1. Trang chủ
  2. » Tất cả

LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯƠNG VŨ MẠNH DUY

143 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 2,65 MB
File đính kèm DƯƠNG VŨ MẠNH DUY - LUẬN VĂN THẠC SĨ.rar (2 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH DƯƠNG VŨ MẠNH DUY NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, Trong suốt 60 năm hình thành và phát triển, du lịch Việt Nam đã có những bước tiến đáng khích lệ và hiện đã trở thành một ngành kinh tế có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân là những điều kiện thuận lợi cho du lịch biển Việt Nam phát triển. Cùng với tổng chiều dài đường biển trên đất liền là 3.000 km, hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ, hàng loạt những bãi tắm cát trắng, nước trong xanh trải dài ven biển từ Bắc chí Nam, Việt Nam đã thu hút được nhiều du khách thập phương đến tham quan, nghỉ dưỡng. Với lợi thế tiềm năng sẵn có, hiện nay, du lịch biển đảo chiếm khoảng 70% trong hoạt động của ngành du lịch Việt Nam và được xem là một trong 5 hướng đột phá về phát triển kinh tế biển và ven biển. Để kịp bắt nhịp cùng với sự chuyển mình của du lịch biển Việt Nam, với vị trí cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng hơn 110 km đường bộ đi theo hướng cao tốc Long Thành, cách thành phố Biên Hoà 80 km, có bờ biển trải dài 48km, bãi cát dài phẳng, nước biển sạch, sóng lớn, mặt trước là biển Đông, phía sau là những đồi cát trắng và rừng phi lao ngút ngàn biển Vũng Tàu thuộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu trở thành điểm hẹn du lịch khá hấp dẫn với du khách trong và ngoài nước từ những thế kỷ trước, du lịch biển thành phố Vũng Tàu ngày càng là sự lựa chọn hấp dẫn trong bản đồ du lịch của du khách. Trong quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của Thành phố Vũng Tàu những năm qua, cùng với dầu khí, du lịch biển thành phố Vũng Tàu là một trong những mũi nhọn phát triển kinh tế của thành phố.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH

DƯƠNG VŨ MẠNH DUY

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN

THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH

DƯƠNG VŨ MẠNH DUY

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN

THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

MÃ SỐ: 8810101

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN PHƯỚC HIỀN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch biển thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Riạ Vũng Tàu” là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi Tất cả tài liệu tham khảo, trích dẫn khoa học đều có nội dung chính xác Những kết quả, kết luận khoa học và các số liệu trong bài luận văn này chưa được bất kỳ ai công bố trước đây dưới bất kỳ hình thức nào

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường, trước khoa Du lịch và Việt Nam học về sự cam đoan này

Học viên

Dương Vũ Mạnh Duy

Trang 4

dự án hạ tầng thành phố Vũng Tàu đã tạo điều kiện giúp đỡ, hỗ trợ tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Nguyễn Tất Thành cùng quí thầy cô trong Viện đào tạo sau đại học đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành tốt khóa học

Xin chân thành cám ơn!

Học viên

Dương Vũ Mạnh Duy

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp của luận văn 9

7 Cấu trúc của luận văn 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11

1.1 Các khái niệm về du lịch 11

1.1.1 Khái niệm du lịch 11

1.1.2 Khái niệm khách du lịch 12

1.1.3 Vai trò của du lịch đối với phát triển kinh tế xã hội 13

1.1.4 Nguyên tắc phát triển của du lịch 15

1.2 Du lịch biển 15

1.2.1 Khái niệm du lịch biển 15

1.2.2 Những điều kiện cơ bản để phát triển du lịch biển 17

1.2.3 Các loại hình du lịch biển 20

1.3 Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch biển Việt Nam 23

1.3.1 Tiềm năng 23

1.3.2 Hiện trạng phát triển 24

1.4 Quản lý nhà nước về du lịch biển thành phố Vũng Tàu 29

1.5 Kinh nghiệm phát triển du lịch biển tại Nha Trang – Khánh Hòa 30

1.6 Kinh nghiệm phát triển du lịch biển tại đảo Bali – Indonexia 31

Tiểu kết chương 1 34

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU 35

2.1 Khái quát thành phố biển Vũng Tàu 35

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 35

Trang 6

2.1.1.1 Vị trí địa lý 35

2.1.1.2 Địa hình 36

2.1.1.3 Khí hậu 36

2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 36

2.1.3 Kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ ngành du lịch 37

2.2 Thực trạng phát triển du lịch thành phố Vũng Tàu giai đoạn 2015-2019 40

2.2.1 Tình hình khai thác khách du lịch giai đoạn 2015-2019 40

2.2.2 Doanh thu du lịch giai đoạn 2015-2019 44

2.3 Thực trạng điều kiện phát triển du lịch biển tại thành phố Vũng Tàu 45

2.3.1 Các loại hình sản phẩm du lịch biển thành phố Vũng Tàu 45

2.3.2 Những nét riêng biệt của thành phố Vũng Tàu để phát triển du lịch biển 46 2.3.3 Hiện trạng phát triển các dịch vụ du lịch biển 49

2.3.4 Tình hình triển khai các dự án đầu tư phát triển du lịch biển 54

2.3.5 Công tác xúc tiến quảng bá du lịch biển 55

2.4 Phân tích thực trạng phát triển du lịch biển Vũng Tàu 57

2.4.1 Kết quả nghiên cứu thông qua phỏng vấn chuyên gia 57

2.4.2 Kết quả nghiên cứu thông qua phỏng vấn du khách 59

2.5 Đánh giá hoạt động du lịch biển thành phố Vũng Tàu 66

2.5.1 Những kết quả đạt được 66

2.5.2 Hạn chế và nguyên nhân 68

Tiểu kết chương 2 70

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU 72

3.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển du lịch biển thành phố Vũng Tàu 72

3.1.1 Quan điểm phát triển du lịch biển Vũng Tàu 72

3.1.2 Mục tiêu phát triển du lịch biển Vũng Tàu 73

3.2 Các định hướng phát triển du lịch biển thành phố Vũng Tàu 78

3.2.1 Về qui hoạch không gian du lịch 78

3.2.2 Sản phẩm du lịch 78

3.2.3 Thị trường 79

3.2.4 Đầu tư phát triển du lịch 80

3.2.5 Đào tạo và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch 80

Trang 7

3.2.6 Phát triển tài nguyên du lịch 81

3.2.7 Phát triển theo ngành 81

3.2.8 Phát triển hạ tầng giao thông 82

3.3 Giải pháp phát triển du lịch biển thành phố Vũng Tàu 83

3.3.1 Về vốn 83

3.3.2 Phát triển các sản phẩm và dịch vụ du lịch biển 85

3.3.3 Phát triển văn hóa ẩm thực, lễ hội truyền thống 87

3.3.4 Tăng cường xúc tiến quảng bá du lịch, mở rộng thị trường du lịch 89

3.3.5 Phát triển hạ tầng đô thị, cơ sở vật chất phục vụ du lịch 90

3.3.6 Nâng cao vai trò quản lý nhà nước về phát triển du lịch biển 91

3.3.7 Bảo vệ môi trường và bảo vệ tôn tạo tài nguyên để phát triển du lịch biển 93

Tiểu kết chương 3 96

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

PHỤ LỤC 105

PHỤ LỤC 1 105

PHỤ LỤC 2 107

PHỤ LỤC 3 115

PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 133

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong suốt 60 năm hình thành và phát triển, du lịch Việt Nam đã có những bước tiến đáng khích lệ và hiện đã trở thành một ngành kinh tế có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân là những điều kiện thuận lợi cho du lịch biển Việt Nam phát triển Cùng với tổng chiều dài đường biển trên đất liền là 3.000 km, hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ, hàng loạt những bãi tắm cát trắng, nước trong xanh trải dài ven biển từ Bắc chí Nam, Việt Nam đã thu hút được nhiều

du khách thập phương đến tham quan, nghỉ dưỡng Với lợi thế tiềm năng sẵn

có, hiện nay, du lịch biển đảo chiếm khoảng 70% trong hoạt động của ngành

du lịch Việt Nam và được xem là một trong 5 hướng đột phá về phát triển kinh

tế biển và ven biển

Để kịp bắt nhịp cùng với sự chuyển mình của du lịch biển Việt Nam, với

vị trí cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng hơn 110 km đường bộ đi theo hướng cao tốc Long Thành, cách thành phố Biên Hoà 80 km, có bờ biển trải dài 48km, bãi cát dài phẳng, nước biển sạch, sóng lớn, mặt trước là biển Đông, phía sau là những đồi cát trắng và rừng phi lao ngút ngàn biển Vũng Tàu thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trở thành điểm hẹn du lịch khá hấp dẫn với du khách trong và ngoài nước từ những thế kỷ trước, du lịch biển thành phố Vũng Tàu ngày càng là sự lựa chọn hấp dẫn trong bản đồ du lịch của du khách Trong quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của Thành phố Vũng Tàu những năm qua, cùng với dầu khí, du lịch biển thành phố Vũng Tàu là một trong những mũi nhọn phát triển kinh tế của thành phố

Theo ông Trịnh Hàng Giám đốc Sở Du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, vào năm 2019 ngành du lịch tỉnh này đặt mục tiêu thu hút 3,53 triệu lượt khách lưu trú, tăng 14% so với năm 2018 và doanh thu du lịch đạt 16.520 tỷ đồng [52] Điều đó đã nói lên vị thế của Du lịch trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

Bà Rịa – Vũng Tàu Tuy nhiên, tiềm năng phát triển du lịch của tỉnh Bà Rịa –

Trang 9

Vũng Tàu còn rất lớn cần được tập trung nghiên cứu khai thác phát huy hết thế mạnh nhất là trong thời kỳ hội nhập và sự phát triển vươn mình mạnh mẽ trong lĩnh vực hoạt động du lịch của các tỉnh miền Đông Nam bộ, Tây nguyên, Miền Tây nam bộ nói riêng, cả nước và trên thế giới nói chung

Chính từ những ý nghĩa ấy đặt ra yêu cầu cần nghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá tiềm năng, lợi thế vốn có để phát triển mạnh du lịch biển của thành phố Vũng Tàu, kết hợp với nghiên cứu thực tiễn, phân tích đánh giá tình hình hoạt động du lịch biển của Thành phố trong những năm gần đây, đánh giá sự kỳ vọng của du khách khi đến du lịch ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để đưa ra những kết quả, hạn chế và những nguyên nhân, khó khăn tồn tại cản trở sự phát triển

là vấn đề và nhiệm vụ cấp bách của Thành phố cũng như nhà quản lý du lịch Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm góp phần phát triển du lịch biển một cách phù hợp với điều kiện của thành phố Xuất phát vấn đề đó, tôi quyết

