Mục đích và nhiệm vụ của luận văn Mục đích của luận văn: với tư cách là một hình thức lý luận từ góc độ triết học, luận văn nghiên cứu các giá trị của giáo dục thẩm mỹ bằng hình tượng
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG TRUNG HỌC BẰNG HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT CỦA TRUYỆN CỔ DÂN GIAN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.80
Học viên thực hiện: VÕ THỊ MỸ DUNG
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS HÀ THIÊN SƠN
TP Hồ Chí Minh – 2007
Trang 2MỤC LỤC Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA MỸ HỌC MÁCXÍT VỀ
GIÁO DỤC THẨM MỸ 7
1.1 Quan niệm của mỹ học về giáo dục thẩm mỹ 7
1.1.1 Quan niệm của mỹ học trước Mác về giáo dục thẩm mỹ 7
1.1.2 Quan niệm của mỹ học mácxít về giáo dục thẩm mỹ 25
1.2 Mục tiêu và các hình thức giáo dục thẩm mỹ cơ bản 29
1.21 Quan điểm mácxít về mục tiêu giáo dục thẩm mỹ 29
1.2.2 Quan điểm của Đảng cọâng sản Việt Nam về mục tiêu giáo dục thẩm mỹ 30
1.2.3 Các hình thức giáo dục thẩm mỹ cơ bản 34
Chương 2 TÁC DỤNG GIÁO DỤC THẨM MỸ BẰNG HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT CỦA TRUYỆN CỔ DÂN GIAN VIỆT NAM ĐỐI VỚI HỌC SINH PHỔ THÔNG TRUNG HỌC 40
2.1 Khái lược chung về truyện cổ dân gian Việt Nam 40
2.1.1 Lý tưởng thẩm mỹ trong truyện cổ dân gian Việt Nam 52
2.1.2 Giá trị giáo dục thẩm mỹ bằng hình tượng nghệ thuật của truyện cổ dân gian Việt Nam đối với học sinh phổ thông Trung học 56
2.2 Thực trạng và giải pháp về giáo dục thẩm mỹ cho học sinh phổ thông Trung học 71
2.2.1 Thực trạng về giáo dục thẩm mỹ cho học sinh phổ thông Trung học 71
2.2.2 Những giải pháp mang tính định hướng về giáo dục thẩm mỹ cho học sinh phổ thông trung học hiện nay 79
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nếu có gì gian dối tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Tác giả luận văn
VÕ THỊ MỸ DUNG
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thời đại ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin và toàn cầu hoá về kinh tế đã cuốn hút các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam vào trào lưu chung của nhân loại, cũng có một bộ phận thanh niên, học sinh chưa tỏ rõ ý chí, nghị lực, hoài bão theo lý tưởng xã hội chủ nghĩa, không trau dồi về học vấn, văn hoá, đạo đức, lối sống nên không đáp ứng được yêu cầu phát triển chung của đất nước và trở thành những phần tử tụt hậu của xã hội Một bộ phận thanh niên học sinh do hoàn cảnh gia đình nên cha mẹ thiếu quan tâm, giáo dục, không lường trước những mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự biến động phức tạp của chính sách mở cửa hội nhập và của tình hình kinh tế trong nước và thế giới, bị những mặt tiêu cực, lối sống thực dụng, buông thả, cá nhân chủ nghĩa và các tệ nạn xã hội khác chi phối dẫn đến không ít học sinh thanh niên vi phạm pháp luật, trở thành kẻ phạm tội Muốn hướng thế hệ trẻ Việt Nam tới cái chân - thiện - mỹ cùng với việc giáo dục tri thức, đạo đức, biện pháp tất yếu để hình thành nhân cách con người mới ở thế hệ trẻ là phải thông qua con đường giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường bằng nhiều hình thức, nhiều phương pháp khác nhau Một trong những biện pháp giáo dục thẩm mỹ khả thi và bền vững nhất đối với học sinh phổ thông trung học là giáo dục “bằng hình tượng nghệ thuật của truyện cổ dân gian Việt Nam”
Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, con người đang
Trang 5hành nạn nhân của kỹ thuật, nô lệ của hệ thống điều khiển tự động Vì vậy, chúng ta phải rút ra bài học kinh nghiệm từ giai đoạn đầu của công nghiệp hoá hiện đại hóa: thực sự coi giáo dục thẩm mỹ đối với học sinh là một khoa học, là môn học chính thức trong chương trình của trường phổ thông trung học và cũng là một quốc sách Vì giáo dục thẩm mỹ của chúng ta mang tính nhân đạo sâu sắc: giáo dục những giá trị văn hoá lành mạnh cao quí, xây dựng cho học sinh lối sống tốt đẹp, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc và hiện đại Nó sẽ đẩy lùi lối sống thực dụng, chìm đắm trong tiêu dùng đã bị ôâ nhiễm của học sinh
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Là giáo viên giảng dạy môn giáo dục công dân trong nhà trườøng phổ thông trung học nhiều năm, tôi nhận thấy: bộ môn này khô khan, trừu tượng, khó nhớ nên học sinh ít hứng thú khi tiếp thu bài học Mặt khác, việc đưa lý luận vào thực tế cuộc sống hằng ngày của học sinh rất khó khăn, các em lúng túng không biết vận dụng như thế nào cho đúng với yêu cầu của thực tiễn, với cuộc sống, với truyền thống văn hoá, đạo đức và mục đích tư tưởng chính trị Tôi đầu tư nghiên cứu đề tài mình quan tâm và đã thử nghiệm thành công việc “giáo dục thẩm mỹ cho học sinh bằng hình tượng nghệ thuật của truyện cổ dân gian Việt Nam” trong phạm vi môn Giáo dục công dân Kết quả cho thấy: học sinh rất hứng thú học tập khi giáo viên sử dụng hình tượng nghệ thuật truyện cổ dân gian lồng ghép vào từng chuyên đề giảng dạy Cảm giác chán ngán, trừu tượng và sự xa vời giữa bài học với cuộc sống ở các em gần như không còn nữa Tôi hy vọng vấn đề này sẽ trở thành đề tài
Trang 6chuyên biệt có thể vận dụng vào trong quá trình giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường phổ thông trung học ngày càng đạt hiệu quả cao hơn, nhằm bồi đắp cho thế hệ trẻ khả năng cảm thụ, sáng tạo và tự đánh giá thẩm mỹ Thời gian qua đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này như:
Luận văn tốt nghiệp sau đại học, chuyên ngành lý luận văn học
của học viên Nguyễn Thị Tây Phương: “Quan niệm về cái đẹp và về
nghệ thuật trong văn học dân gian Việt Nam” Tác giả Phương Lựu có
bài viết: “Quan niệm về cái đẹp và nghệ thuật trong văn hocï dân gian”
Ngoài ra còn kể đến một số công trình khác có liên quan trực
tiếp đến đề tài như:
“Quan niệm về thẩm mỹ dân gian Việt Nam”, Văn học số 1/1984
“Đặc điểm thẩm mỹ của truyện cổ tích thần kỳ ở Việt Nam”, Văn học số
5 / 1972 của tác giả Hà Châu Bài viết: “Bước đầu tìm hiểu quan niệm
về vẻ đẹp lý tưởng của con người trong Văn học dân gian một số dân tộc
ít người ở Việt Bắc”, thông báo khoa học của Trường Đại học Sư phạm
Việt Bắc số 11/1989 “Quan niệm về cái đẹp trong văn học dân gian các
dân tộc tiểu số Việt Nam”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường -
Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc năm 1992 của tác giả Hoàng Minh
Lường và “Vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ”, của tác giả
Trần Tuý
Riêng với vấn đề “Giáo dục thẩm mỹ cho học sinh phổ thông trung học bằng hình tượng nghệ thuật của truyện cổ dân gian Việt Nam” đã có đề cập đến nhưng chỉ mới chỉ dừng lại ở một vài khía cạnh, chưa có công trình nào triển khai, chuyên sâu một cách chuyên biệt và có hệ
Trang 7thống
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn: với tư cách là một hình thức lý luận từ góc
độ triết học, luận văn nghiên cứu các giá trị của giáo dục thẩm mỹ bằng hình tượng nghệ thuật của truyện cổ dân gian Việt Nam đối với học sinh phổ thông trung học
Để đạt được mục đích trên, đề tài xác định các nhiệm vụ sau:
Tìm hiểu quan điểm của Mỹ học mácxít về giáo dục thẩm mỹ
Phân tích tác dụng giáo dục thẩm mỹ “bằng hình tượng nghệ thuật của truyện cổ dân gian Việt Nam” đối với học sinh phổ thông trung học.Từ đó tìm ra những thực trạng và giải pháp mang tính định hướng về giáo dục thẩm mỹ cho học sinh phổ thông trung học trong giai đoạn hiện nay
