BUỔI THẢO LUẬN THỨ HAI GIAO DỊCH DÂN SỰ I, NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CHỦ THỂ TRONG XÁC LẬP GIAO DỊCH Tóm tắt án 322018 Nguyên đơn là vợ chồng J Ph Tvà bà A Th Ph khởi kiện bà L K Đ vì lí do nguyên đơn đang ở nước ngoài mua đất của bà Đ hai lần gồm tổng diện tích 1 251,8m2 và bà Đ chỉ đứng tên dùm, khi nào nguyên đơn về Việt Nam thì bà trả lại nhà và đất Nay nguyên đơn yêu cầu buộc bà LKĐ phải giao trả toàn bộ tài sản cùng với toàn bộ cây trồng trên đất cho nguyên đơn Theo yêu cầu khởi kiện.
Trang 1BUỔI THẢO LUẬN THỨ HAI GIAO DỊCH DÂN SỰ
Trang 2I, NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CHỦ THỂ TRONG XÁC LẬP GIAO DỊCH
Tóm tắt án 32/2018: Nguyên đơn là vợ chồng J Ph Tvà bà A Th Ph khởi kiện bà L K Đ
vì lí do nguyên đơn đang ở nước ngoài mua đất của bà Đ hai lần gồm tổng diện tích 1.251,8m2 và bà Đ chỉ đứng tên dùm, khi nào nguyên đơn về Việt Nam thì bà trả lại nhà
và đất Nay nguyên đơn yêu cầu buộc bà LKĐ phải giao trả toàn bộ tài sản cùng với toàn
bộ cây trồng trên đất cho nguyên đơn Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Đ thừa nhận có nhận 05 lần tiền của nguyên đơn gửi về cho bà là 13.950 USD nay đồng ý trả số tiền 13.950 USD được quy đổi ra tiền Việt Nam là 329.220.000 đồng, bà yêu cầu được sử dụng nhà và đất này Tuy nhiên xét về hình thức thì tờ cho đất thổ cư và tờ nhường đất thổ cư không tuân thủ theo quy định của pháp luật, không được công chứng, chứng thực nên không phát sinh hiệu lực và tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu
Câu 1:
Theo điều 117 BLDS 2015 và điều 122 BLDS 2005 điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự về cơ bản trong hai bộ luật này đều giữ nguyên, trừ điều kiện về năng lực của chủ thể Điều kiện về năng lực chủ thể trong Bộ luật dân sự 2015 quy định có sự tiến bộ hơn
so với Bộ luật dân sự 2005 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự” Bộ luật dân sự 2015 quy định:“Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập”
Thứ nhất, bộ luật dân sự 2015 không chỉ đề cập đến năng lực hành vi dân sự mà còn đề cập đến năng lực pháp luật của chủ thể Quy định về cả năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự như vậy chặt chẽ hơn so với Bộ luật dân sự 2005 vì có những trường hợp năng lực pháp luật của chủ thể có thể bị hạn chế do đó không thể mặc nhiên cho rằng mọi chủ thể đều có năng lực pháp luật như nhau khi xác lập giao dịch dân sự Thứ hai, Bộ luật dân sự 2015 quy định cụ thể về năng lực hành vi dân sự của chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự Pháp luật quy định người không có năng lực hành vi dân sự thì không được xác lập giao dịch dân sự, người có năng lực hành vi dân sự nhưng không đầy
đủ có thể thực hiện một số giao dịch nhất định (thường là giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày), người có năng lực hành vi dân sự được xác lập mọi giao dịch dân sự Như vậy, tùy vào từng giao dịch dân sự cụ thể mà điều kiện về năng lực của chủ thể cũng có sự khác nhau Như vậy, quy định như Bộ luật dân sự 2015 “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập” hợp lý và chặt chẽ hơn so với quy định của Bộ luật dân sự 2005
Ngoài ra, ở BLDS 2015 mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật( điều 118 BLDS 2015) khác với BLDS 2005 mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật( điều 123) khắc phục sự hạn chế tự do như
Trang 3quy định BLDS 2005, và theo như tinh thần điều 123 BLDS 2015 điều cấm của luật là những quy định luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định
Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định đã làm hẹp đi yêu cầu về hình thức
Tóm lại, điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong Bộ luật dân sự 2015 có những điểm mới và tiến bộ hơn so với Bộ luật dân sự 2005
Câu 2:
Ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam, trích dẫn từ mục “ Nhận định
