1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ Đảng bộ tỉnh quảng ninh lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010

114 509 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 590 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.Lý do chọn đề tài Kinh tế nông nghiệp (KTNN) giữ vai trò, vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Quảng Ninh. Mặc dù tỷ trọng tổng sản phẩm nội địa (GDP) của ngành nông lâm – ngư nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Quảng Ninh

Trang 1

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của bản thân Các tư liệu, số liệu được trình bày trong luận văn là trung thực, các tài liệu tham khảo được trích dẫn một cách nghiêm túc, khoa học dựa trên các kết quả nghiên cứu đã được công bố.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Chu Lữ Hồng Trang

Trang 2

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG CĂN CỨ KHOA HỌC ĐỂ ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH ĐỀ RA CHỦ TRƯƠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP (2001 – 2010) 7

1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh 7

1.2 Khái quát kinh tế nông nghiệp tỉnh Quảng Ninh trước năm 2001 20

1.3 Quan điểm và đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng cộng sản Việt Nam 24

Chương 2: QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP (2001 – 2010) 31

2.1 Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp (2001 – 2005) 31

2.2 Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp (2005 – 2010) 56

2.3 Đánh giá chung 10 năm Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp 75

Chương 3: MỘT SỐ KINH NGHIỆM VÀ ĐỂ XUẤT 81

3.1 Một số kinh nghiệm rút ra qua 10 năm Đảng bộ Quảng Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp 81

3.2 Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới 91

KẾT LUẬN 99

DANH MỤC TÀI LIỆU KHẢO THAM 102

PHỤ LỤC 106

TÓM TẮT LUẬN VĂN 109

Trang 3

CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

- Kinh tế nông nghiệp (KTNN) giữ vai trò, vị trí quan trọng trong

cơ cấu kinh tế của tỉnh Quảng Ninh Mặc dù tỷ trọng tổng sản phẩm nội địa

(GDP) của ngành nông - lâm – ngư nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnhQuảng Ninh không lớn, năm 2001 là 9,2%, năm 2005 chiếm 7,2%, năm 2008

là 6,49%, năm 2010 giảm còn 6,3%, nhưng đóng góp của ngành về phát triểnkinh tế - xã hội trên địa bàn là rất lớn Ngành giải quyết việc làm và nuôi sốngtrực tiếp dân số thuộc khu vực nông thôn và thành thị Ngoài ra còn tạo ranhiều loại mặt hàng nông - lâm – ngư nghiệp đáp ứng được 30 - 40% nhu cầutiêu dùng cho các khu công nghiệp, đô thị và tham gia xuất khẩu, góp phần ổnđịnh đời sống dân cư toàn tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành kinh tếkhác của tỉnh phát triển

- Mặc dù KTNN Quảng Ninh trước năm 2001 đã đạt được một số kết quả nhưng còn nhiều hạn chế cần khắc phục Từ năm 2001 đến 2010,

chưa có quy hoạch chung của ngành nông – lâm - ngư nghiệp, chỉ có quyhoạch riêng ngành thuỷ lợi, ngành lâm nghiệp đến năm 2010 Trong chủtrương phát triển KTNN và thực hiện có những vấn đề bất cập, mới đề rabước đi ngắn hạn chưa có bước đi dài hạn mang tính chiến lược, để phù hợpvới một số chủ trương, chính sách của Đảng về phát triển nông – lâm - ngưnghiệp của cả nước, của vùng và của tỉnh nói riêng, như Nghị quyết hội nghịlần thứ 5 của Ban chấp hành Trung Ương (BCH TW) khoá IX về đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH), nông nghiệp (NN), nông thônthời kỳ 2001 - 2010; Nghị quyết số 09/2000/NQ - CP của Chính phủ về một

số chủ trương, chính sách nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sảnphẩm NN Những thay đổi nhanh chóng của cả nước và của tỉnh, nhất là xuthế hội nhập khi Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại

Trang 5

thế giới (WTO), đã đặt ra cho sản xuất (SX) nông – lâm – ngư nghiệp tỉnhQuảng Ninh những cơ hội và nhiều thách thức Quảng Ninh là tỉnh có tốc độ

“đô thị hoá” và “công nghiệp hoá” khá nhanh, đã ảnh hưởng không nhỏ đếnquá trình phát triển nông – lâm – ngư nghiệp Hoàn cảnh lịch sử thay đổi, đòihỏi Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh cần phải có những quan điểm, định hướng vàchỉ tiêu phát triển KTNN cho phù hợp

- Qua nghiên cứu, tác giả muốn rút ra một số kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy KTNN Quảng Ninh phát

triển nhanh và đạt hiệu quả cao

Đó là những lý do để tác giả chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010” làm

luận văn thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đề tài về phát triển KTNN theo đường lối đổi mới trên phạm vi cả nước

đã được nghiên cứu và công bố nhiều Những công trình này đều đề cập tới cácvấn đề ở tầm vĩ mô, còn trên địa bàn từng tỉnh cũng có một số luận văn nghiêncứu về KTNN Riêng về KTNN tỉnh Quảng Ninh cho tới nay chưa có mộtcông trình khoa học nào nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện, có hệ thống

2.1 Nguồn tài liệu đề cập tới KTNN Quảng Ninh gồm:

Cục Thống kê Quảng Ninh (2011), Niên giám Thống kê tỉnh Quảng Ninh 2010; Cục Thống kê Quảng Ninh (2012), Niên giám Thống kê tỉnh Quảng Ninh (1955 – 2011); Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XI (1/2001); Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2005), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII (11/2005); Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2010), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XIII (11/2010); Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2010), Lịch sử đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, tập IV (1975 – 2005), Các

Trang 6

Báo cáo tổng kết hàng năm về KTNN (từ năm 2000 đến năm 2010) của Đảng

bộ tỉnh Quảng Ninh; Các Báo cáo tổng kết hàng năm về KTNN (từ năm 2000 đến năm 2010) của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Quảng Ninh; Các Báo cáo tổng kết hàng năm về KTNN (từ năm 2000 đến năm 2010) của Sở Nông

nghiệp và phát triển nông thôn (NN & PTNT) tỉnh Quảng Ninh; Bộ NN &

PTNT (2009), Báo cáo quy hoạch nông – lâm nghiệp và thủy lợi tỉnh Quảng Ninh đến năm 2005 và tầm nhìn đến năm 2020.

2.2 Đề tài khoa học cấp Bộ và một số sách đã xuất bản:

GS, TS Lưu Văn Sùng (1999), Sự lãnh đạo kinh tế của Tỉnh ủy trong điều kiện hiện nay, đề tài khoa học cấp bộ, Viện khoa học chính trị, Học viện

Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh; PGS, TS Nguyễn Văn Cúc

(2000), Tác động của Nhà nước đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đề tài khoa học cấp ba năm; Đặng Kim Sơn (2008), Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay và mai sau, NXB Chính trị Quốc gia; Viện chính sách

và chiến lược phát triển nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội; TS Nguyễn Văn Tuấn (2009), Đảng, Bác

Hồ với vấn đề tam nông (sưu tầm, tuyển chọn), NXB Chính trị Quốc gia; Vấn

đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn (2009), Kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Đặng Văn Thắng, Phạm Ngọc Dũng (2003), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng thực trạng và triển vọng, NXB Chính trị Quốc gia.

2.3 Một số luận án, luận văn đã được bảo vệ:

Lê Tấn Minh (2009), Đảng bộ tỉnh Tiền Giang lãnh đạo phát triển kinh

tế nông nghiệp (1986 – 2005), luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; Trần Phượng Quyên, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 7

(1996 – 2010), luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; Châu Hồng Nhiên (2011), Đảng bộ tỉnh Cà Mau lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2010, luận văn thạc sĩ chuyên

ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; Nguyễn Thị Hồng Thanh (2011),

Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ năm 2001 đến năm 2010, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; Đoàn Hải Đăng (2013), Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển du lịch từ năm 2001 đến năm 2010, luận

văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Những công trình nêu trên đã đề cập đến vấn đề Đảng cộng sản ViệtNam lãnh đạo NN, Đảng bộ các tỉnh, thành phố lãnh đạo phát triển KTNN.Trong số những công trình đã nêu, chưa có công trình khoa học nào đi sâu

nghiên cứu về “Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010” theo góc độ Lịch sử Đảng.

Trang 8

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu

Quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển KTNN tỉnhQuảng Ninh từ năm 2001 đến năm 2010

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi thời gian: từ năm 2001 đến năm 2010

+ Phạm vi không gian: trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

+ Giới hạn nội dung: trình bày chủ trương phát triển KTNN của Đảng bộtỉnh Quảng Ninh từ năm 2001 đến năm 2010 KTNN được hiểu theo nghĩa rộnggồm NN, lâm nghiệp và ngư nghiệp Vì vậy trong luận văn tác giả chỉ tập trungtrình bày chủ trương phát triển KTNN của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ năm

2001 đến năm 2010 và quá trình chỉ đạo thực hiện chủ trương đó

5 Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở khoa học của đề tài nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

về vai trò, vị trí của NN đối với đời sống của xã hội loài người nói chung vànhân dân Việt Nam nói riêng Về cơ sở khoa học, luận văn còn dựa vào điềukiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh và khảo sát thựctrạng KTNN của tỉnh trước năm 2001

- Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn sử dụng phương pháp lịch sử,phương pháp logic và sự kết hợp chặt chẽ hai phương pháp này Phương pháplịch sử là phương pháp trình bày các sự kiện lịch sử theo trình tự thời gian vàkhông gian Phương pháp logic là phương pháp khái quát, phân tích, tổng hợp

để từ đó rút ra bản chất, quy luật vận động của lịch sử Ngoài ra, tác giả còn

sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh, thống kê, biểu đồ, biểu bảng để làmnổi bật những vấn đề muốn trình bày

Trang 9

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Chỉ rõ cơ sở khoa học của đường lối phát triển KTNN của Đảng bộtỉnh Quảng Ninh

- Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh vận dụng sáng tạo đườnglối phát triển KTNN của Đảng cộng sản Việt Nam vào hoàn cảnh cụ thể củađịa phương mình

- Bước đầu rút ra một số kinh nghiệm qua 10 năm Đảng bộ tỉnh QuảngNinh lãnh đạo phát triển KTNN Đồng thời, tác giả cũng đề xuất một số giảipháp khả thi nhằm thúc đẩy KTNN phát triển nhanh hơn