định thực hiện đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch biển thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu” làm đề tài luận văn cao học du lịch của mình

2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Liên quan đến nghiên cứu du lịch biển trên thế giới: Theo Mohd Nizam

Basiron (1997) với bài báo có tựa đề “Marine Tourism Industry – trends and prospects” Bài báo được trình bày tại Hội thảo quốc gia về phát triển ngành

du lịch biển ở Đông Nam Á tại Langkawi Bài báo này được viết với mục tiêu phân tích xu hướng và triển vọng của ngành du lịch biển Điều này sẽ được thực hiện bằng cách xem xét các xu hướng tăng trưởng du lịch biển trên toàn cầu, và tác động của nó đối với ngành du lịch biển ở Malaysia và khu vực, đặc biệt là Tam giác tăng trưởng Indonesia-Malaysia-Thái Lan Tuy nhiên, việc kiểm tra bị hạn chế do thiếu thông tin thống kê về ngành du lịch biển và khó xác định mức độ phát triển của ngành du lịch biển Bên cạnh đó, bài báo mô tả các thành phần phát triển du lịch biển hiện nay ở Malaysia Cuộc thảo luận tập trung vào ba lĩnh vực và các thành phần của ngành du lịch biển [46]

Trang 10

Liên quan đến nghiên cứu du lịch biển trong nước: theo nhà nghiên cứu

Phạm Trung Lương (2003) với đề tài “Quản lí phát triển du lịch biển”, là tài liệu Dự án khu bảo tồn biển Hòn Mun, Khóa tập huấn quốc gia về quản lí khu bảo tồn biển Tác giả cho ta thấy được tiềm năng và hiện trạng quản lý phát triển du lịch biển ở nước ta, dựa trên đó đặt ra những vấn đề quản lý và phát triển du lịch Hòn Mun và đưa ra đề xuất phát triển du lịch biển Hòn Mun [21] Liên quan đến nghiên cứu tài nguyên du lịch tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu: đã

có rất nhiều sách và tài liệu viết về du lịch, lịch sử và văn hóa Bà Rịa Vũng Tàu nhưng cuốn sách tài liệu của chủ biên Thạch Phương và Nguyễn Trọng Minh (2005) với tựa sách là “Địa chí Bà Rịa Vũng Tàu” được xuất bản giới hạn và thường sách không xuất bản ngoài Nội dung trong sách tài liệu này có thể được xem là tài liệu khá hiếm hoi nói về lịch sử, văn hóa, xã hội, tài nguyên du lịch, biển, tài nguyên sinh vật biển, khí hậu, thủy văn, sông ngòi, địa chất khoáng sản và tất tần tật thông tin về tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu cũng như thành phố Vũng Tàu mà nhiều người nghiên cứu đang tìm kiếm [28]

Sở Văn Hóa – Thông tin tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (2005) cũng có đề tài

“Nghiên cứu giải pháp đầu tư và khai thác tiềm năng văn hóa phục vụ du lịch tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu” Đề tài đã nghiên cứu về việc khai thác tiềm năng văn hóa (bao gồm cả văn hóa phi vật thể, văn hóa vật thể, tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn, ) phục vụ phát triển ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh là ngành du lịch Thông qua việc nghiên cứu đề ra giải pháp đầu tư tiềm năng văn hóa phục vụ phát triển du lịch

Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2005) cũng đã triển khai đề tài cấp Bộ

“Điều kiện kinh tế xã hội – nhân văn vùng ven biển Việt Nam” Đề tài đã nghiên cứu tất cả các điều kiện kinh tế, xã hội – nhân văn của các vùng ven biển của cả nước, từ đó đề xuất các giải pháp thực hiện phát triển bền vững kinh tế xã hội vùng ven biển Việt Nam

Như tác giả Lê Trọng Bình (2009) đã phân tích được thế mạnh, nguồn lợi của vùng biển và đảo ở nước ta từ đó đã ra các giải pháp nhằm nâng cao

Trang 11

hiệu quả khai thác hơn nữa nguồn tài nguyên biển đảo của nước ta cho sự phát triển du lịch

Trong các đề tài về du lịch biển trong nước ta có đề tài của tác giả Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012), với đề tài là “Phát triển Du lịch biển Đà Nẵng” Tác giả đã nghiên cứu thực trạng và đề xuất định hướng phát triển du lịch biển Đà Nẵng Theo nghiên cứu của Salleh N.H.M, R Othman, T Sarmidi, A.H Jaafar, B.M.N Norghani (2012) đề tài nghiên cứu về: “Tourist satisfaction of the environmental service quality for Tioman Island Marine Park” Nghiên cứu này ước lượng niềm vui của những khách du lịch đến công viên biển hòn đảo Tioman ở Malaysia Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả khách du lịch (khách địa phương và nước ngoài) đồng ý với sự thỏa mãn của họ về công tác (dịch vụ) môi trường có chất lượng

Đề tài thạc sỹ” Phát triển du lịch tỉnh BRVT: Hiện trạng và giải pháp” (2013) Tác giả Lê Xuân Quyến đã đúc kết lý luận và thực tiễn phát triển du lịch để phân tích hiện trạng phát triển du lịch tỉnh BR–VT; trên cở sở đó để xây dựng các định hướng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh BR –VT đến năm

2020

Có rất nhiều bài báo về du lịch biển ở nước ngoài trong đó có tác giả I Nyoman Darma Putra Đại học Udayana với bài báo (2014) tựa đề “Bali: Between Cultural and Marine Tourism” Bài báo này thảo luận về tiềm năng

du lịch biển ở Bali và đóng góp của nó đối với sự phát triển bền vững du lịch Trong khi du lịch biển và văn hóa hình thành hai hạng mục riêng biệt, ở Bali

có rất nhiều hoạt động văn hóa diễn ra trên các bãi biển hoặc các khu vực ven biển trở thành các điểm du lịch độc đáo Do đó, trong bài báo này, tác giả cũng giới thiệu một cái nhìn mở rộng về du lịch biển chẳng hạn sẽ bao gồm việc quan sát các đám rước và các nghi lễ trên các bãi biển Khám phá các kết nối giữa du lịch biển và du lịch văn hóa có thể giúp chúng ta đi đến với các chiến lược mới cho sự bền vững của du lịch ở Bali nói chung Ngoài mục đích chia

sẻ những kinh nghiệm của Bali trong việc quản lý và thúc đẩy tiềm năng du

Trang 12

lịch biển của nó, bài báo này cũng tìm kiếm phản hồi về những cách tốt hơn quản lý du lịch biển để đạt được du lịch bền vững cho hòn đảo

Ngoài ra cũng có rất nhiều bài báo khoa học và luận văn liên quan đến phát triển du lịch, du lịch biển thành phố Vũng Tàu cũng như tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

Đồng tác giả Nguyễn Thám – Đinh Thị Thu Thủy (2014) với bài báo trên Tạp chí Khoa học và Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Huế” Đánh giá tài nguyên sinh khí hậu phục vụ phát triển du lịch tỉnh BR-VT” Tác giả chỉ ra các yếu tố khí tượng, khí hậu đóng vai trò quan trọng trong phát triển du lịch

Ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, các yếu tố bức xạ, mây, nắng, chế độ gió, độ ẩm không khí… đều ảnh hưởng tốt đối với sức khỏe con người và thuận lợi cho sự phát triển du lịch Nhưng về khí hậu của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với sự phân hóa theo thời gian và không gian có ảnh hưởng phần nào đó đến hoạt động du lịch Nghiên cứu, đánh giá sinh khí hậu phục vụ phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Theo Vũ Văn Đông (2014) đã triển khai đề tài: “Phát triển du lịch bền vững Bà Rịa Vũng Tàu” Tác giả phân tích các nhân tố tác động đến phát triển

du lịch BRVT và đưa ra các giải pháp phát triển bền vững từ góc độ kinh tế, tài nguyên môi trường, văn hoá xã hội, phát triển sản phẩm du lịch mà chưa đề cập cụ thể đến phát triển du lịch sinh thái biển BRVT

Cũng đã có nhiều đề tài cấp Bộ của Tổng cục du lịch, các viện nghiên cứu, nhiều bài báo nghiên cứu đề cập đến loại hình du lịch biển đảo của Việt Nam, và luận án tiến sĩ của tác giả Hồ Viết Chiến (2016) với đề tài” Kinh tế dịch vụ trong phát triển, vùng biển, đảo tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu” đã làm rõ vai trò của kinh tế dịch vụ trong phát triển vùng biển, đảo đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

Theo như tác giả Minh Duc Le với luận văn tiến sĩ Đại học Bedfordshire (2016) đã làm đề tài” Developing Sustainable Tourism: Critical Perspective from Ba Ria - Vung Tau province, Viet Nam” Luận văn đã xác định các diễn

Trang 13

giải về du lịch bền vững do các bên liên quan tại địa phương quản lý và đánh giá nghiêm túc phản ứng của các bên liên quan địa phương đối với các chính sách hiện hành hỗ trợ du lịch bền vững trong tỉnh BR-VT Tác giả cũng đã đánh giá sự công nhận của các bên liên quan về phát triển du lịch bền vững và tìm hiểu các rào cản để phát triển du lịch bền vững ở tỉnh BR-VT

Nghiên cứu sinh Đinh Văn An (2018) có luận án tiến sĩ “Đảng bộ tỉnh

Bà Rịa Vũng Tàu lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 1991 đến năm 2015” đã đánh giá một cách khách quan cũng như khoa học quá trình lãnh đạo của Đảng bộ Nhà nước Bà Rịa-Vũng Tàu phát triển kinh tế du lịch từ năm

1991 đến năm 2015, tổng kết thực tiễn, tìm ra nguyên nhân thành công và đưa ngành kinh tế tiên phong đi đầu trong lĩnh vực kinh tế du lịch của tỉnh Bà Tỉnh

Bà Rịa-Vũng Tàu giúp hạn chế và làm rõ những yêu cầu thực tiễn và những câu hỏi cần giải đáp về phát triển kinh tế du lịch hiện nay từ góc độ lịch sử trong quá trình lãnh đạo của Đảng nói chung, nhất là Đảng bộ Nhà nước Bà Rịa-Vũng Tàu

