1. Trang chủ
  2. » Tất cả

I/ PHẦN MỞ ĐẦU:

16 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý Do Chọn Đề Tài
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục tiểu học
Thể loại Báo cáo hoặc bài viết nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 161,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I/ PHẦN MỞ ĐẦU I 1/ Lý do chọn đề tài Bậc tiểu học là bậc học vô cùng quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân Ở bậc học này, học sinh được trang bị những kiến thức vô cùng cơ bản và làm nền tảng c[.]

Trang 1

I.1/ Lý do chọn đề tài:

Bậc tiểu học là bậc học vô cùng quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân Ở

bậc học này, học sinh được trang bị những kiến thức vô cùng cơ bản và làm nền tảng

cho mọi bậc học sau

Trong các môn học ở tiểu học, cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí hết

sức quan trọng bởi vì các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở tiểu học có nhiều ứng

dụng trong đời sống; chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học tốt

các môn học khác ở Tiểu học và chuẩn bị cho việc học tốt môn Toán ở bậc Trung

học

Môn Toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ,

giải quyết vấn đề, góp phần phát triển trí thông minh Những thao tác tư duy có thể

rèn luyện cho học sinh qua môn Toán bao gồm phân tích tổng hợp, so sánh, khái quát

hóa, trừu tượng hóa, cụ thể hoá Các phẩm chất trí tuệ có thể rèn luyện cho học sinh

bao gồm: Tính độc lập, tính linh hoạt, tính nhuần nhuyễn, tính sáng tạo thông qua việc

giải các bài toán

Toán học còn góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng cho việc hình thành

và phát triển nhân cách học sinh Trên cơ sở cung cấp những tri thức khoa học ban

đầu về số học, các số tự nhiên, các số thập phân, các đại lượng cơ bản, giải toán có lời

văn, ứng dụng thiết thực trong đời sống hằng ngày Toán học với tư cách là một bộ

môn khoa học nghiên cứu hệ thống kiến thức cơ bản Môn toán là “chìa khóa” mở cửa

cho tất cả các ngành khoa học khác, nó là công cụ cần thiết của người lao động trong

thời đại mới Vì vậy, môn toán là môn học không thể thiếu được trong nhà trường, nó

giúp con người phát triển toàn diện, nó góp phần giáo dục tình cảm, trách nhiệm của

các thế hệ học sinh đối với quê hương, đất nước

Trong chương trình toán ở tiểu học, có thể nói giai đoạn lớp 4, lớp 5 là giai đoạn

đột phá lớn đối với học sinh về kiến thức Nhiều em học sinh học rất tốt ở các lớp

1,2,3 nhưng khi bước vào giai đoạn này các em có thể bị choáng ngợp trước những

luồng kiến thức phức tạp Ở giai đoạn các lớp 1,2,3 các em học sinh chỉ được học

những kiến thức, những kĩ năng cơ bản nhất về điểm, đọc, viết, so sánh số tự nhiên,

học sinh bắt đầu chuyển từ hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi sang hoạt động

học tập Do đó, học tập ở giai đoạn này các em “ Học mà chơi, chơi mà học” Ngược

lại, ở giai đoạn lớp 4,5 hoạt động chủ đạo của các em ở giai đoạn này là hoạt động

học tập Ở đây, học sinh được thông qua các hoạt động thực hành, luyện tập của cá

nhân hay nhóm để từ đó có thể tự mình phát hiện ra các kiến thức, kỹ năng mà giáo

viên yêu cầu nên nội dung môn toán được nâng lên một bậc cao hơn, sâu sắc hơn như

các dạng bài: Tìm số trung bình cộng, tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó,

tìm hai số khi biết tổng (hoặc hiệu)và tỉ của hai số đó ….Vì vậy, làm thế nào để học

sinh hiểu được giải quyết được các vấn đề này là một quá trình phấn đấu, nổ lực

không ngừng của cả giáo viên và học sinh

Trong môn toán ở bậc tiểu học thì các bài toán có lời văn có một vị trí vô cùng

quan trọng bởi vì:

Việc giải toán giúp học sinh củng cố, vận dụng và hiểu sâu sắc thêm tất cả các

kiến thức đã được học trong môn toán ở tiểu học

- Thông qua nội dung thực tế của các đề toán, học sinh sẽ tiếp nhận những kiến

thức phong phú và có điều kiện để rèn luyện khả năng áp dụng những kiến thức toán 1

Trang 2

học vào cuộc sống Khi giải mỗi bài toán, học sinh biết rút ra được bản chất toán học

của mỗi dạng bài, biết lựa chọn những phép tính thích hợp, biết làm đúng các phép

tính đó, biết đặt lời giải chính xác …Vì thế, quá trình giải toán sẽ giúp học sinh rèn

luyện khả năng quan sát và giải quyết các hiện tượng của cuộc sống qua khả năng

toán học của mình

- Việc giải các bài toán sẽ giúp phát triển trí thông minh, óc sáng tạo và thói quen

làm việc một cách khoa học cho học sinh Bởi vì, khi giải toán học sinh phải biết tập

trung vào bản chất của đề toán, phải biết gạt bỏ những cái không quan trọng, phải biết

phân biệt cái đã cho và cái phải tìm, phải biết phân tích tìm ra mối liên hệ giữa các số

liệu…Nhờ đó mà đầu óc của các em sẽ sáng suốt hơn, tinh tế hơn, tư duy của các em

sẽ linh hoạt, chính xác hơn, cách suy nghĩ và làm việc của các em sẽ khoa học hơn

- Việc giải các bài toán còn đòi hỏi học sinh phải biết tự mình giải quyết vấn đề, tự

mình thực hiện các phép tính và kiểm tra lại kết quả…Do đó, giải toán là cách rất tốt

để rèn luyện đức tính kiên trì, tự lực vượt khó, cẩn thận, chu đáo, yêu thích sự chặt

chẽ, chính xác

Là một giáo viên giảng dạy nhiều năm ở lớp 4 và lớp 5, bản thân tôi không ngừng

đổi mới phương pháp dạy học Tôi luôn băn khoăn, suy nghĩ, tìm ra những phương

pháp phù hợp nhằm giúp học sinh mình giải được các bài toán có lời văn Bên cạnh

đó, căn cứ vào thực trạng của học sinh ở toàn trường Tiểu học Ea Dah xã Ea

Dah-Krông Năng – Đăk Lăk

Từ những vấn đề trên, bản thân tôi đã tìm tòi, nghiên cứu và rút ra được một số

phương pháp giúp học sinh lớp 5 giải các dạng toán có lời văn đó cũng chính là lí do

mà tôi chọn đề tài này

b/ Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:

* Để kiến thức cơ bản về các phép tính của các em ngày càng vững chắc, theo tôi

có những giải pháp biện pháp sau:

- Thường xuyên kiểm tra các bản tính cộng, trừ, nhân, chia giúp các em làm thành

thạo các phép tính cơ bản

- Phải chú trọng và giúp học sinh nắm chắc các tính chất quan trọng của các phép

tính như:

Trong phép cộng

- Nếu ta thêm hoặc bớt bao nhiêu đơn vị ở một số hạng thì tổng cũng tăng thêm

hoặc bớt đi bấy nhiêu đơn vị

- Nếu ta tăng số hạng này bao nhiêu đơn vị và bớt ở số hạng kia bấy nhiêu đơn vị thì

tổng số không thay đổi

Trong phép trừ

- Khi ta cùng tăng hoặc cùng giảm số bị trừ và số trừ bao nhiêu đơn vị thì hiệu

không thay đổi.

- Khi ta tăng hoặc giảm số bị trừ bao nhiêu đơn vị thì hiệu số cũng tăng hoặc giảm

bấy nhiêu đơn vị.

