Đất nước phát triển, nền kinh tế đi lên kéo theo tình trạng phân hóa giàu nghèo trong xã hội và đây vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả liên quan đến các vấn đề về bất bình đẳng và phân tần
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI VIỆN HỢP TÁC QUỐC TẾ
Anh/chị hãy nêu những dạng bất bình đẳng đang tồn
tại trong xã hội Việt Nam hiện nay.
Giáo viên hướng dẫn: ThS Đặng Minh Tiến
Mã lớp học phần: 2225RLCP0421 Nhóm thực hiện: 03
Hà Nội – 04/2022
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI VIỆN HỢP TÁC QUỐC TẾ
Trang 2BÀI THẢO LUẬN
Hà Nội - 04/2022
Mục lục
Trang
Trang 3a) Quan điểm dựa vào yếu tố sinh học của cá nhân.
b) Quan điểm dựa vào yếu tố kinh tế.
CHƯƠNG II CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN BẤT BÌNH ĐẲNG XÃ
HỘI Ở VIỆT NAM
9
2.1 Khác biệt về kinh tế.
2.2 Khác biệt về chính trị,văn hóa, xã hội. 11
a) Những yếu tố thuộc hệ thống chính sách thể chế pháp luật 16 11
b) Những yếu tố thuộc về vùng môi trường tự nhiên, cơ sở hạ tầng có tác động đáng kể đến phân hóa giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. 12
2.3 Khác biệt về uy tín vị thế trong cơ cấu xã hội 13
Trang 4b) Sở hữu của cải (tài sản)
c) Trình độ học vấn (kinh nghiệm, kỹ năng, chuyên môn đào tạo…)
b)Bất bình đẳng theo chiều ngang (bất bình đẳng theo dân tộc và theo vùng). 18
c) Bất bình đẳng giới và bất bình đẳng đan xen 20
3.3 Giải pháp giải quyết vấn đề bất bình đẳng ở Việt Nam hiện nay 25
d) Cải thiện chính sách về việc làm và lương 28
Trang 5TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com
Trang 6Đất nước phát triển, nền kinh tế đi lên kéo theo tình trạng phân hóa giàu nghèo trong
xã hội và đây vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả liên quan đến các vấn đề về bất bình đẳng và phân tầng xã hội Việc giải quyết các vấn đề liên quan tới đói nghèo, bất bình đẳng, phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và hội nhập quốc tế đang được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm để không ai bị bỏ lại phía sau
Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề đó, Nhóm 03 chúng
em đã nghiên cứu và thảo luận cùng phân tích về đề tài: “Bằng ví dụ
minh họa cụ thể trong thực tiễn, Anh/chị hãy nêu những dạng bất bình
đẳng đang tồn tại trong xã hội Việt Nam hiện nay”.
2 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ thực trạng về những dạng bất bình đẳng phổ biến ở Việt Nam
hiện nay và hệ quả của bất bình đẳng tới xã hội Từ đó đưa ra các giải
pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả quản lí phát triển xã hội ở Việt Nam
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các dạng bất bình đẳng xã hội ở Việt Nam hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Xã hội Việt Nam hiện nay
Trang 7CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Khái niệm và đặc trưng của bất bình đẳng xã hội
a) Khái niệm bất bình đẳng xã hội:
- Bất bình đẳng xã hội là sự không bình đẳng ( không bằng
nhau ) về cơ hội hoặc lợi ích đối với những cá nhân khác nhau trong
một nhóm hoặc nhiều nhóm trong xã hội
- Tất cả các xã hội đều được đặc trưng bởi sự khác biệt xã hội Đó là quá trình mà con người tạo nên khoảng cách do cách ứng xử khác nhau bởi vị thế, vai trò cùng những đặc điểm khác Quá trình đó chuẩn bị cho bất bình đẳng xã hội, là điều kiện mà con người có cơ hội không ngang bằng nhau về sử dụng của cải, quyền lực và uy tín Bất bình đẳng là một hiện tượng mang tính kế thừa ở mọi thời đại vì nó tồn tại trong mọi xã hội do cơ cấu xã hội mang lại Bất bình đẳng không phải là một hiện tượng tự nhiên, tồn tại một cách ngẫu nhiên giữa các mối quan hệ trong xã hội, nó tồn tại “khi có một nhóm xã hội kiểm soát và khai thác các nhóm xã hội khác.”