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Ngoài việc vận dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, cơ sở lý luận Mỹ học Mác- Lênin, cũng như những phương pháp nghiên cứu thông dụng trong nghiên cứu khoa học nói chung như: phân tích, tổng hợp, diễn dịch, qui nạp… Đề tài này còn vận dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
Đề tài hướng vào khai thác các quan niệm có giá trị lý luận về
“giáo dục thẩm mỹ bằng hình tượng nghệ thuật của truyện cổ dân gian Việt Nam” dưới dạng văn bản đã ấn hành Muốn đạt được mục đích
Trang 8của đề tài, bản thân tôi phải:
- Tìm kiếm, lựa chọn các thông tin, các quan niệm có rải rác từ nhiều tác phẩm của truyện cổ dân gian Việt Nam để vận dụng vào qúa trình giáo dục thẩm mỹ cho học sinh
- Sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp để hệ thống, phân loại tư liệu có ý nghĩa và vai trò vô cùng quan trọng trong các thao tác nghiên cứu đề tài
- Dựa vào các cứ liệu tồn tại thực trong các văn bản tác phẩm đã được ấn hành, để từ cơ sở đó mà tổng hợp, khái quát thành các vấn đề lý luận đạt mục đích mà đề tài nghiên cứu
Với tính chất và nhiệm vụ của luận văn nên có thể giới hạn phạm
vi khảo sát, thống kê ở một số thể loại cụ thể của văn học dân gian Việt Nam như truyện thần thọai, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn
Do vậy, muốn thu thập, lưu trữ được số lượng quan niệm về cái đẹp trong hình tượng nghệ thuật để đi đến khái quát, tất yếu phải “đãi cát tìm vàng” trên bình diện rộng Chỉ có chắt lọc, tìm tòi thu thập từ các tác phẩm truyện cổ dân gian Việt Nam mới có hy vọng tìm ra được những quan niệm giáo dục thẩm mỹ bằng cái đẹp của hình tượng nghệ thuật và giúp cho việc hình thành những kinh nghiệm giáo dục thẩm mỹ ngày càng toàn diện và vững chắc hơn
5 Ý nghĩa khoa học của luận văn
Thành công của đề tài là có thể góp phần vào phương pháp giáo dục thẩm mỹ cho học sinh nói chung, học sinh phổ thông trung học nói
Trang 9riêng, nhằm xây dựng nhân cách, hình thành đạo đức xã hội chủ nghĩa cho học sinh phổ thông trung học
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy mỹ học cũng như những ai quan tâm đến lĩnh vực hoạt động thẩm mỹ
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu thành 2 chương, 4 tiết
Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA MỸ HỌC MÁCXÍT VỀ
GIÁO DỤC THẨM MỸ
Trang 10
1.1 QUAN NIỆM CỦA MỸ HỌC VỀ GIÁO DỤC THẨM MỸ
1.1.1 Quan niệm của mỹ học trước Mác về giáo dục thẩm mỹ
Quan niệm của một số nhà mỹ học phương Đông
Quan niệm của mỹ học Ấn Độ cổ đại
Tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại mang tính thần thoại và hướng về tâm linh nên đã hình thành tư tưởng mỹ học - tôn giáo mang sắc thái thần bí Mỹ học Ấn Độ cổ đại chủ yếu quan tâm đến mối quan hệ giữa cái bản ngã với tự nhiên cả nội tâm con người lẫn sự biểu hiện ra bên ngoài qua các hình thức nghệ thuật
Mỹ học Bà la môn không giành một vị trí xứng đáng cho cá tính con người mà coi tính này hoà tan trong đẳng cấp Đạo Bà la môn cho rằng: “con người là một giọt nước phản ánh thần linh như phản ánh mặt trời, không nên mô tả một cá tính nào qua nghệ thuật Mục đích của nghệ thuật không phải là sao lại những hình thái thiên nhiên nào đó mà là ca ngợi sự cao quí của vật tượng trưng được mô tả” [69, 97] Nghệ thuật phải dẫn con người đạt tới sự giải thoát
Trong các Thánh kinh Veda - Upanishad, tư tưởng mỹ học Ấn Độ cổ đã xác lập các quan niệm về cái đẹp và nghệ thuật, đặc biệt là trong phạm trù Rasa và Bhava trong văn học và nghệ thuật Quá trình phát triển tư tưởng mỹ học và nghệ thuật: các nhà bình chú và nhà lý luận mỹ học Ấn Độ cổ đã lấy lại cảm hứng từ Rasa để đưa các tư tưởng về sự trải nghiệm thẩm mỹ Rasa thông qua các cảm xúc và trạng thái tâm lý Bhava Rasa vừa được hiểu như là sự tự biểu hiện chói lọi của linh
Trang 11hồn đã thoát ra khỏi dục vọng, đạt được niềm an lành tối cao, vừa là niềm hưng phấn tới cực độ, biểu hiện ra bằng nhiều cảm xúc xuất phát từ sự nhận thức về vô thường của ngoại giới, loại trừ các cảm xúc thường tình: như sự yêu thương, lòng phẫn nộ, niềm vui sướng, kinh ngạc, nỗi sầu bi, sự bất mãn Như vạây, Rasa thuộc về những cảm xúc, tình cảm, cảm động, những trạng thái tâm lý nhưng đã được chuyển hóa, thăng hoa chứ không còn là những cảm xúc theo nghĩa rộng thông thường
Tư tưởng mỹ học Ấn Độ cổ đại quan niệm: sự vật, hiện tượng của cái đẹp luôn biến đổi, được cảm nhận bằng kinh nghiệm là có thực nhưng không phải là cái đẹp chân thực Nhận thức chân chính của con người về cái đẹp trải qua cái đa dạng để nhạân biết cái duy nhất Sự nhận biết đó đòi hỏi con người phải lánh xa mọi tội lỗi và cái đẹp phải dựa trên cái thiện
Cái đẹp của Brahman được nhận thức trong trạng thái con người đã lánh xa được tội lỗi, đạt đến sự thanh thoát, thư thái, không còn ham muốn dục vọng và trở lại với bản tính thanh tịnh, với trạng thái cực lạc vốn có mà con người đã tự đánh mất Cái đẹp được hiểu như là cái phi hiện tượng, không thể do kinh nghiệm bình thường mà nhận thức được, phải thông qua cái tự ngã trong thế giới hiện tượng Vì nhận thức kinh nghiệm thường bị hạn chế bởi thời gian, không gian và thường theo sáu cách sau đây: cảm giác, suy diễn, chứng ngôn, so sánh, suy định, nhận thức về cái không tồn tại Nhận thức cái đẹp, con người không chỉ cần có nhận thức trực giác mà còn phải thực hành các đức tính như: bố thí,
Trang 12phi bạo lực, chính hạnh, đềm đạm, biết hổ thẹn và thực hiện thông qua nhiều cách thức khác nhau như thiền định, tu luyện nội tâm, thực hiện các nghi lễ cúng tế, hát các bài thánh ca tinh thần vũ trụ tối cao Cái đẹp không thể hiểu rõ bằng tư tưởng, nhưng nhờ cái đẹp mà tư tưởng nắm bắt, hiểu rõ cái đẹp Cái đẹp không thể lĩnh hội bằng mắt, nghe bằng tai, nhưng nhờ cái đẹp mà mắt trông thấy, tai nghe và lĩnh hội được Cái đẹp mà con người đạt được chính là sự giải thoát bằng cách xoá bỏ mọi sự ràng buộc của thế giới nhục dục, đưa cái tiểu ngã, hoà nhập vào cái đại ngã, nhận ra bản chất chân thật của con người và thực tướng của vạn vật bằng sự nâng cao tri thức, giữ yên tịnh, hành động đạo đức
Người Ấn Độ cổ cho rằng trong cơ thể người có sự tương đồng giữa đại vũ trụ và tiểu vũ trụ, giữa những cơ quan cảm giác bên trong và bên ngoài, giữa lời phát biểu và khi sống động, có sự tương hợp giữa cảm giác và cái thẩm mỹ cũng như giữa những kinh nghiệm tinh thần và kinh nghiệm tôn giáo Cái đẹp không mang tính thực thể bất động, cứng đờ mà cái đẹp trở thành một nguyên lý phổ biến, một trạng thái, một điều kiện cần thiết để con người vượt qua giới hạn không gian, thời gian, vươn tới nấc thang tự do, nấc thang sáng tạo, vươn tới Brahman Các giác quan của người luôn có sự thông giao với yếu tố của đại vũ trụ như: lửa, ánh sáng, nước, đất, với các thiên thể như mặt trăng, mặt trời Chính sự thông giao này làm cho con người, với tính cách là một tiểu vũ trụ có thể hoà hợp với đại vũ trụ, lửa trở thành lời nói, thoát ra từ miệng; gió trở thành hơi thở đi vào mũi; mặt trời trở thành ánh sáng đi
Trang 13vào mắt; các phần thời gian trở thành âm thanh đi vào tai; thủy mộc trở thành tốc đi vào da thịt; mặt trăng trở thành trí tuệ đi vào các cơ quan hoạt động Con người có được ý nghĩa đặc biệt không phải vì con người có năng lực chinh phục tự nhiên mà vì con người có năng lực vượt lên trên những dục vọng của bản thân bằng sự tu tập để đạt trạng thái an lạc tinh thần