- Khi ta tăng số trừ bao nhiêu đơn vị thì hiệu số lại giảm bấy nhiêu đơn vị Khi ta

giảm số trừ bao nhiêu đơn vị thì hiệu lại tăng lên bấy nhiêu đơn vị và ngược lại

Trong phép nhân

- Nếu ta thêm hoặc bớt ở một thừa số bao nhiêu đơn vị thì tích mới cũng tăng thêm

hoặc giảm xuống bao nhiêu lần thừa số còn lại.

2

Trang 3

- Nếu ta tăng lên hoặc giảm xuống một thừa số bao nhiêu lần thì tích mới cũng tăng

lên hoặc giảm xuống bấy nhiêu lần.

- Nếu ta tăng thừa số thứ nhất lên bao nhiêu lần và giảm thừa số thứ hai bấy nhiêu

lần thì tích vẫn không thay đổi

Trong phép chia:

- Khi ta cùng tăng hoặc cùng giảm số bị chia và số chia bao nhiêu lần thì thương

vẫn không thay đổi.

- Khi ta tăng hoặc giảm số bị chia bao nhiêu lần thì thương cũng tăng lên hoặc giảm

xuống bấy nhiêu lần.

- Khi ta tăng số chia lên bao nhiêu lần thì thương giảm xuống bấy nhiêu lần Khi ta

giảm số chia bao nhiêu lần thì thương sẽ tăng lên bao nhiêu lần.

Phải vận dụng các tính chất này trong việc giải toán, giúp học sinh xác định được các

dạng toán và tìm ra được cách giải chính xác các bài toán

- Để vốn ngôn ngữ toán học của các em ngày càng phong phú hơn Trong giờ học

toán, khi phân tích đề toán giáo viên cần phân tích thật kĩ các thuật ngữ toán học

thường gặp trong các dạng toán có lời văn mà các em thường làm Cho các em thảo

luận nhóm để phân tích đề toán thật kĩ trước khi giải

- Để giúp học sinh xác định các bước giải một bài toán có lời văn, theo tôi thông

thường có các bươc sau đây:

Bước 1: Học sinh đọc kĩ đề toán, xác định các vấn đề quan trọng, bỏ bớt những từ

ngữ không quan trọng để bài toán ngắn gọn hơn

Bước 2: Học sinh thảo luận phân tích đề bài và tìm ra hướng giải bài toán

Bước 3: Học sinh tóm tắt đề toán

Bước 4: Học sinh giải bài toán bằng những phép tính

Bước 5: Học sinh kiểm tra lại kết quả tìm được.Tìm xem còn có cách giải nào

khác, hay hơn

Trong các bước đó giáo viên cho học sinh thấy tầm quan trọng của bước phân tích

đề toán và bước kiểm tra lại kết quả, tạo thói quen cho học sinh bao giờ làm xong

cũng phải kiểm tra lại toàn bộ bài toán

Phải tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học, phải kế thừa tiếp thu có chọn lọc một

số phương pháp dạy học truyền thống Những giải pháp biện pháp được thể hiện qua

từng dạng bài cụ thể như sau:

Bài 1:Tìm hai số biết thương bằng 3 số dư là 10 và tổng của hai số bằng 130.

Cho học sinh đọc kĩ đề giáo viên hướng dẫn học sinh gạch chân những từ ngữ quan

trọng

Tìm hai số biết thương bằng 3 số dư là 10 và tổng của hai số bằng 130.

Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích đề toán như sau:

Để số lớn bằng 3 lần số bé (không dư) thì ta phải bớt số lớn 10 và lúc đó tổng phải

giảm 10 chỉ còn lại 120 ( Nếu ta thêm hoặc bớt bao nhiêu đơn vị ở một số hạng thì

tổng cũng tăng thêm hoặc bớt đi bấy nhiêu đơn vị.)