Đối với du lịch Thành phố Vũng Tàu nói chung và du lịch biển Vũng Tàu nói riêng cũng có nhiều nghiên cứu đề cập tới như luận văn tác giả Nguyễn Thị Hương (2019) với đề tài “Xây dựng thương hiệu du lịch Thành phố Vũng Tàu” đã đánh giá tiềm năng và thực trạng xây dựng thương hiệu du lịch tại thành phố Vũng Tàu một cách khách quan và đưa ra mô hình để xây dựng thương hiệu du lịch địa phương Tác giả xây dựng thương hiệu du lịch Vũng Tàu từ mô hình đã được đưa ra và dựa trên các nguồn tài nguyên du lịch

có sẵn Cuối cùng đề xuất giải pháp nâng cao góp phần xây dựng thương hiệu

du lịch thành phố Vũng Tàu

Ngoài ra cũng có đề tài “Ứng dụng Digital Marketing trong quảng bá du lịch tại thành phố Vũng Tàu” của tác giả Lê Huy Hiệp (2020) Đề tài đã đánh giá thực trạng, các mặt mạnh, mặt yếu, những thành tựu đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của hoạt động du lịch và thực trạng ứng dụng Digital Marketing ở địa phương Từ đó, nghiên cứu đưa ra các giải pháp ứng dụng

Trang 14

Digital Marketing trong quảng bá du lịch của thành phố Vũng Tàu trong bối cảnh quốc tế hội nhập hiện nay

Gần đây tác giả Vũ Thị Thịnh (2020) với luận văn thạc sỹ là” Nghiên cứu phát triển Du lịch Festival Nha Trang – Khánh Hòa” Tác giả đã dựa trên

cơ sở phân tích đánh giá thực trạng phát triển của du lịch của Festival Biển Nha Trang - Khánh Hòa giai đoạn từ năm 2011 đến 2019 nhằm đưa Festival Biển Nha Trang – Khánh Hòa trở thành một sự kiện hấp dẫn, thu hút khách du lịch trong và ngoài nuớc, từ đó phát triển du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng

Tác giả Lê Văn Lợi (2020) đã thực hiện đề tài” Đề xuất giải pháp phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2025 và tầm nhìn năm 2030” Tác giả đã phân tích tiềm năng và thực trạng ngành du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nhận định được những điểm mạnh, điểm yếu và những cơ hội cũng như những thách thức ngành du lịch Tỉnh có thể gặp phải Qua đó định hướng chiến lược phát triển cho ngành du lịch Tỉnh; đồng thời đưa ra các giải pháp

và kiến nghị để thực hiện chiến lược đã lựa chọn

Tóm lại, các công trình thuộc các vấn đề nghiên cứu nêu trên tuy chưa nghiên cứu trực tiếp đến phát triển du lịch biển Vũng Tàu nhưng là nền tảng giúp chúng tôi làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu của mình

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu du lịch biển thành phố Vũng Tàu Đưa

ra định hướng và giải pháp phát triển du lịch biển thành phố Vũng Tàu, tỉnh

Bà Rịa Vũng Tàu

Nhiệm vụ của đề tài: Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đã đặt

ra, đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ cụ thể như:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về du lịch biển, phát triển du lịch biển Nghiên cứu kinh nghiệm về phát triển du lịch biển trong nước và quốc tế

Trang 15

- Làm rõ thực trạng và điều kiện phát triển du lịch biển thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

- Đưa ra định hướng và giải pháp phát triển du lịch biển thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu du lịch biển thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến phát triển

du lịch biển thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

Phạm vi về không gian: gồm Thành phố Vũng Tàu và các bãi biển ven biển thuộc thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

Thời gian: Các số liệu phục vụ cho nghiên cứu tập trung thời gian 5 năm gần nhất, từ năm 2015 đến năm 2019 Thời gian tiến hành nghiên cứu đề tài: tháng 07/2021 đến tháng 01/2022

4.3 Mẫu khảo sát

Để thu thập thông tin, đề tài tiến hành lập phiếu khảo sát các đối tượng là khách du lịch, các chuyên gia…, Đề tài khảo sát theo phương pháp điều tra phi xác suất với số lượng mẫu là khảo sát: 220 du khách (khách trong nước và khách quốc tế) tại các khu du lịch Paradise, Resort Lan Rừng, khu vực bãi tắm bãi Sau, bãi Trước và các khách sạn tư nhân ven biển khu vực bãi Dâu, bãi Dứa và bãi Nghinh Phong

Nội dung khảo sát: Khảo sát ý kiến khách hàng về đánh giá các dịch vụ

du lịch biển tại thành phố Vũng Tàu thông qua một số tiêu chí: cảnh quan, sản phẩm du lịch, dịch vụ du lịch, giao thông, cơ sở lưu trú từ đó đánh giá mức độ hài lòng của du khách về du lịch biển thành phố Vũng Tàu

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 16

5.1 Phương pháp luận

Đề tài sử dụng các phương pháp Duy vật biện chứng, Duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, tổng, hợp, so sánh…

5.2 Phương pháp tiếp cận thống kê

Đây là phương pháp không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu mặt lượng trong mối quan hệ chặt chẽ với mặt chất của các hiện tượng và quá trình, đối chiếu biến động, phát triển trong hoạt động du lịch Phương pháp này được sử dụng để mô tả thực trạng phát triển kinh tế thành phố Vũng Tàu, thực trạng dân số và nhu cầu lao động ngành du lịch, thực trạng lượng khách

du lịch biển, doanh thu du lịch biển, số lượng cơ sở lưu trú Các chỉ tiêu của phương pháp này được đưa vào phân tích bao gồm: số tương đối, số tuyệt đối,

số bình quân, cơ cấu, tỷ trọng, tỷ lệ, tỷ suất lợi nhuận…

5.3 Phương pháp điều tra thực địa

Phương pháp khảo sát thực địa là một trong những phương pháp quan trọng góp phần làm cho kết quả nghiên cứu mang tính xác thực Trực tiếp khảo sát tại các bãi tắm đã và đang khai thác phục vụ khách du lịch giúp đánh giá được tiềm năng cũng như nguồn lực phát triển du lịch biển Vũng Tàu,

đồng thời đưa ra những kiến nghị, đề xuất hợp lý và khả thi

5.4 Phương pháp chuyên gia

Thông qua ý kiến của các chuyên gia để dự báo về phát triển bền vững

du lịch biển của Việt Nam, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu làm tiền đề để từ đó xây dựng định hướng và giải pháp phát triển bền vững du lịch biển thành phố Vũng Tàu

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính qua việc thiết kế bảng hỏi khảo sát và phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS

6 Đóng góp của luận văn

Trang 17

Việc nghiên cứu đề tài luận văn thạc sĩ này sẽ góp phần phát triển loại hình du lịch biển Bên cạnh đó làm rõ được những điều kiện và hoạt động khai thác các điều kiện để phát triển du lịch biển Vũng Tàu Đề xuất được các giải pháp khả thi để phát triển du lịch biển tại Vũng Tàu cho đúng với tiềm năng

mà thành phố đang có trong giai đoạn tới

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và trích dẫn, danh mục

từ viết tắt, danh mục bảng, phụ lục, phần nghiên cứu của luận văn chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch biển thành phố Vũng Tàu, tỉnh

Bà Rịa Vũng Tàu

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch biển Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

Trang 18

Do hoàn cảnh (thời gian, khu vực) khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu về du lịch khác nhau Khi nhìn lại các công trình nghiên cứu về du lịch, Giáo sư-Tiến sĩ Berkener, một chuyên gia có uy tín về du lịch trên thế giới, đã đưa ra nhận xét: “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”

Du lịch gắn liền với việc nghỉ ngơi giải trí nhằm hồi phục, nâng cao sức khoẻ và khả năng lao động cho con người, nhưng trước hết liên quan mật thiết tới sự di chuyển chỗ ở của họ Vậy “du lịch” là gì?

Tại Hội Nghị Liên Hợp Quốc tế về Du Lịch ở Roma năm 1963 “Du lịch

là tổng hòa các mối quan hệ, hiện tượng, các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước của họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”

Theo định nghĩa của Hội nghị Quốc tế về thống kế du lịch ở Otawa,

Cannada tháng 06/1991: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi

ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở của mình), trong một khoảng thời gian

ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích

Trang 19

của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm

vi vùng tới thăm”

Theo các nhà du lịch Trung Quốc thì: họat động du lịch là tổng hoà hàng loạt quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất định làm cơ sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện

Theo điều 10 Pháp lệnh Du lịch của Việt Nam: “Du lịch là hoạt động của

con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định’’

1.1.2 Khái niệm khách du lịch

Thật sự đây là khái niệm có nhiều quan niệm đưa ra Khách du lịch là đối tượng trực tiếp tham gia vào quá trình hướng dẫn du lịch của hướng dẫn viên,

là đối tượng của các đơn vị phục vụ và kinh doanh du lịch

Nói đến du lịch người ta hiểu rằng đó là cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của con người đến nơi khác nhằm mục đích thoả mãn mọi nhu cầu về nghỉ dưỡng, chữa bệnh, văn hoá, nghệ thuật, thể thao… đối với hoạt động du lịch, con người với vai trò là một du khách có nhu cầu du lịch, rời khỏi nơi cư trú để thực hiện tour du lich Điều này có nghĩa để trở thành một khách du lịch, con người phải hội tụ các điều kiện sau: có thời gian rỗi, có khả năng thanh toán, có nhu cầu cần đươc thỏa mãn

Nhà kinh tế học người Áo, Lozep Stander định nghĩa: Khách du lịch là

hành khách xa hoa, ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thoả mãn những nhu cầu cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế [Nguồn:

Bài giảng môn tổng quan du lịch, trang 8]

Theo nhà kinh tế học người Anh, Ogilvie: Khách du lịch là “tất cả những người thỏa mãn 2 điều kiện: rời khỏi nơi ở thường xuyên trong khoảng thời gian dưới một năm và chi tiêu tiền bạc tại nơi họ đến thăm mà không kiếm tiền ở đó” Khái niệm này chưa hoàn chỉnh vì nó chưa làm rõ được mục đích

Trang 20

của người đi du lịch, nhưng khái niệm này để phân biệt được với những người cũng rời khỏi nơi cu trú của mình nhưng lại không phải là khách du lịch [Giáo trình tổng quan Du lịch, trang 10]

Năm 1963, Hội nghị do liên hiệp quốc tổ chức tại Rôma (Ý) để thảo luận về du lịch đã đi đến kết luận phạm trù khách du lịch quốc tế như sau: Khách du lịch là công dân của một nước sang thăm và lưu trú tại nước khác trong khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ mà ở đó họ không có nơi ở thường xuyên, nhưng cũng không công nhận những người nước ngoài ở quá một năm hoặc những người đi ra nước ngoài thực hiện hợp đồng, hoặc tìm nơi lưu trú của mình cũng như những người ở vùng biên giới, sống nước này sang làm việc nước khác [Bài giảng môn tổng quan du lịch, trang 8]