của tòa án” đã cho thấy điều này: Tuy nhiên giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004 , giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004 được lập giữa nguyên đơn và bị đơn LKĐxét về hình thức thì tờ cho đất tổ cư và tờ nhường đất thổ cư không tuân thủ theo quy định của pháp luật, không được công chứng, chứng thực theo quy định tại Điều 127của Luật đất đai năm 2003và Điều 117 của Bộ luật dân sựnên không phát sinh hiệu lực của hợp đồng Hơn nữa ông PhJTvà bà LThH là người Việt Nam ở nước ngoài đã nhập quốc tịch Mỹ thì theo quy định Luật đất đai năm 2003 và Điều 121của Luật nhà ở năm 2005 thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền sở hữu nhà ở Việt Nam khi thõa mãn các điều kiện sau: “ Người Việt Nam định cử ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt Nam, người có công đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu
về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước, người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng khác do Uỷ ban thường
vụ Quốc hội quy định được sở hữu nhà ở tại Việt Nam” “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện quy định này đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được phép
từ sáu tháng trở lên được sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ”do đó ông Tvà bà
H không được sở hữu quyền sử dụng đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm tại Việt Nam
Câu 1.2 Đoạn nào của bản án trên cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam?
Đoạn của Bản án số: 32/2018/DS-ST cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam là:
Hơn nữa ông Ph J T và bà L Th H là người Việt Nam ở người nước ngoài đã nhập quốc tịch Mỹ thì theo quy định Luật đất đai năm 2003 và Điều 121 của Luật nhà ở năm 2005 thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền sở hữu nhà ở Việt Nam khi thỏa mãn các điều kiện sau: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài ở Việt Nam, người có công đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hóa, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước, người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định được sở hửu nhà ở tại Việt Nam” “Người Việt Nam định
Trang 4cư ở nước ngoài không thuộc diện quy định này đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được phép từ sáu tháng trở lên được sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn
Câu 3: Giao dịch của ông T và bà H với bà Đ đã bị tòa án tuyên vô hiệu : “…vì vậy các giao dịch giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004, giấy cam kết ngày 16/3/2011bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật và
do không tuân thủ quy định về hình thức theo Điều 117, 123, 129 của Bộ luật dân sựvà căn cứ theo Điều 131 của Bộ luậtdân sự thì các đương sự phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận”
II.GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG NHẬN THỨC
Tóm tắt: Trong quá trình chung sống, vợ chồng ông Hội, bà Hương tạo lập được 01 căn nhà; sau đó, ngày 08/02/2010, lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông Hùng và vợ là bà Trinh Bà Hương và ông Hùng cho rằng lúc lập hợp đồng, ông Hội vẫn còn nhận thức được, không mất năng lực hành vi dân sự, đến ngày 07/5/2010, ông Hội mới bị Tòa án tuyên mất năng lực hành vi dân sự, nên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
bà và ông Hùng là đúng pháp luật Nhưng chị Ánh, con của ông Hội và bà Hương, cho rằng thời điểm lập hợp đồng là lúc ba bà (ông Hội) bị bệnh nằm liệt giường và không nhận thức được hành vi của mình nên hợp đồng trên vô hiệu Nay ông Hội đã chết nên chị đề nghị hủy hợp đồng để đảm bảo quyền lợi cho những người thừa kế
TH 1 ng k thể nhận thức làm chủ hv của mình nhưng chưa đc tòa án tuyên mất… nhưng
đã xcs lập giao dịch( hợp đồng) vs ng khác Trong th này thì giao dịch này bị vô hiêu Đánh giá dưới các góc độ vbpl, thực tiễn xét xử, snghi bản thân
Câu 1: So với quy định của Bộ luật dân sự 2005 tại thì Bộ luật dân sự 2015 có một số điểm mới sau:
Thứ nhất, về chủ thể xác lập giao dịch:
-Điểm a khoản 1 Điều 122 BLDS 2005 quy định “Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự”, nghĩa là chủ thể tham gia chỉ có thể là cá nhân.