Lúc này bài toán rất đơn giản là

Tìm hai số biết thương bằng 3 và tổng của hai số bằng 120

Đây là bài toán cơ bản Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó

Lúc này ta có sơ đồ tóm tắt như sau:

Trang 4

Số bé

Số lớn

Có thể chúng ta tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng, nếu chúng ta tóm tắt bằng sơ đồ như

trên sẽ giúp học sinh hứng thú học tập hơn vì nó cụ thể hơn

Bài giải

Số bé là: 120 : 4 = 30

Số lớn là: 130 – 30 =100

Đáp số: Số bé 30

Số lớn 100

Lưu ý: Khi tìm được số bé ta tìm số lớn bằng cách lấy tổng cũ trừ đi số bé

nếu lấy tổng mới trừ đi số bé thì phải cộng thêm 10 do mình bớt 10 ở số lớn để số lớn

bằng 3 lần số bé

Hướng dẫn học sinh kiểm tra lại kết quả Tổng bằng 130 và số lớn bằng 30 x 3 + 10

Bài 2: Hiện nay, tuổi cha hơn 3 lần tuổi con 10 tuổi Tính tuổi mỗi người, biết tổng

số tuổi của hai cha con hiện nay là 50 tuổi.

Giáo viên hướng dẫn học sinh xác định gạch chân những vấn đề quan trọng trong bài

toán

Hiện nay, tuổi cha hơn 3 lần tuổi con 10 tuổi Tính tuổi mỗi người, biết tổng số

tuổi của hai cha con hiện nay là 50 tuổi.

Để tuổi cha chỉ bằng 3 lần tuổi con thì ta phải bớt tuổi cha 10 tuổi Lúc này tổng số

tuổi của hai cha con sẽ giảm xuống 10 tuổi chỉ còn lại 40 tuổi ( Nếu ta thêm hoặc bớt

bao nhiêu đơn vị ở một số hạng thì tổng cũng tăng thêm hoặc bớt đi bấy nhiêu đơn vị)

Bài toán trở nên đơn giản

Hiện nay, tuổi cha gấp 3 lần tuổi con Tính tuổi mỗi người, biết tổng số tuổi của

hai cha con hiện nay là 40 tuổi.

Đây là bài toán cơ bản của dạng toán tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó

Lúc này ta có sơ đồ toám tắt như sau:

Tuổi con

40 tuổi Tuổi cha

Bài giải Tuổi con hiện nay là :

40 : 4 = 10 (tuổi) Tuổi cha hiện nay là

50 – 10 = 40 ( tuổi)

Đáp số : Em 10 tuổi

Cha 40 tuổi Lưu ý: Khi tìm được tuổi con ta tìm tuổi cha bằng cách lấy tổng cũ trừ đi tuổi con

Nếu lấy tổng mới trừ đi tuổi con thì phải cộng thêm 10 tuổi do mình bớt 10 tuổi ở tuổi

cha để tuổi cha bằng 3 lần tuổi con (Nên hướng dẫn học sinh lấy tổng cũ trừ đi số bé)

Hướng dẫn học sinh kiểm tra lại kết quả Tổng bằng 50 tuổi và tuổi cha bằng 4

Trang 5

10 x 3 + 10 ( hơn 3 lần tuổi con 10 tuổi)

Bài 3: Hiện nay, tuổi anh kém 2 lần tuổi em 4 tuổi, tổng số tuổi hai anh em cộng

lại được 20 tuổi Tính tuổi hiện nay của mỗi người?

Để tuổi anh không còn kém 2 lần tuổi em 4 tuổi thì ta phải thêm vào tuổi anh 4 tuổi

Lúc này, tuổi anh bằng 2 lần tuổi em và tổng số tuổi của hai anh em sẽ tăng thêm 4

tuổi, tổng số tuổi hai anh em bằng 24 tuổi Bài toán trở nên đơn giản hơn nhiều

Hiện nay, tuổi anh bằng 2 lần tuổi em, tổng số tuổi hai anh em cộng lại được 20

tuổi Tính tuổi hiện nay của mỗi người?