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảotrong nghiên cứu và giảng dạy ở trường chính trị tỉnh và phục vụ công tácnghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục,kết cấu nội dung của luận văn được chia làm 3 chương, 8 tiết

Trang 10

Chương 1 NHỮNG CĂN CỨ KHOA HỌC ĐỂ ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH

ĐỀ RA CHỦ TRƯƠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

(2001 – 2010) 1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lí: Quảng Ninh là tỉnh biên giới, miền núi, hải đảo thuộc vùng

Đông Bắc của đất nước Nằm trong dải hành lang biển lớn của Bắc Bộ vàchạy dài theo cánh cung từ Đông Triều đến Bình Liêu - Móng Cái tiếp giápvới vùng Thập Vạn Đại sơn Trung Quốc, Quảng Ninh có biên giới đất liền(dài 132,8 km) và hải phận giáp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Trungtâm của tỉnh nằm cách thủ đô Hà Nội 153 km theo đường quốc lộ 18

Ranh giới: Quảng Ninh có trên 300 km giáp với các tỉnh và 132,8 kmgiáp với Trung Quốc Phía Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn và Trung Quốc; PhíaĐông giáp biển Đông; Phía Tây và Tây bắc giáp tỉnh Bắc Giang; Phía Tây vàTây Nam giáp tỉnh Hải Dương ; Phía Nam giáp thành phố Hải Phòng

Quảng Ninh có vị trí địa lý thuận lợi cho giao lưu kinh tế, văn hoá vàkhoa học kỹ thuật với Thủ đô Hà Nội, các tỉnh Bắc Bộ, cả nước và quốc tế

- Địa hình: Quảng Ninh mang tính chất là một vùng miền núi, trung du và

đồng bằng ven biển, hình thành ba vùng tự nhiên rõ rệt: vùng núi có diện tíchgần 4.580 km2 chiếm 77,10%; vùng hải đảo có 662 km2 chiếm khoảng 11,14 %tổng diện tích, còn lại là vùng trung và đồng bằng ven biển

Địa hình Quảng Ninh bị chia cắt và nghiêng dần theo hướng Đông Bắc

- Tây Nam tạo ra hai vùng khác biệt: Miền Tây và miền Đông, cụ thể đượcchia thành các loại địa hình sau :

+ Địa hình vùng núi thấp: Bao gồm 2 dải núi Nam Mẫu và Bình Liêu

có độ cao từ 900 - 1100m, diện tích chiếm 60,5% diện tích tự nhiên (DTTN)

Trang 11

Hướng chủ đạo là Đông Bắc - Tây Nam Vùng núi này gồm những dãy nốitiếp hơi uốn cong nên được gọi là cánh cung Đông.

+ Vùng trung du và đồng bằng ven biển: Diện tích chiếm 10% DTTN,

bao gồm những dải đồi thấp bị phong hoá và xâm thực tạo nên những cánhđồng từ các chân núi thấp dẫn xuống các triền sông và bờ biển Có thể chiathành 2 tiểu vùng :

+ Tiểu vùng phù sa cổ: Là các dạng địa hình đồi gò hoặc dải đất hẹp Độ

cao trung bình 25m, lớp phủ thực vật bị tàn phá mạnh Dải đồi có độ dốc thoảinhất là ở thung lũng sông Vai Lai, có nhiều đồi thấp khoảng trên dưới 50m,đỉnh bằng, sườn rất thoải Dạng địa hình này phù hợp với cây lâu năm và SXnông, lâm kết hợp

+ Tiểu vùng phù sa mới: Là vùng đồng bằng, thuận lợi cho SXNN ở và

tập trung ở huyện Đông Triều, Yên Hưng và từ Tiên Yên đến Móng Cái Đây

là những dải đồng bằng thường có diện tích nhỏ hẹp, nằm gần như ngang vớimực nước biển và là sản phẩm tích tụ của phù sa biển và phù sa sông Chúngcòn được tiếp tục lấn ra ngoài khơi bởi những bãi phù sa biển rất rộng lớn, đặcbiệt là ven bờ biển Móng Cái

Tuy có diện tích hẹp và bị chia cắt nhưng vùng trung du và đồng bằngven biển thuận lợi cho thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi và xâydựng hệ thống cơ sở hạ tầng như giao thông, điện, thông tin liên lạc… nênđây là vùng dân cư tập trung đông nhất của Quảng Ninh

Vùng biển và hải đảo: Hơn hai nghìn hòn đảo chiếm 2/3 số đảo cả nướcchạy từ Mũi Ngọc đến Hòn Gai tạo thành hình cánh cung song song với cánhcung Đông Triều Độ cao phổ biến của các đảo khoảng trên dưới 100m và trảidài theo đường ven biển hơn 250km chia thành nhiều lớp

- Khí hậu: Quảng Ninh tiêu biểu cho khí hậu các tỉnh miền Bắc Việt

Nam thuận lợi cho phát triển KTNN, nhưng cũng có nét riêng của một tỉnh

Trang 12

miền núi ven biển Các quần đảo ở huyện Cô Tô và Vân Đồn có đặc trưng củakhí hậu đại dương.

Chế độ mưa: Tổng lượng mưa hàng năm trung bình khoảng từ 2200

-2500 mm Mùa mưa ở Quảng Ninh trùng với hoạt động của gió mùa hè gióĐông Nam kéo dài 7 tháng, bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào cuối tháng 10.Trong mùa mưa lượng mưa ngày lớn nhất đều vượt 100 mm và có thể đạt tới

250 – 500 mm vào cuối tháng 6 đến tháng 9 Số ngày mưa hàng năm daođộng trong khoảng 117 - 153 ngày Trung bình mỗi năm ở Quảng Ninh cókhoảng 2,1 cơn bão đổ bộ vào

Giông và mưa đá: Trung bình mỗi năm ở đây quan trắc được khoảng 33

- 55 ngày dông, dông xuất hiện chủ yếu vào thời gian từ tháng 4 đến tháng 9,với khoảng 4 - 10 ngày một tháng

Mưa phùn: Dải ven biển Quảng Ninh có khoảng 20 - 25 ngày mưa phùn/năm Tần suất mưa phùn lên cao nhất vào các tháng 2 và 3, lên đến 6 - 9ngày/tháng Trong thời tiết mưa phùn nhiệt độ và ẩm độ lên cao là điều kiệnthuận lợi cho các loại sâu bệnh hại cây trồng phát triển, nấm mốc phát triển,quá trình han rỉ các vật liệu xây dựng cũng tăng

Sương muối: Khu vực có nguy cơ sương muối đe dọa là vùng Móng Cái

- Tiên Yên, tần suất sương muối ở đây khoảng 3 - 4 năm/lần, xảy ra vào tháng

12 và tháng 1 năm sau là thời kỳ lạnh nhất và khô nhất trong năm

Quảng Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có một mùa hạ nóng ẩm,mưa nhiều; một mùa đông lạnh, ít mưa và tính nhiệt đới nóng ẩm là baotrùm nhất

- Sông ngòi và chế độ thuỷ văn: Tỉnh Quảng Ninh có số lượng sông

suối khá lớn, mật độ trung bình biến đổi từ 1 đến 1,9 km/km2, có nơi tới 2,4km/km2 Phần nhiều các sông đều nhỏ, ngắn và dốc, thung lũng sâu và hẹp,xâm thực mạnh nhưng xâm thực ngang yếu và hầu như không có bồi tụ Các

Trang 13

sông, suối đều bắt nguồn từ các vùng núi cánh cung Đông Triều ở độ cao 500

- 1.300m, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, vuông góc với bờ biển Cácsông phần lớn không có trung lưu, cửa sông đổ ra biển có dạng vịnh cửa sông.Những đặc điểm này có ảnh hưởng đến mực nước trên các sông, khi mưanước lũ lên rất nhanh, sau mưa rút kiệt cũng nhanh

Tổng lượng nước năm trong toàn tỉnh khá lớn gần 7 tỷ m3 Moduyldòng chảy năm 32,9 - 124l/s.km2 có hướng phân bố nhỏ dần từ Đông sangTây Sự phân mùa mưa đã dẫn tới sự phân mùa dòng chảy trên địa bàn củaQuảng Ninh Chế độ sông ngòi và thủy văn ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triểnnông – lâm – ngư nghiệp

- Tài nguyên biển và tài nguyên sinh vật: Biển Quảng Ninh là một hệ

sinh thái đa dạng cao về cảnh quan và các hệ động thực vật phong phú Có tớitrên 400 loài cá, 500 loài động vật biển, 160 loài san hô, 140 loài rong biển.Quảng Ninh có trên 40.000 ha bãi triều, 20.000 ha eo vịnh và hàng chụcvạn hecta vũng nông ven bờ thuộc Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long là môi trườngrất thuận tiện để phát triển nuôi tôm, cá và hải đặc sản xuất khẩu

- Tài nguyên đất: Theo số liệu thống kê đất đai năm 2008 “diện tích tự nhiên tỉnh Quảng Ninh là 609897,94 ha Trong đó: diện tích đất NN là 394.004,98 ha, chiếm 64,6% diện tích đất tự nhiên; đất SXNN là 53.764,02

ha, chiếm 8,8% diện tích tự nhiên (DTTN); đất lâm nghiệp có rừng là 319.980,03 ha,chiếm 52,46% DTTN; đất phi NN là 78.133,96 ha, chiếm 12,81 % DTTN; đất chưa sử dụng là 137.759 ha, chiếm 22,59 % DTTN” [5,

tr 19]

Trong tổng diện tích đất đai toàn tỉnh, đất NN chỉ chiếm 10%, đất córừng chiếm 38%, diện tích chưa sử dụng còn lớn (chiếm 43,8%) tập trung ởvùng miền núi và ven biển, còn lại là đất chuyên dùng và đất ở Dưới tác độngtổng hợp của môi trường tự nhiên và con người, đất đai tỉnh Quảng Ninh đã

Trang 14

hình thành nên 12 nhóm đất, với những đặc điểm khác nhau về hình thái vàtính chất lý hoá học cũng như khả năng sử dụng Các loại đất thuận lợi choSXNN là đất phù sa, đất có tầng sét loang lổ và sau đó tới nhóm đất phèn, đấtmặn, đất xám và đất vàng đỏ.