- Trong sự vận động và phát triển của xã hội thì bất bình đẳng xã hội luôn là một vấn
đề trung tâm Bất bình đẳng xã hội hình thành nên một hệ thống tồn tại song song với sự phát triển qua những xã hội khác nhau Điều đó cũng cho ta nhận biết được rằng hệ thống bất bình đẳng sẽ khác nhau trong những xã hội khác nhau và nguyên nhân chính là do thể chể chính trị và hoàn cảnh, điều kiện sinh sống của
từng nơi quyết định
- Bất bình đẳng được phân thành:
+ Bất bình đẳng mang tính tự nhiên: đó là sự khác biệt
của cá nhân về một hoặc một số đặc điểm sẵn có như giới, tuổi, chủng tộc, trí lực
+ Bất bình đẳng mang tính xã hội: đó là sự phân công lao động dẫn đến phân tầng, tạo ra lợi ích khác nhau giữa các cá nhân.
b) Đặc trưng của bất bình đẳng xã hội:
- Bất bình đẳng được xem như là điều kiện để tổ chức xã hội
- Bất bình đẳng là cơ sở cho việc điều chỉnh các quan hệ xã hội
- Bất bình đẳng đảm bảo cho đời sống và phát triển xã hội
1.2 Cơ sở tạo nên bất bình đẳng xã hội
- Bất bình đẳng được hình thành trong đời sống xã hội, nhất là trong lĩnh vựcsản xuất vật chất Nó gắn liền với phân công lao động xã hội Do đó, bất bình đẳng diễn
ra không giống nhau ở các xã hội khác nhau Đặc biệt, ở những xã hội có quy mô lớn và hoàn thiện, nền sản xuất xã hội phát triển cao, sự phân công lao động càng đa dạng, phức tạp và bất bình đẳng xã hội càng trở nên gay gắt
Trang 8- Những nguyên nhân tạo ra bất bình đẳng vô cùng đa dạng và khác nhau giữa các xã hội và nền văn hóa, gắn liền với đặc điểm của giai cấp xã hội, giới tính, chủng tộc, tôn giáo, lãnh thổ,… Trong từng thời kỳ, cơ sở tạo nên bất bình đẳng cũng có
sự khác nhau Một số yếu tố trở nên mạnh mẽ vào giai đoạn này nhưng lại ít ảnh hưởng trong giai đoạn khác Bất bình đẳng tồn tại và đi liền với những vấn đề và yếu tố mang tính thời sự trong xã hội Tuy nhiên, dù nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng xã hội rất đa dạng, các nhà xã hội học quy chúng vào ba nhóm cơ bản, đó là những cơ hội trong cuộc sống, địa vị xã hội và ảnh hưởng chính trị
- Những cơ hội trong cuộc sống là những thuận lợi vật chất có
thể cải thiện chất lượng cuộc sống như của cải, tài sản, thu nhập, công việc,lợi ích chăm sóc sức khoẻ hay đảm bảo an ninh xã hội Cơ hội là những thực tế cho thấy những lợi ích vật chất và sự lựa chọn thực tế của nhóm xã hội bất kể thành viên của nhóm có nhận thức được điều đó hay không
Trong xã hội, một nhóm người có thể có những cơ hội, trong khi các nhóm khác lại không Đây là cơ sở khách quan của bất bình đẳng
- Sự khác nhau về địa vị xã hội, tức là sự khác nhau về uy tín hay vị trí do quan niệm và sự đánh giá của các thành viên khác trong xã hội Địa vị xã hội là sự phản ánh vị thế xã hội của cá nhân, do cá nhân đạt được ở trong một nhóm hoặc là một thứ bậc trong nhóm này khi so sánh với thành viên trong nhóm khác, được xác định bởi một loạt đặc điểm kinh tế, nghề nghiệp, sắc tộc Trong một xã hội cụ thể, nếu sự khác nhau về
cơ hội của một nhóm người là do nguyên nhân khách quan tạo nên thì ngược lại, bất bình đẳng về địa vị xã hội do thành viên của các nhóm xã hội tạo nên và thừa nhận Nó
có thể là bất kỳ thứ gì được một nhóm xã hội cho là ưu việt và các nhóm xã hội còn lại thừa nhận Trong thực tế, cơ cấu giai cấp là nền tảng căn bản nhất của địa vị xã hội Ngoài ra, các thành tố khác tạo lập nên địa vị xã hội phải kể đến trình độ chuyên môn, mức lương, gia đình, lứa tuổi, lãnh thổ, cư trú Tuy nhiên, địa vị xã hội chỉ có thể được giữ vững bởi những nhóm nắm giữ địa vị đó và các nhóm xã hội khác tự giác thừa nhận
sự ưu việt đó
- Bất bình đẳng do ảnh hưởng chính trị là khả năng của một nhóm xã hội thống trị những nhóm khác hay có ảnh hưởng mạnh mẽ trong việc ra quyết định cũng như việc thu được nguồn lợi từ các quyết định Trong thực tế, bất bình đẳng do ảnh hưởng chính trị có thể được nhìn nhận như là có được từ ưu thế vật chất hay địa vị cao Bản thân chức vụ chính trị có thể tạo ra cơ sở để đạt được địa vị và những cơ hội trong cuộc sống, đặc biệt đối với các cá nhân giữ chức vụ chính trị cao
Trang 9- Tóm lại, cấu trúc bất bình đẳng có thể dựa trên một trong ba loại ưu thế đó Gốc rễcủa bất bình đẳng có thể nằm trong mối quan hệ kinh tế, địa vị xã hội, hay trong các mối quan hệthống trị về chính trị của các giai cấp trong xã hội.