Đây là dạng bài toán mà chúng ta áp dụng tính chất của phép cộng

Nếu ta thêm bao nhiêu đơn vị ở một số hạng thì tổng cũng tăng thêm bấy nhiêu đơn

vị

Ta tóm tắt bài toán bằng sơ đồ như sau:

Tuổi em:

24 tuổi Tuổi anh

Bài giải Tuổi em hiện nay là:

24 : 3 = 8 ( tuổi ) Tuổi anh hiện nay là :

20 – 8 = 12 ( tuổi) Đáp số : Em 8 tuổi

Anh 12 tuổi

Cả ba bài toán này chúng ta đều vận dụng tính chất quan trọng của phép cộng

- Nếu ta thêm hoặc bớt bao nhiêu đơn vị ở một số hạng thì tổng cũng tăng thêm

hoặc bớt đi bấy nhiêu đơn vị

Còn rất nhiều bài toán khác vận dụng tính chất này nhưng trong phạm vi đề tài

không thể nêu ra hết được nếu giáo viên vận dụng và hướng dẫn cho học sinh nắm

được các tính chất này để giải toán thì các em tiếp thu kiến thức rất chủ động, xác

định dạng bài và đưa ra được phương pháp giải rất nhanh, các em nắm được kiến thức

rất chắc chắn và vận dụng rất sáng tạo

Bài 4: Một mảnh đất hình chữ nhật có nữa chu vi bằng 120m Nếu bớt chiều dài

10m và tăng chiều rộng 10m thì chiều dài gấp 3 lần chiều rộng Tính chiều dài và

chiều rộng của mảnh đất

Cho học sinh đọc kĩ đề toán, gạch chân những từ quan trọng trong đề toán

Một mảnh đất hình chữ nhật có nữa chu vi bằng 120m Nếu bớt chiều dài 10m và

tăng chiều rộng 10m thì chiều dài gấp 3 lần chiều rộng Tính chiều dài và chiều

rộng của mảnh đất

Nửa chu vi chính là tổng của hai cạnh của hình chữ nhật

Khi bớt chiều dài 10m thì tổng của hai cạnh giảm 10m Khi tăng chiều rộng 10m thì

tổng lại tăng thêm 10m Như vậy, tổng không thay đổi vẫn bằng 120m Chúng ta đã

vận dụng tính chất của phép cộng

- Nếu ta tăng số hạng này bao nhiêu đơn vị và bớt ở số hạng kia bấy nhiêu đơn vị thì

tổng số không thay đổi

Trang 6

Bài toán thuộc dạng toán tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó.

Tổng bằng 120m Tỉ số chiều dài gấp 3 lần chiều rộng

Ta có thể tóm tắt bài toán bằng sơ đồ tóm tắt sau:

Chiều rộng:

120m Chiều dài:

Chiều rộng mảnh đất:

120: 4 – 10 = 20(m) ( Do: nếu tăng chiều rộng 10m)

Chiều dài mảnh đất:

120 – 20 = 100(m)

Đáp số: Chiều rộng 20m

Chiều dài 100m

Bài 5: Hai kho thóc chứa 120 tấn thóc Nếu chuyển từ kho A sang kho B 20 tấn thí

số thóc ở kho A gấp 3 lần số thóc kho B Tính số thóc mỗi kho trước khi chuyển.

Mới đọc bài toán chúng ta thấy bài toán khá trừu tượng, đối với học sinh thì càng khó

hơn nhưng thất ra bài toán rất đơn giản Khi gặp những bài toán này giáo viên cần giải

thích và hướng dẫn cho học sinh thấy được: Khi chuyển từ kho A sang kho B 20 tấn

thì tổng số thóc của hai kho vẫn không thay đổi vẫn bằng 120 tấn vì giảm kho A 20

tấn nhưng lại tăng ở kho B 20 tấn Bài toán này chúng ta lại áp dụng tính chất của

phép cộng : Nếu ta tăng số hạng này bao nhiêu đơn vị và bớt ở số hạng kia bấy nhiêu