Nhìn chung so với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đấtcanh tác nghèo dinh dưỡng của Quảng Ninh chiếm cao hơn, đòi hỏi suất đầu

tư cho SXNN cao hơn Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất đem lại giá trị kinh

tế cao, cần bảo vệ đất và môi trường, áp dụng các biện pháp canh tác hợp lýtrên đất dốc, áp dụng các công thức luân canh, bón phân một cách khoa họctrên những vùng thâm canh, không ngừng tăng cường độ màu mỡ cho đất Hỗtrợ nhân dân đầu tư các công trình giao thông thuỷ lợi cải tạo đất, hỗ trợ vốncho SX, ứng dụng chuyển giao kỹ thuật SX tiên tiến để nâng cao đời sốngnhân dân và tiến tới một nền nông - lâm – ngư nghiệp phát triển bền vững

Phân hạng thích nghi đất đai: Tổng hợp kết quả phân hạng đánh giá

thích nghi đất của Viện Quy hoạch và Thiết kế NN hoàn thành năm 2004,phục vụ sản xuất nông – lâm - ngư nghiệp tỉnh Quảng Ninh cụ thể như sau:

- Chuyên lúa: có khả năng thích nghi tối đa là 33.876 ha, trong đó: + Rất thích nghi (S1) có 3988 ha tập trung ở các đơn vị đất phù sa có

địa hình thấp, được tưới tiêu chủ động Trong đó diện tích phân bố nhiều nhất

ở Đông Triều và Yên Hưng

+ Thích nghi trung bình (S2) có 29.888 ha, tập trung ở các đơn vị đất

phù sa, đất sét có tầng loang lổ có địa hình vàn thấp được tưới tiêu chủ động.Mức thích nghi này có ở hầu hết các huyện trong tỉnh, nhưng nhiều nhất làcác huyện Đông Triều, Móng Cái, Tiên Yên, Hoành Bồ

- Lúa - Màu: Có khả năng thích nghi tối đa là 33.282 ha, trong đó:

Trang 15

+ Rất thích nghi (S1) có 3.605 ha tập trung ở các đơn vị đất phù sa có

địa hình thấp, được tưới tiêu chủ động Trong đó diện tích phân bố nhiều ởĐông Triều, Uông Bí, Yên Hưng

+ Thích nghi trung bình (S2) có 29.677 ha, phân bố ở các đơn vị đất có

địa hình cao, được tưới tiêu chủ động, đất chủ yếu có thành phần cơ giới thịtnhẹ đến trung bình Quy mô diện tích lớn phân bố đều ở các huyện

- Chuyên rau màu và Cây công nghiệp ngắn ngày : Có khả năng thích

nghi tối đa 29.631 ha Trong đó:

+ Rất thích nghi (S1) có diện tích 3.605 ha phân bố ở các Huyện Đông

Triều, Yên Hưng, Uông Bí, Móng Cái

+ Thích nghi trung bình (S2) có diện tích 26.025 ha, phân bố ở tất cả

các huyện

- Lúa – cá: có diện tích 468,4 ha, ở mức: Thích nghi trung bình (S2),

phân bố tập trung ở các đơn vị đất có địa hình thấp trũng, khó thoát nước, cóthành phần cơ giới nặng nằm ở huyện Yên Hưng, Hải Hà

Ngoài ra còn có 3.840,96 ha thích nghi kém (S3) phân bố ở một sốhuyện đồng bằng ở địa hình thấp, bị ngập nước mùa mưa

- Chè: Có khả năng thích nghi tối đa là 18.497 ha trong đó mức rất

thích nghi (S1) có 1053 ha, thích nghi (S2) có 17.444 ha, phân bố tập trung ởcác huyện Đầm Hà, HảI Hà, Móng Cái

- Cây ăn quả: có khả năng thích nghi tối đa 41.369 ha Trong đó:

+ Rất thích nghi (S1) có diện tích 8.921 ha phân bố ở tất cả các huyện

trong tỉnh nhiều nhất là ở huyện Đông Triều

+ Thích nghi trung bình (S2) có diện tích 32.447 ha, phân bố ở tất cả

các huyện trong tỉnh

Trang 16

- Nông lâm kết hợp: Có khả năng thích nghi tối đa là 69.317 ha, trong

đó ở mức rất thích nghi (S1) có 8800 ha, mức thích nghi trung bình (S2) có60.517 ha và phân bố ở tất cả các huyện thị của tỉnh

- Đồng cỏ chăn nuôi: Có khả năng thích nghi tối đa là 29.847 ha,

trong đó diện tích rất thích nghi (S1) có 3605 ha, diện tích thích nghi trungbình (S2) có 26.242 ha, phân bố ở hầu khắp các huyện trong tỉnh, trừ huyệnđảo Cô Tô

- Rừng trồng: Có khả năng thích nghi tối đa 157.014 ha, trong đó diện

tích có mức độ rất thích nghi (S1) là 19.264 ha, diện tích thích nghi trung bình(S2) có 137.750 ha, phân bố ở tất cả các huyện của tỉnh

- Nuôi trồng thuỷ sản: Hơn 24.000 ha, ở mức thích nghi kém (S3) chủ

yếu là nước lợ, trong đó các xã có diện tích lớn tập trung nhất là thuộc VânĐồn và Yên Hưng

Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất đem lại giá trị quả kinh tế cao, bảo

vệ đất và môi trường cần áp dụng các biện pháp canh tác hợp lý trên đất dốc,

áp dụng các công thức luân canh, bón phân một cách khoa học trên nhữngvùng thâm canh, không ngừng tăng cường độ màu mỡ cho đất và để sử dụngđất lâu dài Vùng đất dốc dưới 150o nên trồng các loại cây lâu năm (nhãn, vải)kết hợp với trồng cây hoa màu

- Tài nguyên nước ngọt: Quảng Ninh là tỉnh miền núi, địa hình bị chia

cắt mạnh nên nguồn nước bị hạn chế Toàn tỉnh tuy có khá nhiều sông suốichảy qua nhưng đều ngắn, hẹp và dốc Lưu lượng nhỏ từ vài chục đến trêndưới 100 m3/s Mật độ sông trung bình 1,0 - 1,9 km/km2 nhưng các sông đềubắt nguồn từ độ cao (trên 500m) và không có trung lưu Điều này ảnh hưởngđến dòng chảy lên xuống thất thường, dễ lụt về mùa mưa và dễ kiệt vào mùakhô Những năm gần đây đã có hiện tượng nước mặn xâm nhập khá sâu vàotrong đất liền

Trang 17

- Thực trạng môi trường: Các ngành kinh tế, du lịch phát triển đã làm

phát sinh những tác hại đến môi trường, đặc biệt là ngành khai thác than vàkhói bụi từ nhà máy nhiệt điện trên địa bàn tỉnh đã ảnh hưởng tới sức khoẻ,cảnh quan môi trường sống của con người

Hệ thống xử lý nước thải, chất thải trong các khu công nghiệp, khu chếxuất, khu du lịch, cảng biển, khu đô thị và các khu dân cư tập trung đượcquan tâm xây dựng nhưng không đồng bộ gây ảnh hưởng không nhỏ đến đấtđai, nguồn nước và môi trường biển, ảnh hưởng tới SXNN nhất là các khuvực ven đô Từ sự trình bày ở trên có thể nhận thấy điều kiện tự nhiên củaQuảng Ninh có những thuận lợi và khó khăn cho quá trình SXNN:

- Thuận lợi

+ Sự đa dạng về địa hình địa mạo tạo khí hậu và đất đai thích hợp vớinhiều loại cây trồng nông – lâm - ngư nghiệp có giá trị kinh tế cao Diện tíchđất trống đồi núi trọc, lao động còn nhiều là điều kiện thuận lợi để khai thácvào mục đích SX nông – lâm - ngư nghiệp trong giai đoạn tới

+ Lợi thế về vị trí địa lý kinh tế đã tạo cho Quảng Ninh giao lưu dễdàng với vùng kinh tế Bắc Bộ và vùng kinh tế phía Nam Trung Quốc, là nơitiếp giáp với các tỉnh phía Nam Trung Quốc nên có điều kiện xuất khẩu cácmặt hàng nông – lâm sản Trong tương lai gần khu vực Bắc Lào - Vân Nam(Trung Quốc) nhờ qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông, các cảngbiển của Quảng Ninh để thông thương với các nước trên thế giới

- Khó khăn

+ Quảng Ninh có địa hình chia cắt phức tạp, diện tích đất đồi núi chiếmtới 70% DTTN, trong khi nhu cầu phát triển các ngành công nghiệp, đô thị,xây dựng cơ sở hạ tầng rất lớn dẫn đến tình trạng nhiều hộ nông dân mất đấtSXNN Điều kiện SXNN của Quảng Ninh khó khăn hơn các tỉnh vùng trọng

Trang 18

điểm Bắc Bộ do tỷ lệ đất canh tác nghèo chất dinh dưỡng lớn, phải đầu tư cảitạo và chi phí SX lớn hơn.