- Ở BLDS 2015, tại điểm a khoản 1 Điều 117 đã thay bằng “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập”, nghĩa
là chủ thể tham gia có thể là cá nhân hoặc pháp nhân Sự thay đổi trên mở rộng hơn về chủ thể tham gia các giao dịch dân sự ngoài cá nhân còn có pháp nhân, phù hợp với thực tiễn vì có những loại giao dịch chủ thể là pháp nhân nhưng BLDS 2005 không điều chỉnh Ngoài ra BLDS 2015 đã đề cập bổ sung đến “năng lực pháp luật dân sự” Quy định như vậy chặt chẽ hơn so với BLDS 2005, vì trong một số trường hợp năng lực pháp luật bị hạn chế mặc dù năng lực hành vi vẫn có
Trang 5Thứ hai, về điều kiện liên quan đến giao dịch:
-Về nội dung: Điểm b khoản 1 Điều 122 BLDS 2005 quy định: “Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội”, còn
điểm b khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 thay “pháp luật” thành “luật” Việc thay đổi này nhằm làm hẹp lại điều cấm mà cá nhân có thể mắc phải vì quy định điều cấm là điều cấm của pháp luật tức là những quy định có thể tồn tại trong văn bản luật hoặc văn bản dưới luật Còn khi quy định điều cấm là điều cấm của luật tức là những quy định đó chỉ tồn tại trong luật được Quốc Hội ban hành
- Về hình thức của giao dịch dân sự:
Điều 124, BLDS 2005 bắt buộc trong trường hợp pháp luật có quy định theo quy định
khoản 2 điều 124 BLDS: “Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó”.
ĐiỀU 119 BLDS 2015 bắt buộc trong trường hợp luật có quy định theo quy định của
khoản 2 điều 119 BLDS 2015: “Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.”
Đó là những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, thể hiện tư duy tiến bộ, mới mẻ của các nhà làm luật
Câu 2:
Thời điểm ông hội mất khả năng nhận thức: Năm 2007
Thời điểm ông Hội bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự: 07/5/2010
Câu 3:
Giao dịch của ông Hội (với vợ là Bà Hương) được xác lập trước khi ông bị Tòa tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự
Câu 4:
Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội bị vô hiệu mặc dù giao dịch
đó (cùng với vợ là bà Hương) được xác lập trước khi ông bị Tòa tuyên bố mất năng lực
hành vi dân sự Bởi lẽ, xét theo Điều 128 BLDS 2015: “Người có năng lực hành vi dân
sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu ”.
Như vậy cho dù lúc đó òa án chưa tuyên bố ông Hội mất năng lực hành vi dân sự nhưng
từ sau lần tai nam năm 2007 ông Hội đã không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình cho nên giao dịch của ông Hội là vô hiệu dù ông vẫn xem là người có năng lực hành vi dân sự trước khi bị tòa án tuyên
Câu 5:
Trang 6Theo tìm hiểu, trên thực tế có những vụ án cũng tương tự như ông Hội ví dụ Bản án số:20/2014/KDTM-PT tỉnh ĐN Ngày:24/06/2014: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và tranh chấp hợp đồng thế chấp, bảo lãnh quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất Tóm tắt vụ án: Bị đơn Mai Thị Thúy đã vay của nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tùng Thu huyện TN số tiền 1.000.000.000 đồng, lãi suất vay là 12%/năm, thời hạn vay đến ngày21/03/2011 Mục đích vay để nuôi gà Tài sản đảm bảo cho khoản nợ vay trên gồm: Quyền sử dụng diện tích 204m2 đất và tài sản gắn liền với đất theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đấtsố 3843/HĐTC ngày 27/5/2009 và Quyền
