Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: a Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; b Chủ thể tham gi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ LỚP QUẢN TRỊ - LUẬT 46A1
MÔN: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN
SỰ BUỔI THẢO LUẬN THỨ HAI - GIAO DỊCH DÂN
SỰ GIẢNG VIÊN: ThS LÊ THANH HÀ
Trang 2MỤC LỤCPHẦN I: NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CHỦ THỂ TRONG XÁC LẬP GIAO DỊCH 1
Tóm tắt bản án số 32/2018/DS-ST ngày 20/12/2018 của Tòa án Nhân dân tỉnh Vĩnh Long: 1
Câu 1: So với BLDS năm 2005, BLDS 2015 có gì khác về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự? Suy nghĩ của anh/chị về sự thay đổi trên 1
Câu 2: Đoạn nào của bản án trên cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam? 4
Câu 3: Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ
đã bị Tòa án tuyên bố vô hiệu? 5
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị (trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của chủ thể) về căn cứ để Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu ? 5
PHẦN II: GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG
NHẬN THỨC 6
Tóm tắt Quyết định số 329/2013/DS-GĐT ngày 25/7/2013 của Tòa dân sự Tòa
án nhân dân tối cao: 6
Câu 1: Từ thời điểm nào ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức và từ thời điểm nào ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự? 6
Câu 2: Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau khi ông Hội bị Tòa tuyên mất năng lực hành vi dân sự 6
Câu 3: Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội có vô hiệu không? Vì sao? Trên cơ sở quy định nào? 7
Câu 4: Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hoàn cảnh của ông Hội
không và Tòa án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà
anh/chị biết 7
Câu 5: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp lý khi đưa ra hướng xử lý 8
Câu 6: Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó
có bị vô hiệu không? Vì sao? 9
PHẦN III: GIAO DỊCH XÁC LẬP DO CÓ LỪA DỐI 9
Tóm tắt Quyết định số: 521/2010/DS-GĐT ngày 19/08/2010 của Tòa dân sự Tòa
án nhân dân tối cao 9
Trang 3Tóm tắt Quyết định số: 210/2013/DS-GĐT ngày 21/05/2013 của Tòa dân sự Tòa
án nhân dân tối cao 10
Câu 1: Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu do có lừa dối theo
Câu 7: Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu
do lừa dối, Tòa án có công nhận hợp đồng không? Vì sao? 14
Câu 8: Câu trả lời cho các câu hỏi trên có khác không nếu áp dụng các quy định tương ứng của BLDS 2015 vào tình tiết như trong Quyết định số 210? 16
PHẦN IV: HẬU QUẢ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU 17
Tóm tắt Quyết định số 26/2013/KDTM-GĐT ngày 13-8-2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: 17
Quyết định số 75/2012/DS-GDDT ngày 23/02/2012 của Tòa dân sự Tòa án nhân
Câu 2: Trên cơ sở BLDS, khi xác định Hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì Công ty Phú
Mỹ có phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện không? Vì sao? 18
Câu 3: Hướng giải quyết của Hội đồng thẩm phán về với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện như thế nào? 19
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Hội đồng thẩm phán liên quan tới khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện khi xác định hợp đồng vô hiệu 20
Trang 4Câu 5: Hướng xử lý của Hội đồng thẩm phán đối với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện như thế nào khi xác định hợp đồng dịch vụ không
vô hiệu? Nội dung xử lý khác với trường hợp xác định hợp đồng dịch vụ vô hiệu như thế nào? Suy nghĩ của anh/chị về chủ đề này như thế nào? 20
Câu 6: Trong Quyết định số 75, vì sao Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác định hợp đồng vô hiệu? 20
Câu 7: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác định hợp đồng trên là vô hiệu? 21
Câu 8:Với thông tin trong Quyết định số 75 và pháp luật hiện hành, ông Sanh sẽ được bồi thường thiệt hại bao nhiêu? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời? 22
