thống giá trị, việc hợp thức hoá sự thống trị (khả năng gây ảnh hưởng đến người khác) là cần thiết trong xã hội Ông đặc biệt quan tâm đến đến chính trị và tự hỏi một quyền lực mang tính cưỡng bức có thể được dân chúng chấp nhận như thế nào Trong nghiên cứu của mình, ông phân chia ra làm ba hình thức thống trị: sự thống trị theo truyền thống được xây dựng trên việc tôn trọng các phong tục tập quán; sự thống trị theo uy tín xuất phát từ nhân cách của một cá nhân nào đo và sự thống trị theo luật pháp, đặc trưng của các xã hội hiện đại, cho rằng có các
Trang 35quy tắc đã được thiết lập một cách hợp lý để công nhận một quyền lực hay một địa vị của một người nào đó là hợp pháp Sự thống trị theo theo luật pháp là hình thức thực hiện quyền lực trong xã hội bị chi phối bởi tính duy lý hiện đại
Những phân tích của Weber còn sâu sắc hơn khi ông nghiên cứu về mối quan hệ của “đạo đức Tin lành và chủ nghĩa tư bản” Qua việc nghiên cứu sự
ra đời của chủ nghĩa tư bản hiện đại ở thế kỷ XIX, ông nhận thấy có mối liên quan giữa nghề nghiệp (các chủ xí nghiệp, ngân hàng) với một loại tín ngưỡng (đạo Tin lành) Do vậy, ông cho rằng chủ nghĩa tư bản xuất phát từ động cơ của người hành động (tín đồ Tin lành, nhà tư bản) chứ không xuất phát từ yếu tố sản xuất (ở điểm này, ông khác với Marx) Như vậy, đạo Tin lành tạo điều kiện cho tư bản phát triển
Tinh thần chủ nghĩa tư bản là một hình mẫu lý tưởng đã được Weber xây dựng xung quanh hai giá trị (lao động và tiết kiệm) mà ông cho là đặc trưng của tâm thức của những nhà tư bản hiện đại Theo ông, lao động là giá trị nền tảng của chủ nghĩa tư bản Cá nhân cần phải tổ chức đời sống của mình xung quanh mục tiêu trọng yếu này Tiết kiệm và hệ quả của nó, sự đầu tư là một giá trị trung tâm khác của chủ nghĩa tư bản bởi vì một phần của sự giàu có cần phải được tiết kiệm để mở rộng nền tảng sản xuất
Weber cho rằng, đạo đức tin lành có nguồn gốc trong sự cô độc của con người khi đứng trước Thượng đế Trong khi những người Thiên chúa giáo có thể tìm được ơn cứu độ trong việc tôn trọng những giáo lý của Giáo hội, những người Tin lành phái Calvin tin rằng số phận con người đã được tiền định Làm sao mà biết được liệu mình có được cứu rỗi hay không? Với câu hỏi này những người Tin lành trả lời rằng sự thành công trong nghề nghiệp là dấu hiệu của sự cứu độ Vì vậy, cá nhân cần phải lao động hết mình, coi nó như một mục đích tối thượng, và ưu tiên cho sự tiết kiệm hơn là tiêu thụ (nguồn gốc sự hưởng lạc)
Những giá trị của đạo Tin lành vì vậy đã cổ vũ cho sự phát triển của tinh thần của chủ nghĩa tư bản và đã tạo điều kiện gián tiếp cho sự cất cánh của chủ nghĩa tư bản Weber đã phát biểu rằng: “những tư tưởng đó đã trở thành những lực lượng lịch sử hữu hiệu”
Những quan điểm của Weber là những xuất phát điểm cho những hướng phát triển sau này của xã hội học hiện đại Khái niệm hành động của ông đã được những người theo quan điểm chức năng đề cao Một số người khác phát
Trang 36triển quan điểm phương pháp luận cá nhân, chẳng hạn như Boudon; còn ý tưởng về tính hợp lý được Bourdieu kế thừa trong quan điểm cho rằng mỗi một cá nhân thường ứng xử theo cách mà anh ta cho là phù hợp với mình nhưng thực ra đó là sản phẩm của kinh nghiệm xã hội của cá nhân