đơn vị thì tổng số không thay đổi

Giáo viên cho học sinh dọc kĩ đề toán rồi thảo luận tìm ra hướng giải bài toán

Hai kho thóc chứa 120 tấn thóc Nếu chuyển từ kho A sang kho B 20 tấn thì số

thóc ở kho A gấp 3 lần số thóc kho B Tính số thóc mỗi kho trước khi chuyển

Kho B

120 tấn Kho A

Số thóc ở kho B trước khi chuyển là:

120 : 4 – 20 = 10 (tấn)

Số thóc ở kho A trước khi chuyển là:

120 – 10 = 110 ( tấn)

Đáp số: Kho A 110 tấn

Kho B 10 tấn Hướng dẫn học sinh kiểm tra lại kết quả có phù hợp với các dữ kiện của bài toán

6

Trang 7

Khi chuyển kho A 20 tấn sang kho B thì kho A còn 110 – 20 = 90 (tấn) và kho B

được 10 + 20 = 30 (tấn) Lúc này kho A gấp 3 lần kho B Vậy bài toán ta đã làm

đúng

Bài 6: Cho phân số 1713 Tìm một số tự nhiên a sao cho khi bớt a ở tử số và thêm a

ở mẫu số thì được phân số mới bằng 32

Chúng ta xem tử số là số bé còn mẫu số là số lớn vì tử số bằng 13 còn mẫu số bằng 17

Đây là bài toán có tính trừu tượng hơn hai bài toán trên Khi gặp dạng bài toán này thì

giáo viên hướng dẫn cho học sinh thấy được: Khi bớt số a ở tử số và thêm số a ở mẫu

số thì tổng của tử số và mẫu số sẽ không thay đổi bằng 13 +17 = 30

Vì như chúng ta đã biết: Nếu ta tăng số hạng này bao nhiêu đơn vị và bớt ở số hạng

kia bấy nhiêu đơn vị thì tổng số không thay đổi

Theo đề bài, tử số 2 phần còn mẫu số 3 phần nghĩa là số bé bằng 32 lần số lớn Đây là

bài toán tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó tương tự như hai bài toán trên mà

chúng ta đã giải

Ta có sơ đồ tóm tắt như sau:

Tử số:

30

Mẫu số:

Bài giải

Tử số là: 30 : 5 x 2 = 12

Mẫu số là: 30 - 12 = 18

Số a là : 13 – 12 = 1 hoặc 18 – 17 = 1

Bài 7: Cho hai số thập phân: 14,78 và 2,87 Hãy tìm số A sao cho khi thêm A vào

số nhỏ và bớt A ở số lớn ta tìm được hai số có tỉ số là 4.

Khi thêm A vào số bé và bớt A ở số lớn thì tổng của hai số không thay đổi vẫn

bằng 14,78 + 2,87 = 17,65 và số lớn gấp 4 lần số bé Ta có sơ đồ tóm tắt như sau:

Số bé:

17,65

Số lớn:

Bài giải

Số bé là: 17,65 : 5 = 3,53

Số lớn là : 17,65 – 3,53 = 14,12

Dáp số : Số bé 3,53

Số lớn 14,12

Cả 4 bài toán này đều vận dụng tính chất của phép cộng : Khi ta tăng số hạng này bao

nhiêu đơn vị và bớt số hạng kia bấy nhiêu đơn vị thì giá trị của tổng vẫn không thay

đổi Khi gặp những bài toán này, giáo viên chỉ cần hướng dẫn cho học sinh thấy được