sử dụng diện tích 27.300m2 đất và tài sản trên đất theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 3843/HĐTC ngày 27/5/2009 được ký kết giữa Ngân hàng và ông Trần Văn Hải, bà Mai Thị Thúy Quá trình thực hiện hợp đồng bà Thúy đã không trả nợ đúng hạn như đã cam kết và số nợ là 1 tỷ cộng với 570 triệu đồng tiền lãi Nguyên đơn yêu cầu bà Mai Thị Thúy có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ tính đến ngày 26/3/2013 là 1.570.000.000 đồng Ngoài ra, nguyên đơn còn yêu cầu Tòa án công nhận 02 bản Hợp đồng thế chấp cùng số 3843/HĐTC và cùng ngày 27/5/2009 được ký kết giữa Ngân hàng và ông Trần Văn Hải, bà Mai Thị Thúy là có hiệu lực pháp luật Bà Thúy không đồng ý với lý do tại thời điểm ký kết hợp đồng thế chấp(bảo lãnh) ông Hải bị tai biến mạch máu não, không còn khả năng nhận thức, không đủ nănglực hành vi dân sự để giao kết hợp đồng.Do đó,
bà Thúy đề nghị Tòa án tuyên bố 02 hợp đồng thế chấp, bảo lãnh là vô hiệu do một bên chủ thể không có đủ năng lực hành vi dân sự
Hướng giải quyết của tòa án:
Tòa sơ thẩm: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nguyên đơn về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và tranh chấp hợp đồng thế chấp, bảo lãnh quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất:.Buộc bà Mai Thị Thúy có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tùng Thu -Chi nhánh huyện TN số tiền nợ vốn gốc là 1.000.000.000 đồng và có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi tính đến ngày 26/3/2013 là 570.000.000 đồng Tòa phúc thẩm: Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh ĐN xét xử vụ án theo hướng sửa bản án sơ thẩm,chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tuyên 02 bản Hợp đồng thế chấp cùng số3843/HĐTCngày 27/5/2009 vô hiệu do Tòa án cấp sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án đã có vi phạm về thu thập, đánh giá chứng cứ theo các Điều 96, 97 Bộ luật Tố tụng dân sự và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 3843/HĐTC ngày 27/5/2009 đã vi phạm các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 17, Điểm a, c Khoản1, 2 Điều 122 về năng lực hành vi dân sự , Khoản2 Điều 124 của Bộ luật Dân sự 2005
*Link tìm kiếm bản án: https://caselaw.vn/ban-an/418/20-2014-kdtm-pt
Câu 6:
Theo em, hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc trên là hợp lý
Trang 7việc chuyển nhượng phần đất này là giao dịch hợp đồng nên phải có sự thỏa thuận giữa các bên, nhưng vì ông Hội trên thực tế đã không còn khả năng nhận thức trước khi thực hiện giao dịch bên cạnh đó bà Hương không phải là người đại diện theo pháp luật của ông Hội mà là chị Ánh, theo điều 123 BLDS 2005 giao dịch phải do chị Ánh xác lập thực hiện
Theo quy định tại điều 128 BLDS 2015: “Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu”.
Tóm lại, khi giao dịch dân sự được xác lập bởi một bên chủ thể là người mất năng lực hành vi dân sự thì giao dịch đó vô hiệu do không hội đủ các điều kiện có hiệu lực
Câu 7: Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch không bị
vô hiệu Điều 125 blds điểm b khoản 2 gdds chỉ làm phát sinh quyền
Theo điều 22 Bộ luật dân sự 2015 quy định: "Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.”
Trong trường hợp này, ông Hội không thể tự mình đứng ra nhận tặng cho Giao dịch dân
sự của người mất năng lực hành vi dân sự như ông Hội phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện
Trong trường hợp này, Chị Ánh là người đại diện cho ông Hội vì vậy Chị Anh được thay mặt cha mình giao dịch Tức giao dịch tặng cho ông Hội không vô hiệu Phát sinh quyền chứ k có nghĩa vụ nên ông hội vẫn đc nhận
III.GIAO DỊCH XÁC LẬP DO LỪA DỐI.