Theo luật Du lịch Việt Nam: Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến

* Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch

sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch

*Môi trường du lịch

Môi trường du lịch là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nơi diễn

ra các hoạt động du lịch

1.1.3 Vai trò của du lịch đối với phát triển kinh tế xã hội

Du lịch được mô tả như là một ngành công nghiệp vừa năng động, vừa tinh tế, nó đem lại nguồn doanh thu khổng lồ so với bất cứ ngành dịch vụ nào trên thế giới và trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, của nhiều nước trên thế giới Tuỳ theo điều kiện của từng nước mà ngành du lịch có những đóng góp

Trang 21

khác nhau đối với nền kinh tế quốc dân bởi vì hoạt động du lịch đòi hỏi sự phối hợp liên ngành, đa lĩnh vực có tính xã hội hoá cao

• Vai trò của du lịch đối với kinh tế

Các nhà kinh tế đã khẳng định: “Du lịch là ngành xuất khẩu vô hình” Với tiềm năng đã có sẵn, ngành du lịch đã tạo cho mình những sản phẩm đặc biệt so với các ngành kinh tế khác để kinh doanh, đem lại nguồn thu cho đất nước Chúng ta cần nhấn mạnh rằng, việc phát triển du lịch quốc tế sẽ làm tăng nhanh nguồn thu nhập ngoại tệ thông qua việc tiêu dùng của khách du lịch Trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay, việc tích luỹ các đồng ngoại tệ mạnh như USD, EURO, YÊN có ý nghĩa rất lớn trong việc tránh lạm phát, bảo

vệ nội tệ

Như chúng ta đã biết Du lịch là một ngành xuất khẩu tại chỗ có hiểu quả kinh tế cao khi khách du lịch đến tham quan và nghỉ dưỡng họ sẽ tiêu thụ một khối lượng lớn nông sản thực phẩm dưới dạng các món ăn đồ uống và mua hàng hoá như là các đặc sản của vùng, đồ thủ công mỹ nghệ Như vậy địa phương sẽ thu ngoại tệ tại chỗ với hiệu quả cao (tiết kiệm được chi phí bảo quản, lưu kho, đóng gói, vẩn chuyển, sự hao hụt khi xuất khẩu ra thị trường thế giới) Một ngành kinh tế muốn phát triển tất yếu phải có sự tham gia và chịu sự tác động hai chiều với các ngành kinh tế khác Là một ngành dịch vụ, một ngành kinh tế độc đáo, du lịch phát triển là động lực thúc đẩy quá trình sản xuất, kinh doanh của nhiều ngành khác trong nền kinh tế quốc dân Thông qua du lịch, các ngành kinh tế như nông nghiệp, thủ công mỹ nghệ, công nghiệp hàng tiêu dùng bán được một số lượng hàng lớn với giá cả cao Bên cạnh đó, du lịch còn đóng vai trò như một nhà quảng cáo, nhà marketing các sản phẩm của cac ngành kinh tế khác, kích thích và thúc đẩy các ngành thay đổi dây chuyền hiện đại, nghiên cứu mẫu mã để làm hài lòng thị hiếu của khách hàng

Trang 22

Ngành du lịch phát triển còn kích thích sự phát triển của các ngành xây dựng, giao thông vận tải, ngân hàng thông qua các cơ sở du lịch và khách du lịch tiêu thụ một khối lượng lớn các sản phẩm của ngành này

• Vai trò của du lịch đối với văn hóa và xã hội

Đối với xã hội thì du lịch với bản chất vốn có của nó là nghỉ ngơi và khám phá, tìm hiểu điều mới mẻ đem lại cho con người nhiều ý nghĩa trong cuộc sống Về mặt y tế, du lịch giúp con người phục hồi sức khoẻ và tăng cường sức sống Trong chừng mực nào đó, du lịch có tác dụng hạn chế các bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của con người Các công trình nghiên cứu về sinh học khẳng định rằng nhờ chế độ nghỉ ngơi và du lịch tối

ưu, bệnh tật của con người chúng ta trung bình giảm 30%, bệnh đường hô hấp giảm 40%, bệnh thần kinh giảm 30%, bệnh đường tiêu hoá giảm 20%

Bên cạnh đó, đối với văn hóa thông qua du lịch, đông đảo quần chúng có điều kiện tiếp xúc với những thành tựu văn hoá phong phú và lâu đời của các dân tộc, thả mình trong cảnh sắc thiên nhiên giàu đẹp, từ đó giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc và có ý thức bảo vệ những tài sản mà thế hệ trước để lại Điều này quyết định sự phát triển cân đối về nhân cách của mỗi cá nhân trong

xã hội

1.1.4 Nguyên tắc phát triển của du lịch

Phát triển bền vững, theo quy hoạch kế hoạch, bảo đảm hài hòa giữa kinh

tế, xã hội và môi trường, phát triển có trọng tâm trọng điểm, theo hướng du lịch văn hóa lịch sử, du lịch sinh thái, bảo tồn tôn tạo, phát huy giá trị tài nguyên du lịch (Theo điều 5 Luật Du Lịch Việt Nam)

1.2 Du lịch biển

1.2.1 Khái niệm du lịch biển

Theo tác giả: chủ biên Đổng Ngọc Minh và Vương Lôi Đình (2000): “Du lịch biển là chỉ tổng hòa hiện tượng và quan hệ, của các hoạt động du ngoạn, vui chơi, nghỉ ngơi tiến hành ở biển, sinh ra lấy biển làm chỗ dựa nhằm mục

Trang 23

đích thỏa mãn yêu cầu về vật chất và tinh thần của mọi người dưới điều kiện kinh tế, xã hội nhất định.”

Theo tác giả Đậu Thị Liên (2011), du lịch biển là một trong những loại hình du lịch diễn ra nhằm thỏa mãn nhu cầu về với thiên nhiên của con người Thiên nhiên ở đây là các cảnh quan vùng biển đảo, các bãi tắm và bãi cát, các

hệ sinh thái biển, khí hậu và thế giới sinh vật trong lòng đại dương như: các loại san hô, tảo, hải quỳ, các loại cá, sinh vật phù du…Bên cạnh đó, du lịch biển đáp ứng được nhu cầu nguyện vọng mong muốn quay về với tự nhiên gần gũi với thiên nhiên của con người Mục đích chính của du lịch biển là để thỏa mãn nhu cầu nghi ngơi thư giãn vui chơi giải trí, tìm hiểu khám phá làm cho cuộc sống thêm phong phú lấy lại cảm giác vui vẻ thoải mái cho con người sau những ngày làm việc căng thẳng

Theo Viện nghiên cứu và Phát triển Du lịch và đại học Bruxells ở Bỉ cho biết du lịch biển là hình thức du lịch được phát triển trên cơ sở khai thác tài nguyên biển, gắn liền với loại tài nguyên này là các hoạt động như: tắm biển, tắm nắng, tắm khí trời, hít thở không khí trời, thể thao nước nhằm thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi, chữa bệnh, vui chơi, giải trí của du khách tại vùng biển Mặt khác du lịch biển là loại hình du lịch ở vùng đất ven biển, trên bãi biển, trên mặt nước và vùng đất mặt nước biển

Tóm lại, trong phạm vi luận văn này chúng ta có thể hiểu du lịch biển là những hoạt động du lịch có liên quan tới nguồn lực tài nguyên biển Hiểu một cách khác thì du lịch biển là loại hình du lịch được phát triển ở khu vực biển

và vùng ven biển nhằm phục vụ nhu cầu của khách du lịch về nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, khám phá, mạo hiểm, …trên cơ sở khai thác tài nguyên du lịch biển bao gồm: tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn

Đặc điểm du lịch biển: Cũng như theo luận văn của tác giả Đậu Thị Liên

(2011) du lịch biển thường có một số đặc điểm như:

Trang 24

Du lịch biển có tính thời vụ: Đối với những vùng biển có khí hậu 4 mùa

rõ rệt thì du lịch biển thường phát triển mạnh mẽ nhất vào mùa hè, thời điểm này lượng khách đến với du lịch biển rất đông, dẫn đến sự quá tải, gây ô nhiễm môi trường, chất lượng dịch vụ không đảm bảo, không thỏa mẵn được nhu cầu tiêu dùng của khách du lịch Ngược lại về mùa đông khách đến với loại hình du lịch này không nhiều, nguồn nhân lực phục vụ lao động không có việc làm, các cơ sở vật chất kỹ thuật bị bỏ không một thời gian dài Gây nên tình trạng lãng phí nguồn tài nguyên, làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của các cơ sở vật chất kỹ thuật

Như vậy kết lại du lịch biển phụ thuộc rất nhiều vào khí hậu, thời tiết: Du lịch biển gắn với tự nhiên, cảnh quan vùng biển đảo, các bãi biển Do vậy các hiện tượng thời tiết bất thường có ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động du lịch như: gió bão, sóng thần, hạn hán và làm ảnh hưởng đến tâm lý khách du lịch, kìm hãm sự phát triển du lịch, gây ra những tổn thất nặng nề về cơ sở vật chất

kỹ thuật

1.2.2 Những điều kiện cơ bản để phát triển du lịch biển

Các ngành từ kinh tế đến khoa học, xã hội muốn phát triển đều chịu ảnh hưởng các điều kiện, hoàn cảnh đem lại cho ngành đó, tức là phải có lực đẩy,

có tiềm năng Ngành du lịch cũng không nằm ngoài quy luật đó Tuy nhiên, là một hoạt động đặc trưng, du lịch chỉ có thể phát triển được trong những điều kiện mà nó cho phép Du lịch biển là một loại hình du lịch của ngành du lịch

Vì vậy, các điều kiện ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành du lịch cũng là điều kiện ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển Các điều kiện chung để phát triển du lịch biển như:

• An ninh chính trị, an toàn xã hội

Để du lịch không ngừng phát triển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, sự phối hợp chặt chẽ giữa quốc phòng và an ninh với các hoạt động

du lịch cũng như các ngành kinh tế khác có ý nghĩa cực kì quan trọng Sự bảo

Trang 25

đảm vững chắc về quốc phòng, an ninh tạo môi trường ổn định cho đất nước

và khách tới tham quan

• Kinh tế

Một trong mhững yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển du lịch là điều kiện kinh tế chung Nền kinh tế chung phát triển là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của ngành kinh tế du lịch Theo ý kiến của các chuyên gia kinh tế thuộc Hội đồng Kinh tế Xã hội của Liên Hợp Quốc, một đất nước có thể phát triển du lịch một cách vững chắc nếu nước đó tự sản xuất được phần lớn số của cải vật chất cần thiết cho du lịch Kinh tế phát triển,

là nền tản cho giao thông được củng cố và mở rộng mà đó là một trong những nhân tố chính cho sự phát triển của du lịch