+ Chế độ mưa phân bố không đều trong năm, mùa mưa chiếm tới 80%lượng mưa trong năm đã gây tình trạng ngập úng, sạt lở đất đá ở nhiều nơi,giao thông đi lại khó khăn dễ ách tắc Mùa khô mưa ít, lòng sông hẹp, dốc,mức nước các sông hồ xuống thấp gây tình trạng hạn hán thiếu nước kéo dàicho SX và sinh hoạt trên nhiều vùng núi và hải đảo từ tháng 11 đến tháng 3 -

4 năm sau Yếu tố thiên tai như bão, lốc, lũ quét đã gây thiệt hại cho SXNN

và tài sản tính mạng của con người Nguồn nước ngầm còn thiếu nhiều so vớinhu cầu và chỉ đáp ứng 40 - 50% cho sinh hoạt và SX, chất lượng nước nhiềukhu vực chưa đáp ứng được yêu cầu do bị nhiễm mặn Vì vậy, cần phải đầu tưlớn để xây dựng nhiều hồ đập để chứa, tích nước phục vụ cho phát triển cácngành kinh tế và sinh hoạt của nhân dân

1.1.2 Điều kiện kinh tế

Điều kiện kinh tế tỉnh Quảng Ninh trước năm 2001 có những yếu tốthuận lợi và khó khăn cho phát triển KTNN thời kỳ 2001 – 2010:

- Những yếu tố thuận lợi

+ Về cơ bản ngành NN đã tự cân đối đủ lương thực, thực phẩm cho khuvực nông thôn và một phần cho chăn nuôi, du lịch, khu công nghiệp tạo sự

ổn định đời sống dân cư – xã hội vùng nông thôn

+ Có nhiều khu du lịch nổi tiếng trong cả nước và thế giới như vịnh HạLong, Bái Tử Long, bãi tắm Trà Cổ và các di tích lịch sử đền chùa miếu mạogắn với lịch sử của đất nước như bãi cọc Bạch Đằng, chùa Yên Tử, đền CửaÔng tạo điều kiện cho Quảng Ninh phát triển du lịch, các dịch vụ buôn bánkinh doanh mặt hàng nông - lâm – ngư nghiệp khác

Trang 19

+ SXNN đã chuyển biến theo hướng phát triển toàn diện, đa dạng hoásản phẩm đang dần hình thành một số vùng SX hàng hoá tập trung Phát triểnSXNN đã góp phần khai thác tiềm năng về đất đai, lao động, tiền vốn của cácthành phần kinh tế nông thôn, làm tăng hiệu quả SX tăng sản phẩm xã hội.

+ Kinh tế phát triển theo hướng tăng cơ cấu và giá trị thu nhập từ cácngành công nghiệp, du lịch, dịch vụ đã góp phần nâng cao đời sống của nhândân, tạo ra cơ hội lớn giải quyết việc làm và thu nhập cho người lao động, ổnđịnh dân cư xã hội vùng nông thôn

+ Cơ sở hạ tầng phục vụ SX phúc lợi xã hội được tăng cường, nâng caonăng lực phục vụ, nhất là giao thông, thuỷ lợi, nước sạch và điện sinh hoạt vùngnông thôn

+ SX phát triển đã thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư từ các doanhnghiệp trong và ngoài nước các tổ chức kinh tế - xã hội đầu tư vào lĩnh vực SX

và chế biến nông – lâm – ngư nghiệp Đồng thời tăng khả năng tích luỹ vốn vàhuy động vốn nhàn dỗi trong nhân dân đầu tư cho SX tạo đà thuận lợi cho kinh

tế nông thôn phát triển trong giai đoạn tới

- Những yếu tố khó khăn

+ Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu KTNN, các địa phương đã chú ýđưa tiến bộ khoa học và công nghệ mới vào SX nhưng còn ở mức thấp, chưatập trung đầu tư tạo vùng SX hàng hoá, công tác quy hoạch, kế hoạch cònthiếu tính khả thi chưa cao SX nông sản hàng hoá còn manh mún, chưa hìnhthành rõ vùng SX chuyên canh, hay các vùng cung cấp nguyên liệu chế biếncho các khu công nghiệp, cụm công nghiệp đã quy hoạch trên địa bàn tỉnh

+ Chuyển dịch lao động từ ngành NN sang công nghiệp còn thấp, tỉ lệlao động đã qua đào tạo chưa cao dẫn đến năng suất lao động thấp và thu nhậpthiếu ổn định Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ SX và bảo quản chế biến nông,lâm sản còn thiếu và yếu, chưa đáp ứng yêu cầu mở rộng SX Tỷ lệ hộ nghèo

Trang 20

vùng nông thôn, miền núi và khu vực hải đảo còn cao, nhiều hộ dân thiếu vốnđầu tư mở rộng SX nông – lâm - ngư nghiệp Nhiều yếu tố mới về hội nhậpquốc tế, cạnh tranh chất lượng, giá thành các sản phẩm NN chủ yếu của tỉnhdiễn ra gay gắt, trong khi trình độ SX, tính thương mại hoá các ngành hàngnông - lâm sản còn yếu.

+ Bình quân suất đầu tư cho SXNN so với các tỉnh khác là lớn, nhưnghiệu quả SX chưa cao Quá trình thực hiện CNH – HĐH NN nông thôn diễn

ra chậm, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào SX chưa nhiều, SXtheo hướng hàng hoá còn chậm nên hiệu quả SX chưa cao

+ Bình quân đất SXNN cho các hộ thấp và sẽ tiếp tục giảm nhanh trongthời gian tới do chuyển đổi đất NN sang xây dựng các khu công nghiệp và hệthống cơ sở hạ tầng khác sẽ gây xáo trộn đời sống kinh tế - xã hội của một bộphận dân cư nông thôn Vấn đề ô nhiễm môi trường trong SX, trong các khudân cư nông thôn và tình trạng suy thoái đất đồi núi do canh tác thiếu khoahọc, đến nay chưa có giải pháp xử lý đồng bộ

+ Tình hình phát bệnh gia súc, gia cầm có diễn biến phức tạp đã ảnhhưởng tốc độ ngành chăn nuôi Do phải nhập lượng lớn lương thực, thựcphẩm từ ngoài vào nên chưa kiểm soát được về vệ sinh an toàn cho các nôngsản lương thực, thực phẩm từ khâu SX đến phân phối tiêu thụ, sẽ là yếu tố bấtlợi cho người dân khi tham gia hội nhập WTO Các mặt hàng trong SX nông -lâm nghiệp còn ít, chất lượng chưa cao, khả năng cạnh tranh các mặt hàngnông sản hàng hoá còn yếu

1.1.3 Điều kiện xã hội

- Dân số và lao động: Quảng Ninh có 14 huyện, thị xã, thành phố trong

đó có 7 huyện miền núi, 2 huyện đảo, 1 thị xã, 4 thành phố Tổng số có 186

xã, phường, thị trấn trong đó có 109 xã miền núi (33 xã thuộc khu vực 3).Trên địa bàn tỉnh có 11 dân tộc đang sinh sống trong đó dân tộc Kinh chiếm

đa số là 85,23%, còn lại là các dân tộc khác như Dao (4,5%), Tày (2,8%), Sán

Trang 21

Dìu (1,8%) Năm 2008 dân số tỉnh Quảng Ninh có 1.114,4 nghìn người Tỷ

lệ dân số thành thị chiếm 45% tổng dân số và khu vực nông thôn, chiếm 55%dân số toàn tỉnh

Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên trung bình là 1,15%/năm (từ năm 2001

- 2008), và tỷ lệ tăng dân số cơ học trên địa bàn tỉnh khá lớn, nhất là các khuvực công nghiệp khai thác than, khu vực thành thị, hàng năm có 40 - 50 ngànlao động tỉnh ngoài đến Toàn tỉnh có gần 264 ngàn hộ, trong đó số hộ NN là104,7 ngàn hộ, chiếm 40% trong tổng số hộ, hàng năm trung bình có 2 - 3nghìn người từ khu vực nông thôn chuyển sang khu vực vực thành thị

Theo số liệu thống kê của Sở lao động tỉnh Quảng Ninh năm 2008 sốlao động trong độ tuổi toàn tỉnh là 613 nghìn người, chiếm 55% dân số củatỉnh trong đó lao động nông – lâm - ngư nghiệp chiếm tỷ lệ là 48% số laođộng trong độ tuổi) Hàng năm có từ 2 - 4% lao động NN chuyển sang laođộng phi NN Lao động của Quảng Ninh thuộc dạng trẻ, nhóm tuổi từ 15 - 34chiếm từ 37 - 38% trong tổng số lao động và tỷ lệ lao động được đào tạo ngàycàng cao từ 26,7% (năm 2001) lên 35,2% (năm 2008) Nhu cầu sử dụng laođộng trong các ngành công nghiệp, dịch vụ thương mại của tỉnh Quảng Ninhrất lớn, một số ngành lao động phải lấy từ ngoài tỉnh Hàng năm số lao độngđược giải quyết việc làm của tỉnh từ 20 - 22 ngàn lao động, tỷ lệ sử dụng thờigian lao động ở nông thôn ngày càng tăng năm 2008 tỷ lệ này là 82,5%, tỷ lệlao động thất nghiệp ở thành phố hàng năm giảm từ 0,5 - 1%/năm Đây là mộtyếu tố thuận lợi mà nhiều tỉnh chưa có, để chuyển dần lao động NN sang lĩnhvực phi NN và chuyển dịch cơ cấu KTNN nông thôn theo hướng CNH, HĐH

Hàng năm, bằng nhiều nguồn vốn đầu tư tỉnh đã tổ chức đào tạo laođộng NN và ngành nghề nông thôn, từ năm 2005 - 2008 đã mở được 250 lớphọc với 8962 người tham gia, kinh phí đào tạo là 6,25 tỷ đồng, nâng tỷ lệ laođộng được đào tạo lên 39% tổng số lao động của trong độ tuổi, đạt mức cao

Trang 22

hơn bình quân chung của cả nước So với các tỉnh trong vùng kinh tế trọngđiểm Bắc Bộ, lao động của Quảng Ninh còn ở mức trung bình, chưa khơi dậylòng ham muốn làm giàu từ SX nông – lâm - ngư nghiệp, những chủ hộ có

mô hình trang trại SX nông, lâm hàng hoá đạt giá trị cao mới ở bước đầu,tiềm năng khai thác trong SX còn lớn Trong một số lĩnh vực kinh tế khácQuảng Ninh có nhiều doanh nhân thành đạt nhưng trong lĩnh vực NN chỉ số ítnhững doanh nhân thành đạt Do đó, cần có những giải pháp về cơ chế chínhsách phù hợp để đưa ngành SXNN có bước phát triển cao bền vững, tươngxứng với là vị trí mũi nhọn trọng điểm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

- Những yếu tố thuận lợi:

+ Lực lượng lao động NN có khả năng tiếp thu, ứng dụng kỹ thuật mớivào SX Một số cơ chế chính sách khuyến khích phát triển NN được phát huykhá tốt tạo ra những động lực trong SX Quan hệ trong SXNN được tăngcường, nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia vào lĩnh vực nông – lâm - ngưnghiệp Vai trò HTX NN kiểu mới cùng các loại hình dịch vụ nông thôn đãđược phát huy, hỗ trợ có hiệu quả cho người SX Tỉnh uỷ, UBND tỉnh QuảngNinh đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm hỗ trợ phát triển kinh tếnông – lâm - ngư nghiệp, tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong lĩnh vực này

- Những yếu tố khó khăn

+ Lực lượng cán bộ quản lý kỹ thuật NN từ tỉnh tới cơ sở nhiều nơi cònthiếu và chưa đồng đều về năng lực Cơ chế phân cấp quản lý trong một sốlĩnh vực SX chưa rõ ràng nên khi vận dụng vào thực tế còn lúng túng, kết quảcủa nhiều chương trình phát triển SX nông – lâm - ngư nghiệp chưa cao Một

số chủ trương, chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh chậm được cụthể hoá hoặc chưa đến được người nông dân và các đơn vị SX kinh doanh

NN Còn tồn tại nếp SX cũ ở một số cán bộ và người dân ngại đổi mới, còn tư

Trang 23

tưởng trông chờ vào hỗ trợ của nhà nước nên quá trình chuyển dịch cơ cấuKTNN còn chậm chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của tỉnh.

