1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Mỹ thuật dân gian Việt Nam

21 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 761 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỹ thuật dân gian Việt Nam Mỹ thuật dân gian Việt Nam Nghỉ ngơi Tranh Đông Hồ Mỹ thuật dân gian Việt Nam được ghi nhận gồm các hình trang trí trên trống đồng, trên các đồ khảo cổ tới điêu khắc đình là[.]

Trang 1

Mỹ thuật dân gian Việt Nam

Nghỉ ngơi-Tranh Đông Hồ

Mỹ thuật dân gian Việt Nam được ghi nhận gồm các hình trang trí trên trống đồng, trêncác đồ khảo cổ tới điêu khắc đình làng, chùa ở nông thôn Bắc bộ và tranh dân gian.Sau khi trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ra đời năm 1925, chính thức mới có sự đào tạo chính qui về hội họa Trước mốc thời gian này, đáng kể nhất là vốn mỹ thuật dân gian với điêu khắc đình chùa và các dòng tranh dân gian như tranh Đông Hồ (Bắc Ninh), tranh Hàng Trống (Hà Nội), tranh Làng Sình

(Huế), tranh Kim Hoàng (Hà Tây), tranh thờ Đạo

Giáo (miền núi phía Bắc) Tuy nhiên kho tàng mỹ

thuật dân gian Việt Nam vẫn đang tiếp tục được

khám phá

Lịch sử Việt Nam được nhiều nhà sử học ghi

nhận là có bề dày khoảng 3000 đến 4000 năm

hoặc nhiều hơn thế[1]

Các nhà khảo cổ đã tìm thấy các di tích chứng

minh loài người đã từng sống tại Việt Nam từ thời

kỳ Đồ đá cũ Vào thời kỳ Đồ đá mới, các nền văn

hóa Hòa Bình - Bắc Sơn tại vùng này đã phát triển

về chăn nuôi và nông nghiệp, đặc biệt là nghệ

thuật trồng lúa nước

Những người Việt tiền sử trên vùng châu thổ sông

Hồng-Văn minh sông Hồng và sông Mã này đã

khai hóa đất để trồng trọt, tạo ra một hệ thống đê

điều để chế ngự nước lụt của các sông, đào kênh

để phục vụ cho việc trồng lúa và đã tạo nên nền

văn minh lúa nước và văn hoá làng xã

Thời đại đồ đá mới

    Văn hóa Hòa Bình (12.000 - 10.000 TCN)

    Văn hóa Bắc Sơn (10.000 - 8.000 TCN)

    Văn hóa Quỳnh Văn (8.000 - 6.000 TCN)

    Văn hóa Đa Bút (6.000 - 5.000 TCN)

Thời đại đồ đồng đá

    Văn hóa Phùng Nguyên (2.000 - 1.500 TCN)

    Văn hóa Cồn Chân Tiên, Hoa Lộc

    Văn hóa Tiền Sa Huỳnh (2.000 - 1.000 TCN)

    Văn hóa Đồng Nai (3.000 TCN - )

Trung kỳ thời đại đồ đồng

    Văn hóa Đồng Đậu (1.500 - 1.000 TCN)

Hậu kỳ thời đại đồ đồng

    Văn hóa Gò Mun (1.000 - 600 TCN)

Trang 2

Lịch sử Việt Nam thời kỳ tiền sử (trước thời Hồng Bàng) chỉ được ghi nhận, dự đoán thông qua các di tích khảo cổ; các truyền thuyết, dã sử đều có sau giai đoạn này.

Thời đại đồ đá

Bài chi tiết: Văn hóa Sơn Vi , Văn hóa Hòa Bình , và Văn hóa Bắc Sơn

Khu vực nay là Việt Nam đã có người ở từ thời kỳ Đồ đá cũ Các nhà khảo cổ đã tìm ra các dấu vết người vượn cư ngụ tại Bình Gia (Lạng Sơn), núi Đọ, Ninh Bình và Nga Sơn, Thanh Hóa cách đây hàng trăm nghìn năm Thời kỳ này mực nước biển thấp hơn, và ViệtNam khi đó nối liền với bán đảo Malaysia, đảo Java, Sumatra và Kalimantan của