Ngày nay với sự tiến bộ của khoa học và kĩ thuật nhiều thành tựu được

áp dụng vào sản xuất Ngành du lịch chỉ phát triển khi có khách du lịch Nhân

tố hình thành nên khách du lịch bao gồm thời gian rỗi, động cơ – nhu cầu đi

du lich, khả năng tài chính Chúng ta thấy rằng khả năng tài chính của cá nhân mỗi du khách đóng vai trò rất quan trong trong việc thúc đẩy bước chân của du khách tham gia cuộc hành trình Điều này có nghĩa là khi nền kinh tế phát triển, đời sống con người được nâng cao, các nhu cầu hàng ngày được đáp ứng thì con người xuất hiện những nhu cầu cao hơn trong đó có nhu cầu du lịch

• Văn hóa

Trình độ văn hoá cao tạo điều kiên cho việc phát triển du lịch Việc phát triển du lịch phải mang dấu ấn của con người, tức là con người thông qua trí tuệ của mình đưa ra những biện pháp, cách thức để phát triển du lịch Một quốc gia giàu có về tài nguyên du lịch nhưng nếu không biết sử dụng trí óc của con người để phát huy hết giá trị của tài nguyên đó thì coi như “muối bỏ bể” Ngược lại có những quốc gia nghèo về tài nguyên du lịch nhưng biết phát huy hợp lí sẽ thu hút được lượng khách du lịch rất lớn và ngành du lịch sẽ phát triển bền vững

• Đường lối phát triển du lịch biển

Trang 26

Thật sự thì chính sách phát triển du lịch là chìa khóa quan trọng nhất dẫn đến thành công trong việc phát triển du lịch biển Nó có thể kìm hãm nếu đường lối sai với thực tế Chính sách phát triển du lịch được ở hai khía cạnh: Thứ nhất là chính sách chung của Tổ chức du lịch thế giới đối với các nước thành viên; thứ hai là chính sách của cơ quan quyền lực tại địa phương, quốc gia đó

Thứ hai có ý nghĩa quan trọng hơn cả vì nó huy động được sức người, căn cứ vào khả năng thực tế tại mỗi vùng, quốc gia đó để đưa ra chính sách phù hợp

Bên cạnh các điều kiện chung ở trên, thì còn có các điều kiện riêng để phát triển du lịch biển, tất nhiên phải tồn tại hai điều kiện là cung và cầu Những điều kiện cơ bản để hình thành cung du lịch biển gồm:

• Tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lịch gồm có tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn

➢ Tài nguyên tự nhiên: là các điều kiện về địa hình, mà cụ thể là cảnh quan thiên nhiên ven biển; quần thể sinh vật trên cạn, dưới nước như cây cỏ, tôm, cá, …; khí hậu (số ngày mưa, số giờ nắng trung bình, nhiệt độ trung bình của không khí vào ban ngày, nhiệt độ trung bình của nước biển, cường

độ gió, hướng gió)

➢ Tài nguyên nhân văn: là tổng thể các giá trị văn hóa, lịch sử, các thành tựu chính trị và kinh tế có ý nghĩa đặc trưng cho sự phát triển của du lịch biển như các viện bảo tàng hải dương học, các làng xã ven biển với nghề thủ công đặc trưng, các di tích đặc trưng của một triều đại hoặc một nền văn minh cổ xưa, các lễ hội biển thuộc bản sắc văn hóa địa phương

• Đội ngũ lao động là yếu tố quản lý, vận hành hoạt động du lịch Chất lượng của đội ngũ lao động trong hoạt động nghiệp vụ du lịch là một trong những yếu tố quyết định chất lượng sản phẩm du lịch

• Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch: Cùng với tài nguyên

du lịch, lao động du lịch, hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du

Trang 27

lịch là nguồn lực quan trọng để phát triển ngành du lịch, nó tạo nên thế đứng vững chắc, sự sẵn sàng đón khách của nước chủ nhà

• Ngoài ra cơ chế, chính sách là môi trường pháp lý để tạo sự tăng trưởng của “cung” trong hoạt động du lịch Trong du lịch, đây cũng là yếu tố quan trọng để tạo điều kiện cho khách du lịch đến nghỉ dưỡng

• Thị trường khách du lịch: Du lịch không thể xuất hiện, tồn tại và phát triển nếu không có khách du lịch Vì vậy đây chính là điều kiện tiên quyết để hình thành “cầu” du lịch và cũng là cơ sở để hình thành hoạt động du lịch

• Tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch: đây được xem là yếu tố để tăng “cầu” và là cầu nối giữa “cung” và “cầu” trong du lịch

1.2.3 Các loại hình du lịch biển

Tổ chức Du lịch Thế giới đã phân loại các loại hình du lịch chính theo các mục đích cơ bản của thị trường khách: nghỉ dưỡng, tiêu khiển giải trí, nghỉ mát; thăm người thân, bạn bè; thương mại, công vụ; chữa bệnh; tín ngưỡng và các mục đích khác Tất cả những mục đích này đều hoặc là đi du lịch vì ý thích (nghỉ dưỡng, tiêu khiển giải trí, nghỉ mát) hoặc là đi du lịch vì nghĩa vụ (thương mại, công vụ, chữa bệnh)

Cũng như vậy, có thể chia các loại hình du lịch biển thành 2 nhóm chính

là đi du lịch vì ý thích và đi du lịch vì nghĩa vụ Trong nhóm đi du lịch vì ý thích có hai loại: đi du lịch vì những sở thích chung và đi du lịch vì sở thích đặc biệt Thị trường khách đi du lịch có sở thích chung thường là những thị trường chính trong khi đi du lịch và sở thích đặc biệt là thị trường nhỏ, đặc biệt (niche market)

Như vậy, du lịch biển sẽ được phân loại với các loại hình như sau:

Du lịch theo sở thích ý muốn bao gồm:

Du lịch theo sở thích chung có 3 loại hình:

• Nghỉ dưỡng biển: là loại hình du lịch biển có tác dụng làm giải trí, làm cuộc sống thêm đa dạng và giải thoát cho con người khỏi công việc hàng ngày

Trang 28

• Tham quan biển: là loại hình du lịch biển có tác dụng giúp mọi người tham quan khám phá vẻ đẹp cũng như những thứ thuộc về biển mở mang kiến thức

• Du lịch tàu biển là loại hình du lịch bằng tàu trên biển như đi du thuyền hay tàu thám hiểm đại dương

Du lịch theo sở thích đặc biệt

• Thể thao biển là loại hình du lịch tham gia các loại thể thao biển như: bóng nước, bóng chuyền bãi biển, chèo thuyền Kayak Bên cạnh đó, có loại hình du lịch thể thao biển thụ động: là những cuộc hành trình đi du lịch để xem các cuộc thi thể thao quốc tế, các thế vận hội Olympic, …

• Mạo hiểm biển: như lướt ván buồn, dù lượn, moto nước, …

• Sinh thái biển như lặn biển lặn biển, câu cá, tìm hiểu đời sống dưới biển, trên cạn…

• Tìm hiểu lối sống cộng đồng là loại hình du lịch tìm hiểu khám phá trải nghiệm lối sống người dân vùng biển gồm đông đảo những người ham thích

mở mang kiến thức về thế giới và thỏa mãn những tò mò của mình thường là

đi du lịch có mục đích sẵn

• Lễ hội biển là loại hình du lịch diễn ra trong một ngày hoặc một khoảng thời gian đặc biệt, thường là để kỉ niệm, tưởng nhớ một sự kiện tôn giáo, với các hoạt động, ẩm thực, nghi lễ đặc sắc riêng và tổ chức ở biển, ven biển thể hiện giao lưu văn hóa hoạt động vui chơi giải trí cũng như hoạt động thể thao gồm lễ hội dân gian truyền thống và lễ hội hiện đại như Festival Diều quốc tế 2019 ở Vũng Tàu, Festival Biển Nha Trang,

• Văn hóa, nghệ thuật là loại hình du lịch nâng cao hiểu biết cho cá nhân

về mọi lĩnh vực như: lịch sử, kiến trúc, kinh tế, hội họa, cùng phong tục, tập quán của đất nước du lịch

Theo tác giả Phạm Trung Lương (2003) thì du lịch biển được phân loại như sơ đồ như bên dưới:

Trang 29

Du lịch theo nghĩa vụ, trách nhiệm CÁC LOẠI HÌNH DU LỊCH BIỂN

Du lịch tàu biển

Sơ đồ 1.1 Các loại hình du lịch biển

Nguồn: Phạm Trung Lương (2003)

Du lịch theo nghĩa vụ và trách nhiệm bao gồm:

• Du lịch chữa bệnh ở loại hình này, khách đi du lịch do nhu cầu điều trị các bệnh tật về thể xác và tinh thần của họ Du lịch chữa bệnh lại phân thành:

- Chữa bệnh bằng khí hậu: khí hậu núi, khí hậu biển

- Chữa bệnh bằng nước khoáng: tắm, uống nước khoáng;

- Chữa bệnh bằng bùn

- Chữa bệnh bằng hoa quả, chữa bệnh bằng sữa ngựa…

Du lịch chữa bệnh

Thương mại, công vụ

Hội nghị, hội thảo, hội chợ

Văn hóa, nghệ thuật

Lễ hội biển Tìm hiểu lối sống cộng đồng

Sinh thái biển Mạo hiểm biển Thể thao biển

Trang 30

• Du lịch thương mại, công vụ: có thể hiểu là loại hình du lịch nhằm thực hiện mục đích chính là đi tìm hiểu thị trường, thực hiện nhiệm vụ công tác hoặc nghề nghiệp nào đó

• Du lịch hội nghị, hội thảo, hội chợ nghiên cứu thị trường thông qua hội nghị, nghiên cứu dự án đầu tư, ký kết hợp đồng…