Nhận thức thẩm mỹ là quá trình đi đến sự thông giao với vũ trụ, đạt đến sự hài hoà, an lạc trong tâm hồn và từ đó con người trải nghiệm các cảm xúc thẩm mỹ trong một sự xuất thần thăng hoa tinh tế Từ đó gợi lên Rasa để làm biến mất của những giới hạn của con người, đưa tới con đường cho sự kinh nghiệm về cái toàn thể và cái nhất thể Trong cuộc sống của con người một cảm xúc thẩm mỹ luôn bị hoà lẫn với vô vàn cảm xúc thoáng qua đan xen với nhau tạo thành bức tranh lan tỏa trong đời sống Nhận thức cái đẹp luôn là quá trình hướng tới việc trải nghiệm cảm xúc thẩm mỹ trong trạng thái an lạc, thông giao của tinh thần với Rasa vừa hướng tới sự tiêu trừ các cảm xúc dục vọng ích kỷ bản thân Nhận thức cái đẹp thực chất là kinh nghiệm siêu cảm giác về cái nhất thể mà ở đó kinh nghiệm thẩm mỹ được coi như tương đồng với kinh nghiệm tinh thần cao nhất, như là sự vượt lên cảm giác bên trong và bên ngoài, nhưng cũng gây nên những tác động trên cơ thể gọi là Rasa Rasa được coi như là một tiến trình của sự thăng hoa thẩm mỹ đạt tới sự an lạc của bản ngã như là “sự thanh lọc” của tinh thần Tính biểu trưng diễn đạt quan trọng nhất của nghệ thuật là hướng tới cái thần thánh và cái cao cả, luôn gắn chặt với các triết lý tôn giáo Ấn Độ
Trang 14cổ
Nghệ thuật Phật giáo đã sử dụng vẻ đẹp của thế giới vật chất như một phương tiện để hướng dẫn các tín đồ tới vẻ đẹp tâm linh của giác ngộ chân lý Nó tràn ngập cảm xúc kêu gọi con người chế ngự, vượt qua cạm bẫy quyến rũ của dục vọng, những ảo ảnh, giả ngụy của cái đẹp hiện tượng để tìm thấy cái đẹp đích thực và hướng chúng sinh tới nấc thang tu tập Thông điệp cao cả hướng con người tới sự giải thoát ra khỏi thế giới đau khổ Đức Phật dạy: “Thực hành theo đạo, giữ điều chân thật là lành; chí hiệp với đạo là lớn” [72, 298]
Đối lập với sự dịu dàng thanh thản, trầm tư, tịnh lự của Phật giáo là sự ngự trị trong điêu khắc Hindu: nhịp điệu mạnh mẽ, năng động, nghiêng về cái cao cả hơn là cái đẹp hài hoà, duyên dáng trong trong quan niệm thẩm mỹ của phật giáo Những gì giúp con người tìm được chân như sẽ được coi là thiện, những hành vi, những tư tưởng nào cản trở hay có hại cho việc làm này thì bị coi là ác
Tư tưởng mỹ học Ấn Độ cổ đại quan niệm: vươn tới cái đẹp là
vươn tới sự giải thoát, vượt ra ngoài sự chi phối của thời gian và không gian Giải thoát là trạng thái chân như, vượt ra khỏi thế giới ràng buộc
của ảo ảnh, diệt mọi dục vọng, vượt qua mọi quan niệm sống chết, thoát
ra khỏi nghiệp báo luân hồi để hoà nhập với bản thể tối cao của vũ trụ, đạt đến an lạc, tự do, tự tại
Mọi thuật ngữ mỹ học đều mang tính chất thần thánh nên tiến
trình cảm thụ thẩm mỹ là một sự cải biến cái cảm giác thành cái siêu cảm giác như một tiến trình vũ trụ hoá cá nhân Văn chương nghệ thuật
Trang 15sáng tác để truyền đạt bản chất tinh thần ẩn khuất trong thế giới hiện tượng Lạc thú tinh thần trong sáng tạo và thưởng thức.Văn chương và nghệ thuật còn có ở trong sự hiểu biết viên mãn khi không còn sự phân biệt giữa chủ thể và khách thể Do đó, sáng tạo nghệ thuật trở thành một hình thức nghi lễ tâm linh, một hình thức yoga nhằm đạt tới sự đồng nhất, hợp nhất Atman với Brahman, đạt tới giải thoát Các hình thức nghệ thuật của Ấn Độ chuyển tải nội dung tôn giáo của đời sống con người Ấn Độ Cả nghệ sĩ lẫn khán giả đều có vai trò đồng sáng tạo và hoàn thiện tác phẩm văn học nghệ thuật nhưng vai trò của khán giả hết sức quan trọng Không nên coi việc thưởng thức nghệ thuật là một việc làm giản đơn, mà phải coi đó là một việc làm đầy cảm hứng Vì sự thấu hiểu cái đẹp của cuộc sống cao quí được phát hiện qua tác phẩm nghệ thuật và lệ thuộc vào trí tưởng tượng của bản thân con người
“khán giả nào mà không chú ý tới hoặc không thấu hiểu tính nghệ thuật của hình thái thì không nhận thức được nghệ thuật là gì và không thể nghiệm được tác dụng của nghệ thuật” [69, 106]
Tư tưởng mỹ học Ấn Độ thể hiện chức năng hoà giải sự mâu thuẫn dai dẳng giữa bổn phận làm người và thái độ tìm kiếm sự giải thoát trong đời sống người Ấn Độ, từ đó làm nổi lên khát vọng tìm kiếm cái tuyệt đối trong tinh thần văn hóa Ấn Độ Qua đó, tạo thế cân bằng cho nội tâm và đời sống con người trên trần thế nhằm hướng họ đến trạng thái an lạc giữa cái đẹp và cái thiện Cái đẹp không được xem như một thực thể tối cao để con người phải hướng tới mà là mục đích hướng đạo để con người nâng mình lên ngang tầm thần thánh giữa cuộc sống
Trang 16đời thường Cái đẹp trong nghệ thuật đóng vai trò nối kết giữa cái vĩ đại với cái tinh tế, giữa cái cảm giác (bhava) với cái cảm thức (Rasa) để đem lại sự trải nghiệm thẩm mỹ siêu việt về tính thống nhất của vũ trụ
Quan niệm của mỹ học Trung Quốc
Quan niệm của mỹ học Nho gia
Khổng Tử (551 – 479 tr CN), ông quan niệm về cái đẹp: “mỹ” là
sự đánh giá về hình thức, “thiện” là sự đánh giá về nội dung đạo đức
Do đó, “thiện” cao hơn “mỹ” Cái đẹp phải là cái có lợi cho sự sinh tồn và phát triển của con người Cái đẹp của con người chính là đạo đức và phẩm chất của mỗi cá nhân Cái đẹp là một hình thức hợp qui luật, biến hoá đa dạng, gắn với cái thiện và sự tu dưỡng đạo đức cá nhân, có quan hệ với trời đất nên phải là những thứ có lợi cho sinh tồn của con người, có thể mang lại hạnh phúc và tốt lành cho con người Cái đẹp có quan hệ mật thiết với qui luật sinh trưởng của vạn vật, và đạo đức phẩm chất của tự thân con người và chính là sự thực hiện trọn vẹn nguyên, hạnh, lợi, trinh Con người phải đón nhận cuộc sống với tất cả những niềm vui và nỗi khổ
Trong mối quan hệ tương hỗ của âm dương, nghệ thuật phải thể hiện được sự cảm nhận cái đẹp của âm nhu và dương cương Cái đẹp dương cương (tráng mỹ) biểu hiện cho sức mạnh sinh sôi không ngừng, kiên cường, bền bỉ của giới tự nhiên, bao gồm cả sức mạnh đạo đức tinh thần của loài người - sức mạnh hợp qui luật và có thể tiết chế, mang tính hoàn chỉnh
Trang 17Cái đẹp âm nhu (ưu mỹ) là sự mềm mại, thuận và tĩnh như tính khoan dung của cái đẹp hàm súc bên trong, chí nhu, chí thuận, chí tĩnh lại biểu hiện ra sức mạnh cương kiện hay cái đẹp của dương cương là quan niệm tư tưởng, hứng thú thẩm mỹ và lý tưởng nghệ thuật chiếm địa
vị chủ đạo trong lịch sử văn học Trung Quốc cổ đại
Nho gia thừa nhận sự tiếp thu các hiện tượng của cuộc sống bằng cảm xúc và bằng nghệ thuật Nhưng sự điều hoà, kiểm soát cảm xúc phải căn cứ vào tiêu chuẩn đạo đức học và mỹ học của xã hội
Nghệ thuật có khả năng tác động vào con người về mặt đạo đức, có thể là một phương tiện tốt để giáo dục đạo đức Nghệ thuật là sức mạnh xã hội lớn lao, giúp ích đáng kể trong việc điều khiển quốc gia Khổng Tử hỏi: vì sao mà thanh niên ít học thi ca? Nghệ thuật mở rộng thêm sự hiểu biết của con người về cuộc sống, bồi bổ thêm, cho con người những kiến thức mới Gợi cảm và giữ gìn cho con người không lặp lại những sai lầm của kẻ khác, soi sáng cách ăn nói với mẹ cha, cách đối xử của vua - tôi Thi ca cũng giúp con người hiểu biết nhiều về cây cỏ, chim muông Thi ca có thể giáo dục được đạo đức, gợi cho con người một niềm khoái lạc chân chính, thơ có thể gây hứng khởi, có thể quan sát, có thể hợp quần, có thể than oán
