Đề ôn tập môn cơ sở văn hóa Việt Nam nhằm giúp sinh viên có tài liệu để ôn thi hết môn Văn hóa các dân tộc Việt Nam dành cho sinh viên đại học trên mọi trường nên sinh viên có thể tham khảo để làm bài thi cuối lỳ đạt kết quả cao khi tha khảo mẫu câu hỏi ôn tập của của tác giả khi tải lên
Trang 1CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VN LỚP VNH 2018 4 TÍN CHỈ Câu 1 : Theo anh (chị) yếu tố nào mang đặc trưng trong văn hóa của người
Việt Hãy phân đặc điểm của thiết chế dòng họ của người Việt
Trước hết cần phải phân biệt họ( tông tộc, tức một đơn vị huyết thống lớn, làtập hợp các gia đình có chung một ông tổ) với tên họ( có nhiều người mang họNguyễn, họ Lê, chỉ là sự trùng tên họ, không cùng huyết thống hay ông tổ).Trên thực tế, có nhiều trường hợp tên họ không đồng nghĩa với huyết thống, dođổi họ vì những lý do sau đây:
Một người làm con nuôi một người nào đó, hoặc người ngụ cư tại mộtlàng thường phải nhận làm con nuôi một vị chức dịch,kỳ mục có uyquyền trong làng để khỏi bị dân chính cư chèn ép và nhanh được chuyểnthành dân chính cư
Trong họ có nhiều người phạm trọng tội, người trong họ phải đổi họ đểtránh bị tru di, trả thù,
Do trùng với tên của vua, hoàng hậu, trùng với miếu hiệu của vua.Chẳng hạn, họ Hoa vì trùng tên với bà Hồ Thị Hoa( mẹ vua Thiệu Trị)phải đổi thành họ Văn;
Do vua bắt đổi
Họ của người Việt được tổ chức theo hai nguyên tắc cơ bản:
Nguyên tắc trưởng- đích: ngôi trưởng( trưởng họ, trưởng chi, hoặc contrưởng trong gia đình) và ngành đích( con của người vợ cả) mang tínhcha truyền con nối, là đại diện chính thứccuar gia đình, dòng họ trên cácphương diện Trường hợp ngành trưởng và ngành đích không có con traihoặc có nhưng không đảm đương được nhiệm vụ, ngành thứ mới đượcthay thế
Nguyên tắc cửu tộc( 9 đời): lấy một người nam giới làm “ mốc”(Êgô)thì trên đời có 4 người là Cao( tiếng Việt là Kỵ)- Tằng(Cụ)- Tổ ( Ông)-Phụ( cha) và dưới người có 4 đời: Tử (Con)-Tôn ( cháu)- Tằngtôn( Chắt)- Huyền tôn( Chút) Tất cả mọi đều được sinh ra từ cụ tổ đếnđời thứ chín đều được coi như có quan hệ thân thuộc về dòng máu, nênphải cư xử với nhau trên tinh thần “ Giọt máu đào hơn ao nước lã” Concháu trong phạm vi chín đời về nguyên tắc không được kết hôn vớinhau
Mỗi họ có hội đồng gia tộc điều hành, gốm trưởng tộc, các trưởng chi vànhững người già am hiểu, có uy tín
Họ người Việt tuy không còn là đơn vị kinh tế song sức cố kết rất lớn về tâm
Trang 2lý và tình cảm,nhờ ý thức chung về cội nguồn, được củng cố bởi mộ tổ, giaphả, nhà thờ họ, ngày giỗ tạo ra tâm lý gắn kết dòng họ Ý thức, tâm lý cố kếtnày mang nhiều ý nghĩa tích cự, giúp cho người trong họ giúp đỡ nhau khi gặpkhó khăn, hoạn nạo, có công to việc lớn, trong đó tổ chức khai hoang, pháttriển sản xuất, khuyến học, đánh giặc, cả hoạt động đánh giặc sau này Song ýthức, tâm lý cục bộ dòng họ, sự đố ký và mâu thuẫn giữa các cặp dòng họtrong làng Ngày nay, các ảnh hưởng tiêu cực này vẫn còn rất đậm nét.
Câu 2: Anh (chị) hãy phân tích đặc điểm các tộc người ở Việt Nam Theo anh
(chị) đặc điểm nào đóng vai trò quan trọng nhất ? Vì sao?