7

Trang 8

sự đồng dạng trong các bài toán từ đó các em sẽ xác định được dạng toán và các em

dễ dàng tìm được hướng giải bài toán nhanh và chính xác

Bài 8:Cho phân số 19/89 Hãy tìm một số sao cho đem số đó cộng với tử số và đem

mẫu số trừ đi số đó, ta được phân số mới bằng phân số tối giản 2/7

Giáo viên cần cho học sinh đọc kĩ đề toán rồi cùng nhau thảo luận dưới sự giúp đỡ

hướng dẫn của giáo viên Ta thấy tổng tử số và mẫu số của phân số đã cho là 108

(19+89=108) Mà khi thêm vào tử số và bớt đi mẫu số một số như nhau thì tổng của

tử số và mẫu số vẫn không thay đổi nên vẫn là 108:

Bài toán trở về bài toán tìm hai số khi biết tổng số và tỉ số của hai số đó.

Giáo viên hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ đoạn thẳng :

Mẫu số

Tổng của tử số và mẫu số là:

19 + 89 =108 Khi thêm vào tử số bao nhiêu đơn vị và bớt ở mẫu số bao nhiêu đơn vị thì tổng của tử

số và mẫu số vẫn không thay đổi nên vẫn là 108(Vẽ như sơ đồ trên)

108 chia thành mấy phần bằng nhau ?

2 +7 = 9 (phần) Giá trị mỗi phần là:

108 : 9 = 12

Tử số của phân số mới là:

12 x 2 = 24 Mẫu số của phân số mới là:

108 – 24 = 84 Phân số mới là:24/84 Đem tử số và mẫu số phân số mới cùng chia cho 12 ta được phân số 2/7 vì:

(24/12)/(84:12)=2/7 Vậy số cần tìm là :

24 – 19 = 5 (hoặc 89 – 84 = 5) Đáp số : số 5

Bài 9:Có hai thùng đựng tất cả 398 l nước mắm Nếu lấy bớt đi 50 l ở thùng thứ

nhất đổ sang thùng thứ hai thì thùng thứ hai sẽ đựng nhiều hơn thùng thứ nhất 16

l Tính xem mỗi thùng lúc đầu chứa bao nhiêu lít?

Đây là dạng toán tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của hai số đó nhưng hiệu bị ẩn và

chúng ta cần phải tìm trước khi giải bài toán

Giáo viên cho học sinh đọc kĩ đề toán nhiều lần rồi cho học sinh thảo luận để tìm

ra phương pháp giải Trước khi lấy 50 lít ở thùng thứ nhất để đổ sang thùng thứ hai

thì thùng thứ hai giảm đi 50 lít và thùng thứ nhất lại tăng 50 lít Như vậy thùng thứ

nhất tạm hơn thùng thứ hai 100 lít, theo đề bài sau khi đổ thêm vào thùng thứ hai thì

thùng thứ hai hơn thùng thứ nhất 16 lít có nghĩa là trước khi đỗ 50 lít ở thùng thứ nhất

sang thùng thứ hai thì thùng thứ nhất hơn thùng thứ hai 100 – 16 = 84 lít

Giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng 8

Trang 9

Tóm tắt :

Thùng thư hai : 84lit 398lít

Thùng thứ hai

Bài giải

Số nước mắm thùng thứ hai đựng được là ;

(398 – 84 ) : 2 = 157 (lít)

Số nước mắm thùng thứ nhất đựng được là:

157 + 84 = 241 ( lít ) Đáp số : Thùng thứ nhất 241 lít

Thùng thứ hai 157 lít Giáo viên hướng dẫn học sinh làm xong phải thử lại xem kết quả có phù hợp với các

dữ kiện bài toán hay không

Thùng thứ nhất 241 sau khi bớt 50 lít sang thung thứ hai thì thùng thứ nhất còn lại

191lit, thùng thứ hai sau khi thêm 50 lít của thùng thứ nhất thì thùng thứ hai có 398

-191 = 207

Đối với bài toán này chúng ta có thể cho học sinh giải theo cách khác như sau :

Khi lấy 50 lit ở thùng thứ nhất đổ sang thùng thứ hai thì tổng số nước mắm của hai

thùng vẫn không thay đổi và bằng 398 lít Lúc này, thùng thứ hai đựng nhiều hơn

thùng thứ nhất 16 lít Đây là bài toán tìm hai số khi biết tỏng và tỉ số của hai số đó

