Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Quyết định số 06 liên quan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” nhìn từ khái niệm tài sản và nếu có điều kiệ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT
LỚP CLC46E
BÀI THẢO LUẬN THỨ BA GIAO DỊCH DÂN SỰ
Giảng viên: PGS.TS Lê Minh Hùng
Bộ môn: Những Quy Định Chung Về Luật Dân Sự, Tài sản và Thừa kế Sinh viên thực hiện: Nguyễn Kiều Như
Mã số sinh viên: 2153801012165
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 03 năm 2022
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS: Bộ Luật Dân sự
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN I KHÁI NIỆM DÂN SỰ 1
1.1 Thế nào là giấy tờ có giá? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho ví dụ minh họa
về giấy tờ có giá 1 1.2 Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận
sở hữu nhà” có là giấy tờ có giá không? Quyết định số 06 và Bản án số 39 có cho câu trả lời không? 1 1.3 Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận
sở hữu nhà” có là tài sản không? Quyết định số 06 và Bản án số 39 có cho câu trả lời không? Vì sao? 2 1.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Quyết định số 06 liên quan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” nhìn từ khái niệm tài sản (và nếu có điều kiện, đối chiếu thêm với pháp luật nước ngoài) 3 1.5 Nếu áp dụng BLDS năm 2015, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà có là tài sản không? Vì sao? 4 1.6 Suy của anh/chị về hướng giải quyết trong Bản án số 39 liên quan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” 5 1.7 Bitcoin là gì? 5 1.8 Theo Tòa án, Bitcoin có là tài sản theo pháp luật Việt Nam không? 6 1.9 Pháp luật nước ngoài có coi Bitcoin là tài sản không? Nếu có, nêu hệ thống pháp luật mà anh/chị biết 6 1.10 Suy nghĩ của anh/chị về quan điểm của Tòa án đối với Bitcoin trong mối quan hệ với khái niệm tài sản ở Việt Nam 7 1.11 Quyền tài sản là gì? 7 1.12 Có quy định nào cho phép khẳng định quyền thuê, quyền mua tài sản là quyền tài sản không? 7 1.13 Đoạn nào của Quyết định số 05 cho thấy Tòa án nhân dân tối cao theo hướng quyền thuê, quyền mua là tài sản? 8
Trang 41.14 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong Quyết định số 05 về quyền thuê, quyền mua (trong mối quan hệ với khái niệm tài sản)? 8
PHẦN II CĂN CỨ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU 10
2.1 Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân
đã chiếm hữu nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị
về khẳng định này của Tòa án? 11 2.2 Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân
đã chiếm hữu ngay tình nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tòa án? 11 2.3 Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân
đã chiếm hữu liên tục nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tòa án? 13 2.4 Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân
đã chiếm hữu công khai nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tòa án? 14 2.5 Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định cụ Hảo không còn
là chủ sở hữu nhà đất có tranh chấp và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tòa án? 15 2.6 Theo anh/chị, gia đình chị Vân có được xác lập quyền sở hữu đối với nhà đất
có tranh chấp trên cơ sở quy định về thời hiệu hưởng quyền không? Vì sao? 16
PHẦN III CHUYỂN RỦI RO ĐỐI VỚI TÀI SẢN 18
3.1 Ai phải chịu rủi ro đối với tài sản theo quy định của BLDS? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 18 3.2 Tại thời điểm cháy chợ, ai là chủ sở hữu số xoài? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 18 3.3 Bà Dung có phải thanh toán tiền mua ghe xoài trên không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 5PHẦN I KHÁI NIỆM DÂN SỰ
1.1 Thế nào là giấy tờ có giá? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho ví dụ minh họa về giấy tờ có giá.
_Giấy tờ có giá là một dạng đặc biệt của tài sản, mà theo quy định tại khoản 1
Điều 105 BLDS 2015: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” Tuy
nhiên BLDS 2015 và các BLDS trước đó đều không có quy định trực tiếp về giấy tờ
có giá mà loại tài sản này được quy định trong các luật chuyên ngành, văn bản dưới
luật và theo khoản 8 Điều 6 Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010 quy định:
“Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy
tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”
_Giấy tờ có giá là giấy tờ trị giá được bằng tiền, có thể có mệnh giá hoặc không
có mệnh giá, có thể dùng để thay thế trong lưu thông, thanh toán Giấy tờ có giá chỉđược coi là tài sản khi được phát hành hợp pháp (được phát hành bởi Nhà nước, ngânhàng, tổ chức có chức năng kinh doanh hoặc doanh nghiệp), trong khoảng thời gian có
hiệu lực xác định như quy định trong khoản 1 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP
quy định: “Giấy tờ có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch”.