Indonesia, với khí hậu ẩm và mát hơn bây giờ[2] Người Việt cổ khai thác đá gốc (ba-dan)

ở sườn núi, ghè đẽo thô sơ một mặt, tạo nên những công cụ mũi nhọn, rìa lưỡi dọc, rìa lưỡi ngang, nạo bỏ lại nơi chế tác những mảnh đá vỡ (mảnh tước) Những di tích ở núi

Đọ được coi là bằng chứng cổ xưa nhất về sự có mặt của con người tại vùng đất Việt, khi

tổ chức xã hội loài người chưa hình thành[3]

Vào thời kỳ mà các nhà nghiên cứu gọi là văn hóa Sơn Vi, những nhóm cư dân nguyên thủy tại đây đã sinh sống bằng hái lượm và săn bắt trong một hệ sinh thái miền nhiệt - ẩmvới một thế giới động vật và thực vật phong phú, đa dạng cách đây 11-23 nghìn năm, cuối thời thế Canh Tân (Late Pleistocene)

Sau thời kỳ văn hóa Sơn Vi là văn hóa Hòa Bình và Bắc Sơn, thuộc kỳ đồ đá mới

Các nhà khảo cổ đã liên kết sự khởi đầu của nền văn minh người Việt ở cuối thời kỳ Đồ

đá mới và đầu thời kỳ đồ đồng (vào khoảng hơn 2500 năm trước Công Nguyên)

[cần dẫn nguồn]

Thời đại đồ đồng đá

Bài chi tiết: Văn hóa Phùng Nguyên

Nền văn hóa Phùng Nguyên, nằm xung quanh tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ ngày nay, xuất hiện từ năm 2000 TCN đến năm 1400 TCN[cần dẫn nguồn]

Trang 3

Đến khoảng 1200 TCN, sự phát triển của kỹ thuật trồng lúa nước và đúc đồ đồng trong khu vực sông Mã và đồng bằng sông Hồng đã dẫn đến sự phát triển của nền văn hóa Đông Sơn, nổi bật với các trống đồng Các vũ khí, dụng cụ và trống đồng được khai quật của văn hóa Đông Sơn cho thấy sự ảnh hưởng lên Đông Nam Á và cũng minh chứng cho việc kỹ thuật đúc đồ đồng bắt nguồn từ đây Nhiều mỏ đồng nhỏ xưa đã được khai quật ở miền Bắc Việt Nam Nền văn hóa Đông Sơn có điểm giống nhau với những nền văn hóa được khai quật khác tại Đông Nam Á (Khu mộ thuyền Prâyviêng, Cánh đồng Chum - Lào, Các khu di tích khảo cổ Phukhet - Thái lan v.v.)[cần dẫn nguồn], ở đây các nhà khảo cổ đã tìm thấy quan tài và lọ chôn hình thuyền, nhà sàn, và bằng chứng về phong tục ăn trầu và nhuộm răng đen.

    Khởi nghĩa Bà Triệu

Nhà Tiền LýTriệu Việt

Trang 4

    Khởi nghĩa Lam Sơn

phân tranh

Nhà Tây Sơn(1778 - 1802)

Nhà Nguyễn(1802 - 1945)

    Pháp thuộc (1887 - 1945)

    Đế quốc Việt Nam (1945)

Chiến tranh Đông Dương

( 1945 - 1975 )

    Việt Nam Dân chủ Cộng

hòa

    Quốc gia Việt Nam

    Việt Nam Cộng hòa

    Cộng hòa Miền Nam Việt

là vào thời Tần Thủy Hoàng lãnh thổ của Trung Hoa kéo xuống tận ven biển phía nam Quảng Đông[cần dẫn nguồn]

Vương quốc của các tộc người Việt cổ (Xích Quỷ) thời kỳ này có thể nói đây là một liên bang lỏng lẻo giữa các nhóm tộc Việt khác nhau như Điền Việt ở Vân Nam, Dạ Lang ở

Trang 5

Quý Châu, Mân Việt ở Phúc Kiến, Đông Việt ở Triết Giang, Nam Việt ở Quảng Đông,

Âu Việt (Tây Âu) ở Quảng Tây, Lạc Việt ở miền bắc Việt Nam[5]