1.3 Một số quan điểm về bất bình đẳng xã hội
- Bất bình đẳng xã hội là một hiện tượng xã hội phổ biến Tuy nhiên, liệu bất bình đẳng có phải là một hiện tượng xã hội không thể nào tránh khỏi? Xung quanh vấn đề này, có nhiều quan điểm khác nhau Chúng ta sẽ xem xét một số quan điểm tiêu biểu về bất bình đẳng xã hội
b) Quan điểm dựa vào yếu tố sinh học của cá nhân
- Quan điểm này cho rằng, bất bình đẳng là một thực tế của xã hội, nó luôn hiện diệnbởi sự khác biệt giữa các cá nhân.Trong một xã hội mở và nếu con người có sự khác nhau về tàinăng và nhu cầu thì điều đó tất yếu dẫn đến bất bình đẳng
“Một số bất bình đẳng đến như là kết quả không thể né tránh về bất bình đẳng sinh học của kỹ năng, thể chất, khả năng tinh thần và những khía cạnh của nhân cách.” Ngay từ thời cổ đại, một số nhà triết học đã khẳng định những “khác biệt” mang tính tự nhiên giữa các cá nhân Trong thực tế, vẫn có những khác biệt trong kiểu phân chia giới như là kết quả không thể tránh được của bất bình đẳng Aristotle
(384 – 322 TCN) cho rằng: “Đàn ông bản chất là thống trị, đàn bà là bị trị, và đó là một luật lệ.” Ngay cả đến hiện nay, quan điểm này vẫn còn tồn tại Steven
Goldberg nêu quan điểm: “Sự thống trị và sự thành đạt cao của nam giới là khả
năng không thể đảo ngược, bởi có những khác biệt về sinh học giữa nam và nữ.”
- Thực ra những quan điểm hoàn toàn tương tự có thể được tìm thấy trong các xã hộikhác Trong không ít các gia đình Việt Nam hiện đại, tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn tồn tại.Người con trai luôn được dành cho những ưu tiên và cơ hội nhiều hơn người con gái và tất yếu điềunày làm cho sự bất bình đẳng ngày một kéo dài và trầm trọng hơn
c) Quan điểm dựa vào yếu tố kinh tế
- Trong luận văn Về nguồn gốc của sự bất bình đẳng năm 1753, Jean-Jacques
Rousseau đã vạch rõ nguồn gốc của sự bất bình đẳng trong xã hội là ở chế độ tư hữu tài sản Theo ông, bất bình đẳng không phải là một quy luật tự nhiên, mà là sản phẩm của xã hội loài người; nó tồn tại và phát triển từ khi xuất hiện chế độ tư hữu tài sản; rằng con người đã tạo ra sự bất bình đẳng thì con người cũng có thể xóa bỏ nó Những đặc điểm về kinh tế – chính trị và thị trường lao động tạo ra những khác biệt trong thu nhập và của cải Thực chất, sự khác biệt về vị trí của các cá nhân trong cơ cấu xã hội gây ra bất bình đẳng kinh tế Ông cũng đã phân biệt rõ hai loại bất bình đẳng giữa người với người Đó là bất bình đẳng tự nhiên và bất bình đẳng xã hội – bất bình đẳng do
cơ chế xã hội tạo nên
- Một số nhà xã hội học khác cho rằng bất bình đẳng là không thể tránh khỏi do xã hội có những nhiệm vụ này cần thiết hơn những nhiệm vụ khác và khả năng thực hiện những nhiệm
vụ này khác nhau Họ lập luận rằng bất bình đẳng xã hội về lợi ích giữa các cá nhân là cần thiết để thúc đẩy người tài nhất thực hiện những nhiệm vụ khó khăn nhất Chính sự bất bình đẳng thúc đẩy các cá nhân lao đô yng,
Trang 10học tâpy để mang lại cơ hôiycho chính bản thân mình Do vậy không thể thủ tiêu bất bình đẳng, vì bình đẳng có thể nguy hiểm cho xã hội như nhà kinh tế học A Lechevalier phân tích: “Bình đẳng chung chung thậm chí còn đi ngược lại ý niệm
về sự công bằng, không chỉ là công bằng về nỗ lực cá nhân, về nhu cầu, ham muốn
mà cả những thiệt thòi.”