Sau khi chuyển ta có sơ đồ tóm tắt như sau :

Thùng thứ nhất :

16lit 398 lit

Thùng thứ hai

Bài giải Thùng thứ nhất đựng số nước mắm là:

( 398 – 16 ) : 2 + 50 = 241 ( lit)

Thùng thứ hai đựng được số nước mắm là :

398 – 241 = 157 ( lit )

Đáp số: Thùng thứ nhất : 241lit

Thùng thứ hai : 157lít

Bài 10:Tìm hai số biết thương bằng 3 số dư là 10 và hiệu của hai số bằng 130.

Mới thoáng đọc chúng ta thấy bài toán này chẳng khác gì bài toán đầu tiên Sở dĩ như

vậy là do tôi cố tình đưa ra những đề toán giống nhau để chúng ta dễ dàng phân biệt

cách giải các dạng toán Từ đó, giáo viên hệ thống được cho học sinh cách giải các

dạng toán Đối với bài toán này giáo viên hướng dẫn cho học sinh phân tích đề toán

Trang 10

Tìm hai số biết thương bằng 3 số dư là 10 và hiệu của hai số bằng 130

Để thương bằng 3 có nghĩa là số lớn gấp 3 lần số bé mà không còn dư 10 thì ta

phải bớt số lớn 10 đơn vị do đó hiệu sẽ giảm 10 đơn vị hiệu chỉ còn lại 120 đơn vị

(Khi ta thêm hoặc bớt số bị trừ bao nhiêu đơn vị thì hiệu số sẽ tăng thêm hoặc giảm

xuống bấy nhiêu đơn vị).

Bài toán trở về dạng đơn giản hơn

Tìm hai số biết thương bằng 3 và hiệu của hai số bằng 120

Ta có thể tóm tắt bằng sơ đồ như trên:

Số bé 120

Số lớn

Bài giải Hiệu số phần bằng nhau là:

3 - 1 = 2(phần)

Số bé là:

120 : 2 = 60

Số lớn là:

130 + 60 = 190

Đáp số: Số bé 60

Số lớn 190 Lưu ý : Khi tìm được số bé, muốn tìm số lớn ta lấy hiệu cũ cộng với số bé Nếu lấy

hiệu mới cộng với số bé thì ta phải cộng thêm 10 vì trước đó ta bớt ở số lớn 10 để số

lớn gấp 3 lần số bé ( Nên hướng dẫn học sinh lấy hiệu cũ cộng thêm số bé)

Yêu cầu học sinh kiểm tra lại cách làm và kết quả Số lớn 190 bằng 60 x 3 + 10 vậy

bài toán ta làm đúng

Bài 11: Hiện nay, tuổi cha hơn 3 lần tuổi con 5 tuổi Tính tuổi mỗi người, biết rằng

cha hơn con 35 tuổi.

Để tuổi cha chỉ bằng 3 lần tuổi con thì ta phai bớt ở tuổi cha 5 tuổi lúc đó cha chỉ còn

hơn con 30 tuổi (Khi ta thêm hoặc bớt số bị trừ bao nhiêu đơn vị thì hiệu số sẽ tăng

thêm hoặc giảm xuống bấy nhiêu đơn vị).

Bài toán trở nên đơn giản hơn nhiều

Hiện nay, tuổi cha bằng 3 lần tuổi con Tính tuổi mỗi người, biết rằng cha hơn con

30 tuổi.

Ta có sơ đồ sau khi bớt tuổi của cha 5 tuổi

Tuổi con :

30 tuổi

Tuổi cha :

Bài giải Tuổi con là : 30 : 2 = 15 ( tuổi)

Tuổi cha là : 35 + 15 = 50 ( tuổi)

Ngày đăng: 11/11/2022, 18:48

w