Nước Văn Lang

Lãnh thổ nước Văn Lang năm 500 TCN

Theo tục truyền, các đời Hùng Vương trị vì nước Văn Lang của người Lạc Việt (tên này được ghi trong sử sách người Trung Quốc) được thành lập vào khoảng thế kỷ 7 TCN tại khu vực miền bắc Việt Nam ngày nay, đóng đô tại Phong Châu (Phú Thọ) Người Lạc Việt được xem như là tổ tiên của người Việt Nam hiện đại

Các tài liệu nghiên cứu hiện đại[6] phần lớn đều đồng ý theo Việt sử lược về một vương

quốc Văn Lang của người Lạc Việt có niên đại thành lập vào thế kỷ 7 TCN cùng thời Chu Trang Vương (696 TCN - 682 TCN) ở Trung Quốc Vương quốc này tồn tại ở vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã, sông Lam và đã có giao lưu với nước Việt (Yue) của Việt vương Câu Tiễn (Lạc Câu Tiễn) ở khu vực hạ lưu sông Trường Giang - Trung Quốc ngày nay

Nước Âu Lạc

Đến thế kỷ thứ 3 TCN, Thục Phán từ nước Thục (phía đông bắc Văn Lang) của người ÂuViệt đã đánh bại vua Hùng Vương thứ 18 và lập nên nước Âu Lạc, đóng đô tại Cổ Loa, thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội ngày nay Ông tự xưng là An Dương Vương

Theo các nguồn sử liệu khác nhau, nước Âu Lạc của An Dương Vương bị vua Nam Việt

là Triệu Đà ở liền kề phía bắc thôn tính năm 208 TCN (hoặc 179 TCN)

Thời Bắc thuộc

Xem thêm: Vấn đề chính thống của nhà Triệu

Theo các quan điểm khác nhau của các sử gia về vấn đề Triệu Đà và nhà Triệu, thời điểmbắt đầu của thời kỳ Bắc thuộc cũng khác nhau Nếu nhà Triệu được tính là một triều đại Việt Nam, thời Bắc thuộc bắt đầu từ năm 111 TCN khi nhà Hán diệt nhà Triệu Nếu Triệu Đà không được xem là vua Việt Nam, thời kỳ này bắt đầu từ 207 TCN (hoặc 179 TCN)

Trang 6

Nước Nam Việt

Xem thêm: Nhà Triệu

Cuối thời Tần, Triệu Đà (người nước Triệu - thời Chiến Quốc) là quan úy quận Nam Hải (Quảng Đông ngày nay) nhân khi nhà Tần rối loạn sau cái chết của Tần Thủy Hoàng (210TCN) đã cát cứ vùng đất quận Nam Hải, đánh chiếm các khu vực lân cận như Âu Lạc, Quế Lâm (Quảng Tây)

Khi Lưu Bang lên ngôi nhà Hán, Triệu Đà khôi phục và thống nhất các khu vực ông quản

lý ở Quảng Đông, Quảng Tây và miền Bắc Việt Nam ngày nay và tạo ra một vương quốc tên là Nam Việt (南南) Chữ "Việt" (南 Yue) là tên được người Trung Quốc đặt cho những người sống ở vùng đất phía nam của đế quốc nhà Hán, kể cả thổ dân đồng bằng sông Hồng Triệu Đà chia vương quốc Nam Việt thành 9 quận, ba quận phía nam - Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân - là phần đất của Âu Lạc Các Lạc hầu vẫn cai quản vùng châu thổ sông Hồng, nhưng với địa vị chư hầu cho Nam Việt