+ Mặt bằng văn hóa của nhân dân còn thấp, nguồn nhân lực còn nhiềuhạn chế Theo số liệu thống kê của Sở lao động tỉnh Quảng Ninh năm 2008 sốlao động trong độ tuổi toàn tỉnh là 613 nghìn người, chiếm 55% dân số củatỉnh, trong đó lao động nông – lâm - ngư nghiệp chiếm tỷ lệ là 48% số laođộng trong độ tuổi) Hàng năm có từ 2 - 4% lao động NN chuyển sang laođộng phi NN Lao động của Quảng Ninh thuộc dạng trẻ, nhóm tuổi từ 15 - 34chiếm từ 37 - 38% trong tổng số lao động và tỷ lệ lao động được đào tạo ngàycàng cao từ 26,7% (năm 2001) lên 35,2% (năm 2008) Nhu cầu sử dụng laođộng trong các ngành công nghiệp, dịch vụ thương mại của tỉnh Quảng Ninhrất lớn, một số ngành lao động phải lấy từ ngoài tỉnh

Tỉnh có 4 trường cao đẳng và đại học, 5 trường đào tạo trung họcchuyên nghiệp Hàng năm có gần 220 nghìn học sinh phổ thông, 6 ngàn họcsinh cao đẳng và đại học, 7 – 8 nghìn học sinh chuyên nghiệp được đào tạo vàtốt nghiệp là lực lượng lao động có trình độ tham gia vào các ngành kinh tế -

xã hội của tỉnh Quảng Ninh Lao động ở tỉnh dồi dào nhưng đa số trình độhọc vấn vẫn thấp, trình độ chuyên môn, kỹ năng lao động hầu như không cao,chủ yếu lao động đơn giản Khu vực đô thị dân cư khá tập trung, còn lại phântán và rải rác

1.2 Khái quát kinh tế nông nghiệp tỉnh Quảng Ninh trước năm 2001

Thực hiện nghị quyết lần thứ X nhiệm kỳ (1996 – 2000) của Đảng bộ tỉnhQuảng Ninh, hàng vạn hộ nông dân trong tỉnh đã phát huy nội lực, chủ động,sáng tạo khắc phục khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ và kế hoạch tỉnh giao

Trong nông nghiệp: mặc dù thời tiết không thuận lợi, song năm 1996

tổng sản lượng lương thực đạt trên 170 nghìn tấn, tăng 13,5% nghìn tấn, giátrị SXNN tăng 5% so với năm 1995, một số huyện tăng trên 5 nghìn tấn như

Trang 24

Yên Hưng, Đông Triều Tổng đàn gia súc, gia cầm tăng 5 – 7%, riêng đàn lợnnái tăng 3,5% Năm 1997, thời tiết thuận lợi, một số công trình thủy lợi quanhiều năm đầu tư đã phát huy tác dụng, các địa phương tích cực chuyển đổi

cơ cấu mùa vụ, tổng sản lượng lương thực toàn tỉnh đạt 175.500 tấn tăng 4%

so với năm 1996; giá trị sản xuất ngành NN tăng 5,9%, một số huyện tăng caonhư Đông Triều tăng 3.500 tấn, Yên Hưng 1.500 tấn… Toàn tỉnh cơ bản hoànthành việc giao quyền sử dụng đất ruộng lâu dài cho hộ nông dân (97% số hộnông dân được cấp giấy quyền sử dụng đất)

Năm 1998 tổng sản lượng lương thực toàn tỉnh đạt 181 nghìn tấn, tăng3,5% so với năm 1997; năm 1999 diện tích gieo trồng đạt 72.946 ha, tăng0,9%, tron đó diện tích lúa 47.094 ha, tăng 1,4%; năng suất bình quân 34,2 tạ/ha; tổng sản lượng lương thực đạt 188.482 tấn, tăng 4,1% so với năm 1998.Năm 2000 – năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ X, ngành NN củatỉnh có bước phát triển, tổng diện tích gieo trồng đạt 75.245,8 ha, trong đógieo cấy 4 nghìn ha lúa lai (chiếm 8,3% diện tích lúa toàn tỉnh), gấp 5 lần sovới năm 1999 Trong chăn nuôi, đến năm 2000, đàn lợn 289.200 con, đàn trâu64.400 con, đàn bò 14.630 con, đàn gia cầm đạt gần 3 triệu con

Để phục vụ công tác phát triển NN, tỉnh luôn quan tâm đến công tác ápdụng các biện pháp khoa học kỹ thuật cũng như công tác làm thủy lợi Năm

1996 tu bổ đê sông, đê biển, kè biên giới Bắc Luân và một số công trình khácđảm bảo đúng kế hoạch, tiếp tục thi công đập Cao Vân, Tràng Vinh, nâng cấp

để sông Đá Bạch và trạm bơm tiêu úng xã Hồng Phong (Đông Triều), cốngtiêu úng khu vực Hà Nam (Hưng Yên), đảm bảo chủ động tưới tiêu cho trên65% diện tích gieo trồng Hoàn thành tu bổ tuyến đê biển Hà Nam, sông KinhThầy, sửa chữa, nâng cấp một số kênh mương, đập chứa nước trong năm

1997 Năm 1998 hoàn thành và đưa vào sử dụng trạm bơm tiêu úng ĐứcChính (Đông Triều)

Trang 25

Trong lâm nghiệp: Đảng bộ luôn chú ý đến công tác tổ chức, quản lý tạo

vốn rừng, hạn chế khai thác, lấy khâu chăm sóc, bảo vệ rừng làm trọng tâm.Năm 1996 gần 80% diện tích rừng và đất rừng được giao cho các doanhnghiệp, HTX và hộ gia đình quản lý, kết hợp khoán rừng gắn với công tác địnhcanh, định cư vùng đồng bào dân tộc Toàn tỉnh trồng 5.547 ha rừng tập trung;khai thác, chế biến nhựa thông tăng 57%, doanh thu ngoại tệ gấp 2 lần so vớinăm 1995 Năm 1997 trồng 5.622 ha rừng tập trung và trên 3 triệu cây phântán, hình thành một số vùng cây ăn quả ở các huyện Đông Triều, Tiên Yên,Quảng Hà; năm 1998 trồng 5.445 ha rừng tập trung và 2 triệu cây phân tán, đếnhết năm 1998 toàn tỉnh có 8.390 trang trại, một số trang trại bắt đầu cho thuhoạch; năm 1999 trồng 5.769 ha rừng tập trung; năm 2000 so với năm 1999toàn tỉnh trồng 7.000 ha rừng tập trung, tăng 15,7% khai thác, thu mua nhựathông đạt 3 nghìn tấn, tăng 38,8%; khai thác gỗ trụ mỏ đạt 21.600m3, tăng14,8% Công tác quản lý, bảo vệ rừng có nhiều tiến bộ, số vụ cháy rừng giảm

Trong ngư nghiệp: công tác thủy sản được tỉnh quan tâm chỉ đạo.

Ngành thủy sản hàng năm đầu tư đóng mới hàng chục chiếc thuyền tuyếnkhơi, phát triển nuôi trồng thủy sản có giá trị cao như nuôi ngọc trai, ngao, sòhuyết, cá lồng, tôm sú ở nhiều nơi như Vân Đồn, Yên Hưng, Móng Cái, Hải

Hà, Đầm Hà… Lượng khai thác cũng như nuôi trồng thủy hải sản của tỉnhhàng năm tăng cao Năm 1997 sản lượng hải sản đạt 18.600 tấn, giá trị kimngạch xuất khẩu đạt 11 triệu USD, chiếm tỷ trọng gần 40% giá trị kim ngạchxuất khẩu của tỉnh; năm 1998, sản lượng hải sản đạt 18,6 triệu USD, phongtrào nuôi trồng thủy sản có giá trị kinh tế cao tiếp tục được mở rộng, điển hìnhnhư nuôi tôm sú ở Yên Hưng, Móng Cái; nuôi lồng, bè, nuôi trai ngọc ở HạLong, Vân Đồn, Cẩm Phả Công tác chế biển thủy sản xuất khẩu được đầu tưđổi mới công nghệ, đa dạng mặt hàng và đảm bảo tốt vệ sinh thực phẩm để

mở rộng thị trường sang châu Âu; đến năm 2000, tổng sản lượng khai thác,

Trang 26

đánh bắt thủy sản toàn tỉnh đạt 22 triệu USD, tăng 15 % so với năm 1999; thửnghiệm thành công mô hình nuôi tôm rảo, tôm sú đẻ, từng bước đáp ứng nhucầu con giống cho nuôi trồng trong những năm tiếp theo.

Trong 5 năm 1996 – 2000, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnhlần thứ X, Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII (1996), Đảng bộ vànhân dân tỉnh Quảng Ninh đạt được những kết quả quan trọng trong phát triểnkinh tế - văn hóa, xã hội, quốc phòng – an ninh (QP – AN) Tốc độ tăngtrưởng kinh tế bình quân hàng năm (GDP) của tỉnh đạt 9,6%, tuy chưa đạtđược mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X đề ra, nhưng vẫn cao hơn sovới mức bình quân cả nước

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XI (1 - 2001) đã

nhận xét tổng quát: SX nông – lâm - ngư nghiệp phát triển mạnh theo hướng

SX hàng hóa Mô hình kinh tế trang trại phát triển đa dạng và bước đầu có hiệu quả, tích cực chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi, đưa giống mới có năng suất cao vào sản xuất KTNN đạt kết quả cao Giá trị sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp tăng bình quân hàng năm 7,7% Sản lượng lương thực (cây có hạt) đến năm 2000 vượt chỉ tiêu Đại hội đề ra Diện tích nuôi trồng thủy sản được mở rộng, nhất là đối với các loại thủy sản có giá trị hàng hóa cao Kim ngạch xuất khẩu thủy sản đến năm 2000 tăng gấp 3 lần so với năm 1995”[18, tr 19].