Tuân Tử (298 - 238 tr CN), ông là người kế thừa và phát triển tư tưởng mỹ học của Khổng Tử nhưng không thừa nhận “ trời” có nhân cách và ý chí Trời chỉ là hiện tượng tự nhiên nên ông quan niệm bản tính của con người bắt nguồn từ bản năng “mắt ham màu sắc, tai thích thanh âm, miệng khoái mùi vị, tâm chuộng lợi lộc, xương cốt da thịt thú
Trang 18khoái lạc” và “con người ác từ lúc mới sinh”[69, 64] Nếu có sự tác động của khoa học và nghệ thuật (giáo dục) thì con người mới trở nên đẹp về mặt đạo đức Nếu không rèn luyện thì bản tính con người không đẹp được Đối với con người “nếu không rèn luyện, thì tính của y, do chính nó, không thể đẹp được” [69, 64]
Nhạc là một thứ nghệ thuật biểu diễn tình cảm, không thể tách rời cảm thụ giữa chủ thể và khách thể Nhạc sinh ra từ âm, gốc nó ở lòng người cảm động bởi ngoại vật Cho nên lòng buồn mà cảm thì tiếng giòn và nhanh, lòng vui mà cảm thì tiếng trầm và chậm, lòng mừng mà cảm thì tiếng rõ và tán, lòng giận mà cảm thì tiếng thô và sắc, lòng kính mà cảm, thì tiếng trực và liêm, lòng yêu mà cảm thì tiếng hòa và nhu
Nhạc và đức là quan hệ của âm nhạc và đạo đức, quan hệ của mỹ và thiện Khái niệm đức chủ yếu để nói rõ chức năng giáo hoá đạo đức của âm nhạc, và yêu cầu tình cảm mà âm nhạc biểu hiện và niềm vui thẩm mỹ mà nó gợi lên, phải phù hợp với yêu cầu luân lý đạo đức xã hội
Để đạt tới “đạo nhân”: Nho gia rất quan tâm tới giáo dục, không
coi trọng cơ sở kinh tế - kỹ thuật nên giáo dục của Nho gia chủ yếu hướng vào rèn luyện đạo đức con người Giáo dục là cải tạo nhân cách, coi trọng hiệu quả của giáo dục đối với thiện ác Muốn nhân loại trở về tính gần nhau, “thiện bản nhiên” giáo dục có thể hóa ác thành lành “tuy bản chất đơn sơ của mọi người gần giống nhau, song do sự tác động của môi trường, của điều kiện sống nên thói quen sẽ đem lại cho người
Trang 19này tính lành còn kẻ kia tính ác” [72, 76] Với sự tác động của mình
“giáo dục có thể cải hoá tất cả, trừ những người quá thông thái và những kẻ quá ngu đần” [72, 76] Nho gia chủ trương “hữu giáo vô loại” [72, 76] Phải giáo dục mọi đối tượng trong xã hội không phân biệt sang hèn, quí tiện Khổng Tử không coi giáo dục chỉ mở mang trí thức, giải thích vũ trụ mà chú trọng việc hình thành nhân cách đầy đủ, lấy giáo dục mở mang cả trí, nhân, cốt dạy người
Mục đích của giáo dục: học để ứng dụng có ích với đời, với xã hội, chứ không phải để làm quan sang, bổng hậu Học để hoàn thiện nhân cách và để tìm tòi điều lý
Phương pháp giáo dục: mục đích tối cao của giáo dục trong việc cải tạo nhân tính là tu sửa đạo đức làm người và làm sáng tỏ đức sáng Khổng Tử coi trọng giáo dục theo lịch trình đúng với điều kiện tâm sinh lý nhằm nuôi dưỡng tình cảm nảy nở, rồi đưa vào khuôn phép và điều hoà sự xung đột ở tâm Khổng Tử rất coi trọng mối quan hệ giữa các khâu của giáo dục “ học” gắn liền với “tư”, với “tập”, với “hành”
“Học” là bắt chước y chang theo người khác nhưng Khổng Tử cùng các đồ đệ không coi thường học với nghĩa bắt chước Ôâng không coi học là sự bắt chước giản đơn vì học là” do mình”, “cầu ở mình” chứ không phải học” do người” “cầu ở người”, tức là phải có ý chí, công phu, cố gắng của mình trong tư duy, trong biện luận, trong thể nghiệm
Phương pháp giáo dục của Nho gia thể hiện qua một số nguyên tắc đòi hỏi cả thầy và trò phải thực hiện:
Nguyên tắc làm gương: thầy phải làm gương soi để trò học tự mình
Trang 20nhìn lại mình Trong luận ngữ đã phản ánh đầy đủ nguyên tắc này của Nho gia và cho rằng “nếu nhà cầm quyền giữ được thanh liêm thì ở dưới dân chúng sẽ được cảm hoá mà ở trên trong sạch; nếu nhà cầm quyền không có lòng tham dục thì dẫu có thưởng dân cũng không có nghĩ đến chuyện trộm cắp” [72, 78]
Nguyên tắc tuỳ nghi thiết giáo: tuỳ từng hoàn cảnh, từng đối tượng
mà thực hiện giáo dục Nho gia đòi hỏi phải hiểu tâm lý, tình cảm, trình độ, khuynh hướng của mỗi người để trên cơ sở đó xác định nội dung giáo dục
Nguyên tắc định hướng: Nho gia quan niệm giáo dục không phải là
dạy dỗ đến tận cùng của vấn đề mà phải làm sao dạy ít, người học hiểu biết nhiều Tức là chỉ định hướng để người học phát huy được năng lực nội tại của mình Sách Lễ Ký viết: “dạy dỗ người chỉ thúc đẩy chứ không bức bách, chỉ mở lối soi đường chứ không dẫn dắt đến kỳ cùng” [72, 80] Chính sách giáo dục của Khổng Tử: “thúc đẩy mà không bức bách” làm cho người học thoải mái, “mở lối soi đường chứ không dẫn dắt đến kỳ cùng” làm cho người học tìm được cái trí của mình
Nguyên tắc thống nhất giữa học và hành:
Vì vậy ông quan niệm: học mà không tư thì vu vơ, tư mà không học thì càn quấy Nho gia coi đức nhân là đỉnh cao chót vót của lâu đài đạo đức con người, nhân với thánh gần như một Nho gia rất quan tâm đến việc áp dụng kiến thức sách vở vào cuộc sống đời thường của mỗi người, không nên quan tâm đến những vấn đề phi thực tế và học là công việc trọn đời của mỗi con người không được lúc nào ngưng nghỉ Nho
Trang 21gia cũng khuyên con người nên “ôn cổ tri tân”
Quan niệm của Đạo gia
Lão Tư û(604 -531 tr CN), ông không thừa nhận cái đẹp tồn tại
khách quan và cái đẹp thể hiện dưới hình thức “mỹ” và “thiện” là một trong những biểu hiện xuất phát từ bản chất bên trong của thế giới, từ nguyên lý sáng tạo vô hình của thế giới xuất phát từ đạo Nhưng cái đẹp lại thuộc về thế giới của “những hình thái hữu hạn” và nhân thức được bằng cảm tính Sự huyền bí của đạo là tuyệt diệu, tuyệt mỹ nhưng không có tên, không thể diễn đạt được, chỉ khi những ai “ thoát khỏi sự say đắm” mới có thể nhận thức được nó Tiêu chuẩn của cái đẹp là sự giản dị và nó tồn tại song song với cái xấu, cái thiện tồn tại cùng với cái ác, chúng chuyển biến cho nhau, thống nhất nhau và có tính bất định Lão tử kêu gọi: “hãy thoả mãn với những gì mà thiên nhiên giành cho con người, hãy hạn chế những ham muốn riêng tư và tự giải thoát khỏi những đắm đuối” [69, 65] bằng sự tự bằng lòng với những gì mình đang có
Trang Tử (369 - 286 tr CN), ông là người kế tục và phát triển
những quan điểm mỹ học của Lão Tử Ông cũng coi cái đẹp là biểu hiện của Đạo, thiên nhiên là nguyên lý vĩ đại, vô tận của tất cả các hình tượng, là ngọn nguồn của cái đẹp để con người nhận thức Con người cũng là một phần tử của tự nhiên nên bản chất con người cũng có cái đẹp Trang Tử phủ nhận tính chân lý của cái đẹp và phủ nhận cả nhận thức của con người bằng cảm xúc đối với thế giới bao quanh mình Ông cho rằng: “khoái lạc cao nhất không phải ở trong cuộc sống và ở
Trang 22trong sự thỏa thích cảm tính, chỉ có ở trong vô vi, trong thái độ, bằng mọi thích thú thuộc về cơ thể Con người càng gần với tự nhiên bao nhiêu, càng ít gắn bó với xã hội và càng hạnh phúc bấy nhiêu” [69, 67]
Như vậy, tư tưởng mỹ học của Nho gia và Đạo gia đều xác lập được những nhận định về vai trò cơ bản của tự nhiên, của thế giới khách quan trong nhận thức về vẻ đẹp bề ngoài của hình thức “mỹ” là vẻ đẹp đạo đức trong nội dung “thiện” của con người, về sự tác động của nghệ thuật đối với đời sống xã hội, về lý tưởng thẩm mỹ trong sáng tác nghệ thuật
Quan điểm giáo dục của Đạo gia cũng để lại cho hậu thế nhiều trăn trở như “bất học vô ưu” nhưng Đạo gia cũng xác định được vai trò của quá trình tự tu, tự học, nếu hiểu được giáo dục của Đạo gia là “tâm học” thì phương pháp định hướng cũng ít nhiều đáng để người đời sau lưu ý