Câu 9: Trong bản án số 133, Tòa án quyết định hủy giấy chứng nhận cấp cho anh Đậu và ghi nhận ông Văn, bà Tằm quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có là hệ quả của giao dịch dân
sự vô hiệu không? Vì sao? 22
Trang 5PHẦN I: NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CHỦ THỂ TRONG XÁC LẬP GIAO DỊCH
Tóm tắt bản án số 32/2018/DS-ST ngày 20/12/2018 của Tòa án Nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Nguyên đơn là ông J Ph T cùng với vợ là bà A Th Ph (L Th H), đại diện ủy quyền
bởi anh L Th Ph Bị đơn là bà L K Đ, đại diện bởi Ph H D T Năm 2004, vợ chồngnguyên đơn mua phần đất diện tích 200m2 của bà L K Đ với giá 60.000.000 đồng vàngày 31/5/2004 bà L K Đ có lập giấy cho nền thổ cư Đến ngày 02/6/2004 bà L K Đ tiếptục bán cho nguyên đơn phần đất gắn liền với căn nhà mới xây tổng diện tích là1.051,8m2 và bà L K Đ có làm giấy nhường đất thổ cư Ngày 16/3/2011 bà L K
Đ có làm giấy cam kết thể hiện rằng bà đã bán cho nguyên đơn phần đất diện tích1.251,8m2 và bà chỉ đứng tên hộ, khi nào nguyên đơn về Việt Nam thì bà trả lại nhà và đất Hiệnnay nguyên đơn đã về Việt Nam và yêu cầu bị đơn giao trả nhà là 200m2 và đất vườn có diệntích 1.051,8m2 (tổng giá trị là 500.000.000 đồng) Sau đó tại phiên tòa sơ thẩm, phía nguyên đơnthay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bà L K Đ hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 550.000.000đồng Phía bị đơn đồng ý trả lại số tiền 13.950 USD mà bên nguyên đơn chuyển về, quy ra là329.220.000 đồng nhưng phía bị đơn tự nguyện trả số tiền 350.000.000 đồng và yêu cầu được
sử dụng nhà và đất sau này Tòa án Nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã ra quyết định vô hiệu giấy chonền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004 và giấy cam kết ngày16/3/2011 mà các bên đã xác lập do vi phạm điều cấm của pháp luật; buộc bà L K Đ phải hoàntrả cho ông J Ph (Ph J T) và bà A Th Ph (L Th H) số tiền 350.000.000 đồng
Câu 1: So với BLDS năm 2005, BLDS 2015 có gì khác về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự? Suy nghĩ của anh/chị về sự thay đổi trên.
Điều 122 BLDS 2005: Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:
“1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;
c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.
2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.”
Điều 117 BLDS 2015: Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:
“1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
Trang 6c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.”
Thứ nhất, theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015
“Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập” So với quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 122 Bộ luật Dân sự
năm 2005 “Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự” thì Bộ luật Dân sự
năm 2015 không chỉ đề cập đến năng lực hành vi dân sự mà còn đề cập đến năng lực
pháp luật dân sự của chủ thể và bổ sung thêm cụm từ “phù hợp với giao dịch dân sự
được xác lập” Từ quy định này có thể thấy có 2 yêu cầu đối với chủ thể tham gia giao
dịch dân sự như sau:
- “Chủ thể có năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập”, tức
là nếu chủ thể tham gia vào các giao dịch dân sự thì cá nhân đó phải có năng lực hành vidân sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình trong việc xác lập, thay đổi haychấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Tùy thuộc vào mức độ năng lực hành vi dân sự củachủ thể mà chủ thể được tham gia vào các giao dịch dân sự phù hợp với mình theo quyđịnh tại Điều 20, Điều 21, Khoản 2 Điều 22, Khoản 2 Điều 24 Bộ luật Dân sự năm2015
Điều 20 BLDS 2015: Người thành niên
“1 Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên.
2 Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các điều 22, 23 và 24 của Bộ luật này.”
Điều 21 BLDS 2015: Người chưa thành niên
“1 Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.
2 Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.
3 Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân
sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
4 Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng
ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.”