Thuộc Hán

Xem thêm: Hai Bà Trưng

Lãnh thổ Việt Nam thuộc nhà Hán năm 87 TCN

Năm 111 TCN, quân của Hán Vũ Đế xâm lược nước Nam Việt và sáp nhập Nam Việt vào đế chế Hán Người Trung Quốc muốn cai quản miền châu thổ sông Hồng để có điểm dừng cho tàu bè đang buôn bán với Ấn Độ và Indonesia[cần dẫn nguồn] Trong thế kỷ thứ nhất, các tướng Lạc vẫn còn được giữ chức Trong thế kỷ thứ 1, Trung Quốc bắt đầu chính sách đồng hóa các lãnh thổ bằng cách tăng thuế và cải tổ luật hôn nhân để biến Việt Nam thành một xã hội phụ hệ để dễ tiếp thu quyền lực chính trị hơn Một cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo đã nổ ra ở quận Giao Chỉ, tiếp theo sau đó là các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và các địa phương khác của vùng Lĩnh Nam (mà theo cổ sử Việt ghinhận là có tất cả 65 thành trì) hưởng ứng trong năm 40 Sau đó nhà Hán phái tướng Mã Viện sang đàn áp cuộc khởi nghĩa này Sau ba năm giành độc lập, cuộc khởi nghĩa bị tướng Mã Viện đàn áp Do bị cô lập và quân đội chưa tổ chức hoàn thiện nên không đủ sức chống cự lại quân do Mã Viện chỉ huy, Hai Bà Trưng đã tuẫn tiết trên dòng sông Hát

để giữ vẹn khí tiết Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng được coi là sự kiện đấu tranh giành lại quyền độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam

Trang 7

Sau thuộc Hán đến trước thuộc Đường

Xem thêm: Nhà Tiền Lý

Tiếp theo sau nhà Hán, các triều đại phong kiến Trung Quốc kế tiếp khác như Đông Ngô,nhà Tấn, Lưu Tống, Nam Tề, nhà Lương lần lượt thay nhau đô hộ Việt Nam, người Việt cũng đã nhiều lần nổi dậy chống lại sự cai trị của ngoại bang, tuy nhiên phần lớn đều không thành công cho mục tiêu dành độc lập

Các cuộc nổi dậy tiêu biểu như khởi nghĩa anh em Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh vào thời thuộc Đông Ngô Cuộc nổi dậy của anh em Lý Trường Nhân và Lý Thúc Hiến từthời bắc thuộc Lưu Tống, Nam Tề từ năm 468 đến 485

Năm 541, Lý Bí nổi dậy khởi nghĩa, đã đánh đuổi được thứ sử Tiêu Tư nhà Lương, sau 3 lần đánh bại quân Lương những năm kế tiếp, Lý Bí tự xưng đế tức là Lý Nam Đế, lập ra nước Vạn Xuân vào năm 544 Đến năm Năm 545, Lương Vũ Đế cử Trần Bá Tiên và Dương Phiêu sang đánh nước Vạn Xuân, Lý Nam Đế bị thua trận, giao lại binh quyền cho Triệu Quang Phục Sau khi Lý Nam Đế mất, Triệu Quang Phục đánh đuổi được quânLương năm 550, bảo vệ được nước Vạn Xuân Ông tự xưng là Triệu Việt Vương, đến năm 571 một người cháu của Lý Nam Đế là Lý Phật Tử đã cướp ngôi Triệu Việt Vương, tiếp tục giữ được sự độc lập cho người Việt thêm 30 năm đến khi nhà Tùy sang đánh năm602

Thuộc Đường

Kế tiếp nhà Tùy, nhà Đường đô hộ Việt Nam gần 300 năm Trung Quốc đến thời Đường đạt tới cực thịnh, bành trướng ra 4 phía, phía bắc lập ra An Bắc đô hộ phủ, phía đông đánh nước Cao Ly lập ra An Đông đô hộ phủ, phía tây lập ra An Tây đô hộ phủ và phía nam lập ra An Nam đô hộ phủ, tức là lãnh thổ nước Vạn Xuân cũ

Trong thời kỳ thuộc nhà Đường, đã nổ ra các cuộc khởi nghĩa chống bắc thuộc của người Việt như khởi nghĩa Lý Tự Tiên và Đinh Kiến, khởi nghĩa Mai Hắc Đế, khởi nghĩa Phùng Hưng và khởi nghĩa Dương Thanh từ cuối thế kỷ 7 đến thế kỷ 9

Từ sau loạn An Sử (756-763), nhà Đường suy yếu và bị mất thực quyền kiểm soát với nhiều địa phương do các phiên trấn cát cứ, không kiểm soát nổi phía nam An Nam đô hộphủ bị các nước láng giềng Nam Chiếu, Champa, Chà Và vào cướp phá và giết hại người bản địa đến hàng chục vạn, quân Đường bị đánh bại nhiều lần Tới năm 866, nhà Đường kiểm soát trở lại và đổi gọi là Tĩnh Hải quân