Tư tưởng mỹ học Trung Quốc cổ đại đề cao sự hoà đồng giữa con người với con người, với tự nhiên, thấm đượm thế giới quan nhân sinh làm nên những đặc điểm riêng biệt của quá trình nhận thức về chân - thiện - mỹ
Quan niệm của một số nhà mỹ học phương Tây
Platôn (427-347 tr CN), tư tưởng mỹ học của ông được thể hiện qua một số tác phẩm: Nhà nước lý tưởng, Phedre, Ion, Yến tiệc, Grandhippas và qua hình thức đối thoại, Platôn cho rằng: cái đẹp là một
ý niệm được “thâm nhập” vào các hiện tượng cụ thể mà trở thành vật đẹp Nó tồn tại độc lập, chi phối mọi sự vật hiện tượng cụ thể
Trang 23Nghệ thuật là cái bắt chước tự nhiên - cái không bản chất Bắt chước cái bóng của ý niệm nên chỉ nắm được cái ảo ảnh chứ không nắm được chân lý Hình tượng không phải là cái bao trùm của nghệ thuật Sáng tạo nghệ thuật chủ yếu là dựa vào linh cảm, là một loại thần lực do thần nhập tạo ra Song Platôn không phủ nhận tác dụng của nghệ thuật đối với cuộc sống con người Tác dụng to lớn của giáo dục bằng nghệ thuật trong việc hình thành tính cách công dân được thể hiện ở mỗi công dân trước hết phải biết tiếp thu âm nhạc, cần có chế độ kiểm tra nghệ thuật trước khi học quân sự, học triết học, thể dục, khoa học
“Nghệ thuật phải phù hợp với cương lĩnh đạo đức và chính trị của nhà nước lý tưởng” [25, 11] Nghệ thuật có hại: “là đả kích thần thánh, khêu gợi tình dục kích động quá nhiều cá tính xấu trong mỗi con người” [25, 11] Nghệ thuật kích động tình dục là nghệ thuật xấu, nó chỉ phục vụ cho thứ dân, phản lại lý trí và ý chí, làm xúc động thái quá chống lại những người thống trị làm cho người thống trị không thống trị được kẻ
bị trị là vô chính trị
Arixtốt (384 - 322 tr CN), ông coi cái đẹp là một thực thể vật chất bao gồm: trật tự, tỷ lệ, kích thước và sự cảm nhận Arixtốt có quan niệm về cái đẹp khác hẳn với Platôn ở chỗ: ông thừa nhận một hiện tượng đẹp phải thống nhất giữa hình thức và vật chất tạo ra cảm quan của con người, phải có tầm cỡ nhất định, vì cái đẹp lệ thuộc vào tầm cỡ và trật tự Do đó, một sinh vật rất nhỏ không thể đẹp được vì nhìn nó bị lẫn lộn không thể biết được; một sự vật quá cỡ cũng không thể đẹp được, vì mắt không thể nhìn thấy hình dạng của nó ngay một lúc Vì vậy, sự hợp
Trang 24nhất cảm giác về tổng thể của nó bị mất đi ngoài quan sát Cái đẹp chỉ có thể xác lập tính khách quan trong mối quan hệ với sự cảm thụ của con người Nghệ thuật là sản phẩm của con người tái hiện và khi nó bắt chước đời sống thì đồng thời nó cung cấp cho con người bức tranh chân dung chân thật về hiện thực và mang đến cho con người những thỏa mãn về nhu cầu thẩm mỹ Mỗi loại nghệ thuật khi cảm thụ mang lại
“cách thụ cảm thẩm mỹ khác nhau cho con người” [25, 15] Mỗi loại hình nghệ thuật cùng có mục đích là nhằm khẳng định hay phủ định cái
gì Nghệ thuật đem lại khoái cảm: từ cốt truyện -> hành động -> sự thanh lọc xúc cảm Do đó nghệ thuật có vai trò xã hội trong việc giáo dục đạo đức thẩm mỹ cho các công dân
Bi kịch tạo ra sự đồng cảm, đồng khổ thông qua sự khủng khiếp và xót thương mà giáo dục con người Khi bi kịch thoả mãn về cái đẹp (Kallos) và cái thiện (Agatos) thì đồng thời do sợ hãi và thương xót mà con người trở nên trong sạch về đạo đức
Cantơ (1724 - 1804), ông là nhà mỹ học duy tâm chủ quan vĩ đại và đại biểu lỗi lạc của mỹ học cái tôi, không thừa nhận tính khách quan của cái đẹp Mọi vẻ đẹp theo Cantơ là sự đánh giá chủ quan của con
người Trong tác phẩm Phê phán năng lực phán đoán, Cantơ viết:
“không có khoa học về cái đẹp, chỉ có sự phán đoán về cái đẹp mà thôi” [25, 21].ø Như vậy, cũng không có khoa học về nghệ thuật mà chỉ có sự phán đoán về nghệ thuật mà thôi Ông tuyệt đối hoá tính chủ quan trong cảm nhận cái đẹp Từ đó, ông đã hình thành tư tưởng: vẻ đẹp không tồn tại trên đôi má hồng của người thiếu nữ mà chỉ có trong đáy
Trang 25mắt của kẻ si tình Cantơ đã đối lập gay gắt giữa chân lý đời sống và chân lý nghệ thuật Ông đòi hỏi nghệ thuật cũng như mọi tư tưởng thẩm mỹ phải vô tư, không vụ lơị Từ quan điểm này, Cantơ đã hướng tới sáng tạo nghệ thuật không có đối tượng nên khoái cảm thẩm mỹ không đối tượng, vô tư, tự do, không mục đích, không vụ lợi Đây là cơ sở tư tưởng mỹ học cho trường phái nghệ thuật vị nghệ thuật trong đời sống nghệ thuật phương Tây suốt cả thế kỷ XIX
Hêghen (1770 - 1831), ông quan niệm tinh thần con người nếu chỉ nhận biết đối tượng bằng nhìn, nghe, thấy là chưa đủ mà con người còn sử dụng cả đời sống bên ngoài qua những mối liên hệ bên ngoài với các sự vật hiện tượng
Con người là một thực thể có ý thức và có tư duy nên biết biến đổi những cái đang có thành cái cho nó, cho dù nó tồn tại bằng hình thức nào Con người tồn tại với tư cách là một sự vật của tự nhiên và tồn tại cho chính nó Còn sự vật của tự nhiên chỉ tồn tại một cách trực tiếp và theo cách duy nhất Con người tự ý thức về bản thân mình bằng hai cách: con người luôn luôn hướng về bản thân mình để có ý thức về tất cả những sự vận động, những uẩn khúc, những thiên hướng của trái tim mình Bằng hoạt động thực tiễn con người tự tạo ra chính mình vì con người bị thúc đẩy đến khi phải tự tìm thấy mình và tự nhận biết mình qua những gì mình tiếp nhận được từ bên ngoài Hoạt động thực tiễn của mỗi con người làm thay đổi các sự vật hiện tượng bên ngoài rồi đặt dấu ấn tinh thần lên đó và ở đó con người tìm những sự xác định riêng cho mình Thông qua thực tiễn, con người có sự tự do và hành động để tước
Trang 26bỏ cái hoàn toàn xa lạ với thế giới bên ngoài đồng thời tìm cho mình ở đó một hiện thực riêng cho chính con người Chỉ ở con người văn minh thì tất cả các ứng xử bên ngoài mới thuộc về văn hoá tinh thần Vì thế, đối với con người: nhu cầu nghệ thuật là hợp lý thúc đẩy con người tới chỗ có ý thức về thế giới bên trong và bên ngoài, từ đó biến nó thành đối tượng để nhận ra chính mình Con người vừa tự thoả mãn nhu cầu bằng cách làm cho cái đang tồn tại bên ngoài trở thành một thực thể của nó, đồng thời lại biểu hiện ra cái bên ngoài cho nó và đặt cái đang tồn tại bên ngoài vào tầm nhìn và tầm nhận thức của người khác và của chính mình Đó là nền tảng của tự do hợp lý của con người Cái đẹp trong nghệ thuật là sự phát triển biện chứng của cái chung và cái riêng, giữa nội dung và hình thức, giữa cá tính và hoàn cảnh Cái đẹp được thể hiện bằng hình tượng nghệ thuật và hình tượng nghệ thuật cũng phải tự sản sinh ra từ trong các hình tượng thông qua các hoạt động lao động của con người Sự tự ý thức sẽ được “ràng buộc với những quan hệ thực tiễn” [4, 20] với thế giới bên ngoài Hoạt động và tình huống là tập hợp những hoàn cảnh mà tính cách nhân vật, tinh thần con người được thể hiện ra tình huống ở bên ngoài cá nhân, nhưng sau đó nó nhập vào nội tâm kết hợp với tình cảm và biến thành khát vọng cá nhân (pathos), là cái sống trong lồng ngực con người và lay động tâm hồn con người ở nơi sâu thẳm nhất Khát vọng là sự chuyển hoá của tình huống thành động
cơ bên trong thúc đẩy con người hành động Sức mạnh đó là những quan hệ vĩnh viễn mang tính chất tôn giáo, đạo đức làm thành những động lực lớn của nghệ thuật như gia đình, tình bạn, Tổ quốc, Nhà nước, nhà thờ,
Trang 27vinh quang giai cấp, xã hội, phẩm giá Và chỉ khi sức mạnh mang tính bản chất ở chính mình là tích cực thì mới làm nên nội dung chân thực của một hành động lý tưởng Nghệ thuật phải mang tính khát vọng của cá nhân và khát vọng phải làm lay động được tiếng đồng vọng của mỗi cá nhân