Nội dung chính
Đối với chương này, sinh viên cần đọc để hiểu rõ những quan điểm cơ bản của các nhà xã hội học kinh điển, đặc biệt, cần chỉ ra sự giống và khác nhau trong cách nhìn nhận vấn đề xã hội và kèm theo đó là những quan điểm về phương pháp nghiên cứu của họ
Chương III
Trang 37MỘT SỐ QUAN ĐIỂM LÝ THUYẾT
TRONG XÃ HỘI HỌC
Như đã trình bày ở chương I, khi nghiên cứu hành vi con người các nhà xã hội học đã đưa ra những quan điểm rất khác nhau Một số quan điểm thuộc cấp độ vĩ mô, một số khác thuộc cấp độ vi mô Tuy nhiên, sự phân định này chỉ có ý nghĩa chặt chẽ trong giai đoạn đầu mà thôi Về sau những người kế tục các hướng lý thuyết này đã đưa ra nhiều quan điểm mang tính trung gian hơn
Trong chương này, trước hết chúng ta sẽ xem xét các lý thuyết vĩ mô, sau đó là các lý thuyết vi mô
I Thuyết chức năng
Thuyết chức năng đóng vai trò quan trọng trong nhân chủng học và dân tộc học, thuyết chức năng nhấn mạnh đến những đóng góp (chức năng) của mọi bộ phận trong một xã hội Nó tập trung vào sự hội nhập xã hội, sự ổn định, trật tự và hợp tác Các bộ phận của một xã hội gồm gia đình, kinh tế, tôn giáo Ví dụ, gia đình đóng góp cho xã hội qua việc tái sinh sản và chăm sóc những thành viên mới Nền kinh tế đóng góp bằng việc sản xuất, phân phối và tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ Tôn giáo góp phần bằng việc giúp đỡ con người tập trung vào tín ngưỡng và những thực hành liên quan đến những thiêng liêng
H Spencer là người đầu tiên đưa ra quan điểm chức năng Ông đã so sánh các bộ phận của cơ thể sống với tổ chức xã hội Mặc dù các nhà xã hội học ngày nay không còn coi cơ thể sống và xã hội là đồng nhất nữa, nhưng họ vẫn xem xã hội như một hệ thống những bộ phận liên quan lẫn nhau Durkheim, người cùng thời với Spencer và sau nữa, là Malinowski cũng góp phần phát triển quan điểm lý thuyết này Trong những năm về sau này, những người ủng hộ mạnh nhất quan điểm này là Talcott Parsons và Robert Merton Những người theo thuyết chức năng đã đưa ra một số giả thuyết về xã hội Giả thuyết thứ nhất, các bộ phận của xã hộõi được tổ chức thành một hệ thống Kết quả là, sự thay đổi trong một bộ phận của xã hội này sẽ dẫn đến sự biến đổi trong những bộ phận khác Ví dụ, sự biến đổi quan trọng trong
Trang 38kinh tế có thể dẫn đến sự biến đổi gia đình Chẳng hạn, nhu cầu lực lượng lao động đối với một hộ gia đình nông dân (thực hiện bằng việc có nhiều con) sẽ
bị biến mất khi cách mạng công nghiệp diễn ra và quy mô gia đình giảm xuống
Các nhà chức năng cho rằng các xã hội không được hội nhập một cách cần thiết cho sự tồn tại của xã hội, nhưng mức độ hội nhập thực sự thay đổi Giả thuyết thứ hai của thuyết chức năng là xã hội có khuynh hướng quay trở lại tình trạng ổn định và cân bằng sau khi sự rối loạn nào đó xảy ra Một xã hội có thể trải qua sự thay đổi nào đó qua thời gian, nhưng các nhà chức năng tin rằng nó sẽ trở lại tình trạng ổn định bằng việc phối hợp những thay đổi này, như vậy xã hội sẽ trở lại như cũ trước bất kỳ sự biến đổi nào xảy ra