_Một số ví dụ minh họa về giấy tờ có giá:
+Cổ phiếu, trái phiếu+Hợp đồng góp vốn đầu tư+Quyền mua cố phần
1.2 Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” có là giấy tờ có giá không? Quyết định số 06 và Bản án
số 39 có cho câu trả lời không?
_Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” không phải là giấy tờ có giá, vì:
Trang 6+Tòa án nhân dân tối cao ban hành công văn số 141/TANDTC-KHXX
hướng dẫn thẩm quyền giải quyết các yêu cầu trả lại giấy chứng nhận tài sản: “Theo Công văn 141, các giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản (Giấychứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy đăng ký xemô tô, xe máy, Giấy đăng ký xe ô tô ) không phải là giấy tờ có giá theo quy định tại Điều 163 của BLDS 2005; do đó, nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết buộc người chiếm giữ trả lại các giấy
tờ này thì Tòa án không thụ lý giải quyết.” (Điều 2 công văn số
141/TANDTC-KHXX).
+Quyết định số 06 của TAND tỉnh Khánh Hòa có đề cập: “Như vậy,
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng thông tin về Quyền sử dụng đất, là văn bản chứng quyền, không phải là tải sản và không thể xem là loại giấy
tờ có giá.”
+Bản án số 39 của TAND huyện Long Hồ nhận định rằng: “Giấy chứng
nhận quyền sử dụng là chứng thư pháp lý để nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, cho thấy nội dung này hàm chứa một số quyền về tài sản gắn liền với đất nên thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự.”
=>Như vậy, cả Quyết định số 06 và Bản án số 39 đều cho rằng giấy chứngnhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà đều không phải là giấy tờ có giá
1.3 Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” có là tài sản không? Quyết định số 06 và Bản án số 39 có cho câu trả lời không? Vì sao?
_Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” không phải là tài sản, vì:
+Căn cứ theo Điều 105 BLDS 2015 Quy định về tài sản:
1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản
2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể
là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai
+Khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010 quy định:
“Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy
Trang 7tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”.
+Điều 115 BLDS 2015 quy định về quyền tài sản như sau: “Quyền tài sản
là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”.
+Khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định: “Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý
để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”.
+Quyết định số 06 cho rằng: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng thông tin về Quyền sử dụng đất, là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản và không thể xem là loại giấy tờ có giá.
+Bản án số 39 của TAND huyện Long Hồ nhận định rằng: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng là chứng thư pháp lý để nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất,
quyền sử dụng nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, cho thấy nội dung này hàm chứa một số quyền về tài sản gắn liền với đất nên thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự.”
=>Do đó, chứng thư pháp lý và cũng theo các quy định trên nên các loại giấychứng nhận quyền sử dụng đã nêu không phải là tài sản
1.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Quyết định số 06 liên quan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” nhìn từ khái niệm tài sản (và nếu có điều kiện, đối chiếu thêm với pháp luật nước ngoài).
_Về hướng giải quyết trong Quyết định số 06 liên quan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” không phải là tài sản là chưa phù hợp với quy định của bộ luật hiện hành, vì:
+Theo khoản 1 Điều 105 BLDS 2015 quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy
tờ có giá và quyền tài sản.” Theo định nghĩa tại điều luật trên, có thể thấy “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” có thể được xem là vật (tài sản hữu hình) Vì “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” là vật liệu tồn tại dưới một hình thức vật chất nhất định, thậm chí có hình dáng
Trang 8cụ thể (là tờ giấy), nằm trong khả năng chiếm hữu của con người (có thể thực hiệnviệc nắm giữ, chiếm giữ, quản lý đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) Đặc
biệt “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” còn có giá trị
sử dụng thông qua việc chứng minh quyền sử dụng hợp pháp của người chiếm giữ
giấy chứng nhận đó Việc “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” không thể tham gia vào quá trình trao đổi mua bán không thể làm mất đi
bản chất tài sản của nó bởi trong thực tế vẫn có nhiều loại tài sản Nhà nước cấm lưuthông như vũ khí quân dụng, ma túy, phương tiện chuyên dùng quân sự, các loại đồchơi nguy hiểm,…
_Bên cạnh đó việc coi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sởhữu nhà không phải là tài sản còn ảnh hưởng đến quyền của chủ thể sủ dụng Cụ thể
theo Điều 115 BLDS 2015 quy định về Quyền tài sản thì: “Quyền tài sản là quyền
trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.” Nếu giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà không phải là tài sản đồng nghĩa với việc chủ thể sẽkhông có quyền chiếm hữu và sử dụng hợp pháp đối với loại giấy tờ này, từ đó dẫn tớiviệc tòa án không có cơ sở để thừa nhận việc bảo hộ quyền chiếm hữu và sử dụng hợppháp đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà khi cótranh chấp
1.5 Nếu áp dụng BLDS năm 2015, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà có là tài sản không? Vì sao?
_Áp dụng BLDS năm 2015, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứngnhận sở hữu nhà không là tài sản, vì:
+Căn cứ theo Điều 105 BLDS 2015 Quy định về tài sản
1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản
2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể
là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai
+Mà theo Khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định: “Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”.