Việt Nam là một quốc gia đa tộc người có những đặc điểm nổi bật sau đây:
1 Về dân số
Đặc điểm nổi bật là các tộc người có sự chênh lệch lớn về số lượng dân cư.Chênh lệch giữa người Việt và các tộc người thiểu số; người Việt chiếm 85,7%dân số cả nước, trong khi 53 tộc thiểu số chỉ chiếm 14,3%( dân số năm 2009)Trong đó 53 dân tộc thiểu số, 6 dân tộc có dân số trên 1 triệu là người: Tày,Thái, Mường Mông, Khmer, Nùng; 11 dân tộc có dân số dưới 5 nghìn người,trong đó Ơ Đu là dân tộc có dân số thấp nhất(428 người) Địa bàn sinh sốngchủ yếu của người dân tộc thiểu số là vùng trung du và miền núi phía Bắc vàTây Nguyên
Chênh lệch giữa miền núi với đồng bằng: trong khi phần lớn các tỉnh miền núichỉ có mật độ dân số bình quân trên dưới 100 người/1 km2, thậm chí có nhữngtính chỉ vài chúc người thì ở vùng đồng bằng, cư dân tập đông đúc nhất
Chênh lệch giữa nông thôn và đô thị: không chỉ ở các tỉnh đồng bằng mà ở cáctỉnh miền núi cũng có sự chênh lệch giữa hai khu vực Dân cư tập trung đôngđúc tại các đô thị, trong đó có 18 thành phố miền núi là: Điện Biên Phủ, Sơn
La, Yên Bái, Lào Cai, Hòa Bình,
Ảnh hường của chênh lệch về dân cư
Về kinh tế-xã hội” gây khó khăn trong bố trí cơ cấu kinh tế, đào tạo và
bố trí nguồn nhân lực cho các ngành kinh tế-xã hội ở miền núi và vùngcác tộc người thiểu số, nhất là các tộc có dân số quá ít
Về văn hóa- xã hội: vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa bị “đói văn hóa”.Đối mặt với nguy cơ mai một văn hóa,vùng có nhiều tộc người sống đanxen dễ xảy ra hiện tượng văn háo của các tộc người có dân số ít bị hòavào văn hóa của nhóm đông hơn
2 Về tính chất cư trú
Đặc điểm nổi bật là các tộc người cư trú xen kẽ nhau, phân tán trên nhiều vùnglãnh thổ, hình thành các vùng dân tộc
Trang 3Trong 54 dân tộc, người Việt có địa bàn sinh sống đầu tiên và tập trung làtrung du, châu thổ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, sau chuyển đến sinh sôngs ở cáctỉnh đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ và Nam Bộ Nhìn chung, địa bàn cưtrú của người Việt là một dải “ đậm đặc” riêng biệt từ trung du, đồng bằng Bắc
Bộ, vào đến đồng bằng Trung Bộ và Nam Bộ
Trong khi đó, các tộc người thiểu số thường cư trú xen kẽ với nhiều tộc khác,không có tộc nào cư trú trên lãnh thổ riêng, trong một khu vực rộng lớn, nhưmột tỉnh hoặc rộng hơn Vì thế, có tỉnh, huyện có đến hàng chục tộc
Gắn với sự cư trú đan xen là việc hình thành các vùng tộc người, mỗi vùng cónhiều tộc sinh sống, phần lớn các vùng có 1-2 tộc có trình độ phát triển kinhtế-xã hội-văn hóa cao hơn đóng vai trò làm “ trung tâm điểm”, tức các tộc cóảnh hưởng tương đối toàn diện ở trong vùng Có thể kể ra các vùng tộc ngườilớn là:
Vùng Tây Bắc: có 25 tộc, trong đó người Thái và người Mường đóngvai trò “ trung tâm điểm”
Vùng Đông Bắc: có 15 tộc Người Tày và Nùng giữ vai trò là “ trungtâm điểm”
Miền núi Thanh- Nghệ: có 8 tộc sinh sống, trong đó người Thái vàngười Mường đóng vai trò “ trung tâm điểm”
Vùng Trường Sơn có 21 tộc, không có tộc nào giữ vai trò trung tâmđiểm, do đây là vùng bị chia cắt mạnh về địa hình, lịch sử tộc người
Vùng Tây Nguyên có 29 tộc, tộc người trung tâm điểm tùy thuộc từngtỉnh
Vùng duyên hải Trung và Nam Trung Bộ là nơi cộng cư của các tộc:Khơ-me, Chăm, Hoa và Viêt,