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, trong quá trình lãnhđạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ X vẫn còn một sốthiếu sót, khuyết điểm:

- Kinh tế NN tăng trưởng chưa thật vững chắc, chưa tương xứng vớitiềm năng, thế mạnh vốn có của tỉnh Hiệu quả SXNN còn thấp, sức cạnhtranh yếu Chất lượng sản phẩm NN trên địa bàn tỉnh chưa cao, sức cạnhtranh yếu, tiêu thụ khó Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư còn chậm,

Trang 27

chưa cân đối, chưa thể hiện ưu tiên cho các lĩnh vực mũi nhọn Việc thu hútđầu tư nước ngoài gặp khó khăn.

- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng đối với KTNN cònhạn chế Năng lực lãnh đạo của nhiều tổ chức cơ sở đảng, hiệu quả hoạt độngcủa nhiều tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu đổimới Trong ngành NN, công tác quy hoạch, đào tạo và sử dụng cán bộ thiếuđồng bộ, còn có thiếu sót khuyết điểm, chưa xây dựng được một đội ngũ cán

bộ, chuyên gia giỏi trên lĩnh vực NN, còn tình trạng hẫng hụt cán bộ, nhất làcán bộ NN đảm trách các lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp từ tỉnh đến cơ sở.Một bộ phận cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị yếu về năng lực, sasút về đạo đức và phẩm chất, lối sống, đã mắc khuyết điểm và bị thi hành kỷluật Tệ quan liêu, tham nhũng lãng phí trong ngành NN còn xảy ra nhưngviệc xử lý thiếu nghiêm minh gây bất bình trong nhân dân, làm ảnh hưởng tới

- Qua thực tiễn SXNN đã xuất hiện nhiều nhân tố mới nhưng chưađược tổng kết kịp thời, để thống nhất nhận định, đánh giá, nhân ra diện rộng

và đề ra chính sách, giải pháp phù hợp để tạo động lực cho sự phát triển NN,nông thôn

Thực trạng KTNN tỉnh Quảng Ninh trước năm 2001 cho phép rút ranhững kinh nghiệm quý báu tạo cơ sở để Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đề ra chủtrương phát triển KTNN cho giai đoạn sau phù hợp và đạt kết quả cao hơn

Trang 28

1.3 Quan điểm và đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng cộng sản Việt Nam

1.3.1 Quan điểm phát triển kinh tế nông nghiệp

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12 – 1986) của Đảng là đại hội

khởi xướng công cuộc đổi mới Về NN, Đại hội đã khẳng định: “Về lương thực, thực phẩm: bảo đảm lương thực đủ ăn cho toàn xã hội và có dự trữ Đáp ứng một cách ổn định nhu cầu thiết yếu về thực phẩm Mức tiêu thụ lương thực phải bảo đảm tái SX sức lao động” [8, tr 47 – 38]

Muốn đáp ứng được nhu cầu lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội,

trong giai đoạn 1986 – 1990, Đảng chủ trương: “phải lựa chọn và tổ chức áp dụng rộng rãi các thành tựu khoa học và kĩ thuật thích hợp, nhằm trước hết phục vụ ba chương trình về lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Trong NN, áp dụng rộng rãi các thành tựu sinh học và các thành tựu khoa học, kĩ thuật khác làm tăng thêm màu mỡ cho đất canh tác, tăng năng suất trồng trọt, chăn nuôi, nâng cao hệ số sử dụng đất, giảm hư hao lương thực và các nông sản khác” [8, tr 76].

- Đại hội VIII (6/1996) của Đảng đã khẳng định đường lối đổi mới màĐại hội VI, Đại hội VII đề ra là đúng đắn, đồng thời nhấn mạnh tiếp tục thực

hiện đường lối đổi mới “Đặc biệt coi trọng CNH, HĐH NN và nông thôn, phát triển toàn diện nông – lâm – ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản” [11, tr 86] Quan điểm CNH, HĐH NN của Đại hội

VIII là thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa trong

NN, lâm nghiệp và ngư nghiệp

Đại hội IX (4/2001) nêu rõ chiến lược “phát triển kinh tế, CNH, HĐH

là nhiệm vụ trung tâm” [12, tr 25] Đại hội IX xác định nội dung CNH, HĐH

NN và nông thôn: Phát triển toàn diện nông – lâm – ngư nghiệp, hình thànhcác vùng tập trung chuyên canh có cơ cấu hợp lý về cây trồng vật nuôi Thực

Trang 29

hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa Phát triển côngnghiệp chế biến nông – lâm – ngư nghiệp với công nghệ ngày càng cao gắnvới nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp ở đô thị.

Trong lĩnh vực KTNN, Đại hội IX khẳng định sự cần thiết phải tăngcường chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh CNH, HĐH

NN, nông thôn Trong đường lối phát triển kinh tế, Đảng chỉ rõ: Vừa tậptrung phát triển mạnh công nghiệp, vừa đẩy mạnh CNH, HĐH NN và nôngthôn CNH, HĐH NN, nông thôn là một vấn đề quan trọng khó khăn bậc nhất

có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH đấtnước Để đẩy mạnh CNH, HĐH, nông thôn, Nghị quyết Đại hội IX chỉ rõnhững định hướng phát triển các ngành kinh tế và các vùng

Để xây dựng một nền NN hiện đại bền vững và xây dựng nông thônmới văn minh, Hội nghị lần thứ năm BCH TW Đảng khóa IX ngày 18 – 3 –

2002 ra Nghị quyết 15 – NQ/TƯ Về đẩy nhanh CNH, HĐH NN, nông thôn

thời kỳ 2001 – 2010 nêu rõ: “Mục tiêu tổng quát và lâu dài của CNH, HĐH

là xây dựng một nền NN SX lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu”.

Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội IX, Hội nghị lần thứ năm BCH TWĐảng khóa IX (3 – 2002) đã ra 3 Nghị quyết quan trọng liên quan trực tiếp

đến NN và nông thôn Đó là các Nghị quyết: “Đẩy nhanh CNH, HĐH NN, nông thôn thời kỳ 2001 – 2010”; “Tiếp tục đổi mới phát triển và nâng cao hiệu quả của kinh tế tập thể” và “Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân”.

Như vậy, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm BCH TW Đảng khoá IX đãđưa ra quan niệm tổng quát về CNH, HĐH NN, nông thôn Nhiệm vụ củaCNH, HĐH NN và nhiệm vụ CNH, HĐH nông thôn có quan hệ chặt chẽ với

Trang 30

nhau, hòa quyện vào nhau, tác động lẫn nhau trong quá trình phát triển Vìvậy, đăt ra vấn đề cho các cấp lãnh đạo, không được tách rời từng nội dung

mà phải luôn luôn gắn kết trong một thể thống nhất trong quá trình chỉ đạothực tiễn

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (4 – 2006) đã kiểm điểmviệc thực hiện Nghị quyết Đại hội IX và quyết định phương hướng, nhiệm vụphát triển đất nước trong 5 năm (2006 – 2010), đánh giá những thành tựu vàđúc kết những bài học lớn của 20 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới đất nước

Đại hội khẳng định: CNH, HĐH, nông thôn là sự lựa chọn bước điđúng đắn trong quá trình CNH, HĐH đất nước Trong CNH, HĐH NN nôngthôn, chuyển dịch cơ cấu KTNN là quan trọng Những thành tựu đạt đượctrong lĩnh vực này đã góp phần thúc đẩy kinh tế, xã hội những năm 2001 –

2005 phát triển

Phân tích và chỉ ra những thuận lợi, khó khăn, những tiềm năng, lợi thế

của đất nước, Đại hội đưa ra quan điểm “đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức” [13, tr 28] Trong đó Đảng xác định bước đi quan trọng của CNH, HĐH đất nước là phải “đẩy mạnh hơn nữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân” [13, tr 29]

Hội nghị lần thứ bảy BCH TW Đảng khóa X (8/2008) ra Nghị quyết số

26 – NQ/TW về NN, nông dân, nông thôn Nghị quyết đã khẳng định nhữngquan điểm, mục tiêu dài hạn đến năm 2020 và các mục tiêu ngắn hạn tới năm

2010, đề ra các giải pháp cơ bản lâu dài và các giải pháp cấp bách trước mắtđối với phát triển KTNN Việt Nam mà trong đó cụ thể là vấn đề NN, nôngdân, nông thôn Nghị quyết đã khẳng định những quan điểm đó là:

+ Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sựnghiệp CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trang 31

+ Các vấn đề NN, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ,gắn với quá trình CNH, HĐH đất nước

+ Phát triển NN, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thầncủa nông dân phải được dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa

+ Giải quyết vấn đề NN, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệthống chính trị và toàn xã hội

Từ khi có Nghị quyết TW lần thứ bảy của BCH Đảng khóa X, nhận thứccủa cán bộ đảng viên về vấn đề NN, nông dân và nông thôn đã được nâng lên.Vấn đề NN, nông dân và nông thôn có vị trí quan trọng đối với sự ổn định vàphát triển của đất nước và luôn được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm vàtăng đầu tư phát triển cho khu vực NN, nông thôn từ nguồn ngân sách Nhà nướcngay từ năm 2009 và bảo đảm 5 năm sau cao gấp 2 lần 5 năm trước

Sau khi có Nghị quyết Hội nghị BCH TW lần thứ bảy của BCH TWĐảng khóa X, mặc dù kinh tế nước ta còn nhiều khó khăn nhưng đầu tư củaNhà nước cho lĩnh vực NN, nông thôn vẫn tăng cao hơn mức tăng bình quânchung Tỷ trọng vốn đầu tư cho NN, nông thôn so với tổng đầu tư phát triểnnguồn ngân sách Nhà nước và trái phiếu Chính phủ tăng từ 43,3% năm 2008lên 46,8% năm 2009; 48,1% năm 2010

1.3.2 Đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp

- Đường lối phát triển KTNN được hình thành rất sớm và ngày càngđược hoàn chỉnh Kể từ lúc nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, Đại hội Đảng

lần thứ VI (12/1986) trong Báo cáo chính trị đã đề ra “ba chương trình lớn là lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Ba chương trình

là cốt lõi của nhiệm vụ kinh tế - xã hội trong 5 năm 1986 – 1990” [8, tr 153].