Cuối thế kỷ 9 nhà Đường bị suy yếu trầm trọng sau cuộc nổi loạn của Hoàng Sào và các chiến tranh quân phiệt tại Trung Quốc Tại Việt Nam, năm 905, một hào trưởng địa phương người Việt là Khúc Thừa Dụ đã chiếm giữ thủ phủ Đại La, bắt đầu thời kỳ tự chủcủa người Việt

Hậu quả

Trang 8

Các triều đại này cố gắng đồng hóa dân tộc Việt Nam theo tộc Hán Trong hơn 1.000 năm bị Trung Hoa cai trị, người Việt chịu ảnh hưởng bởi thể chế chính trị, xã hội và văn hóa của các chế độ phương Bắc.

Người Việt cũng chịu ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa đang phát triển ở Đông Á Mặc

dù lúc đó Đông Nam Á đã chịu ảnh hưởng của Ấn Độ giáo và Phật giáo Nguyên thủy Phật giáo Đại thừa được hòa trộn với Nho giáo, Lão giáo và thêm vào đó là các tín ngưỡng dân gian địa phương[cần dẫn nguồn]

Thời phong kiến độc lập

Bài chi tiết: Lãnh thổ Việt Nam qua từng thời kỳ

Trong thời kỳ này các vương triều phương bắc ở Trung Hoa, Mông Cổ mang quân sang xâm lược, nhưng đều bị Việt Nam đẩy lùi: Lê Hoàn và Lý Thường Kiệt đẩy lui 2 lần quân nhà Tống (năm 981 và 1076), nhà Trần đánh bại quân Mông Cổ năm 1258 và kế tiếp là nhà Nguyên vào năm 1285 và 1288 Đầu thế kỷ 15 nhà Minh xâm chiếm được Việt Nam và cai trị trong 20 năm, nhưng cũng bị Lê Lợi nổi lên đánh đuổi năm 1428 và thành lập nhà Hậu Lê, Năm 1789 nhà Thanh sang xâm lược cũng bị Nguyễn Huệ đánh bại Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ 18 trở đi phong kiến Việt Nam đã bắt đầu suy yếu

Từ thế kỷ 10 tới thế kỷ 14, các triều đại Đại Việt xây dựng nhà nước trên cơ sở Phật giáo cùng với những ảnh hưởng Nho giáo từ Trung Quốc Tới cuối thế kỷ 14, ảnh hưởng của Phật giáo dần thu hẹp và ảnh hưởng của Nho giao tăng lên, sự phát triển nhà nước Nho giáo theo mô hình kiểu Trung Hoa, sang đến thế kỷ 15 thì Đại Việt có một cơ cấu chính quyền tương tự nước láng giềng Trung Hoa, cơ cấu luật pháp, hành chính, văn chương vànghệ thuật đều theo kiểu Trung Hoa

Việt Nam trong thời phong kiến phát triển vẫn dựa vào nông nghiệp mà chủ yếu là trồng lúa nước để cung cấp lương thực, từng triều đại đã lần lượt cho đắp đê ngăn lũ lụt, đào kênh dẫn nước cũng như giao thông đi lại, khai hoang các vùng đất đồng bằng ven biển

để tăng diện tích trồng trọt Các hoạt động thương mại, ngoại thương cũng đã được hình thành Vào thời nhà Lý, nhà Trần đã có buôn bán với các vương quốc trong vùng như Trung Hoa, Java, Xiêm La tại cảng Vân Đồn (Quảng Ninh), thời Hậu Lê đã có buôn bán thêm với Châu Âu, Nhật Bản tại các trung tâm như Thăng Long và Hội An

Đàng Ngoài-Đàng Trong

Trang 9

Bài chi tiết: Trịnh-Nguyễn phân tranh

Việt Nam thời Trịnh - Nguyễn phân tranh năm 1650

Bắt nguồn từ thời kỳ Nam-Bắc triều, năm 1527, sau khi giành ngôi từ nhà Hậu Lê, Mạc Đăng Dung đã lập nên nhà Mạc Nhà Hậu Lê được tái lập sau sự giúp đở của Nguyễn Kim, một tướng cũ và dành được sự kiểm soát khu vực từ Thanh Hóa vào Bình Định Saukhi Nguyễn Kim chết, người con rể là Trịnh Kiểm đã dành quyền bính, 60 năm kế tiếp Trịnh Kiểm và các con cháu của ông đã dành được chiến thắng trước nhà Mạc vào năm