Trang 9=> Do đó, giấy chứng nhận quyền sử dụng là chứng thư pháp lý để nhà nướcxác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợppháp của người có quyền sử dụng đất; không phải là tài sản theo quy định của phápluật.
1.6 Suy của anh/chị về hướng giải quyết trong Bản án số 39 liên quan đến
“giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà”.
Theo như hướng giải quyết trong Bản án số 39 thì chưa hợp lí Vì giấy chứngnhận quyền sử dụng là chứng thư pháp lý để nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất,quyền sở hữu nhà ở, tài sản gắn liền với đất, có hàm chứa nội dung liên quan đếnquyền tài sản thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự Về bản chất, căn cứ theo
Điều 105 BLDS năm 2015 quy định: “1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ giá và quyền tài
sản.2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là
tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”, khoản 16 Điều 3 Luật đất đai
năm 2013: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”, căn cứ Điều 115
BLDS năm 2015 quy định về quyền tài sản: “Quyền tài sản là quyền trị giá được
bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thuộc
diện là quyền tài sản và nó cũng không hàm chứa nội dung gì liên quan đến quyền tàisản mà chỉ đơn thuần là “chứng thư pháp lý” ghi nhận lại quyền sử dụng đất của người
sở hữu tài sản Và trên thực tế, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thể đem rakhai thác để đem về hoa lợi, lợi tức Theo đó, việc Tòa án vẫn thụ lý và giải quyết vụ
án là không thuyết phục bởi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tài sảnnên nó không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự Vì vậy, việc buộc bàNguyễn Thị Thủy T giao trả cho ông Võ Văn B và bà Bùi Thị H giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất là chưa hợp lí, cũng như án phí dân sự sơ thẩm không phải do bàNguyễn Thị Thủy T nộp mà phải do bên nguyên đơn chi trả
1.7 Bitcoin là gì?
_Bitcoin là một loại tiền mã hóa, được phát minh một cá nhân hoặc tổ chức vôdanh dùng tên Satoshi Nakamoto dưới dạng phần mềm mã nguồn mở từ năm 2009
Trang 10Bitcoin có thể được trao đổi trực tiếp bằng thiết bị kết nối Internet mà không cầnthông qua một tổ chức tài chính trung gian nào
_Bitcoin có cách hoạt động khác hẳn so với các loại tiền tệ điển hình: không cómột ngân hàng trung ương nào quản lý nó và hệ thống hoạt động dựa trên một giaothức mạng ngang hàng trên Internet Sự cung ứng Bitcoin là tự động, hạn chế, đượcphân chia theo lịch trình định sẵn dựa trên các thuật toán Bitcoin được cấp tới cácmáy tính "đào" Bitcoin để trả công cho việc xác minh giao dịch Bitcoin và ghi chúngvào cuốn sổ cái được phân tán trong mạng ngang hàng, thông qua công nghệblockchain Cuốn sổ cái này sử dụng Bitcoin là đơn vị kế toán Mỗi bitcoin có thểđược chia nhỏ tới 100 triệu đơn vị nhỏ hơn gọi là satoshi.1
1.8 Theo Tòa án, Bitcoin có là tài sản theo pháp luật Việt Nam không?
Theo Tòa án, Bitcoin không phải là tài sản, không phải là tiền theo pháp luật Việt Nam Trong phần nhận định của Tòa án của Bản án số 22/2017/HC-ST,
Tòa án có trình bày:
“Cho đến thời điểm hiện nay, chưa có bất cứ một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định tiền kỹ thuật số (tiền ảo) là hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam
Trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không chấp nhận tiền ảo là tiền tệ, phương tiện thanh toán hợp pháp, đồng thời Nghị định số 96/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ quy định chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi phát hành, cung ứng và sử dụng phương tiện thanh toán không hợp pháp như Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự”.