c) Quan điểm của Karl Marx
- Học thuyết của Marx chủ yếu dựa trên sự nghiên cứu các học thuyết kinh tế mà ôngcoi là nền tảng của cơ cấu giai cấp Mối quan hệ giai cấp là chìa khoá của mọi vấn đề trong đời sống xã hội Marx khẳng định: “Những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng là những
tư tưởng của giai cấp thống trị” và phục vụ cho giai cấp thống trị
- Những lý luận của Marx về hoạt động tổ chức sản xuất của cải vật chất cũng như sựphân công lao động trong xã hội cùng với những phân tích về cấu trúc xã hội đã vạch rõ tính chất giai cấp của xã hội và tính bất bình đẳng trong quan hệ xã hội Qua những phân tích về cấu trúc xã hội này, có thể rút ra hai kết luận quan trọng Một là, cần xóa bỏ và thay thế chế độ sở hữu tư nhân bằng chế độ sở hữu xã hội để xây dựng xã hội phát triển Hai là, xã hội học cần tập trung phân tích cấu trúc xã hội để chỉ ra ai là người có lợi và ai là người thiệt hại từ cách tổ chức xã hội và cơ cấu
xã hội hiện có Nói cách khác, cấu trúc xã hội, phân tầng xã hội và bất bình đẳng xã hội phải là những chủ đề nghiên cứu cơ bản của xã hội học hiện đại
d) Quan điểm của Max Weber
- Max Weber nghiên cứu cấu trúc xã hội sau Marx hơn nửa thế kỷ Do vậy, ông đã ghi nhận những thay đổi trong cơ cấu giai cấp xã hội để phát triển lý thuyết xã hội học về sự phân tầng xã hội Theo đó, lĩnh vực kinh tế không còn vai trò quan trọng đối với sự phân chia giai cấp vàtầng lớp xã hội trong xã hội tư bản hiện đại Cấu trúc xã hội nói chung và sự phân tầng xã hội nói riêng chịu tác động của hai nhóm yếu tố cơ bản là các yếu tố kinh tế và các yếu tố phi kinh tế trong quá trình hình thành, biến đổi cấu trúc xã hội và sự phân tầng xã hội
- Weber không coi mọi cấu trúc xã hội đều bất bình đẳng như trong một xã hội có giai cấp Ông nhấn mạnh rằng quyền lực kinh tế có thể là kết quả nắm giữ quyền lực dựa vào các nền tảng khác Địa vị xã hội và uy tín xã hội có thể xuất phát từ quyền lực kinh tế, song đó không phải là tất yếu duy nhất Ngược lại, địa vị có thể tạo nên cơ sở của quyền lực chính trị
- Weber nhấn mạnh tầm quan trọng của thị trường chứ không phải là tái sản xuất,như là cơ sở kinh tế của giai cấp Ông quan niệm giai cấp là một tập hợp người có chung các cơ hộisống trong điều kiện kinh tế thị trường Nguyên nhân đầu tiên của bất bình đẳng trong xã hội tư bản
là khác biệt về khả năng thị trường
Chương II CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN BẤT BÌNH ĐẲNG
XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
2.1 Khác biệt về kinh tế
a) Sự tác động của kinh tế thị trường
Trang 11Hơn 20 năm đổi mới, đất nước ta đang trong quá trình chuyển đổi mạnh
mẽ từ 1 nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế thị trường đang dần hình thành với đầy đủ bản chất và đặc trưng của nó, được điều tiết bởi những quy luật lưu thông tiền tệ, Các quy luật này không chỉ tác động, điều chỉnh các hoạt động kinh tế mà còn tác động trực tiếp đến mọi vùng thành thị, nông thôn, mọi lĩnh vực trong đời sống và hoạt động của con người
Kinh tế thị trường với mục tiêu tối thượng của nó là hiệu quả kinh tế đã tác động trực tiếp đến phân hóa xã hội, phân hóa giàu nghèo.
Trong kinh tế thị trường, những cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, ngườisản xuất, càng hoạt động có hiệu quả, mang lại lợi ích cho bản thân, cho cộngđồng càng nhiều thì càng có điều kiện thuận lợi để phát triển, càng được xã hộitôn trọng, đánh giá cao, được tôn vinh Những các nhân, tổ chức, doanh nghiệp,người sản xuất hoạt động không có hiệu quả, lãng phí nhân lực, của cải, tiền bạccủa nhân dân sẽ bị phá sản, bị xã hội coi thường, lên án
Kinh tế thị trường mà đặc trưng nổi bật là cạnh tranh gay gắt tất yếu dẫn tới bất bình đẳng và phân tầng xã hội.
Trong kinh tế thị trường, sự tồn tại hay phát triển của mỗi cá nhân, mỗi nhóm
xã hội là do chính bản thân họ quyết định Trong quá trình cạnh tranh đó,cạnh tranh bằng trí tuệ là sự cạnh tranh quyết liệt nhất và tạo ra sự phát triển bền vững nhất Ai có trí tuệ sẽ có cơ hội tồn tại và phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, có
cơ hội tìm kiếm công ăn, việc làm, thu nhập, nâng cao mức sống tốt hơn Ai không có tri thức, trí tuệ sẽ khó có công ăn việc làm ổn định và thu nhập cao Người có tri thức, kinh nghiệm, có tay nghề cao sẽ loại người có tay nghề thấp ra khỏi cuộc chơi Cơ chế thị trường tạo ra cơ hội bình đẳng cho mọi người trong cuộc cạnh tranh Những cơ hội đó chỉ có thể được phát huy khi có những người
có năng lực vận dụng nó, những người có tri thức, kinh nghiêm, vốn xã hội và năng lực thực tế Đó là một cuộc cạnh tranh quyết liệt Những ai không có năng lực vận dụng cơ hội đó sẽ bị rơi vào những kẻ yếu thế Trong nền kinh tế thị trường, ai cạnh tranh giành thắng lợi sẽ tồn tại và phát triển Ngược lại họ sẽ bị loại ra khỏi cuộc chơi, sẽ thất bại Cạnh tranh là một tác nhân dẫn đến sự bất bìnhđẳng và phân tằng xã hội
Kinh tế thị trường dẫn tới phân hóa xã hội, phân hóa mức sống,phân hóa giàu nghèo.