Trong mỗi vùng lại có các “ tiểu vùng” và nhiều tộc người cùng sinh sống xen
kẽ nhau, trong đó có một tộc người giữ vai trò “ trung tâm điểm:, tộc ngườinày có thể trùng hoặc không trùng với tộc trung tâm điểm của cả vùng
Khi xét tới vai trò "trung tâm điểm" của một tộc người tại một vùng hay tiểu
vùng là xét đến các yếu tố:
Có dân số đông hơn, nổi trội
Có trình độ phát triển kinh tế - xã hội - văn hóa cao hơn
Tiếng nói được sử dụng nhiều hơn trong giao tiếp thường ngày, thậm chí
cả trong các công sở ngoài thời gian hành chính
Lực lượng cán bộ đông hơn, nắm giữ được nhiều vị trí then chốt trong
hệ thống chính trị các cấp
Có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các tộc khác trong vùng
2 2 Ảnh hưởng của cư trú xen kẽ
Trang 4Đối với du lịch: sự đa dạng văn hóa do cư trú xen kẽ tạo điều kiện đểphát triển du lịch Tuy nhiên, cư trú xen kẽ cũng có điểm không thuận là gâykhó khăn cho một số mặt:
- Việc quản lý xã hội: do các tộc người khác nhau về lối sống, phong tụctập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, tâm lý, tính cách nên không tránh khỏi sựkhông đồng thuận, thậm chí cả xích mích giữa một bộ phận cư dân một số tộc
ở một vài địa phương;
- Đối với văn hóa, cư trú xen kẽ dễ làm mai một văn hóa của các tộcngười có số dân ít, có trình độ phát triển kinh tế- xã hội thấp sống cạnh các tộcngười có dân số đông, có trình độ phát triển kinh tế-xã hội cao hơn
3 Về địa bàn cư trú
Đặc điểm nổi bật về cư trú của các tộc người thiểu số ở nước ta là sốngtại những địa bàn có tầm quan trọng chiến lược về kinh tế, chính trị-xã hội, anninh quốc phòng và môi trường sinh thái
Trong 53 tộc người thiểu số có 3 tộc cư trú tập trung tại đồng bằng(Khơ-me, Hoa và Chăm), 50 tộc còn lại sinh sống tại vùng miền núi và trung
du, thuộc 12 tỉnh vùng cao và 9 tỉnh miền núi (1)
Ngoài ra còn có các huyện, xã vùng cao của các tỉnh miền núi cáchuyện, xã miền núi ở các tỉnh đồng bằng
Địa bàn các tộc sinh sống có vị trí quan i thiểu có trọng chiến lược trêntất cả các mặt: kinh tế, chính trị-xã hội, an ninh quốc phòng và môi trường sinhthái
- Về kinh tế:
+ Ngoài đồng bằng (nơi cư trú của các tộc: Khơ-me, Hoa, Chăm-ngoàingười Việt), vùng các tộc người thiểu số còn có rừng và biển là hai thế mạnh,hai hướng phát triển kinh tế quan trọng của Việt Nam trong tương lai
+ Vùng các tộc người thiểu số còn có các cửa khẩu để phát triển thươngmại; một số cửa khẩu đảm nhiệm chức năng ngoại giao Đó là các cửa khẩu:Móng Cái (tỉnh Quảng Ninh), Hữu Nghị, Tân Thanh (tỉnh Lạng Sơn), Lào Cai(tỉnh Lào Cai),
- Về chính trị: các tộc người thiểu số có tính thực thà, dễ tin người nên dễ bị kẻ
xấu lợi dụng, bị kẻ địch kích động chính trị Sự ổn định về chính trị-xã hội củavùng các tộc người thiểu số và miền núi, nhất là vùng biên giới có ảnh hưởnglớn đến đồng bằng, đến kinh đô (nay là thủ đô), đến cả nước Vì thế, thờiphong kiến, vùng các tộc người thiểu số và miền núi được coi là "nơi biênviễn, đất phên dậu", các triều đại phong kiến đều có các chính sách, các giảipháp để nắm và tạo ra sự ổn định chính trị cho vùng này để bảo vệ từ xa chovùng đồng bằng
Trang 5+ Thời Lý, các vua thường trao chức tước, gả con gái trong hoàng tộccho các tù trưởng miền núi, để ràng buộc họ cả về quan chức (chế độ "thổquan") và hôn nhân, thông qua họ để nắm các tộc người thiểu số.