1.9 Pháp luật nước ngoài có coi Bitcoin là tài sản không? Nếu có, nêu hệ thống pháp luật mà anh/chị biết.
_Hiện tại, bitcoin được nhiều nước trên thế giới công nhận sử dụng như một loại tiền tệ có giá trị
+Hoa Kỳ: Tháng 9 năm 2015, Ủy ban giao dịch hàng hoá tương lai Mỹ
(CFTC) công bố, Bitcoin đã chính thức được đưa vào danh sách hàng hóa được phépgiao dịch tại Mỹ Phần lớn các cơ quan trong chính phủ Mỹ đều đã tán thành việc sử
Trang 11dụng Bitcoin Đơn cử, Ủy ban bầu cử liên bang Mỹ (FEC) muốn chấp nhận quyên gópqua Bitcoin.2
+Tuy nhiên, có một số nước coi Bitcoin là hợp pháp nhưng bị cấm trong
giao dịch ngân hàng ví dụ như Canada Kể từ tháng 4 năm 2018, Ngân hàng Montreal
(BMO) đã thông báo rằng họ sẽ cấm khách hàng sử dụng thẻtín dụng và thẻ ghi nợcủa mình tham gia mua tiền điện tử bằng thẻ của họ Việc này diễn ra sau một lệnhcấmkhác của ngân hàng Toronto Dominion (TD) ở Canada.3
1.10 Suy nghĩ của anh/chị về quan điểm của Tòa án đối với Bitcoin trong mối quan hệ với khái niệm tài sản ở Việt Nam.
_Điều 163 BLDS 2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và
các quyền tài sản” Trong đó:
+Vật: là một bộ phận tồn tại khách quan trong thế giới vật chất, con người
có khả năng chiếm hữu, kiểm soát được;
+Tiền: là phương tiện thanh toán do Ngân hàng Nhà nước phát hành, dùng
để định giá các loại tài sản khác, gồm nội tệ và ngoại tệ;
+Giấy tờ có giá: là loại giấy tờ trị giá được bằng tiền và có khả năngchuyển giao trong giao lưu dân sự
+Quyền tài sản: là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao tronggiao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ Quyền này phải trị giá được thành tiềnhay nói cách khác là tương đương với một đại lượng vật chất nhất định
=> Dựa vào những cách hiểu về những bộ phậnc ấu thành nên tài sản theo quyđịnh của pháp luật Việt Nam thì Bitcoin không là tài sản
=>Vì vậy, quan điểm của Tòa án đối với Bitcoin trong mối quan hệ với kháiniệm tài sản ở Việt Nam là hợp lý, phù hợp với pháp luật hiện hành
1.11 Quyền tài sản là gì?
Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Quyền tài sản là quyền trị giá
được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền
2 https://vnreview.vn/thread-old/bitcoin-chinh-thuc-duoc-my-cong-nhan-la-hang-hoa.1654484
3 https://www.investopedia.com/news/canada-banks-ban-users-buying-cryptocurrency/
Trang 12sử dụng đất và các quyền tài sản khác Theo đó, quyền tài sản là quyền trị giá được tính bằng tiền, không đòi hỏi phải có sự chuyển giao trong giao dịch dân sự”.
1.12 Có quy định nào cho phép khẳng định quyền thuê, quyền mua tài sản
là quyền tài sản không?
Hiện nay chưa có quy định nào cho phép khẳng định quyền thuê, quyền mua tàisản là quyền tài sản
1.13 Đoạn nào của Quyết định số 05 cho thấy Tòa án nhân dân tối cao theo hướng quyền thuê, quyền mua là tài sản?
Đoạn [1] phần nhận định của Tòa án của quyết định số 05 cho thấy TAND tối cao theo hướng quyền thuê, quyền mua là tài sản (theo Điều 172 BLDS 1995
quy định thì quyền tài sản là tài sản):
“ Như vậy, cụ T là người có công với cách mạng, nên được Quân khu 7 xét cấpnhà số 63 đường B nêu trên theo tiêu chuẩn của sĩ quan quân đội Đến thời điểm
cụ T chết năm 1995, cụ chưa làm thủ tục mua hóa giá nhà đối với nhà số 63 nêu trên Như vậy, cụ T là người có công với cách mạng, nên được Quân khu 7 xét cấp nhà số
63 đường B nêu trên theo tiêu chuẩn của sĩ quan quân đội Đến thời điểm cụ T chết năm 1995, cụ chưa làm thủ tục mua hóa giá nhà đối với nhà số 63 nêu trên Theo quy định tại Điều 188 và Điều 634 Bộ luật Dân sự năm 1995, quyền thuê, quyền mua hóa giá nhà của cụ T là quyền tài sản (trị giá được bằng tiền) và được chuyển giao cho các thừa kế của cụ T Do đó, bà H và ông T1 được hưởng thừa kế quyền thuê, mua hóa giá nhà của cụ T.”
1.14 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong Quyết định số 05 về quyền thuê, quyền mua (trong mối quan hệ với khái niệm tài sản)?
_Hướng giải quyết trong Bản án số 05 là hợp lý, vì:
+Căn cứ theo Điều 172 Bộ luật Dân sự 1995: “Tài sản bao gồm vật có
thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản.”.