Nghệ thuật có mục đích thức tỉnh mọi tình cảm, nguyện vọng và mọi dục vọng có thể có đang ngủ trong mỗi con người, làm cho con tim của họ thức tỉnh Chính nghệ thuật làm cho từng cá nhân con người cho dù được giáo dưỡng hay chưa được giáo dưỡng cảm thấy được trước tất cả những gì mà tâm hồn con người có thể chứa đựng Nó tạo nên ở miền sâu thẳm, huyền bí nhất của mỗi con người tất cả những gì làm cho tim của họ xúc cảm sâu sắc và bộc lộ các khả năng bằng các phương tiện đa dạng Nó phải đem đến cho đối tượng cảm thụ những tình cảm và sự chiêm ngưỡng sự thưởng thức mang tính chất huy hoàng của cái chân thực, cái cao thượng và cái vĩnh viễn mà tinh thần có được Nghệ thuật có nhiệm vụ làm cho người ta nhận thức được cái bất hạnh và tai họa, cái ác và tội lỗi, biết được mọi điều kinh khủng và cái xấu xa, mọi khoái cảm và hạnh phúc Hình tượng nghệ thuật có sức mạnh đặc thù là: nó thức tỉnh mọi tình cảm, làm cho tâm hồn mỗi con người tràn ngập những nội dung khác nhau của cuộc sống như gợi lên trong tâm hồn mỗi con người những tình cảm đẹp cũng như xấu xa Nghệ thuật cũng làm giảm bớt tính thô bạo và tính buông thả của tính dục Nó giải phóng con người khỏi sức mạnh của yếu tố cảm quan, khỏi sự lệ thuộc vào tự nhiên, nâng con người cao hơn chính mình Nghệ thuật không chỉ bồi
Trang 28dưỡng sự chú ý tới hình tượng nghệ thuật được biểu hiện mà còn hướng người ta chú ý đến cả ý nghĩa của hình tượng đó
Ngoài ra, nghệ thuật còn làm cho các dục vọng của con người được trong sáng, giáo dục và bồi dưỡng đạo đức vì về mặt hình thức, nó có nhiệm vụ kiềm chế tính chất thô bạo, đem đến cho dục vọng con người tính chất văn hoá Tiêu chuẩn và mục đích cao nhất của nghệ thuật là giáo dục con người, phải có sức mạnh “gạn đục khơi trong” Nó bồi dưỡng cho con người vươn tới cái hoàn mỹ, sửa chữa về đạo đức Nghệ thuật khi đạt đến cái thiện chân chính về mặt đạo đức thì nó giáo dục chúng ta biết “gạn đục khơi trong” các dục vọng làm cho con người tốt hơn, nên không bao giờ nghệ thuật cổ vũ tính vô đạo đức
1.1.2 Quan niệm của mỹ học mácxít về giáo dục thẩm mỹ
Bản chất của giáo dục thẩm mỹ
Giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận hữu cơ của giáo dục xã hội, là
quá trình tác động có định hướng, có kế hoạch và có ý thức của con người, nhằm hình thành và phát triển trong họ các năng lực nhận thức, cảm thụ và sáng tạo các giá trị nghệ thuật Cho dù có mang tính trường qui hay tự giáo dục thì thực chất giáo dục thẩm mỹ bao giờ cũng nhằm mục đích hình thành một chủ thể sáng tạo và biết thụ cảm, biết đánh giá mọi mặt của cuộc sống theo qui luật của cái đẹp Do vậy, bản chất của giáo dục thẩm mỹ không bao giờ tách rời tính dân tộc, tính giai cấp và nội dung thời đại nhằm tạo ra các chủ thể thẩm mỹ hưởng thụ, sáng tạo, biết đánh giá cái đẹp trên cơ sở quan niệm thẩm mỹ của dân tộc, của giai cấp
Trang 29Giáo dục thẩm mỹ không thể thiếu trong sự nghiệp giáo dục chung, nó gắn chặt với giáo dục thái độ đúng đắn đối với lao động, giáo dục lòng yêu nước và chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa quốc tế, chủ nghĩa nhân đạo, về sự hài hòa giữa cá nhân và xã hội, giữa cái truyền thống và cái hiện đại Đây là một quá trình lâu dài, trong đó cốt lõi là hình thành thẩm mỹ ở mỗi cá nhân Nếu giáo dục thẩm mỹ không gắn chặt nội dung tính giai cấp, tính dân tộc, tính thời đại sẽ đánh mất bản chất xã hội trong quá trình giáo dục thẩm mỹ Chính những tri thức thẩm mỹ giúp con người phân biệt được cái đẹp và cái xấu, cái cao cả và cái thấp hèn, cái nhỏ nhen, cái nghệ thuật và cái phi nghệ thuật, cái hấp dẫn và cái không hấp dẫn
Giáo dục thẩm mỹ phải là một quá trình giáo dục vừa mang tính tính hệ thống, tính toàn diện, tính kế thừa, tính hiện đại vì nó vừa cung cấp tri thức thẩm mỹ, vừa kích thích sự phát triển các xúc cảm và xúc cảm thẩm mỹ Người được giáo dục thẩm mỹ thường phát triển những xúc cảm lành mạnh một cách tự giác theo các quan hệ thẩm mỹ đang vận động trong xã hội hiện thời Quá trình bồi dưỡng những xúc cảm thẩm mỹ phải gắn liền tình cảm với lý trí, xúc cảm với lẽ sống, tâm hồn với lý tưởng và phải gắn liền với hoạt động sáng tạo Nó kích thích con người tích cực vươn tới cái mới Do đó, chúng ta phải nhận thức rõ sự khác nhau về bản chất của giáo dục thẩm mỹ với các phương tiện giáo dục khác Chủ thể thẩm mỹ là chủ thể xã hội, song vì chúng là chủ thể thưởng ngoạn thông qua đôi mắt và đôi tai nên chủ thể ấy gắn với sinh học người Mỗi chủ thể thẩm mỹ phải được giáo dục nhìn bằng mắt,
Trang 30nghe bằng tai Do vậy, bản chất giáo dục cũng liên quan tới những yếu tố bẩm sinh Vì các giá trị nhân bản giáo dục thẩm mỹ Mác - Lênin luôn phải tìm tòi các phương tiện nhằm khắc phục những nhược điểm sinh học để đưa đến mục đích chung là mọi người được phát triển hài hoà và toàn diện, hướng tới tự do cá nhân trong sự tự do của cộng đồng
Giáo dục thẩm mỹ phải gắn liền với hình tượng nghệ thuật
Giáo dục thẩm mỹ thực sự đóng vai trò chính trong quá trình hình thành nhân cách con người và phải xây dựng và hình thành cho chủ thể thẩm mỹ khả năng hưởng thụ, đánh giá, sáng tạo thẩm mỹ Con người sáng tạo ra các hình tượng nghệ thuật để thể hiện thị hiếu, lý tưởng, kinh nghiệm văn hoá thẩm mỹ của loài người Giáo dục thẩm mỹ thông qua các hình tượng nghệ thuật làm cho con người hiểu biết nhiều hơn về cuộc sống thẩm mỹ của từng giai đoạn lịch sử xã hội Từ đó sẽ nâng cao năng lực lựa chọn thẩm mỹ của từng con người Sức mạnh của hình tượng nghệ thuật là giáo dục con người tự nâng cao tình cảm, khoái cảm, niềm vui, tình yêu, hy vọng tương lai đồng thời nó chuẩn bị cho con người bước kế tiếp hoạt động đúng đắn Có được như vậy là nhờ nghệ thuật sáng tạo theo qui luật của tình cảm Thực tế cuộc sống đã chứng minh: nghệ thuật càng tham gia sâu rộng vào mọi lĩnh vực của xã hội bao nhiêu thì môi trường sống của con người càng phát triển phong phú đa dạng, hài hoà bấy nhiêu Tuy nhiên quá trình giáo dục thẩm mỹ phải chú ý đến tác dụng của các yếu tố sinh học đối với sự nhận thức của chủ thể thẩm mỹ như biết thưởng ngoạn bằng mắt, nghe bằng tai đồng thời cũng phải chú ý đến những yếu tố bẩm sinh của những người
Trang 31khuyết tật Giáo dục thẩm mỹ bằng hình tượng nghệ thuật nhằm tác động vào mỹ cảm con người, tạo nên những mối liên hệ rung động trong hoạt động tinh thần của cá nhân Những xúc cảm được hình thành do tác động từ hình tượng nghệ thuật có tính chất xã hội sâu sắc, do đó nó có tính tư tưởng và tính định hướng Vì khi thưởng ngoạn các hình tượng nghệ thuật, người cảm thụ sẽ hình thành những rung động khoái cảm, những tình cảm lành mạnh trong tâm hồn của mình, xóa bỏ được nỗi buồn và hình dung được tương lai, vươn tới tự do
Hình tượng nghệ thuật là sản phẩm của sáng tạo, nó kết tụ những kỷ niệm máu thịt của cuộc đời, chứa đựng sức sống, tiềm ẩn năng lượng của mỗi con người Vì vậy, nó có khả năng thức tỉnh tâm hồn con người rất mạnh mẽ theo nguyên tắc gợi mở và lan toả đến tận vùng cảm xúc tinh tế và sâu kín nhất của tâm hồn con người, nên có khi con người miên man, chợt lay động, có khi bừng tỉnh Hình tượng nghệ thuật vừa thể hiện quan hệ đạo đức vừa phê phán cách thức ứng xử giúp người cảm thụ tự rút ra các nguyên tắc và thái độ đạo đức để điều chỉnh hành