Do yêu cầu của nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp, người sản xuất luôn phải mở rộng sản xuất, trang trại, các tập đoàn, phải tích tụ sản xuất, dần dần hìnhthành các liên doanh, liên kết, các chủ kinh tế và để tồn tại, phát triển, các đơn vị sản xuất phải cạnh tranh lẫn nhau Xã hội có sự điều chỉnh dân cư, cơ cấu xã hội Những nhóm xã hội (doanh nghiệp) người sản xuất có lợi thế về kinh
Trang 12tế, về tiềm năng sẽ tồn tại và phát triển và những nhóm xã hội yếu thế sẽ bị chèn
ép, bị phá sản Điều đó dẫn tới việc phân hoá giai cấp, phân hoá các cố kết xã hội, phân hóa mức sống và lao động.v.v Đó cũng là quá trình hình thành sự phân hóa mức sống, tiếp đến là sự bất bình đẳng, phân hóa xã hội
Kinh tế thị trường với việc mua bán, trao đổi sức lao động, hàng hoá, tác động mạnh vào các quan hệ xã hội dẫn đến sự bất bình đẳng xã hội.
Trong kinh tế thị trường, ai có nhiều tiền của, giàu sang, phú quý thì có cơ hội phát triển hơn, thỏa mãn được nhu cầu cuộc sống của mình Người có nhiều tiền (tất nhiên ở đây chỉ nói đồng tiền trong sạch kiếm được do sức lao động của mình) thì sẽ được xã hội đánh giá cao, thừa nhận Ngược lại, ai không có nhiều tiền, cuộc sống nghèo khổ thì khó có cơ hội phát triển, khó có cơ hội vươn lên ngang bằng về địa vị xã hội với người giàu Người giàu có cơ hội càng giàu hơn, người nghèo có nguy cơ ngày càng nghèo đi và như vậy, khoảng cách giàu nghèo ngày càng doãng
ra Đó là bản chất, là sự thật nghiệt ngã của cơ chế thị trường
b) Sự tác động của hội nhập kinh tế quốc tế
Thực chất của hội nhập kinh tế quốc tế là việc thực hiện quá trình quốc tế hóa kinh tế trên cơ sở các nước tự nguyện tham gia và chấp nhận thực hiện những điều khoản, nguyên tắc đã được thỏa thuận thống nhất trên nguyên tắc bình đẳngcùng có lợi Việc tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đem lại nhiều tác động tích cực cho các quốc gia tham gia, tuy nhiên nó cũng đưa lại không ít tác động tiêu cực
Hội nhập về kinh tế quốc tế :
- Về kinh tế: cần phấn đấu giành chỗ đứng trong các chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu; ưu tiên thúc đẩy phát triển nhanh các ngành kinh tế số và công nghiệp 4.0 Cơ hội đang
mở ra cho Việt Nam ở thời hậu dịch bệnh COVID-19, không được bỏ lỡ Muốn thế, cần ưu tiên phát triển các mạng kết nối Việt Nam với thế giới, cả “kết nối cứng” và “kết nối mềm”
- Về chính trị: tiếp tục nâng cao vị thế của Việt Nam trong quan hệ với các nước lớn, nhất là các nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, trong ASEAN Chủ động tham gia xử lý các vấn đề quốc tế và khu vực Thể hiện vai trò của Việt Nam “là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”
Hội nhập kinh tế dẫn đến đua tranh xã hội làm thay đổi, phân hoá sâu sắc hệ thống giá trị dẫn đến sự bất bình đẳng , phân hoá xã hội
- Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa bảo vệ lợi ích dân tộc; an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường
Trang 13Đẩy nhanh nhịp độ cải cách thể chế, cơ chế, chính sách kinh tế phù hợp với chủ trương, định hướng của Ðảng và Nhà nước, chủ động xây dựng các quan hệ đối tácmới, tham gia vào các vòng đàm phán mới, thúc đẩy các quan hệ hợp tác kinh tế song phương, khu vực và đa phương Xây dựng và triển khai chiến lược, tham gia các khu vực mậu dịch tự do với các đối tác kinh tế - thương mại quan trọng trong một kế hoạch tổng thể với lộ trình hợp lý, phù hợp với lợi ích và khả năng của đất nước Chủ động xây dựng và thực hiện các biện pháp bảo vệ lợi ích chính đáng củaNhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng trong nước Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác có tầm quan trọng chiến lược đối với sự phát triển và an ninh của đất nước, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập đi vàothực chất, tạo sự đan xen gắn kết lợi ích giữa nước ta với các đối tác.