Nhìn chung về tiềm năng du lịch biển ở Việt Nam là khá phong phú và

đa dạng, tuy nhiên vì nhiều lý do, các sản phẩm du lịch nói chung, các sản phẩm du lịch biển nói riêng hiện còn tương đối đơn điệu và trùng lặp Phổ biến nhất hiện nay ở các khu du lịch biển vẫn chỉ là nghỉ dưỡng và tắm biển Các sản phẩm du lịch biển cao cấp còn hạn chế Đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản hạn chế khả năng chi tiêu và kéo dài ngày lưu trú của khách du lịch, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh và mức tăng trưởng của du lịch biển nói riêng, du lịch nói chung ở Việt Nam

1.3 Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch biển Việt Nam

1.3.1 Tiềm năng

• Với vị trí địa lý, dân cư, xã hội

Nước Việt Nam ta có vị trí địa lý chiến lược thuận lợi về biển Lãnh thổ đất liền của Việt Nam được bao bọc bởi đường bờ biển Đông trải dài trên 3.300 km trên 3 hướng: Đông, Nam và Tây Nam Trung bình cứ 100 km2 diện tích đất liền Việt Nam thì có 1 km bờ biển, tỷ lệ này cao hơn so với tỷ lệ trung bình của thế giới (600 km2 mới có 1 km bờ biển) Vùng ven biển Việt Nam hiện gồm 29 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với diện tích tự nhiên là 140.413 km2 bằng 41,5% diện tích cả nước Bên cạnh đó, theo số liệu điều tra, trên đường bờ biển có khoảng 125 bãi tắm lớn nhỏ, trong đó có những bãi tắm lớn mà chiều dài tới 15-18km và nhiều bãi tắm nhỏ chiều dài 1-2km đủ điều kiện thuận lợi để khai thác phục vụ du lịch

• Tài nguyên du lịch nước ta

Trang 31

Nói về tài nguyên du lịch thì vùng biển Việt Nam có điều kiện tự nhiên

và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi cho phát triển nhiều loại hình du lịch, đặc biệt là du lịch biển Với chiều dài 3.300 km bờ biển có khoảng hơn 126 bãi cát lớn nhỏ khác nhau, trong đó có bãi biển dài tới 17 - 20 km với chất lượng tốt Các bãi biển nước ta phân bố đều từ Bắc vào Nam, từ Móng Cái đến Hà Tiên

có hàng loạt các bãi biển đẹp như: Trà Cổ, Sầm Sơn, Cửa Lò, Nhật Lệ, Cửa Tùng, Cảnh Dương, Lăng Cô, Non Nước, Mỹ Khê, Sa Huỳnh, Quy Nhơn, Nha Trang, Ninh Chữ, Mũi Né, Vũng Tàu, Hà Tiên đây là điều kiện hết sức thuận lợi để xây dựng nên các khu du lịch tầm quốc tế Bên cạnh đó, nguồn nước khoán vùng ven biển Việt Nam khá phong phú có thể khai thác phục vụ

du lịch nghĩ dưỡng – chữa bệnh Đây là sản phẩm du lịch hấp dẫn nhiều thị trường du lịch quan tâm như Nhật Bản, Tây Âu

Vùng ven biển Việt Nam còn là nơi có nhiều hệ sinh thái điển hình, với tính đa dạng cao, trong đó có nhiều loại đặc hữu, quý hiếm Những giá trị sinh thái tập trung chủ yếu ở hệ thống 13/28 vườn quốc gia; 22/55 khu bảo tồn thiên nhiên, trong đó có 2 khu bảo tồn biển là Hòn Mun (Khánh Hòa) và Cù Lao Chàm (Quảng Nam) và 17/34 khu rừng văn hóa lịch sử và môi trường ở vùng ven biển và hải đảo ven bờ trong đó tiêu biểu là vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới; rừng ngập mặn Cần Giờ là khu dự trữ sinh quyển thế giới,

Bên cạnh giá trị tự nhiên, các yếu tố nhân văn giàu bẳn sắc văn hóa truyền thống của nhiều dân tộc như Kinh, Hoa, Khơ Me, Chăm,.v.v.ở vùng ven biển cũng có ý nghĩa to lớn đối với phát triển du lịch biển Hiện nay có tới 950/2509 di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng quốc gia nằm ở vùng ven biển, đặc biệt trong số đó có 3 di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận nằm trên địa bàn các tỉnh ven biển Nhiều lễ hội dân gian truyền thống, tiêu biểu là lễ hội Nghinh Ông hay lễ cúng cá Ông (cá voi); nhiều làng nghề truyền thống; là những giá trị văn hóa hấp dẫn khách du lịch

1.3.2 Hiện trạng phát triển

Trang 32

• Thị trường khách du lịch quốc tế:

Vùng ven biển là khu vực thu hút phần lớn khách du lịch quốc tế Nếu tính trên toàn lãnh thổ các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương vùng ven biển, hàng năm trên 70% tổng số lượt khách quốc tế (lưu trú) đã đến khu vực này: từ 2.140.000 lượt khách quốc tế năm 2005 lên 3.530.000 lượt năm 2010

và năm 2019 với số lượt khách quốc tế đến nước ta đã đạt hơn 5 triệu, tốc độ tăng trưởng trung bình về khách quốc tế giai đoạn 2005 – 2020 đạt hơn 10,2% Trong đó, tất cả các thị trường khách đều tăng so với cùng kỳ như Campuchia tăng 92,2%, Trung Quốc tăng 89,2%, Thái Lan tăng 39,5%, Hàn Quốc tăng 29,4%, Australia tăng 27,9%, Malaysia tăng 23,1%, Đài Loan tăng 20,7%, Nhật Bản tăng 18,7%, Pháp tăng 12%, Mỹ tăng 2,4% Khách quốc tế đến vùng biển và ven biển Việt Nam nói riêng và Việt Nam nói chung theo nhiều loại hình du lịch đa dạng: tham quan di tích văn hoá, lịch sử cách mạng; tham quan thắng cảnh thiên nhiên; nghỉ dưỡng biển, du lịch thương mại và tham dự hội thảo, hội nghị

Theo như WTO dự tính thì khách quốc tế đến Việt Nam nhìn chung chi tiêu trung bình khoảng 60-80USD/ngày (Những khách du lịch có khả năng chi tiêu cao như khách Mỹ (107 USD /ngày/khách), Nhật Bản (97 USD/ngày/khách), Đài Loan (93 USD/ngày/khách) Chi tiêu ở mức thấp hơn

có khách Anh, khách Úc và Niu Zi Lân, khách Tây Âu ở mức 60–80 USD/ngày/khách (Nguồn: kết quả nghiên cứu của JICA) Việt Kiều chi ở mức thấp hơn, dưới 50 USD/ngày/khách

• Thị trường khách du lịch nội địa:

Các tỉnh, đô thị vùng biển và ven biển thu hút khoảng 56% khách du lịch nội địa của cả nước: từ đầu năm 2015 đón được 12,5 triệu lượt khách đến năm

2019 đã đạt 30 triệu lượt khách, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước Nguyên nhân chính của việc tăng trưởng này là: các khu du lịch biển có sức hấp dẫn nhiều khách nghỉ dưỡng theo mùa vào dịp hè ở phía Bắc và vào mùa khô ở phía Nam; các hoạt động du lịch lễ hội khu vực ven biển ngày càng phát triển;

Trang 33

các khu, điểm du lịch được đầu tư, phát triển và đưa vào khai thác ngày một nhiều, với chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao Nhu cầu của khách nội địa đa dạng, có nhu cầu hưởng thụ các dịch vụ vui chơi giải trí gắn với du lịch biển nhiều hơn trước

• Sản phẩm du lịch:

Sản phẩm du lịch vùng biển và ven biển được đa dạng hoá, từng bước được nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh, được xây dựng trên cơ sở khai thác tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn Các địa phương đã đẩy mạnh việc khai thác tiềm năng và thế mạnh về tài nguyên du lịch, bảo tồn và phục hồi các lễ hội truyền thống, tổ chức nhiều hoạt động du lịch với nhiều chủ đề độc đáo, hấp dẫn Hệ thống các sản phẩm du lịch biển và ven biển được phân bố theo vùng lãnh thổ sau:

Du lịch biển, nghỉ dưỡng biển, đảo tập trung ở khu vực Quảng Ninh-Hải Phòng; Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng - Hội An; Khánh Hoà, Bình Thuận, Vũng Tàu; Kiên Giang

Du lịch văn hoá, lịch sử cách mạng; tham quan tìm hiểu văn hoá dân tộc,

du lịch lễ hội tập trung ở Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Ninh Thuận, Khánh Hoà

Du lịch thành phố, MICE, tập trung ở TP Hạ Long, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hội An, Huế, Nha Trang, Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh

Du lịch sinh thái biển, vùng ngập mặn tại các địa phương Quảng Ninh- Hải Phòng; Thái Bình; Thừa Thiên - Huế, Khánh Hoà; Bà Rịa- Vũng Tàu; ven biển vùng đồng bằng Sông Cửu Long như Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang

• Các dịch vụ du lịch:

Như theo số liệu thống kê, vùng ven biển Việt Nam có khoảng hơn 5000

cơ sở lưu trú, đặc biệt là các khách sạn từ 3 sao trở lên phần lớn tập trung ở đây (chiếm 68%/ cả nước) Tuy nhiên, do sự phát triển thiếu qui hoạch, số lượng các cơ sở lưu trú, đặc biệt là các khách sạn mini, ở vùng ven biển tăng

Trang 34

nhanh, tạo tình trạng thừa vào mùa vắng khách, ảnh hưởng đến công suất sử dụng phòng trung bình năm Mặc dù số lượng cơ sở lưu trú ở vùng ven biển nhiều, song qui mô nhìn chung còn nhỏ, chất lượng chưa cao, các dịch vụ bổ sung còn nghèo nàn Khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 1 đến 2 sao chiếm tỷ trọng lớn trong số khách sạn được xếp hạng Đây cũng là một trong những yếu tố làm cho sản phẩm du lịch vùng này chưa có sức hấp dẫn khách, chưa chiếm được ưu thế cạnh cạnh tranh trên thị trường du lịch quốc tế

Các cơ sở dịch vụ vui chơi - giải trí: tại các khu, điểm du lịch vùng biển nhiều cơ sở vui chơi giải trí từng bước được đầu tư phát triển đáp ứng nhu cầu giải trí của khách du lịch như: sân tennis, bể bơi, phòng tập thể thao, quầy bar,

vũ trường, phòng karaoke; dịch vụ y tế phòng xông hơi, massage; dịch vụ thương mại gồm phòng họp, hệ thống các cửa hàng, quầy hàng lưu niệm và dịch vụ khác phục vụ khách du lịch