vi của mình Từ các hình tượng nghệ thuật giáo dục tình cảm đạo đức trong sáng để nhận thức rõ tình yêu, vinh dự, nghĩa vụ, trách nhiệm ở từng cá nhân, tạo nên một sức mạnh đạo đức xã hội và xóa bỏ đi những phong tục, tập quán đã lạc hậu, xác lập những chuẩn mực đạo đức xã hội mới Nghệ thuật có sức mạnh hư cấu to lớn nên nó có khả năng giáo dục năng lực tưởng tượng của con người
Trang 32
1.2 MỤC TIÊU VÀ CÁC HÌNH THỨC GIÁO DỤC THẨM MỸ CƠ BẢN
1.2.1 Quan điểm mácxít về mục tiêu giáo dục thẩm mỹ
Nhiệm vụ quan trọng của giáo dục thẩm mỹ là phải hình thành
các nhu cầu và thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh cho con người Đó là cơ sở để con người tiến sâu vào các quan hệ thẩm mỹ khác Mỗi chủ thể thẩm mỹ hoạt động bao giờ cũng gắn chặt lý tưởng thẩm mỹ cá nhân với lý tưởng thẩm mỹ của xã hội mà họ đang sống Giáo dục thẩm mỹ nhằm phát triển toàn diện mọi mặt của đời sống xã hội và con người Tức là phải tạo ra những cá nhân phát triển hài hòa, toàn diện cả thể chất và tinh thần, cả đạo đức lẫn tài năng, làm cho từng cá nhân trở thành sản phẩm của lịch sử đồng thời là chủ thể của lịch sử
Quá trình giáo dục thẩm mỹ nhằm hướng con người tới xây dựng một nền văn hoá thẩm mỹ, nâng cao đời sống tinh thần cho toàn xã hội, từng cá nhân phải tự thẩm mỹ hóa thế giới khách quan và thế giới chủ quan bên trong của chính mình Giáo dục thẩm mỹ gắn liền với giáo dục lao động, giáo dục chính trị Song theo quan điểm mácxít, giáo dục trí tuệ không tách rời giáo dục thẩm mỹ cũng như giáo dục đạo đức có liên hệ bản chất với giáo dục thẩm mỹ Do đó, giáo dục thẩm mỹ đồng tham gia làm hoàn thiện các lĩnh vực giáo dục khác, làm cho nhu cầu sáng tạo cái đẹp trở thành qui luật và nhu cầu không thể thiếu được trong cuộc sống, hoạt động của mỗi con người cũng như cả xã hội loài người Từ đó, sẽ cung cấp lượng tri thức văn hoá thẩm mỹ, tạo cho con người cái nhìn tổng quát, sinh động, phong phú và mềm mại hóa cách nhìn,
Trang 33cách tư duy, cách hoạt động của con người nhằm nâng cao năng lực thẩm mỹ ở mỗi cá nhân Trong đóù, việc bồi dưỡng các cảm xúc thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ, tạo cho con người một kiến thức thẩm mỹ giúp con người tránh được những hoạt động tự phát, tiến tới hoạt động tự giác trong thưởng thức đánh giá và sáng tạo ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Mỗi con người phải có hoài bão hoàn thiện cuộc sống, biết góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh Giáo dục thẩm mỹ không chỉ dừng ở mức độ như đã nêu trên là đủ mà chủ yếu là xây dựng cho mỗi con người một hệ thống tình cảm thẩm mỹ, tiến tới bồi dưỡng khả năng sáng tạo cho mỗi cá nhân Vì chỉ có sáng tạo con người mới có thể vượt qua sự lười biếng, thoát khỏi những đường mòn trí tuệ, sự yên phận Thực tế đã chứng minh: càng sáng tạo con người càng hoàn thiện và tự khẳng định vai trò của mình Giáo dục thẩm mỹ phải hướng dẫn các khả năng sáng tạo hợp qui luật phát triển của đời sống và đúng các qui luật của cái đẹp, phải nhằm vào mục tiêu
cơ bản là xây dựng những con người phát triển toàn diện, sự bắt đầu của giáo dục thẩm mỹ là xây dựng tình cảm thẩm mỹ cho con người
1.2.2 Quan điểm của Đảng Cọâng sản Việt Nam về mục tiêu giáo dục thẩm mỹ
Đảng ta hiểu rõ tầm quan trọng của con người nên thường xuyên quan tâm đến sự phát triển, xây dựng con người Con người bao giờ cũng là vấn đề trung tâm và là mục tiêu quan trọng của mỗi nền giáo dục Con người là chủ thể năng động của quan hệ sản xuất, là bộ phận chủ yếu của lực lượng sản xuất nên nó có thể thúc đẩy hoặc kềm hãm
Trang 34sự phát triển của xã hội
Muốn xây dựng con người mới có tư tưởng đúng đắn, tình cảm cao đẹp, nhiệm vụ trước tiên của chúng ta là phải giáo dục cách hưởng thụ thẩm mỹ trong lao động, bồi dưỡng các khả năng thẩm mỹ hoá môi trường là những công việc thiết thực để có thể tạo ra cho xã hội một lực lượng sản xuất mới Đảng ta đã xác định đúng đắn tính tất yếu, khách quan quan trọng hàng đầu xuyên suốt của sự nghiệp giáo dục thẩm mỹ trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là
“xây dựng và hình thành cái đẹp cho mỗi cá nhân con người” [15, 15]
Sự nghiệp phát triển con người nhằm đáp ứng các mục tiêu gần và mục tiêu xa của chủ nghĩa xã hội và mở rộng ước mơ, thôi thúc lý tưởng, xây dựng nhu cầu và thị hiếu, phát triển tài năng cho từng cá nhân trong xã hội Vì vậy, trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế
- xã hội đến năm 2000 Đảng ta xác định phương hướng giáo dục thẩm mỹ: “Dùng nhiều hình thức giáo dục sinh động để giáo dục lý tưởng, trau dồi đạo đức, bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn và thẩm mỹ, nâng cao trình độ hiểu biết và hưởng thụ văn hoá nghệ thuật của nhân dân, ngăn chặn các văn hoá phẩm và hoạt động nghệ thuật gây độc hại” [16, 37]
Tính nhân văn của giáo dục thẩm mỹ là tạo cho con người tình cảm thẩm mỹ đúng đắn Đặc biệt, trong thời đại ngày nay cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển như vũ bão, con người có khả năng trở thành những nạn nhân của kỹ thụât và nô lệ của hệ thống điều khiển Do vậy, giáo dục thẩm mỹ phải hướng tới sự phát triển sâu sắc của tư duy, giúp con người tiến sâu hơn vào bí mật của tự nhiên, khám
Trang 35phá các qui luật của xã hội và phải tự giác hoàn thiện bản thân nhằm góp phần tích cực vào quá trình xoá bỏ sự tha hoá con người để con người sống tràn đầy niềm tin và hạnh phúc
Thời kỳ quá độ đang diễn ra sự đấu tranh đan xen giữa các hệ thống qui luật cũ và cái mới, cái xấu và cáí đẹp, cái lạc hậu với cái tiến bộ, nó diễn ra hết sức phức tạp buộc giáo dục thẩm mỹ phải giải quyết Thực trạng hiện nay, tiêu cực của xã hội diễn ra đa dạng và phức tạp do tác động rất mạnh của cơ chế thị trường, do điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật của chúng ta còn thiếu, kém, trình độ học vấn của người dân, trình độ khoa học kỹ thuật của người lao động còn thấp Song song với trình độ thấp là tàn dư của chế độ cũ như hệ tư tưởng phong kiến, tư sản vẫn còn tác động, ảnh hưởng nếp sống, tư tưởng, tình cảm hàng ngày, hàng giờ trong đời sống xã hội Một phần nhỏ thanh niên hiện nay đang rơi vào lối sống sa đọa, thấp hèn, thiếu văn minh làm ảnh hưởng đến tiến trình phát triển lịch sử mới Vì vậy, Đảng ta khẳng định: “phải giáo dục tình cảm thẩm mỹ cho nhân dân lao động và các tầng lớp xã hội khác Tình cảm thẩm mỹ là sức sống là niềm vui, là hạnh phúc của con người, của từng gia đình, của toàn xã hội” [16, 37] Do đó, tình cảm thẩm mỹ phải là mục tiêu cần được giáo dục thường xuyên ở mọi đối tượng, mọi lứa tuổi trong quá trình xây dựng con người mới ở nước ta hiện nay
Tình cảm thẩm mỹ của con người chính là sự phản ứng tình cảm trước cái đẹp, cái bi, cái hài, cái cao cả, cái thấp hèn, cái hài hoà, cái hùng ở những giới hạn khác nhau đối với hiện thực xã hội Nếu tình cảm
Trang 36tốt, lành mạnh giúp con người vượt qua những khó khăn, không bị tình cảm uỷ mị cám giỗ, không bị những lối sống thấp hèn kích động, biết lấy cái thiện để chiến thắng cái ác Đảng ta cũng nêu cao quan điểm giáo dục thẩm mỹ phải gắn liền với giáo dục đạo đức và phải tôn trọng các thành tố, các sắc thái thẩm mỹ khác nhau của mỗi cá nhân, quan tâm đến vấn đề giáo dục thị hiếu lành mạnh cho toàn dân đặc biệt là giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho thế hệ trẻ