Về NN: Trong 5 năm (1986 – 1990), cả nước cần tập trung cho mụctiêu số một là SX lương thực và thực phẩm Trong NN cần chú trọng các khâu

Trang 32

giống, cây, con, phân bón, thuốc trừ sâu, thủy lợi Về thủy sản, Đại hội Đảng

lần thứ VI chủ trương “Ở những nơi có mặt nước phải tổ chức nuôi cá, tôm

và thủy sản khác” [8, tr 159]

Về lâm nghiệp: “vấn đề lớn nhất là bảo vệ vốn rừng hiện có, chấm dứt nạn phá rừng, cháy rừng, phân cấp quản lý rừng, trồng thêm rừng mới” [8, tr 161].

Đại hội Đảng lần thứ VII (6/1991) trong kế hoạch 5 năm (1991 – 1995)

chủ trương “phát triển nông – lâm – ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội” [9, tr.

63] Trong quá trình phát triển cần xây dựng phương án tổng thể từng vùng,hình thành cơ cấu KTNN nông – lâm – ngư nghiệp:

+ Về NN: cần chú trọng các khâu giống cây trồng, gia súc, gia cầm,thủy lợi, phân bón, mở rộng tưới tiêu nước cho NN, phòng và giảm nhẹ tácđộng của thiên nhiên

+ Về ngư nghiệp: cần phải tăng cường đánh bắt và nuôi trồng thủy sản,nhất là các loại có khả năng xuất khẩu, gắn với chiến lước khai thác và bảo vệvùng biển của đất nước

+ Về lâm nghiệp: phát triển kinh tế rừng, trồng rừng, phủ xanh đấttrống đồi trọc, nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng tài nguyên rừng, bảo

vệ thiên nhiên và môi trường sinh thái

- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996) đề ra đường lốiCNH, HĐH NN và nông thôn Về nhiệm vụ và giải pháp phát triển KTNN,Đại hội chủ trương:

+ Về NN: tăng nhanh sản lượng lương thực, hàng hóa, bố trí mùa vụhợp lý để tránh thiên tai, nhân nhanh giống lúa mới có năng suất cao, gạongon, hình thành những vùng chăn nuôi tập trung gắn với công nghiệp chếbiến tại chỗ Phát triển nhanh hệ thống thủy lợi ở tất cả các vùng

Trang 33

+ Về lâm nghiệp: phát triển nghề rừng gắn với việc ổn định và cải thiệnđời sống của cư dân miền núi, hoàn thành việc giao đất, giao rừng đến hộnông dân, ngăn chặn đốt phá rừng và săn thú bừa bãi.

+ Về ngư nghiệp: phát triển nghề nuôi trồng thủy sản ở cả nước ngọt,nước lợ và nước mặn Cải tạo con giống, tổ chức dịch vụ hậu cần về thức ăn,

áp dụng chăn nuôi công nghiệp Khuyến khích ngư dân khai thác nguồn thủysản biển

- Đại hội Đảng lần thứ IX (4/2001) đề ra một số giải pháp phát triển KTNN:+ Về NN: chuyển đổi nhanh cơ cấu SXNN và kinh tế nông thôn, thựchiện khai hoang mở rộng diện tích canh tác, đẩy mạnh SX lương thực theohướng thâm canh tăng vụ, tăng nhanh lúa đặc sản chất lượng cao, chú trọngkhôi phục và xây dựng thêm nhiều công trình thủy lợi Khuyến khích pháttriển chăn nuôi hộ và trang trại có quy mô lớn

+ Về lâm nghiệp: bảo vệ và phát triển rừng, tăng nhanh diện tích trồngrừng, kết hợp với khoanh nuôi, bảo vệ tái sinh rừng Hoàn thành cơ bản côngtác định canh, định cư và ổn định đời sống nhân dân vùng núi

+ Về ngư nghiệp phát triển khai thác thủy sản xa bờ và điều chỉnh nghề

cá ven bờ hợp lý Đầu tư phát triển mạnh nuôi trồng thủy sản Xây dựng đồng

bộ công nghiệp khai thác thủy sản xa bờ, đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X (4/2006) chủ trương “tạo chuyển biến mạnh mẽ trong SXNN, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân” [13, tr 190] Đại hội đề ra một số giải pháp thực hiện:

+ Về NN: phải luôn luôn coi trọng CNH, HĐH NN, hướng tới xâydựng nền NN hàng hóa lớn, có năng suất và chất lượng cao, phát triển côngnghiệp, dịch vụ ở nông thôn Thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu NN Coitrọng công tác thủy lợi Phát triển mạnh chăn nuôi theo hướng quy mô lớn

+ Về lâm nghiệp: Đại hội X chủ trương phát huy lợi thế khí hậu nhiệtđới, thực hiện có hiệu quả chương trình bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng,

Trang 34

thực hiện trồng rừng mới và khai thác có kế hoạch, bảo đảm lợi ích của ngườiđược giao kinh doanh rừng.

+ Về ngư nghiệp: phát triển nghề nuôi trồng thủy sản theo hướng SXhàng hóa Giảm chi phí trong khai thác thủy sản biển Động viên ngư dân rakhơi bám biển, hỗ trợ ngư dân trong đánh bắt thủy hải sản

Chính sách chung cho các ngành là “tăng cường hệ thống khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, thú y, bảo vệ thực vật và các dịch vụ kỹ thuật khác ở nông thôn, tạo sự đột phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả trong nông – lâm – ngư nghiệp” [13, tr 193].

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI (2011) tiếp tục hoàn chỉnhquan điểm và đường lối phát triển KTNN cho giai đoạn 2011 – 2015

Trang 35

Chương 2 QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH LÃNH ĐẠO

PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP (2001 – 2010)

2.1 Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp (2001 – 2005)

2.1.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh

Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XI (1/2001) đã chỉ ra phươnghướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 – 2010, Đại hộinêu rõ:

“Mười năm tới, Đảng bộ và nhân dân toàn tỉnh phải tập trung cao mọi

nỗ lực để khai thác tốt hơn các tiềm năng, lợi thế, xây dựng Quảng Ninh phát triển với tốc độ nhanh, ổn định và bền vững cả về chính trị, kinh tế, văn hóa,

xã hội, an ninh quốc phòng và môi trường sinh thái; thực sự trở thành một địa bàn động lực và phát triển năng động, gắn kết với các địa phương khác trong vùng trọng điểm kinh tế Bắc Bộ” [18, tr 30 – 31].

Tiếp tục xây dựng và phát triển một cơ cấu kinh tế hợp lý, bền vững, cóhiệu quả theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ưu tiên đầu tư xây dựng

cơ sở hạ tầng phục vụ cho công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, NN vànông thôn

Về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 – 2005, Đại hội đề

ra mục tiêu tổng quát: “Phát huy cao nhất nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, vượt qua khó khăn thử thách để tiếp tục công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; giữ vững sự tăng trưởng cao về kinh tế; tăng cường cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội; phát triển các ngành, các lĩnh vực, các sản phẩm có lợi thế và sức cạnh tranh; nâng cao năng lực và hiệu quả giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ; coi trong phát huy nhân tố con người, chăm lo giải quyết các vấn đề bức xúc về việc làm,

Trang 36

xóa đói giảm nghèo, tai nạn, tệ nạn xã hội; từng bước cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững ổn định chính trị; bảo đảm quốc phòng an ninh, tạo tiền đề cần thiết cho giai đoạn phát triển tiếp theo của tỉnh” [18, tr 32].

Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XI

(nhiệm kỳ 2001 – 2005) khẳng định “trong những năm tới phải phát triển toàn diện các ngành và các lĩnh vực, xây dựng kinh tế của tỉnh theo cơ cấu: công nghiệp, du lịch, dịch vụ và NN Lấy ngành công nghiệp, dịch vụ, du lịch làm trọng tâm, tạo nhiều việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống của nhân dân” [18, tr 104] Đại hội đưa ra chỉ tiêu cho ngành NN tới

năm 2005: sản lượng lương thực là 250.000 tấn; diện tích cây ăn quả là12.000 ha; tỷ lệ che phủ của rừng là 45%; sản lượng hải sản là 39 – 40 nghìntấn; nước sạch cho nông thôn: 60 – 70% hộ nông dân được dùng; xóa hộ đói,giảm hộ nghèo hàng năm 2 – 3% (tính theo tiêu chí mới); GDP bình quânđầu người năm 2005 tăng gấp 2 lần so với năm 2000 Đại hội đưa ra địnhhướng cho ngành KTNN:

- Về NN

+ Tăng cường công tác quy hoạch, quản lý, sử dụng đất NN Hoànthành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khuyến khích và tạo điềukiện cho người sử dụng đất khai thác tiềm năng đất đai để phát triển SX vàtăng cường thâm canh làm màu mỡ đất

+ Chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu KTNN, tích cực ứng dụng tiến bộ khoahọc, công nghệ vào SX, đẩy mạnh cơ giới hóa trong NN Xây dựng các vùng

SX chuyên canh tạo sản phẩm hàng hóa phù hợp tiềm năng và lợi thế về đấtđai, khí hậu, lao động của từng vùng Gắn NN với công nghiệp chế biến Đẩymạnh xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; thực hiện chuyển dịch và phân cônglại lao động trong NN theo hướng tăng cường phát triển ngành nghề, từngbước nâng cao thu nhập, đời sống cho lao động NN

Trang 37

+ Về sản lượng lương thực, Đại hội XI chủ trương:“Đẩy mạnh SX lương thực theo hướng mở rộng diện tích canh tác bằng khai hoang phục hóa, thâm canh tăng vụ, nâng cao năng suất cây trồng và chất lượng, phẩm cấp các loại lương thực, đảm bảo an ninh lương thực khu vực nông thôn, phấn đấu đến năm 2005 đạt sản lượng 250.000 tấn” [18, tr 40].