Chủ động và tích cực tham gia các thể chế đa phương, góp phần xây dựng trật tựchính trị và kinh tế công bằng, dân chủ, ngăn ngừa chiến tranh, xung đột, củng cố hòa bình, đẩy mạnh hợp tác cùng có lợi Trong đó, đặc biệt chú trọng việc tham gia xây dựng Cộng đồng ASEAN, phát huy vai trò của Việt Nam trong ASEAN và các
cơ chế, diễn đàn do ASEAN giữ vai trò trung tâm, nhằm tăng cường đoàn kết, gia tăng liên kết nội khối, củng cố quan hệ hợp tác với các bên đối thoại của ASEAN, thúc đẩy xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển trong khu vực
2.2 Khác biệt về chính trị văn hóa – xã hội
a) Những yếu tố thuộc hệ thống chính sách thể chế pháp luật
Chế độ chính trị, thể chế pháp luật, hệ thống chính sách là những yếu tố hết sức quan trọng tác động vào nền kinh tế -xã hội nói chung, vào xã hội nông thôn nói riêng Những yếu tố này là những đảm bảo quan trọng để quá trình hội nhập, phát triển kinh tế thị trường Đặc biệt là ở xã hội nông thôn, nơi có số cư dân chiếm tới 90% số người nghèo của cả nước.Ở nước ta,bắt đầu từ sự nghiệp đổi mới, đến nay
cơ bản thể chế chính trị của chúng ta là một thể chế chính trị tiến bộ Nhà nước của chúng ta là một nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân Đất nước được xây dựng trên cơ sở của một nền kinh tế đa thành phần, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.Về chính sách kinh tế, chúng ta coi trọng vị thế chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước, song luôn có các chính sách đảm bảo sự bình đẳng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước và các thành phần kinh tế khác Nhà nước tôn trọng và đảm bảo quyền tự do kinh doanh theo pháp luật, mọi công dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm, công chức được làm những gì mà pháp luật cho phép, đảng viên được làm kinh tế tư nhân nhưng phải tuân theo luật pháp của Nhà nước, điều lệ của Đảng và các quy định của Trung ương "khuyến khích người lao động tăng thu nhập và làm giàu chính đáng, chấp nhận sự chênh lệch trong thu nhập do năng suất và hiệu quả lao động; "khuyến khích làm giàu hợp pháp đối với xóa đói giảm nghèo Coi một bộ phận dân cư giàu trước là cần thiết cho sự phát triển.Tại Đại hội lần thứ X, Đảng ta đã nêu rõ hệ mục tiêu của đổi mới là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và coi đây chính là đặc trưng tổng quát của CNXH Để đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường, Đảng khuyến khích tất cả mọi người làm giàu theo pháp luật và
Trang 14xây dựng nhà nước pháp quyền mạnh để thực hiện và bảo vệ quyền lực của nhân dân.
b) Những yếu tố thuộc về vùng môi trường tự nhiên, cơ sở hạ tầng có tác động đáng kể đến bất bình đẳng xã hội.
Cơ cấu nghề nghiệp
Ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập mức sống, qua đó dẫn đến bất bình đẳng, phân hoá xã hội Những vùng nông thôn chỉ phát triển thuần nông, độc canh cây lúa thường nghèo Những làng xã nào mà phát triển đa ngành, đa nghề hoặc
chuyển đổi canh tác từ nông nghiệp sang phi nông hoặc nông –thương hỗn hợp thì
dễ giàu Những làng xã có nhiều hộ gia đình phát triển làng nghề, kinh doanh tổng hợp, kết hợp nhiều nghề, nhiều lao động phi nông thì giàu Ngược lại nếu chỉ phát triển thuần nông rất khó giàu Điều này không chỉ được minh chứng ở các vùng kinh tế, địa lý khác nhau mà còn đúng ngay cả trong một vùng
Yếu tố địa lý, môi trường-tự nhiên
Yếu tố địa lý, môi trường, tự nhiên là những điều kiện hết sức quan trọng dẫn đến phân hoá giầu nghèo, phân tầng xã hội Cư dân sống ở những nơi đất đai màu
mỡ, thời tiết thuận hoà, thiên nhiên ưu đãi, giao lưu thuận tiện sẽ có nhiều thuận lợicho việc phát triển sản xuất, vươn tới cuộc sống no đủ, khá giả Ngược lại có
những người dân sống ở những vùng đất có địa hình nhiều sườn dốc, thời tiết khắc nghiệt, nhiều giông bão, hạn hán, lũ quét Họ sinh sống, sản xuất hết sức khó khăn lại thường xuyên phải chống chọi với thiên tai, dịch bệnh Họ rất khó có được cuộc sống no đủ, khá giả