Tóm tắt quyết định 210: Nguyên đơn là bà Châu Thị Nhất khởi kiện bị đơn là ông Nguyễn Văn Dưỡng về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Bà Nhất và ông Dưỡng là vợ chồng, có tài sản chung là 05 lô đất toạ lạc tại ấp Thuận Tiến,
xã Bình Sơn Năm 2001, bà đi lao động ở nước ngoài; năm 2007, ông và bà ly hôn thì bà mới biết trong thời gian bà đi vắng, ông đã tự ý bán thửa đất đứng tên bà (lô đất số 02) cho ông Võ Minh Tài Nay bà yêu cầu Toà án huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà với ông Tài vì bà không ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng đó Tại phiên toà, Hội đồng giám đốc thẩm Toà Dân sự Toà án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với bản án dân sự phúc thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang Toà quyết định huỷ toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm
và phúc thẩm về vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa bà Nhất với ông Dưỡng và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Câu 1: Điều 127
Trang 8Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của dối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó
Về điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu do có lừa dối theo BLDS 2005 và BLDS 2015 không có sự khác nhau: cả hai bộ luật đều quy định nếu giao dịch mà có sự lừa dối thì bên bị lừa dối có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu
Câu 2:
Quyết định số 521 cho thấy thỏa thuận hoán nhượng đã bị tuyên vô hiệu do có lừa dối
được thể hiện ở đoạn: “Việc anh Vinh và người liên quan (ông Trần Bá Toàn, bà Trần Thị Phú Vân- họ hàng của anh Vinh) không thông báo cho ông Đô, bà Thu biết tình trạng về nhà, đất mà các bên thỏa thuận đất đã có Quyết định thu hồi, giải tỏa, đền bù (căn nhà đã có quyết định tháo dỡ do xây dựng trái phép từ năm 1998 nên không được bồi thường giá trị căn nhà; còn thửa đất bị thu hồi thì không có đủ điều kiện để mua nhà tái định cư theo Quyết định số 135/QĐ-UB ngày 21-11-2008) là có sự gian dối Mặt
khác, tại bản “Thỏa thuận hoán nhượng” không có chữ kí của ông Đô (chồng bà Thu) và
là người cùng bà Thu bán nhà 115/7E Nguyễn Kiệm, quận Gò Vấp cho bà Phổ (mẹ của anh Vinh) Do vậy, giao dịch “Thỏa thuận hoán nhượng” giữa anh Vinh và bà Thu vô hiệu nên phải áp dụng Điều 132-BLDS để giải quyết.” của phần xét thấy của Quyết định
số 521 đã xác định giao dịch “thỏa thuận hoán nhượng” là vô hiệu do có sự lừa dối” Câu 3:
Hướng giải quyết trên chưa có tiền lệ
Vì theo nguyên tắc áp dụng án lệ là khi áp dụng án lệ để giải quyết các vụ việc tương tự thì tên của án lệ, tính chất, tình tiết trong án lệ và tính chất, tình tiết vụ việc tương tự phải được viện dẫn phân tích, làm rõ trong bản án, quyết định của toàn án Và trong bản án vừa rồi không có một tình tiết nào được viện dẫn mà chỉ căn cứ vào luật để giải quyết Câu 4:
Hướng giải quyết trên vẫn còn phù hợp với BLDS năm 2015
Vì:
Theo điều 127 BLDS 2015: “ Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc
bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó”.
Và theo điểm b, khoản 1 điều 132 quy định về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao
dịch dân sự vô hiệu: “Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối”.
Trang 9Theo đó anh Vinh đã dấu bà Thu và ông Đô quyết định cưỡng chế nhà và không cho vợ chồng ông bà biết nhà và đất bị giải tỏa khi kí “ Thỏa thuận hoán nhượng” ngày 20/5/2004 nên ông bà đã kí Theo điều khoản trên thì hợp đồng này là vô hiệu Vì vậy việc hủy bỏ bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm là hợp lí
Câu 5:
Theo Quyết định số 210 ngày 21/5/2013 của Tòa án thì:
• Nếu khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Dưỡng và ông Tài vô hiệu do bị lừa dối thì theo quy định tại điều 132 BLDS 2005: bên tham gia giao dịch do bị lừa dối có quyền yêu cầu Tòa án tuyên giao dịch vô hiệu Tức là trong trường hợp này ông Thi là một bên tham gia giao dịch bị lừa dối có quyền yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu do bị lừa dối còn bà Nhất không có quyền
• Bà Nhất chỉ có quyền khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa ông Dưỡng và ông Tài vô hiệu vì lý do nội dung giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật: Theo điều 28 luật Hôn nhân và gia đình thì việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng phải có sự đồng ý của cả vợ, chồng nhưng ông Dưỡng tự ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng là không đúng