+ Thời Trần trao chức tước, không gả công chúa (do nhà Trần thực hiện
"nội hôn dòng họ")
+ Thời Lê Sơ áp dụng biện pháp như nhà Lý và bắt đầu đặt chế độ “lưuquan” (cử quan lại người Việt ở đồng bằng lên nhậm trị), thay thế dần các thổ
+ Thời Lê-Trịnh tăng cường đặt chế độ "lưu quan", thay thế thổ quan
- Về an ninh quốc phòng (gắn chặt với vấn đề chính trị): vùng các tộc người
thiểu số sinh sống có đường biên giới đất liền, giáp với các nước láng giềng vàđường biên giới trên biển Cả trên bộ và biển đều là đường tiến công xâm lượccủa các thế lực phong kiến ngoại bang trước đây
Trong lịch sử chống ngoại xâm của cộng đồng các tộc người ở ViệtNam, vùng miền núi và các tộc người thiểu số thường là nơi đầu tiên nổ ra cáccuộc khởi nghĩa (hoặc diễn ra các trận đánh mang tính quyết chiến chiến lược(hoặc mở đầu các chiến dịch quyết chiến chiến lược
- Về môi trường sinh thái: vùng các tộc người thiểu số sinh sống đều có rừng
(rừng trên núi đất liền và rừng ven biển), giữ một vị trí quan trọng với môitrường, không chỉ với đồng bằng mà còn với chính vùng miền núi
4 Về nguồn gốc
Các tộc người có thời gian sinh tụ ở Việt Nam khác nhau
Về nguồn gốc, có thể phân các tộc người thành các nhóm sau:
- Các tộc người bản địa (tức cư trú từ xa xưa ở Việt Nam), như Việt, Mường,Tày, Chăm, hầu hết các tộc người thuộc nhóm Ngôn ngữ Môn / Khơ-me, một
bộ phận người Nùng Các tộc người thuộc Ngôn ngữ Ma Lai- Đa Đảo tuykhông có nguồn gốc bản địa, song có mặt ở Việt Nam từ thời các Vua Hùngdựng nước, nên cũng có thể coi là bản địa
- Các tộc đến Việt Nam từ trước Công nguyên (khởi đầu chủ yếu là binh línhxâm lược và các quan cai trị) đến đầu thế kỷ XX: người Hoa
Các tộc đến Việt Nam vào thế kỷ VIII-XIII: người Lự, Thái, Nùng và một bộphận người Dao
- Các tộc đến Việt Nam vào thế kỷ XVI trở đi: người Sán Diu, Dao
Các tộc đến Việt Nam vào thế kỷ XVII- XIX: người Hmông, các tộc thuộcngôn ngữ Tạng-Miến
Tuy có thời gian sinh sống ở Việt Nam khác nhau, song các tộc người đều có truyền thống đoàn kết gắn bó để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; các tộc
Trang 6người thiểu số có nguồn gốc bên ngoài đều coi Việt Nam là Tổ quốc thân yêu, hình thành ý thức quốc gia dân tộc Việt Nam rất rõ nét.