2.3 Khác biệt về uy tín, vị thế trong cơ cấu xã hội
a) Nguồn gốc xuất thân ( gia đình )
Gia đình là cộng đồng xã hội đầu tiên mà mỗi cá nhân sinh sống , có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của từng người Chỉ trong gia đình mới thể hiện được quan hệ tình cảm thiêng liêng , sâu đậm giữa vợ và
chồng , cha mẹ và con cái , anh chị em với nhau mà không cộng đồng nào có được
và có thể thay thế Tuy nhiên , mỗi cá nhân lại không thể chỉ sống trong quan hệ tình cảm gia đình , mà còn có nhu cầu quan hệ xã hội , quan hệ với những người khác ngoài các thành viên trong gia đình Mỗi cá nhân không chỉ là thành viên của gia đình mà còn là thành viên của xã hội Quan hệ giữa các thành viên trong
Trang 15gia đình đồng thời cũng là quan hệ giữa các thành viên của xã hội Không có cá nhân bên ngoài gia đình , cũng không thể có cá nhân bên ngoài xã hội Gia đình là cộng đồng xã hội đầu tiên đáp ứng nhu cầu quan hệ xã hội của mỗi cá nhân Gia đình cũng chính là môi trường đầu tiên mà mỗi cá nhân học được và thực hiện quan
hệ xã hội Ngược lại , gia đình cũng là một trong những cộng đồng để xã hội tác động đến cá nhân Nhiều thông tin , hiện tượng của xã hội thông qua lăng kính gia đình mà tác động tích cực hoặc tiêu cực đến sự phát triển của mỗi cá nhân về tư tưởng , đạo đức , lối sống , nhân cách , v.v Xã hội nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn về mỗi cá nhân khi xem xét họ trong các quan hệ xã hội và quan hệ với gia đình Có những vấn đề quản lý xã hội phải thông qua hoạt động của gia đình để tácđộng đến cá nhân Nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi cá nhân được thực hiện với sự hợp tác của các thành viên trong gia đình Chính vì vậy , ở bất cứ xã hội nào , giai cấp cầm quyền muốn quản lý xã hội theo yêu cầu của mình cũng đều coi trọng việc xây dựng và củng cố gia đình
b) Sở hữu của cải ( tài sản )
Do sự phát triển của công cụ lao động bằng kim loại vào cuối thời nguyên thủy, con người làm ra một lượng sản phẩm dư thừa.Một số người chiếm hữu của
dư thừa, trở nên giàu có xã hội phân hóa thành kẻ giàu, người nghèo Mối quan
hệ giữa người với người trong xã hội phân hóa giàu nghèo là mối quan hệ bất bình đẳng Người giàu càng trở lên giàu có khi họ có dư thừa nhiều sản phẩm,hoặc chiếm đoạt được, những người yếu thế hơn- người nghèo phải lao động phục vụ cho người giàu.Trải qua nhiều thời kì thì sự phân hoá giàu nghèo ngày càng nhiều
c) Trình độ học vấn
Nhóm các nhân tố thuộc về cá nhân có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp qua lại với nhóm các nhân tố thuộc về xã hội Sự tách ra để phân tích riêng chỉ là
tương đối và vì vậy, trong mỗi bước cũng như trong suốt quá trình phân tích,
chúng ta luôn gắn kết và khôi phục chúng trong một chỉnh thể thống nhất hữu cơ với nhau Trình độ học vấn của một người nào đó càng cao thì triển vọng đi lên càng tốt và ngược lại nếu trình độ học vấn của một người nào càng thấp thì sự thăng tiến của người đó càng khó khăn Ở các nước phát triển, trình độ học vấn được coi như là "Tấm hộ chiếu" giúp người ta có chiếm lĩnh những công việc tốt, đưa lại thu nhập cao, theo đó là mức sống cao
Thực tế chỉ ra rằng, những cá nhân có trình độ học vấn cao thì thường năng động hơn những cá nhân có học vấn thấp Nhờ có học vấn cao, người ta có thể nhận được những công việc có chuyên môn cao, họ có khả năng vươn lên đảm nhận những công việc có nội dung phong phú, phức tạp và đương nhiên theo đó là
họ sẽ có thu nhập cao, mức sống cao Những người có học vấn thấp, rất khó đảm nhiệm được công việc phức tạp và buộc phải làm những công việc đơn giản,
thường là vất vả, lam lũ xong thu nhập lại thấp, mức sống thấp Những cuộc khảo cứu xã hội học chỉ ra rằng, mặc dù một số con em của tầng lớp lao động có năng khiếu và trí thông minh không thua kém gì con em thuộc tầng lớp xã hội có địa vị
Trang 16cao song lại tỏ ra rất khó khăn trong việc nắm lấy những bằng cấp, học vị cao, điều này được giải thích theo hai yếu tố:
+ Hoàn cảnh cũng như điều kiện vật chất của những gia đình thuộc tầng lớp thấp không đảm bảo chu cấp cho việc học tập của con em họ
+ Sự hạn chế về kiến thức và những giá trị văn hoá của các bậc phụ huynh trongnhững gia đình thuộc tầng lớp thấp đã ảnh hưởng đến hiệu quả giáo dục đối với con cái họ
- Quan hệ xã hội (được coi là vốn xã hội) là yếu tố hết sức quan trọng trong quá trình thăng tiến cũng như vươn lên làm giàu Rõ ràng rằng hộ gia đình giàu được trợ giúp nhiều hơn từ người thân Qua đó họ lại có thêm cơ hội để giàu thêm Người nghèo thường ít mối quan hệ,
tự ti, tự "đóng" mình, không mạnh dạn mở mang các mối quan hệ Do đó ít nhận được sự giúp đỡ
"ra tấm", "ra miếng" để phát triển sản xuất, từ đây mà cái vòng luẩn quẩn của đói nghèo sẽ tiếp tục đeo đẳng
CHƯƠNG III THỰC TRẠNG VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY
3.1 Bối cảnh
Việt Nam có tốc độ tăng trưởng nhanh trong 30 năm qua, với thu nhập bình quântăng và số người nghèo giảm đều và đáng kể Trên thực tế, gần 30 triệu người đã vượtchuẩn nghèo chính thức từ thập niên 1990 khi thu nhập GDP tính theo đầu người tăng từ 100 USD vào năm 1990 lên 2.300 USD vào năm 2015 Tăng trưởng kinh tế
ở Việt Nam bình quân đạt 5-6% trong ba thập kỷ qua, với tỷ lệ tăng trưởng bình quân khoảng 6,4% trong thập niên 2000 Mặc dù tăng trưởng nhanh như vậy nhưng
so với một số nước, bất bình đẳng ở Việt Nam đã không tăng nhiều Điều này một phần do những chính sách tích cực của Việt Nam về giảm bất bình đẳng Mặc dù vậy, hiện nay Việt Nam vẫn phải đương đầu với một thách thức lớn: với sự tăng trưởng chậm lại và tình trạng bất bình đẳng về kinh tế cũng như bất bình đẳng về tiếng nói và cơ hội gia tăng, làm thế nào để Việt Nam có thể tăng trưởng toàn diện
Trang 17Cuộc cải cách Đổi mới, khởi đầu năm 1986, đã dẫn tới những thay đổi chính
sách đáng kể Doanh nghiệp tư nhân phát triển, gồm đầu tư của các công ty nước ngoài Với việc trở thành thành viên ASEAN và WTO, Việt Nam đã hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu
3.2 Các dạng bất bình đẳng ở Việt Nam hiện nay
sản xuất công nghiệp chỉ tăng đối với nhóm từ 10% tới 20% giàu nhất Điều
này có nghĩa bất bình đẳng về kinh tế đã tăng lên trong hai thập kỷ qua
Dù hàng chục triệu hộ gia đình Việt Nam đã vượt chuẩn nghèo chính thức, nhiều hộ có thu nhập chỉ nhỉnh hơn chuẩn nghèo và vẫn có thể coi là nghèo theo
định nghĩa đa chiều Ở một cực khác của đường phân bố tài sản, khoảng một
phần triệu dân số Việt Nam được coi là “siêu giàu”, được định nghĩa là có tài sản
trị giá trên 30 triệu USD Năm 2018, 264 người siêu giàu (có trên 30 triệu USD)
ở Việt Nam có tổng tài sản khoảng 20 tỷ USD, tương đương 12% GDP cả nước Knight Frank, một trong những công ty tư vấn tài sản toàn cầu lớn nhất thế giới, ước tính số người siêu giàu sẽ tăng đáng kể ở Việt Nam, sẽ lên đến con số 403 người vào năm 2025 Khảo sát mức sống dân cư cho thấy tại Việt Nam người giàu nhất có thu nhập trong một ngày cao hơn thu nhập của người nghèo nhất trong 10 năm Tài sản của người này, trị giá 7,5tỷ USD, có thể giúp tất cả người nghèo ở Việt Nam (khoảng 25 triệu người theo tính toán năm 2021) thoát nghèo
Theo Ngân Hàng Thế Giới, chỉ số Gini ở Việt Nam tăng từ 36,2% lên 42,3% trong 20 năm qua từ 2000 đến 2019, cho thấy bất bình đẳng thu nhập đã
tăng trong giai đoạn này Số liệu từ các nguồn này có thể không phản ánh hết
thực trạng bất bình đẳng ở Việt Nam vì các lý do khác nhau Chẳng hạn, thu
nhập hay chi tiêu của nhóm giàu không được khai báo và thu thập đầy đủ trong
các kỳ điều tra mức sống hộ gia đình; do đó, số liệu đo bất bình đẳng có thể bị
giảm Các thước đo, khung thời gian và mật độ đo khác nhau có thể đưa ra
những bức tranh khác nhau về bất bình đẳng ở Việt Nam
Khi xem kỹ hơn tình trạng phân bố thu nhập và diễn biến của các nhóm thu nhập khác nhau trong thập kỷ vừa qua, chúng ta có thể nhận thấy các
nhóm nghèo nhất không được hưởng lợi như các nhóm khác Trong giai đoạn
từ 2000 đến 2020, hệ số tỷ lệ Palma (hệ số đo tỷ lệ giữa phần thu nhập của