Vì một xã hội vừa biến đổi vừa duy trì hầu hết cấu trúc cơ bản của nó theo thời gian, các nhà chức năng nói đến sự cân bằng động - sự cân bằng biến đổi liên tục giữa các bộ phận của nó Cuộc biểu tình của sinh viên trong các trường đại học và cao đẳng ở Mỹ cuối năm 60 là ví dụ minh họa cho khái niệm cân bằng động này Các sinh viên cấp tiến cho rằng cơ cấu xã hội Mỹ đã bị phá hủy và phải xây dựng lại, kết cục, sau cuộc biểu tình, công chúng không còn chấp nhận các cuộc chiến tranh của Mỹ, các trường đại học đã đáp ứng nhiều hơn nhu cầu và mục tiêu của sinh viên, còn công chúng nhận biết nhiều hơn về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường Tuy vậy, những thay đổi thấm sâu vào xã hội và chỉ để lại cái gì đó khác với trước khi sự nổi loạn của sinh viên xảy ra
Các nhà chức năng cho rằng, hầu hết mọi lĩnh vực của xã hội tiến hóa để thúc đẩy sự tồn tại và phát triển của nó Chính vì vậy trong tất cả các xã hội phức tạp đều tồn tại các thiết chế kinh tế, gia đình, chính trị, tôn giáo Các thiết chế này luôn phối hợp với nhau đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội
Xã hội học Mỹ đặc trưng bởi chủ nghĩa kinh nghiệm Với mong muốn xây dựng một hệ thống lý thuyết xã hội học mang tính tổng quát, Talcolt Parsons (1902 – 1977) đã dựa trên những nghiên cứu của M Weber, của Pareto và của A Marshall để tìm hiểu và giải thích sự vận hành của hệ thống xã hội Ông nhấn mạnh đến tính cá nhân trong xã hội
Parsons cho rằng, các cá nhân là những người hành động xã hội tìm cách thoả mãn mong muốn của mình Do vậy, họ đặt ra mục tiêu và đưa ra những
Trang 39chọn cách ứng xử của mình một cách bị cưỡng bức bởi những người xung quanh Sự cưỡng bức này thường mang tính biểu tượng, vì xã hội là tác nhân chuyển tải các giá trị và chuẩn mực định hướng cho các hành động Cá nhân đã được nội tâm hoá những giá trị chuẩn mực xã hội trong quá trình xã hội hoá, nên thường không khước từ mà tuân thủ các chuẩn mực đó
Theo ông, các hành động thực hiện những chức năng này trong hệ thống xã hội Có nghĩa là chúng phục vụ một điều đó có ích cho xã hội Các hành động này có chức năng làm cho cá nhân hội nhập vào xã hội và đóng góp vào việc duy trì xã hội đó Chẳng hạn khi người ta kết hôn vì mong muốn cá nhân nhưng sự thực thì chính gia đình họ cũng thực hiện chức năng này cho xã hội (chức năng sinh sản và xã hội hoá)
Parsons bị phê phán là đã đánh giá quá cao chức năng hội nhập xã hội của các hành động cá nhân “chuẩn mực”, chẳng hạn, một số điều thực hành tôn giáo có thể gây nên xung đột chứ không có tác dụng hội nhập Đồng thời mọi thực hành xã hội không cần thiết phải có chức năng hội nhập Merton phản đối quan điểm cho rằng có thể xây dựng một lý thuyết tổng quát trong xã hội học và tái lập một mối liên hệ giữa nghiên cứu kinh nghiệm và nghiên cứu lý thuyết Theo ông, một kết quả, một sự hiểu biết chỉ có giá trị trong lĩnh vực cụ thể mà nó nghiên cứu