Từ thời Hùng Vương, hai cộng đồng Lạc Việt (thuộc Ngôn ngữ Mường) và u Việt (thuộc Ngôn ngữ Tày-Thái) cùng chung sức dựng nên Nhànước Văn Lang Thế kỷ thứ III trước Công nguyên Trong hơn nghìn năm
Việt-"Bắc thuộc", nhân dân các tộc người thiểu số luôn sát cánh cùng người Việtđấu tranh chống lại ách đô hộ và đồng hóa của các thế lực phong kiến Hán tộc,giành độc lập dân tộc vào đầu thế kỷ X
Thời Lý (1009-1225), nhân dân các tộc Tày-Nùng vùng Đông Bắc dưới
sự lãnh đạo của các tù trưởng địa phương đã tích cực tham gia cuộc khángchiến chống Tống (năm 1075 –1076)
Thời Trần (1225-1400), các thủ lĩnh người Mường tham gia cuộc khángchiến chống giặc Nguyên- Mông lần thứ hai (năm 1285)
Đầu thế kỷ XV, sau khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa chống quân Minhxâm lược, người Mường, người Thái ở miền núi Thanh Hóa đã ủng hộ nghĩaquân ngay từ buổi đầu Sau 10 năm chiến đấu gian khổ, cuộc khởi nghĩa kếtthúc thắng lợi, vương triều Lê được thiết lập
Cuối thế kỷ XVIII, nhân dân các tộc người thiểu số ở Bình Định, QuảngNgãi góp phần vào việc lật đổ các thế lực phong kiến cát cứ, lập lại nền thốngnhất quốc gia
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nhân dân các tộc Thái, Mường ởThanh Hóa đã tích cực tham gia các phong trào chống thực dân Pháp
Trong thời kỳ vận động giải phóng dân tộc và Cách mạng Tháng Tám
1945, nhân dân các tộc Tày- Nùng-Dao ở vùng Việt Bắc góp công lớn vàothắng lợi của cuộc Cách Tám 1945, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Trong kháng chiến chống Pháp (1946-1954), Việt Bắc là chiến khu, nơiđóng của Trung ương Đảng, Chính phủ-Bộ chỉ huy của cuộc kháng chiến
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975), vùng Trường Sơn-TâyNguyên là địa bàn chiến lược,
5 Về trình độ phát triển
Các tộc người ở Việt Nam có sự chênh lệch đáng kể về trình độ phát triển (hay phát triển không đều) và có xuất phát điểm thấp, do những nguyên nhân chủ thể hiện ở các điểm sau:
5 1 Chênh lệch phát triển về kinh tế, có thể chia nền kinh tế truyền thống của các tộc thành các nhóm phát triển sau:
- Nhóm một là các tộc người làm ruộng nước thâm canh, có côngnghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển như người Việt, Hoa,Chăm
Trang 7- Nhóm hai là các tộc người làm ruộng nước thâm canh, có công nghiệp(chủ yếu là thủ công nghiệp) và thương nghiệp: Tày, Nùng, Khơ-me và bộphận người Thái ở Nghệ An.
- Nhóm ba là các tộc người làm ruộng nước thâm canh, hầu như không
có công thương nghiệp: Mường, Thái, Lự
- Nhóm bốn là đa số các tộc người ở Tây Bắc, Trường Sơn - TâyNguyên sống dựa vào kinh tế nương rẫy với năng suất thấp và bấp bênh (nămđược trâu, năm bán con), một số tộc còn du canh du cư
- Nhóm năm là một số tộc người gần đây còn sống chủ yếu bằng háilượm, săn bắt và săn bắn: người La Hủ, một bộ phận người Chứt
Dù có những khác biệt về trình độ phát triển giữa các nhóm, song nhìnchung, nền kinh tế truyền thống của các tộc người ở nước ta đều mang nhữngđặc điểm chung sau:
- Nông nghiệp là ngành sản xuất chính, trong đó trồng trọt là chủ đạo,chăn nuôi nhỏ bé và phụ thuộc chặt vào trồng trọt
- Thủ công nghiệp là bộ phận gắn chặt với nông nghiệp; nghề thủ côngcủa phần lớn các tộc người thiểu số là thủ công gia đình
- Trừ người Việt và người Hoa, còn hầu hết các tộc người thiểu sốkhông chủ động về thương nghiệp, chỉ có số ít cư dân của một số tộc sống tạinhững vùng cửa khẩu biên giới, hoặc các trục đường giao thông lớn có điềukiện để phát triển thương nghiệp
- Sản xuất dựa trên lao động thủ công và kỹ thuật cơ bắp, vốn tri thứckinh nghiệm và gia truyền, không có khoa học kỹ thuật hỗ trợ, nên năng suấtcây trồng, vật nuôi thấp và bấp bênh, phụ thuộc nặng nề vào thiên nhiên
- Là nền sản xuất mang nặng tính tự nhiên, tự cấp tự túc, không tạo ra sựphân công lao động triệt để giữa chăn nuôi và trồng trọt, giữa nông nghiệp thủcông nghiệp và thương nghiệp nên khó tiếp cận với nền sản xuất hàng hóa
Phần lớn các đặc điểm về kinh tế trên đây ảnh hưởng lớn, theo hướng làtrở lực đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay
5 2 Chênh lệch phát triển về xã hội, có thể chia xã hội truyền thống củacác tộc thành các nhóm phát triển sau:
- Nhóm một là các tộc người đã phân hóa giai cấp, có nhà nước hoặctừng có nhà nước trong lịch sử như: Việt, Hoa, Chăm, Khơ-me, Tày
- Nhóm hai là các tộc người có tổ chức xã hội mang dáng dấp một nhànước: Mường, Thái
- Nhóm ba là các tộc người đã phân hóa giai cấp: Nùng, nhóm Sán Chícủa tộc Sán Chay
Trang 8- Nhóm bốn là các tộc người mới manh nha có giai cấp: Gia-rai, Ba-na,Ê-đê, Sán Dìu, nhóm Cao Lan của tộc Sán Chay, Hmông Tuy nhiên, sự phânhóa giai cấp của các tộc chủ yếu dựa vào quyền lực chính trị cộng đồng, khôngphải dựa trên cơ sở của phát triển kinh tế.