Tuy nhiên loại hình còn nghèo nàn, qui mô nhỏ, hình thức đơn điệu, chưa đáp ứng được nhu cầu của du lịch, thiếu tính cạnh tranh hấp dẫn Đây cũng là một nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả kinh doanh của ngành du lịch

Về dịch vụ vận chuyển khách du lịch: vận chuyển hàng cũng có đổi mới trong quản lý và không ngừng nâng cao chất lượng, đảm bảo các chuyến bay quốc tế và nội địa được thông suốt và an toàn đến các điểm, khu du lịch vùng ven biển thông qua các sân bay như Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Nha Trang, Cát

Bi, Phù Cát, Vinh, Rạch Giá,

Về vận chuyển đường sắt, chất lượng các đoàn tàu đang từng bước được nâng cao chất lượng phục vụ và rút ngắn thời gian chạy đặc biệt các chuyến tàu Bắc - Nam liên kết toàn bộ vùng ven biển từ Hải Phòng đến thành phố Hồ Chí Minh, thu hút ngày càng nhiều khách du lịch

• Kết quả đạt được

Theo thống kê năm 2019 Du lịch biển chiếm 70% doanh thu của ngành

du lịch cả nước Và cũng theo như khảo sát từ Hội đồng Tư vấn du lịch năm

Trang 35

2020, nhu cầu du lịch ưa chuộng là du lịch biển (62%), nghỉ dưỡng núi (37%), khám phá thiên nhiên (48%) Du lịch biển phát triển cũng tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người dân địa phương vùng ven biển, làm đổi thay bộ mặt nhiều địa phương trước đó là nơi nghèo khổ, khó khăn, kém và chưa phát triển

Hơn thế nữa, đội ngũ lao động du lịch vùng ven biển hiện nay chiếm khoảng 65% tổng số lao động trực tiếp của cả nước, tập trung nhiều nhất ở TP

Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu (trên 60%); Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng (9%); Hải Phòng - Quảng Ninh (8,5%) Bên cạnh đó, sự phát triển của du lịch biển còn tạo việc làm gián tiếp cho nhiều lao động là các dân cư ven biển Người dân địa phương, đặc biệt là lao động trẻ được đào tạo bài bản chuyên sâu về du lịch để trực tiếp làm việc trên chính mảnh đất quê hương mình Ví

dụ như vùng biển mũi Né (Bình Thuận) từ một làng chài nghèo, thiếu thốn nay được mệnh danh là “thủ đô resort,” “thiên đường nghỉ dưỡng” của Việt Nam; biển Lăng Cô-Thừa Thiên Huế; đảo Phú Quốc (Kiên Giang), Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Đồng Hới (Quảng Bình), Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu) …

• Đánh giá chung

Du lịch biển nói chung đã có những bước phát triển mạnh mẽ, giữ vai trò chủ đạo trong tiến trình phát triển chung của du lịch vùng Tuy nhiên hoạt động phát triển du lịch biển ở Việt Nam còn một số tồn tại như sau:

Các loại hình và sản phẩm du lịch chưa phong phú, chất lượng không đồng đều, khả năng cạnh tranh thấp Việc phát triển du lịch mới ở hình thức khám phá tài nguyên; du lịch biển chưa tạo được sự hấp dẫn đặc biệt đối với khách du lịch so với những lãnh thổ khác trong cả nước; còn tình trạng trùng lặp về sản phẩm du lịch trong vùng và giữa các khu vực Thiếu những khu du lịch, sản phẩm du lịch đặc sắc, có tầm cỡ, có sức cạnh tranh trong khu vực và quốc tế và như là đầu tàu làm động lực thúc đẩy du lịch của vùng và cả nước phát triển - Công tác đầu tư phát triển du lịch, đặc biệt về cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng du lịch, bảo tồn, tôn tạo tài nguyên du lịch còn hạn chế,

Trang 36

chưa tương xứng tiềm năng và nhu cầu phát triển du lịch; khách du lịch quốc

tế đến Việt Nam bằng đường biển chiếm khoảng trên 8% trong tổng lượt khách quốc tế

Du lịch Việt Nam chưa tham gia các hội nghị, hội chợ chuyên về du lịch biển và du lịch tàu biển trên thế giới Bên cạnh đó là hiệu quả kinh doanh du lịch chưa cao, khả năng cạnh tranh yếu, còn một số biểu hiện cạnh tranh thiếu lành mạnh, đặc biệt ở những khu vực ven biển có nhiều sản phẩm du lịch trùng lặp Việc đầu tư khai thác hệ thống các đảo, trước hết là hệ thống các đảo ven bờ, cho phát triển du lịch còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với vị trí và tiềm năng của hệ thống đảo

Đối với tài nguyên và môi trường du lịch một số vùng, địa phương đang

bị suy giảm, bị xâm phạm do bất cập trong việc quản lý phát triển và khai thác

và tác động của thiên tai: cảnh quan - môi trường ở một số khu vực tập trung tài nguyên du lịch biển Ngoài ra, với tình trạng chồng chéo trong quản lý, thiếu phối hợp liên ngành và lãnh thổ, thiếu quy hoạch thống nhất trong khai thác tài nguyên, đặc biệt ở những vùng biển và ven biển tập trung những tài nguyên có giá trị cao không chỉ về du lịch mà còn đối với các ngành kinh tế khác đang từng bước làm suy kiệt tài nguyên du lịch biển

Cộng thêm với tốc độ và quy mô phát triển đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp và cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật ngày càng tăng tại các vùng ven biển làm nảy sinh những vấn đề môi trường mang tính liên vùng, công tác bảo tồn, tôn tạo tài nguyên và bảo vệ môi trường của hoạt động du lịch biển còn nhiều bất cập ảnh hưởng lớn đến phát triển du lịch biển.

1.4 Quản lý nhà nước về du lịch biển thành phố Vũng Tàu

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ cho các phòng văn hóa - thông tin và Ban quản lý dự án du lịch thành phố Vũng Tàu Ban Quản lý trong thời gian qua là đơn vị tác nghiệp tích cực, sâu sát trên địa bàn, giúp UBND thành phố Vũng Tàu đảm bảo trật tự, trị an, vệ sinh môi trường, đảm bảo an toàn cho du khách tại các khu du lịch, các bãi tắm, nhờ đó,

Trang 37

môi trường du lịch đã có chuyển biến rõ nét và góp phần củng cố uy tín của ngành du lịch

Trong công tác tham mưu ban hành và triển khai các văn bản vi phạm pháp luật, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hiện nay đã chủ trì, phối hợp các ngành liên quan và các địa phương tham mưu xây dựng và triển khai một số văn bản quan trọng, tác động tạo sự chuyển biến lớn đến các hoạt động du lịch của Tỉnh, điển hình là:

• Quy chế về quản lý và tổ chức kinh doanh dịch vụ du lịch tại các bãi tắm

• Quy định về quản lý hoạt động kinh doanh ca nô, du thuyền, mô tô trượt nước phục vụ khách du lịch tại các bãi biển

• Chỉ thị số 21/2006/CT-UBND ngày 12/7/2006 của UBND Tỉnh về việc chấn chỉnh kinh doanh lưu trú du lịch tại các phòng trọ, nhà nghỉ trên địa bàn Tỉnh;

• Chỉ thị số 01/2011/CT-UBND ngày 11/01/2011 của UBND Tỉnh về tăng cường công tác thống kê du lịch

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã kịp thời triển khai Luật Du lịch năm

2005 và các nghị định của Chính phủ, thông tư của Bộ Văn hóa, Thể thao và

Du lịch qui định chi tiết thi hành Luật Du lịch, hướng dẫn các đơn vị, doanh nghiệp du lịch thực hiện, nhằm đưa các hoạt động kinh doanh du lịch đi vào nề nếp và đúng luật định Theo sự phát triển đa dạng các hoạt động du lịch, công tác quản lý nhà nước ngày càng hoàn thiện, tạo điều kiện cho các hoạt động du lịch tăng trưởng ổn định và đúng pháp luật, đảm bảo môi trường kinh doanh

du lịch thuận lợi và đúng pháp luật; Các thủ tục hành chính về kinh doanh và đầu tư du lịch đã được rà soát theo hướng tinh gọn, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nhưng vẫn đảm bảo chặt chẽ trong quản lý

1.5 Kinh nghiệm phát triển du lịch biển tại Nha Trang – Khánh Hòa

Thành phố biển Nha Trang đặc thù là mô hình du lịch biển - đảo, lấy bờ biển Nha Trang làm trung tâm, trên cơ sở đó liên kết với các cụm đảo cách

Trang 38

Nha Trang khoảng 5km Các điểm du lịch ở đây được kết nối bằng tàu thuyền Nha Trang có những dãy núi phía Tây chạy dài như: Núi Cô Tiên, Hòn Khô, Hòn Dung, Hòn Sạn, Hòn Thơm, Hòn Chụt và các đảo Núi và biển tạo ra cho thành phố này những cảnh quan kỳ thú Có lợi thế về địa hình tự nhiên giúp thành phố Nha Trang có tiềm năng về loại hình du lịch kết hợp núi và biển Với các thế núi và truyền thuyết về các núi như núi Cô Tiên, Hòn Chồng, Hòn Dung, Hòn Thơm tạo ra cho Nha Trang có thể phát triển các điểm du lịch nghỉ dưỡng lý thú mang tính nhân văn sâu sắc

Nhìn chung dải đô thị ven biển thành phố Nha Trang tuy có nhiều lợi thế

về thiên nhiên nhưng vẫn chưa phát huy đúng với tiềm năng về khí hậu và địa hình của khu vực Việc đầu tư cơ sở hạ tầng chưa tương xứng với một thành phố du lịch nhất là loại hình du lịch sinh thái

Tài nguyên biển, đảo: Vịnh Nha Trang có diện tích lớn, được che chắn bởi 19 hòn đảo lớn nhỏ nên vịnh luôn êm sóng, biển xanh, cát trắng cùng khí hậu ổn định, ít mưa bão, số ngày nắng nhiều; Bãi biển Nha Trang dài, cát mịn, không có phù sa lắng đọng; các hòn đảo đểu được đầu tu các khu du lịch Và

đó là điều kiện thuận lợi quan trọng để phát triển du lịch biển

Điểm nổi bật ở Nha Trang là các loại hình thể thao trên biển lẫn dưới nước đều rất đa dạng và hấp dẫn như: lướt ván, kéo phao chuối, kéo dù, thuyền thúng, mô tô nước, lặn biển, tham quan tàu đáy kính… khu vui chơi hấp dẫn ở Nha Trang như Thủy cung Trí Nguyên