1592 và mở đầu cho thời kỳ đặc biệt trong lịch sử phong kiến Việt Nam, thời kỳ vua Lê chúa Trịnh

Sự mâu thuẩn giữa hai người cận thần của nhà Hậu Lê là Trịnh Kiểm và Nguyễn Hoàng (trấn thủ xứ Thuận Hóa và Quảng Nam) đã bắt đầu cho sự phân chia đất nước ra thành hai lãnh thổ, hai chính quyền riêng biệt là Đàng Ngoài và Đàng Trong Các con cháu của Trịnh Kiểm lần lượt kế tiếp nhau nắm quyền ở Đàng Ngoài được gọi là các chúa Trịnh, các con cháu của Nguyễn Hoàng kế tiếp nhau cầm quyền ở Đàng Trong được gọi là các chúa Nguyễn, các vua Lê chỉ là danh vị hoàng đế của Đại Việt trên danh nghĩa

Thời kỳ đất nước chia thành 2 lãnh thổ riêng biệt Đàng Ngoài và Đàng Trong cũng là thời kỳ hoạt động ngoại thương sôi động, cả Đàng Ngoài và Đàng Trong đều tham gia vào hệ thống giao thương toàn cầu bởi các thương nhân Châu Âu, Nhật Bản, Trung Hoa đến Đại Việt buôn bán Người Hà Lan, Anh, Pháp lập các thương điếm tại Kẻ Chợ (Hà Nội), người Bồ Đào Nha, Anh, Nhật Bản đặt các thương điếm tại Faifo (Hội An) Các mặt hàng chính được xuất khẩu từ Đại Việt là tơ lụa, hồ tiêu, gốm sứ Tuy nhiên sang đếnthế kỷ 18 thì hoạt động thương mại giảm sút ở cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài[7]

Trang 10

Cùng với sự giao thương buôn bán với các nước phương Tây, đạo Công giáo cũng bắt đầu được truyền vào Đại Việt qua các giáo sĩ công giáo phương Tây theo các tàu buôn vào giảng đạo ở cả Đàng Ngoài và Đàng Trong, tuy nhiên các chúa Trịnh và chúa

Nguyễn đều ngăn cấm, nên ảnh hưởng của Công giáo ở Việt Nam trong thời kỳ này còn hạn chế

Mở rộng lãnh thổ về phương Nam

Bài chi tiết: Nam tiến

Lãnh thổ Việt Nam mở rộng sau các cuộc Nam tiến (1069-1757)

Dấu ấn về sự mở rộng đất nước trong thời kỳ phong kiến này là sự bành trướng xuống phương Nam, cuộc Nam tiến nhằm tìm đất nông nghiệp để cung cấp lương thực cho sự gia tăng dân số của Đại Việt Với một quân đội có tổ chức tốt hơn, từ thế kỷ 11 đến thể

kỷ 15, sau các cuộc chiến tranh giữa Đại Việt và Champa, lãnh thổ Đại Việt đã được mở rộng thêm từ đèo Ngang (Quảng Bình) tới núi Thạch Bi (Phú Yên)

Từ thế kỷ 17, Đàng Trong là một lãnh thổ, chính quyền riêng biệt với Đàng Ngoài Nhằmtiếp tục tìm kiếm thêm diện tích đất đai cho sự gia tăng dân số, cũng như tăng cường quyền lực các chúa Nguyễn đã lần lượt tiến hành các cuộc chiến tranh với Champa và sát nhập hoàn toàn phần lãnh thổ còn lại của người Chăm (từ Phú Yên tới Bình Thuận) vào năm 1693

Tiếp đó, sau các cuộc di dân của người Việt từ Đàng Trong vào sinh sống ở vùng đất của người Khmer, các chúa Nguyễn lần lượt thiết lập chủ quyền từng phần trên vùng đất Nam

Bộ, sau các cuộc chiến với vương quốc Khmer, vương quốc Ayutthaya cũng như các yếu

Ngày đăng: 19/11/2022, 07:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w