Ở bậc Trung học phổ thông, đại học, thầy cô giáo trang bị, bồi dưỡng cho các em những tri thức khoa học, những tình cảm cao quí phù
hợp với lứa tuổi để các em chuẩn bị bước vào đời phục vụ Tổ quốc
Muốn con người có tình cảm thẩm mỹ, trước hết phải giáo dục các nhu cầu lành mạnh về cái đẹp Nhà trường phải xây dựng thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh để học sinh có khả năng phát hiện nhanh, nhạy những cái đẹp, những cái mới, cái xấu, cái bi, cái hài, cái cao cả
Chúng ta xây dựng được thị hiếu thẩm mỹ tốt sẽ giúp học sinh xoá bỏ được cái thấp hèn, cải tạo cái xấu, chiếm lĩnh cái cao cả của cái đẹp Nếu thiếu quan tâm đến giáo dục thị hiếu thẩm mỹ chúng ta không thể nào thành công trong chiến lược xây dựng con người mới Đồng hành với quá trình xây dựng thị hiếu thẩm mỹ tốt là quá trình tấn công các thị hiếu lạc hậu, bảo thủ, thiếu văn minh, mất văn hoá, thị hiếu thực dụng, hưởng thụ thấp hèn
Trong cơ chế thị trường hiện nay đang diễn ra cuộc đấu tranh hết sức phức tạp giữa cái đẹp và cái xấu, đấu tranh loại bỏ thị hiếu lạc hậu, hình thành thị hiếu tốt là việc làm hết sức khó khăn, gian khổ, lâu dài,
Trang 37phức tạp, đòi hỏi phải có sức mạnh vật chất thì mới có thể phá tan được tính bền vững của thị hiếu lạc hậu, lành mạnh hoá toàn bộ đạo đức, tâm lý và môi trường văn hoá Chúng ta phải hướng việc phát huy những khả năng sáng tạo của học sinh thông qua các giác quan để tạo tình cảm lành mạnh và tư duy sâu sắc: vì tình cảm vừa mang dấu ấn của hiện thực, vừa được thăng hoa qua hiện thực Phải tạo cho học sinh nhu cầu sáng tạo, lòng say me,â niềm vui bất tận trong lao động và các em thực sự coi lao động là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chính mình Giáo dục cái đẹp thông qua các hình tượng nghệ thuật làm cho học sinh hiểu biết hơn về cái đẹp của đời sống con người ở từng giai đoạn lịch sử xã hội một cách đa dạng và sinh động hơn Từ đó, học sinh sẽ được nâng cao năng lực lựa chọn thẩm mỹ, tình cảm, khoái cảm, niềm vui, tình yêu, hy vọng tương lai
1.2.3 Các hình thức giáo dục thẩm mỹ cơ bản
Giáo dục thẩm mỹ bằng nghệ thuật
Nghệ thuật là tụ điểm, là hạt nhân của đời sống thẩm mỹ nên khi mỗi cá nhân hiểu, nắm được bản chất và đặc trưng, quy luật của nghệ thuật, nó sẽ là điều kiện quan trọng nhằm hiểu biết cả nghệ thuật, đời sống thẩm mỹ và đời sống tinh thần để biết vận dụng văn hoá thẩm mỹ vào cuộc sống Nếu con người được hòa vào thế giới nghệ thuật, sống cùng nghệ thuật và được tham gia hoạt động sáng tạo nghệ thuật là biện pháp tốt nhất nhằm phát huy các tư chất, năng khiếu thẩm mỹ, hình thành và phát triển các tri thức thẩm mỹ, văn hoá thẩm mỹ để trở thành chủ thể thẩm mỹ thực sự
Trang 38Bản thân nghệ thuật nói chung, tác phẩm nghệ thuật nói riêng đã cô đặc cuộc sống, thể hiện tư tưởng, khuynh hướng, lý tưởng của nhà
sáng tạo (nhà sáng tạo chân chính, tài năng bao giờ cũng là người đại
diện cho tư tưởng, lý tưởng của tập đoàn người) nói lên khát vọng cao
đẹp và tiến bộ của một tập đoàn người Tác phẩm của những nhà sáng tạo tài năng, kiệt xuất có giá trị đại diện cho khát vọng cao đẹp của một giai cấp, một thời đại Từ các tác phẩm nghệ thuật: người thưởng thức được sống với các nhân vật, với những hoàn cảnh điển hình khác nhau và sống với tất cả những tình cảm, ước mơ của những hình tượng đã được điển hình hoá bằng nghệ thuật Người thưởng thức nghệ thuật sẽ tích luỹ được kinh nghiệm đời thường bằng con đường ngắn nhất để tránh những sai lầm vừa có tính cá nhân vừa có tính xã hội là những bài học có giá trị lịch sử
Sống trong nghệ thuật là: sống với cái tốt, cái đẹp của thế giới hình tượng sống động và những biểu hiện tập trung đầy đủ thẩm mỹ của con người với thế giới khách quan Nghệ thuật có khả năng to lớn trong sự tác động tới tình cảm, tư tưởng con người, giúp con người tự xây dựng cho mình những tư tưởng đúng, tình cảm đẹp để hình thành thị hiếu thẩm mỹ trong sáng và vươn tới một cuộc sống tốt đẹp Nghệ thuật chứa đựng những nhân tố tình cảm nên nó tuyên truyền nội dung nghệ thuật bằng con đường tình cảm, bằng niềm tin để đem lại tri thức, kinh nghiệm, tư tưởng cho người được cảm thụ sự cảm hoá và thuyết phục sâu sắc
Nghệ thuật chân chính bao giờ cũng hướng con người tới sự hoàn
Trang 39thiện của cái đẹp và hướng họ tới cuộc sống cao cả Khi tiếp xúc với nghệ thuật: người thưởng thức được sống với tất cả các khía cạnh muôn màu, muôn vẻ của đời sống nhân sinh Những tín hiệu thẩm mỹ của nghệ thuật soi thấu mọi ngõ ngách của đời sống và thế giới tâm hồn con người và cả những nơi mà không một khoa học nào có thể đi tới được Nghệ thuật có ưu thế là cảm hoá con người bằng cái đẹp qua hình tượng chân - thiện - mỹ Sức mạnh của sự tác động nghệ thuật là sự hấp dẫn kỳ diệu với sự hoà hợp giữa lý trí và tình cảm bằng sự hài hoà và hoàn thiện, nên cái đẹp từ hình tượng nghệ thuật đi vào lòng người một cách tự nguyện, có hiệu quả rộng lớn và lâu bền Cái đẹp của nghệ thuật làm cho con người say mê và hoàn toàn tự nguyện đi theo định hướng gợi mở của nghệ thuật Nếu nghệ thuật là công cụ sắc bén, thì giáo dục thẩm mỹ bằng nghệ thuật giữ cho con người sử dụng công cụ đó làm cho thế giới tinh thần của mình và hoàn thiện mình một cách hiệu nghiệm
Giáo dục thẩm mỹ bằng mỹ học và các môn khoa học khác
Tri thức về khoa học thẩm mỹ, khoa học nghệ thuật của nhân loại, nội dung gần gũi và thiết thực nhất cho sự phát triển ý thức thẩm mỹ, tri thức thẩm mỹ, nâng cao trình độ và các năng lực thẩm mỹ của con người
Mỹ học và nghệ thuật học đã được nhân loại tổng kết về tri thức, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo nói chung và kinh nghiệm hoạt động sáng tạo thẩm mỹ nói riêng của con người qua các thời đại Con người sống trong thế giới tri thức, được giáo dục, có điều kiện văn hoá hoá và
Trang 40thẩm mỹ hóa bản thân một cách nhanh chóng
Mỹ học Mác - Lênin là một hệ thống lý luận thẩm mỹ - nghệ thuật phong phú, có tính chỉnh thể, vừa cung cấp tri thức thẩm mỹ, vừa là phương pháp luận cho việc nâng cao tri thức, xác định lý tưởng và thị hiếu thẩm mỹ nhằm xây dựng năng lực cảm thụ, đánh giá và sáng tạo thẩm mỹ cho chủ thể thẩm mỹ - chủ thể nghệ thuật Được sống trong môi trường tri thức và các phong cách nghệ thuật phong phú, mỗi cá nhân sẽ được bổ sung nhiều khía cạnh tinh thần, trí tuệ và kinh nghiệm sống của mình Muốn phát triển mặt thẩm mỹ của con người cần có sự hỗ trợ của nhiều bộ môn khoa học như: triết học, tâm lý học, xã hội học, đạo đức học Sự liên kết giáo dục của các bộ môn này sẽ tạo thành một sức mạnh tổng hợp thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chủ thể hoá thẩm mỹ của đối tựợng được giáo dục
Giáo dục thẩm mỹ bằng lao động - hoạt động thực tiễn
Qua lao động, nếu con người có thức rèn luyện thì môi trường lao động và các hoạt động lao động của mỗi cá nhân sẽ hình thành một cách chủ động cảm quan thẩm mỹ, tình cảm và tư duy thẩm mỹ Thông qua lao động, hình thành ở mỗi người nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu nghệ thuật và sáng tạo ra những sản phẩm có tính nghệ thuật và nghệ thuật thực sự
Thực tiễn lao động tạo ra sự sinh động của tư duy thẩm mỹ, kỹ năng thẩm mỹ, khả năng nắm bắt và thể hiện các yếu tố thẩm mỹ, các qui luật thẩm mỹ, các qui luật cái đẹp Thực tiễn lao động là thực tiễn nhận thức và đào luyện các giác quan, các cơ quan thao tác ngày càng