- Nhóm thứ năm, chiếm đa số các tộc người, xã hội mới phân hóa giàunghèo, chưa hình thành giai cấp Một số tộc còn những tàn tích của xã hộinguyên thủy, như chế độ mẫu hệ (người Ê-đê, Gia- rai, Mnông, Chăm, Ra-glai,Cơ-tu, Chu- ru); hay chế độ song hệ (người Xê-đăng, Giẻ-Triêng) hoặc đangchuyển từ chế độ song hệ sang phụ hệ (người Co, Chợ- ro, Rơ măm)
Mặc dù có sự khác biệt về trình độ phát triển giữa các nhóm, song nhìnchung, xã hội truyền thống của các tộc người ở Việt Nam đều mang những đặcđiểm chung sau:
- Cư dân sống theo làng là đơn vị tụ cư cơ bản, kết hợp chặt chẽ giữaquan hệ láng giềng với quan hệ huyết thống, mang tính tự quản và tính cộngđồng rất cao, là cơ sở xã hội của mỗi tộc người
- Vị trí của già làng, trưởng bản, trưởng các dòng họ được đề cao trongđời sống cộng đồng,
- Phong tục tập quán, luật tục giữ vai trò quan trọng, là công cụ chính đểquản lý đời sống cộng đồng, hay xã hội truyền thống của hầu hết các tộc ngườiđược quản lý bằng phong tục, luật tục cùng một số phương tiện khác
6 Về văn hóa
Đặc điểm nổi bật là mỗi tộc người dù có dân số đông hay ít, trình độ phát triểnkinh tế-xã hội cao hay thấp đều có nền văn hóa riêng, với những nét độc đáoriêng, hợp thành nền văn hóa Việt Nam đa sắc thái
Nét riêng về nền văn hóa của mỗi tộc người thể hiện ở các mặt:
- Các yếu tố vật thể (kết cấu làng bản, nhà cửa, y phục, ẩm thực, đồ ăn thứcđựng, v v.)
- Các yếu tố phi vật thể, gồm nền văn học dân gian (một số tộc người có nềnvăn học viết; nền âm nhạc dân gian; nền nghệ thuật dân gian; các phong tục tậpquán liên quan đến chu trình đời người, đến gia đình, làng bản; các luật tục liênquan đến các ứng xử xã hội;
7 Những vấn đề mới trong đời sống các tộc người ở Việt Nam hiện nayTrước hết là sự trỗi dậy của ý thức tộc người ở một số nhóm địa phương trongnhiều tộc người, tức xu hướng muốn tách ra thành tộc người riêng, vừa đểkhẳng định vị thế của các cộng đồng đó trong bức tranh tộc người ở nước ta,
Trang 9vừa muón được bảo đảm thêm các quyền lợi về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáodục.