Câu 6:
Theo tòa án, thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng do lừa dối không còn
Theo khoản 1 điều 136 BLDS 2005 thời hạn yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối là hai năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập; còn điều 159 bộ luật
Tố tụng dân sự quy định trong trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện thì thời hiệu vụ án dân sự là hai năm kể từ ngày người có quyền khởi kiện biết được quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm Như vậy, tháng 8/2007 bà Nhất biết ông Dưỡng giả mạo chữ kỹ bà để nhượng đất cho ông tài nhưng đến 10/12/2010 mới khởi kiện là vượt quá thời hạn 2 năm nên quyền khởi kiện của bà nhất đã hết thời hiệu khởi kiện Câu 7:
Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối, tòa
án vẫn công nhận hợp đồng
Theo khaonr 1 điều 137 BLDS 2005 và khoản 1 điều 131 BLDS 2015 quy định: “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập” Nhưng trong trường hợp này thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu đã hết, khi đã hết thời hiệu thì giao dịch dân sự không bị tranh chấp về hiệu lực, chủ thể không có quyền khởi kiện nữa Giao dịch dấn ự không bị tòa án tuyên bố vô hiệu thì quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên kể từ thời điểm xác lập không chấm dứt tức là hợp đồng kí kết trong trường hợp này vẫn được tòa công nhận
Trang 10Câu 8:
Nếu trong vụ án này áp dụng các quy định của BLDS năm 2015 sẽ có hướng xử lý như sau:
• Về quyền khởi kiện cũng giống như BLDS năm 2005
• Về thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên giao dịch vô hiệu do bị lừa dối cũng
là 2 năm nhưng khác ở thời điểm bắt đầu tính thời hiệu: Theo điều 136 BLDS 2005 thì thời hiệu yêu cầu là 2 năm kể từ ngày xác lập giao dịch; Còn theo điều 132 BLDS 2015 thì thời hiệu yêu cầu là 2 năm tinh từ ngày người bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị lừa dối
• Theo khoản 2 điều 132 BLDS 2015 thì nếu hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu do bị lừa dối thì giao dịch có hiệu lực
Câu 9:
Điều khác nhau cơ bản giữa “bị nhầm lẫn” và “bị lừa dối” là lỗi của bên kia là vô ý hay
cố ý Nnhầm lẫn là khi một bên vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn, hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của dối tượng hoặc nội dung của giao dịch Còn nếu có hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch thì đó là lừa dối
Vì vậy, bản án 98/2017/DSPT đã nhận định ở đoạn [4] như sau: Với những chứng cứ nêu trên thì cũng chưa đủ căn cứ xác định bà Anh lừa dối bà Mai về việc “biết thông tin về đường nhựa rộng 18m trước nhà là của quân đội, quân đội sẽ xây tường chắn ngay vào đầu năm 2016” nhưng không thông báo cho bà Mai biết Do đó Tòa án chỉ có căn cứ tuyên giao dịch vô hiệu do nhầm lẫn chứ không phải vô hiệu do lừa dối
Câu 10: Theo em hướng giải quyết trên của tòa án là hợp lí
IV HẬU QUẢ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU
Tóm tắt quyết định 26:Ngày 13 tháng 8 năm 2013, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao đã
mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án kinh doanh, thương mại về tranh chấp hợp đồng dịch vụ giữa nguyên đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn Orange Engineering và bị đơn Công ty cổ phần phát triển Phú Mỹ Trong đơn khởi kiện, nguyên đơn cho rằng bị đơn đã không thực hiện đúng ký kết trong hợp đồng Cụ thể, Công ty Phú Mỹ không tiếp tục thực hiện việc thanh toán lần 3 với giá trị 160.000.000 KRW (tương đương với 141.969 USD) theo cam kết, nên Công ty Orange khởi kiện yêu cầu chấm dứt hợp đồng
và buộc Công ty Phú Mỹ thanh toán số tiền 141.969 USD cùng lãi suất chậm thanh toán tính từ ngày 30/9/2007 đến ngày 31/12/2010 Theo đó, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã quyết định hủy toàn bộ Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm và phúc thẩm
Tóm tắt án 133: Nguyên đơn là ông Bùi Tiến Văn, bà Nguyễn Thị Tằm khởi kiện bị đơn
là anh Bùi Tiến Dậu, Bùi Tiến Sinh, Bùi Tiến Bình về việc yêu cầu “Huỷ hợp đồng tặng