Kết lại, có thể khẳng định rằng mô hình phát triển du lịch biển ở Nha Trang là theo kiểu: “tuyến dọc biển” tức là một đường phố lớn (đường Trần Phú) trên đó nối tiếp nhau những khách sạn, biệt thự, các công viên, các trung tâm phục vụ các trò chơi giải trí, thể thao trên biển

1.6 Kinh nghiệm phát triển du lịch biển tại đảo Bali – Indonexia

Bali có hình hài giống như một chú gà, mỏ hướng về Ấn Độ Dương, là một trong hàng ngàn hòn đảo của Indonesia Bali nằm ở phía Đông của

Trang 39

Indonesia, cách thủ đô Jakarta hơn 1,000km về phía tây và là một trong 33 tỉnh của Indonesia Vì nằm gần đường xích đạo, khí hậu ở Bali cũng tương tự như ở Vũng Tàu Thời tiết cũng có hai mùa là nắng và mưa Nhiệt độ trung bình ở Bali khoảng 20-30 độ, lý tưởng cho du khách đi nghỉ mát, tắm biển Ngày nay, với 3,15 triệu dân, 1.200 khách sạn và resort từ bình dân đến sang trọng, Bali là nơi có mật độ dân số và mức sống thuộc hàng cao nhất Indonesia

Theo công bố của tạp chí du lịch trực tuyến Smart Travel Asia nổi tiếng chính thức công bố kết quả bầu chọn các thương hiệu du lịch Châu Á năm

2010, Bali dẫn đầu trong top 10 điểm du lịch tốt nhất châu Á

Những điểm nổi bật tạo sức hút và thành công của du lịch biển Bali thời gian qua là sản phẩm du lịch biển đa dạng, phong phú Với những bãi biển cát trải dài phẳng lặng, lớp lớp thửa ruộng bậc thang, những cánh rừng nhiệt đới còn lưu lại cuộc sống hoang dã Bali mang lại đầy đủ các loại hình du lịch biển

mà du khách muốn có, từ du lịch tham quan, thể thao biển, sinh thái biển, nghỉ dưỡng biển, đến du lịch lễ hội văn hóa Đó cũng là sân chơi cho niềm đam

mê mạo hiểm của du khách bởi cano, du thuyền, lướt ván, nhảy dù bên bờ biển; là cơ hội khám phá hệ động thực vật phong phú dưới lòng đại dương Bali cũng là một nơi lý tưởng để đưa trẻ em đến đây du lịch Các điểm du lịch trên hòn đảo này rất thân thiện với trẻ, điều đó đã khiến nơi đây trở thành điểm đến hoàn hảo cho cả gia đình Khách du lịch đến Bali sẽ bị cuốn hút bởi nhiều hoạt động khác nhau, như lướt sóng, đùa nghịch với cát và biển, các hoạt động văn hóa như khiêu vũ, thăm đền chùa và khám phá phong cách cuộc sống truyền thống của người dân Bali Không gian du lịch biển được quy hoạch và phát triển đồng bộ, đáp ứng cao thị trường du khách

Về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch như: giao thông, cơ sở lưu trú,

cơ sở dịch vụ ăn uống và các cơ sở dịch vụ du lịch khác được đầu tư đúng mức về quy mô và chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế Ở Bali, luôn có các khách sạn, khu du lịch sang trọng với đầy đủ các dịch vụ làm hài lòng các

Trang 40

thượng khách Bali có nhiều nhà hàng với đa dạng thực đơn lựa chọn, chi phí thấp, chất lượng cao, không gian ăn uống lãng mạn, đây là một trong những điểm thích thú thu hút du khách

Nguồn lực lao động du lịch biển nhiều, chuyên nghiệp và thân thiện Ở Bali, “người người làm du lịch, nhà nhà làm du lịch” Bali được đánh giá là hòn đảo thân thiện với du khách nhất Indonesia Người dân trên hòn đảo này chủ yếu sống dựa vào ngành du lịch, đó là thế mạnh của họ Bởi vậy, họ đã chăm chút cho "ngành ruột" của mình khá kỹ, bài bản và chuyên nghiệp Ý thức công cộng của người dân ở đây cao, thân thiện và hiếu khách Bali cũng hầu như không có người ăn xin, nạn chèo kéo du khách hay trộm cắp vặt Nhìn chung có thể thấy được du lịch biển Bali phát triển mang tính cộng đồng Đối với việc phát triển sản phẩm du lịch, đặc biệt tại địa bàn đảo Bali - một trong những điểm du lịch nổi bật của Indonesia - thì những thành công chính nằm ở những vấn đề như tôn trọng ý kiến, tập tục và tư duy của người bản địa; nâng cao nhận thức về phát triển du lịch theo một quá trình; ban hành các quy định chặt chẽ và rõ ràng về kiến trúc, xây dựng các khu du lịch trong

đó có tôn trọng ý kiến và phong tục địa phương, có quan điểm bảo tồn và gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống Ngoài ra thì du lịch biển ở Bali phát triển mạnh dựa trên nền văn hóa truyền thống, Các truyền thống và văn hoá gốc ảnh hưởng đến sự ra đời và phát triển của du lịch địa phương Qua 100 năm xây dựng thiên đường du lịch, nền văn hóa phương Tây hầu như không tác động nhiều đến nhân sinh quan và cách sống của người Bali Hầu hết người dân vẫn trung thành với lối ăn mặc, lối sinh hoạt cùng phương thức ứng xử truyền thống, đây cũng là một trong những điểm nổi bật thu hút khách du lịch khắp nơi trên thế giới Bên cạnh đó, du lịch biển ở đảo Bali với công tác xúc tiến, quảng bá du lịch biển nói chung và du lịch biển nói riêng được quan tâm và ngày càng được đẩy mạnh

Ngày đăng: 15/11/2022, 22:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Văn An (2018), Đảng Bộ Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 1991 đến năm 2015, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Bộ Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 1991 đến năm 2015
Tác giả: Đinh Văn An
Nhà XB: Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2018
2. Trần Thị Kim Ánh (2010), Nghiên cứu phát triển du lịch biển Đà Nẵng, trường Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển du lịch biển Đà Nẵng
Tác giả: Trần Thị Kim Ánh
Năm: 2010
3. Biển Đảo Việt Nam – Tài nguyên vị thế và những kỳ quan địa chất, sinh thái tiêu biểu, viện Khoa học vả Công nghệ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biển Đảo Việt Nam – Tài nguyên vị thế và những kỳ quan địa chất, sinh thái tiêu biểu, viện Khoa học vả Công nghệ Việt Nam
Nhà XB: Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
4. Lê Trọng Bình (2009), Đẩy mạnh phát triển du lịch biển đảo Việt Nam, Tạp chí du lịch Việt Nam số 09 (2009), Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Tổng cục du lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh phát triển du lịch biển đảo Việt Nam
Tác giả: Lê Trọng Bình
Nhà XB: Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch
Năm: 2009
6. Cẩm nang du lịch (2011), Du lịch biển ở Côn Đảo, du lịch Hòn Cau – Côn Đảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang du lịch
Năm: 2011
10. Nguyễn Thị Thúy Duyên (2019), Du lịch biển Hà Tĩnh – Thực trạng và giải pháp, Trường Đại học Công nghiệp thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch biển Hà Tĩnh – Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Duyên
Nhà XB: Trường Đại học Công nghiệp thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2019
11. Vũ Văn Đông (2014), Phát triển du lịch bền vững Bà Rịa Vũng Tàu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch bền vững Bà Rịa Vũng Tàu
Tác giả: Vũ Văn Đông
Năm: 2014
12. Điều kiện kinh tế xã hội – nhân văn vùng ven biển Việt Nam, viện Khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều kiện kinh tế xã hội – nhân văn vùng ven biển Việt Nam
13. Nguyễn Thị Hương (2019), Xây dựng thương hiệu du lịch Thành phố Vũng Tàu, trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng thương hiệu du lịch Thành phố Vũng Tàu
Tác giả: Nguyễn Thị Hương
Nhà XB: trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu
Năm: 2019
14. Phạm Thị Hường (2010), Các giải pháp hạn chế tính mùa vụ của hoạt động du lịch biển Cửa Lò, trường Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp hạn chế tính mùa vụ của hoạt động du lịch biển Cửa Lò
Tác giả: Phạm Thị Hường
Nhà XB: trường Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
15. Võ Thị Ngọc Hiền (2020), Nghiên cứu, đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên ven biển Phú Yên và định hướng phát triển du lịch, Trường Đại học Phú Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên ven biển Phú Yên và định hướng phát triển du lịch
Tác giả: Võ Thị Ngọc Hiền
Năm: 2020
16. Nguyễn Đình Hoè, Vũ Văn Hiếu (2001), Du lịch bền vững, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch bền vững
Tác giả: Nguyễn Đình Hoè, Vũ Văn Hiếu
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2001
17. Lê Huy Hiệp (2020), Ứng dụng Digital Marketing trong quảng bá du lịch tại thành phố Vũng Tàu, trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng Digital Marketing trong quảng bá du lịch tại thành phố Vũng Tàu
Tác giả: Lê Huy Hiệp
Nhà XB: trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu
Năm: 2020
52. Minh Huyền, Bà Rịa – Vũng Tàu đón hơn 8 triệu lượt khách trong 6 tháng năm 2019, truy cập 12-08-2021, https://bvhttdl.gov.vn/ Link
53. Hồng Hà, Nghiên cứu về phát triển du lịch biển, truy cập 26-07-2021, https://toquoc.vn/nghien-cuu-ve-phat-trien-du-lich-bien20210126200817723.htm Link
54. Phát triển Du lịch biển Việt Nam, truy cập 18-07-2021, http://luanvan.net.vn/luan-van/phat-trien-loai-hinh-du-lich-bien-o-viet-nam-1199/ Link
55. Ủy ban Nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2015-2019, truy cập 22-07-2021, https://baria-vungtau.gov.vn/ Link
56. Tin tổng hợp Bà Rịa Vũng Tàu, Tiềm năng du lịch biển Bà Rịa – Vũng Tàu, truy cập 28-07-2021, https://dpnr.com.vn/tiem-nang-du-lich-bien-ba-ria-vung-tau.html Link
59. Lê Anh Tuấn, Bà Rịa - Vũng Tàu khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế biển, Truy cập 05-08-2021, http://www.nhandan.com.vn/tshs/phat-trien-kinh-te-bien/item/12257402-.html Link
60. Luyến Nguyễn (2017), Khám phá những làng nghề truyền thống và điểm đến Vũng Tàu hấp dẫn, Truy cập 17-09-2021, https://www.vntrip.vn/cam- Link
w