Thứ hai là sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc và tư tưởng phân ly, ly khai,đingược với lợi ích tộc người và lợi ích quốc gia
Thứ ba là sự gia tăng khoảng cách phát triển giữa các dân tộc thiểu số và ngườiViệt, giữa các nhóm thiểu số với nhau; sự gia tăng khoảng cách phát triển vàbất bình đẳng giữa nông thôn với thành thị, giữa một bộ phận cán bộ có chứcquyền với công chức viên chức bình thường, với công nhân lao động và nôngdân
Thứ tư là sự gia tăng các mối quan hệ tộc người xuyên biên giới và xuyên quốcgia trên tất cả các mặt
Thứ năm là những thách thức trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa các tộc người
do tác động của công nghiệp hóa và hiện đại hóa, của toàn cầu hóa, do tâm lý
tự ty,
Thứ sáu là sự xuất hiện sự liên kết tộc người theo tôn giáo,
Thứ bảy là mâu thuẫn và xung đột dân tộc diễn ra ở một số địa phương chủyêu về đất đai
Câu 3: Anh chị hãy phân tích đặc trưng trong văn hóa vật chất và văn hóatinh thần của người Khơ – me ở vùng Nam Bộ
Người Khơ- me tạo ra hệ thống lịch riêng Trong tiếng Khơ- me, có các từriêng chỉ tháng ( khe) theo lịch âm( của đồng bào), lịch dương, tuần lễ Cáctháng theo lịch Khơ- me lần lượt có tên gọi là: Khe Míkésê (tháng Giêng),kheBốs (tháng Hai), khe Mýsak ( tháng Ba), khe Focun ( tháng Tư), khe Chét( tháng Năm), khe Písác ( tháng Sáu), khe Chês ( tháng Bảy), Các tháng củalịch Khơ- me sớm hơn lịch người Việt hai tháng và với lịch Dương một tháng
Ví dụ thánh Chét ( tháng Năm- tháng có Tết năm mới Chôn Chnam Thmây) làtháng tư Dương lịch và tháng Ba theo lịch của người Việt)
Sinh sống lâu đời tại vùng đồng bằng Nam Bộ, người Khơ- me đã tạo ra nềnvăn hóa riêng rõ nét Do mộ đạo Phật( chủ yếu là dòng Tiểu thừa) nên ngườiKhơ-me đã tạo ra một hệ thống chùa( trước giải phỏng 1975 có đến trên 400ngôi chùa) Chùa không chỉ là nơi thờ Phật( chỉ thờ phật Thích ca, chứ khôngthờ đa Phật như chùa ở ngoài Bắc); mà còn là nơi quản lý nhân khẩu, bàn bạccác công việc và tổ chức các sinh hoạt của cộng đồng, nơi tiếp khách và làtrường học ở nông thôn Trẻ em Khơ- me đến tuổi đi học thường vào chùa họcvà tu một thời gian rồi mới ra lập nghiệp Mỗi chùa có ban quản trị riêng gồm
sư cả, 2 sư phó, 10 ông luật (những nam giới ở tuổi trung niên, đã xuất tu, có
uy tín trong phum) Ban quản trị chùa thay mặt sự trông nom chùa, quản lý tàichính, lo tu bổ chùa, mua sắm đồ thờ Nhiều chùa có thư viện riêng, nghĩa
Trang 10trang riêng cho các tín đồ của chùa Sư ở đây cũng nam giới Khơ- me khi đi tuchỉ phải kiêng ăn mặn từ 12 giờ trưa hôm trước đến 6h sáng hôm sau, songđược uống sữa Các đồ mặn phải là đồ do các tín đồ của chùa dâng lên, sư vàngười đi tu không được chê, vì đó là thành quả lao động của tín đồ Sư cũngnhư người đi tu không được sát sinh.