+ Phát triển chăn nuôi, nâng cao chất lượng đàn gia súc, gia cầm Mởrộng hình thức chăn nuôi theo phương pháp công nghệ Làm tốt công tác thú

y, chủ động phòng bệnh, chữa bệnh cho gia súc, gia cầm Đưa diện tích trồngcây ăn quả lên 12 nghìn ha, cây chè lên 800 – 1.000 ha và phát triển các câyđặc sản, cây công nghiệp khác

+ Về cơ khí hóa NN nông thôn, phát triển có trọng tâm, trọng điểm phùhợp với từng địa phương, nhất là những vùng chuyên canh cây lúa, vùng thiếulao động Thực hiện chuyển giao công nghệ trong khâu làm đất, chăm sóc, thuhoạch, chế biến

- Về ngư nghiệp:

+ Phát triển mạnh diện tích nuôi trồng thủy sản, nâng cao năng lựcđánh bắt hải sản, nhất là đánh cá tuyến khơi, kết hợp chặt chẽ giữa nuôi trồng,đánh bắt, chế biến thủy, hải sản với bảo vệ nguồn lợi thủy sản; ưu tiên đầu tưxây dựng cơ sở SX con giống, nhanh chóng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹthuật để tăng nuôi thâm canh, bán thâm canh tạo ra sự phát triển vượt trộitrong lĩnh vực này Phấn đấu đến năm 2005 đạt sản lượng 39 – 40 ngàn tấn,giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt từ 35 – 40 triệu USD

+ Vùng ven biển và hải đảo: “Tiếp tục thực hiện chương trình kinh tế biển đảo Xây dựng các cảng, bến tàu và đường giao thông trên đảo Chú trọng phát triển du lịch trên tuyến đảo” [18, tr 51] Đầu tư khai thác và bảo vệ nguồn

lợi thủy sản kết hợp bảo vệ an ninh, lãnh hải của Tổ quốc Xây dựng một số đảothành cơ sở hậu cần cho phát triển kinh tế biển và bảo vệ vùng biển

Trang 38

- Về lâm nghiệp:

+ Giữ vững ổn định và tăng cường vốn rừng Đẩy nhanh việc chuyểngiao quyền sử dụng lâu dài đất, rừng cho các hộ trồng rừng Tăng cường khaithác các nguồn vốn để trồng mới, khoanh nuôi, tái sinh kết hợp với bảo vệtừng nhằm nâng cao độ che phủ rừng, phấn đấu đến năm 2005 tỷ lệ che phủđạt trên 45% Tiếp tục mở rộng diện tích rừng SX, đảm bảo nhu cầu gỗ trụ mỏ

và nguyên liệu cho công nghiệp giấy Nhân rộng mô hình kinh tế rừng, mởrộng vùng trồng cây đặc sản Làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, động vậtrừng, phát triển bền vững môi trường sinh thái

+ Vùng núi, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc: “Thực hiện tốt các chương trình trồng rừng, giữ và phát triển vốn rừng” [18, tr.51] Hoàn thành

định canh định cư Đẩy mạnh thực hiện chương trình xây dựng trung tâm cụm

xã, đồng thời đầu tư phát triển hạ tầng đường giao thông, thủy lợi, điện,thương mại, giáo dục, y tế… để đồng bào dân tộc có điều kiện phát triển SX,

ổn định cuộc sống, chấm dứt di dân tự do Khuyến khích phát triển kinh tếtrang trại, phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến gắn với vùng nguyên liệu

và hoạt động thương mại, từng bước giảm bớt khoảng cách phát triển vớinông thôn đồng bằng

- Về dịch vụ KTNN: Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XI chủ

trương phát triển các trung tâm cụm xã để tăng cường giao lưu hàng hóa, dịch

vụ Khôi phục, phát triển làng nghề, ngành nghề truyền thống, các loại hìnhdịch vụ SX, chế biến và tiêu thụ nông sản Có chính sách khuyến khích, bảo

hộ hợp lý và tổ chức tốt việc thu mua nông, lâm đặc sản vùng núi, vùng đồngbào dân tộc

Để tạo điều kiện cho KTNN phát triển, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh

Quảng Ninh lần thứ XI cho rằng:“khu vực nông thôn đồng bằng cần phải phát triển SXNN hàng hóa nhằm nâng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện

Trang 39

tích theo hướng tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ tiên tiến trong SX, chế biến Tiếp tục đẩy mạnh kiên cố hóa kênh mương nội đồng, phát triển hạ tầng và ngành nghề trong nông thôn Chuyển dịch nhiều lao động NN sang công nghiệp dịch vụ và các ngành khác.[18, tr 50 – 51] “Phát triển các trung tâm cụm xã để tăng cường giao lưu hàng hóa, dịch vụ Khôi phục phát triển làng nghề, ngành nghề truyền thống Các loại hình dịch vụ SX, chế biến và tiêu thụ nông sản” [18, tr.

41] Có chính sách khuyến khích, bảo hộ hợp lý và tổ chức tốt việc thu muanông – lâm sản vùng núi, vùng đồng bào dân tộc

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ phát triển KTNN, Đảng bộ tỉnh QuảngNinh chủ trương thực hiện đoàn kết các giai cấp, các tầng lớp nhân dân, cộngđồng dân cư sống và làm việc trên địa bàn tỉnh Đối với nông dân, Đảng bộ

tỉnh đưa ra giải pháp “thực hiện tốt các chính sách nhằm phát triển mạnh nông – lâm - ngư nghiệp, tạo thêm nhiều việc làm cho nông dân, xây dựng nông thôn mới, sớm cải thiện và nâng cao mức sống cho nông dân, đặc biệt

là đồng bào ở vùng cao, dân tộc” [18, tr 59].

Tiếp theo sau Đại hội Đảng bộ lần thứ XI, hàng năm từ năm 2001 –

2005, Tỉnh ủy Quảng Ninh liên tục ban hành các nghị quyết, quyết định giaonhiệm vụ cụ thể cho UBND, Sở NN & PTNT tỉnh triển khai thực hiện Điểnhình là các nghị quyết:

Ngày 29/11/2001, Tỉnh uỷ có Nghị quyết số 07 – NQ/TU về phát triểnkinh tế - xã hội miền núi, xây dựng chương trình thực hiện Nghị quyết TW7(khoá IX) về phát triển NN nông thôn, đảm bảo không ngừng nâng cao đờisống của nhân dân trong tỉnh

Nghị quyết của Tỉnh uỷ đề ra các chỉ tiêu chủ yếu cho năm 2002 2003: Tốc độ tăng trưởng GDP: 12 - 12,5%; giá trị sản xuất nông, lâm, ngưnghiệp tăng: 7 - 7,5%; sản lượng lương thực: 233.000 tấn; giá trị các ngành

Trang 40

-dịch vụ tăng: 16 - 17% Tỉnh ủy xác định rõ nhiệm vụ và giải pháp chủ yếucho ngành KTNN:

- Tập trung huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư – phát triển ngànhKTNN: huy động mọi nguồn lực để hoàn thành nhanh và cơ bản các côngtrình xây dựng, kết cấu hạ tầng NN, nông thôn Mở rộng và đa dạng hóa hìnhthức vay vốn của ngân hàng để phục vụ cho SXNN và chế biến các sản phẩmnông – lâm – ngư nghiệp xuất khẩu

- Đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH NN nông thôn, chuyển dịch cơ cấuKTNN theo hướng SX hàng hóa Áp dụng cơ giới hóa, ngành KTNN ở tất cảcác khâu: SX, chế biến, bảo quản Để nâng cao đời sống của mọi tầng lớpnhân dân trong tỉnh, ngành KTNN phải nâng cao năng suất lúa và giá trị thunhập trên một đơn vị diện tích canh tác bằng mở rộng nhóm cây trồng, vậtnuôi theo hướng SX hàng hóa có giá trị kinh tế cao Nhanh chóng thực hiệncác dự án phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng công nghiệp, nuôi đặc sản

và dịch vụ hậu cần, SX con giống Khai thác, đánh bắt và nuôi trồng theo quyhoạch gắn chặt với bảo đảm sự cân bằng sinh thái, duy trì nguồn lợi tự nhiêncho các thế hệ mai sau Tiếp tục thực hiện chính sách giao đất, giao rừng cho

hộ nông dân quản lý, phủ xanh đất trống đồi trọc, chống khai thác gỗ lậu, phárừng bừa bãi

Ngày 29 – 12 – 2003, trong báo cáo số 99 – BC/TU Tỉnh ủy QuảngNinh đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho ngành KTNN năm 2004:

- Về chỉ tiêu: ngành nông – lâm – ngư nghiệp năm 2004 phải tăng từ 7,5 –8%; trong đó NN tăng 7%; lâm nghiệp tăng 3,5%; ngư nghiệp tăng 2,5%

Cụ thể là lương thực đạt 245.000 tấn, trong đó lúa đạt 215.000 tấn; đànlợn tăng 375.000 con; đàn bò 245.000 con; đàn trâu 700.000 con; đàn giacầm, thủy cầm 4,2 triệu con; trồng rừng tập trung 5.000 ha; nâng độ che phủlên 45%; thủy sản 45.000 tấn, tăng 6% so với năm 2003 Phấn đấu tăng kimngạch xuất khẩu nông – lâm – thủy sản lên 48 triệu USD

Ngày đăng: 26/03/2016, 14:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2 : Cơ cấu kinh tế Quảng Ninh (2001 – 2005) - luận văn thạc sĩ  Đảng bộ tỉnh quảng ninh lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010
Bảng 2 Cơ cấu kinh tế Quảng Ninh (2001 – 2005) (Trang 110)
Bảng 3: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Quảng Ninh - luận văn thạc sĩ  Đảng bộ tỉnh quảng ninh lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010
Bảng 3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Quảng Ninh (Trang 111)
Bảng 4: Tổng hợp giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp - luận văn thạc sĩ  Đảng bộ tỉnh quảng ninh lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010
Bảng 4 Tổng hợp giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp (Trang 111)
Bảng 6: Hiện trạng diện tích, năng suất, sản lượng một số - luận văn thạc sĩ  Đảng bộ tỉnh quảng ninh lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010
Bảng 6 Hiện trạng diện tích, năng suất, sản lượng một số (Trang 112)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w