Theo Robert Merton, một số chức năng - những chức năng công khai - là những chức năng có mục đích và được thừa nhận, và những chức năng khác - chức năng tiềm ẩn - là những chức năng không có mục đích và không được ghi nhận Hơn nữa, không phải mọi yếu tố xã hội đều góp phần tích cực mà bên cạnh đó còn có một số yếu tố có những hậu quả tiêu cực gọi là phản chức năng Một trong những chức năng biểu hiện dựa trên những nguyên tắc của một chế độ hoàn thiện là tạo ra môi trường thuận lợi cho việc đối xử với mọi người bình đẳng Một chức năng tiềm ẩn của các nguyên tắc hành chính là ủng hộ cơ hội việc làm bình đẳng đối với mọi người Những phản chức năng của các nguyên tắc hành chính là cứng nhắc, không hiệu quả và không có cá tính
Tuy nhiên, cái gì là tiêu cực cho một bộ phận này của xã hội có thể là tích cực cho bộ phận khác Sự nghèo khổ hiển nhiên có hiệu quả tiêu cực cho người nghèo, nhưng theo Herbert Gans (1971), sự nghèo khổ cũng có lợi cho những bộ phận khác trong xã hội Nếu không có người nghèo, những sản phẩm kém chất lượng như bánh mì cũ và hoa quả quá chín sẽ bán cho ai? Ai sẽ thuê luật sư và bác sĩ trình độ thấp, những người làm công việc xã hội và
Trang 40tội phạm học sẽ tìm việc làm ở đâu, và Đảng Dân Chủ sẽ làm gì nếu không có bộ phận cử tri này?
Theo các nhà chức năng, hầu hết các thành viên của xã hội nhất trí về những gì đáng có và đáng để vươn đến - nói cách khác là có sự nhất trí về các giá trị và lợi ích Ví dụ, người Mỹ nhất trí về sự mong muốn một nền dân chủ, sự thành công, và những cơ hội bình đẳng Mức độ nhất trí cao này, theo các nhà chức năng, giải thích cho sự hợp tác trong mọi xã hội
Một trong những hạn chế chủ yếu của thuyết chức năng là ít nói đến sự biến đổi xã hội Trái lại, quan điểm xung đột lấy sự biến đổi xã hội như một tiêu điểm
II Thuyết xung đột
Thuyết xung đột nhấn mạnh đến yếu tố xung đột, cạnh tranh, sự biến đổi và áp bức trong xã hội
Nói đến lý thuyết xung đột không thể không đề cập tới Marx - nhà xã hội học Đức thiên tài – ông cho rằng bản chất của xã hội dựa trên cơ sở kinh tế và xung đột giai cấp là không tránh khỏi trong toàn bộ nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Sau đó, những người theo quan điểm xung đột hiện đại như C Wright Mills, Ralf Dahrendoif và Lewis Cosr đã phát triển lý thuyết này Họ không giới hạn quan điểm xung đột của mình trong lĩnh vực kinh tế và xung đột giai cấp mà mở rộng thêm quan điểm của Marx Họ cho rằng sự xung đột thể hiện giữa các bộ phận bất kỳ nào của một xã hội Xung đột cũng thể hiện giữa các đảng phái, các lĩnh vực xã hội khác nhau, chẳng hạn như sự xung đột giữa những người theo Đảng Cộng hòa và những người theo Đảng Dân chủ, công đoàn và quản lý, giữa các nhà công nghiệp và bảo vệ môi trường
Những giả thuyết trong thuyết chức năng và thuyết xung đột đối lập với nhau Thuyết chức năng nhấn mạnh đến những cách thức mà con người hợp tác để đạt đến mục đích chung Còn quan điểm xung đột tập trung vào những bất đồng không thể tránh khỏi giữa các bộ phận khác nhau của xã hội hoặc giữa các xã hội Các bộ phận, các nhóm người tham gia vào xung đột khi họ cố gắng duy trì và ủng hộ những giá trị và lợi ích riêng biệt của họ
Theo những người ủng hộ quan điểm xung đột, đời sống xã hội như một cuộc đấu tranh, những người có quyền lực nhất trong xã hội - những người có khả năng kiểm soát hành vi của những người khác, thậm chí chống lại những