Người Khơ- me có tục thờ tổ tiên, song điều đặc biệt là phần lớn các gd khôngđặt hoặc đặt ít bàn thờ tổ tiên trong nhà, vì lễ cúng tổ tiên thường diễn ra ởchùa là chính Nơi trang trọng nhất trong nhà thường là bàn thờ Phật
Ngoài đạo Phật, người Khơ-me có nhiều hình thức tín ngưỡng truyền thống
Tín ngưỡng tô tem, thờ rồng do đồng bào sinh sống trên vùng đất sôngnước, nhiều sình lầy( mô típ rồng thường được gắn với trên nóc chùa,nóc đền đình)
Các thần bảo hộ có acrắck( thần bảo hộ dòng họ, gia đình, một khu đất,khu rừng) và anéktà ( thần bảo hộ của xóm, giống như thổ địa) Đánglưu ý là arắk được thừa kế theo dòng nữ
Tín ngưỡng nông nghiệp có lễ cầu mưa vào dịp đầu năm mới, khi mùamưa sắp đến, lễ cúng thần ruộng, thần mục súc ( để xua đuổi các loàithú, côn trùng làm hại cây trồng), cúng hồn lúa khi gặt về
Về phong tục( gắn với lễ tiết và tín ngưỡng), trong một năm người Khơ-me có
ba lễ tiết quan trọng nhất:
Lễ mừng năm mới vào tháng ba ngày 14,15,16 của tháng Chét Ngoài lễcúng gia tiên ở các gia đình, có các lễ thức chung của cộng đồng ở chùatheo trình tự sau:
Ngày đầu: từ sáng sớm( hoặc từ chiều hôm trước), mọi người tắmrửa sạch sẽ, mặc quần áo mới đẹp, mang theo lễ vật lên chùa đểlàm lễ rước lịch mới ( giống như đón vị đương niên hành khiểncủa người Việt) Dân làng xếp hàng đi ba vòng quanh chính diệncủa chùa, có Acha ( người đàn ông đứng tuổi, am hiểu phong tục,
có uy tín) dẫn đầu để mừng năm mới và xem năm mới tốt hayxấu Sau đó có các trò chơi dân gian
Ngày thứ hai: các tín đồ dâng cơm sớm và trưa cho các vị sư.Trước khi ăn, các sư tụng kinh, làm lễ tạ ơn những người đã làm
ra lương thực, thực phẩm Ăn xong, sư lại tụng kinh cầu phúc chocác tín đồ Sau lễ này, dân làng tổ chức đắp núi cát, núi lúa quanhchính diện để cầu cho một năm mới được may mắn
Ngày thứ ba: sau khi dâng cơm sớm và trưa cho các vị sư, các tín
đồ mang nước thơm đến bàn thờ làm lễ tắm cho Phật, tắm chocác vị sư cao niên Sau đó, mọi người về nhà làm lễ tạ lỗi, tẩy bỏbụi trần bằng cách dâng bánh trái và tắm cho các bậc ông bà cha
mẹ có tuổi Nhiều gia đình tổ chức đắp mộ cho người thân và
Trang 11mời sư đến làm lễ cầu siêu.
đã cứng lại Người chủ lễ đấm nhẹ vào lưng đứa trẻ ba cái và hỏi nămnay muốn gì Vì thức ăn đầy miệng nên đứa trẻ sẽ phát âm không rõ, tạo
ra những trận cười cho người lớn, song căn cứ vào lời của những đứa trẻphát âm không rõ sẽ dự đoán được vụ mùa năm sau và tương lai của đứatrẻ Việc đút lễ này còn tượng trưng cho việc mọi người đã nhận đượclộc của thần mặt trăng
Cũng trong dịp này, người Khơ-me có tục thả đèn bay( thể hiện tục thờtrăng), thả bè chuối gắn đèn trên sông, đua ghe ngo hay đua thuyền( thểhiện tục cầu nước) Ghe ngo là loại thuyền độc mộc, dài 25-30 mét,rộng1-1,4 mét, mỗi thuyền có 40-60 người bơi Một số vùng có tục đuabò
Về văn hóa dân gian:
Người Khơ-me có một kho tàng văn học dân gian phong phú gồmtruyện kể( truyện cổ tích,thần thoại, ngụ ngôn, truyện cười), cáccâu tục ngữ, châm ngôn đúc kết các hiện tượng tự nhiên và xã hội.Bên cạnh đó, văn học viết cũng khá phát triển
Nghệ thuật điêu khắc, tạo hình nổi bật với kiến trúc chùa( ba cấpmái) và trang trí ở chùa, trang trí tượng; nguồn tranh dân gian vớimàu sắc sặc sỡ gắn với các tích của đạo Phật
Âm nhạc Khơ-me thường gắn với sinh hoạt ca múa và sân khâu;các nhạc cụ có dàn nhạc dây dùng trong các dịp vui; các đànchiêng; trống vỗ, Nguồn dân ca gắn với các điệu múa khá phongphú Các điệu múa có thể diễn tả tình cảm, dùng trong đám cưới,cúng tế