Khoản 2 Điều 22 BLDS 2015: Mất năng lực hành vi dân sự
“2 Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.”
Khoản 2 Điều 24 BLDS 2015: Hạn chế năng lực hành vi dân sự
Trang 7“2 Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan
có quy định khác.”
- “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập”,
theo quy định tại Điều 18, Điều 86 Bộ luật Dân sự năm 2015, năng lực pháp luật dân sự của cánhân, pháp nhân về cơ bản là không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liênquan quy định khác Như vậy, trong những trường hợp luật khác có những quy định, yêu cầu vềnăng lực pháp luật của chủ thể thì phải tuân thủ theo các quy định đó
Điều 18 BLDS 2015: Không hạn chế năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
“Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”
Điều 86 BLDS 2015: Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân
“1 Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2 Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; nếu pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm ghi vào
sổ đăng ký.
3 Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân chấm dứt kể từ thời điểm chấm dứt pháp nhân.”
Thứ hai, tại Khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về điều kiện
có hiệu lực của giao dịch dân sự đã thay thế từ “người tham gia giao dịch” bằng “chủ
thể tham gia giao dịch dân sự” Điều này xác định rằng chủ thể tham gia giao dịch dân
sự có thể là cá nhân (con người về mặt sinh học) hoặc pháp nhân (con người về mặtpháp lý)(1)
Thứ ba, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã thay thế cụm từ “pháp luật” bởi từ “luật”,
có thể thấy rằng từ “pháp luật” có nội hàm rộng hơn rất nhiều so với từ “luật” “Pháp
luật” có thể được hiểu là hệ thống các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh một lĩnh
vực cụ thể nào đó, trong đó mặt biểu hiện của nó là các quy định trong Hiến pháp, bộluật, luật, nghị quyết, nghị định, quyết định, thông tư, công văn, chỉ thị, Trong khi đó,
từ“luật” được sử dụng tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 là để chỉ các quy phạm
pháp luật chỉ tồn tại trong các bộ luật, luật (là văn bản do chính Quốc hội ban hành).Quy định này nếu được hiểu theo cách trên, có tác dụng nhấn mạnh tầm quan trọng vàhiệu lực của văn bản luật so với các văn bản dưới luật, trong trường hợp có mâu thuẫngiữa các quy định với nhau
Trang 8→ Như vậy, với sự thay đổi trên thì Bộ luật Dân sự năm 2015 không chỉ đề cậpđến năng lực hành vi dân sự mà còn đề cập đến năng lực pháp luật dân sự của chủ thể, từ đó đặt
ra 2 yêu cầu đối với chủ thể tham gia giao dịch dân sự là “Chủ thể có năng lực hành vi dân sự”
và “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự”, điều đó cho thấy Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy
định chặt chẽ hơn so với Bộ luật Dân sự năm 2005 Mặt khác, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã mởrộng phạm vi hơn so với Bộ luật Dân sự năm 2005 đối với chủ thể tham gia giao dịch dân sự từ
“người” thành “chủ thể”, tức là cả cá nhân và pháp nhân đều có đủ tư cách tham gia vào giao
dịch dân sự Nhìn chung lại, việc thay đổi trên đã cho thấy Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quyđịnh chặt chẽ hơn nhưng cũng đã cởi mở hơn so với Bộ luật Dân sự năm 2005
Câu 2: Đoạn nào của bản án trên cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam?
Ở đoạn [2] phần “Nhận định của Tòa án” đã cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam Cụ thể:
Thứ nhất, giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày02/6/2004 được lập giữa nguyên đơn và bị đơn L K Đ xét về hình thức thì tờ cho đất thổ
cư và tờ nhường đất thổ cư không tuân thủ theo quy định của pháp luật, không được
công chứng, chứng thực theo quy định tại Điều 127 của Luật Đất đai 2003 “Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà nước; trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân thì được lựa chọn hình thức chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của
Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất.” nên không phát sinh hiệu lực của hợp
đồng Từ đó, ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam
Hơn thế nữa, ông T và bà H là người Việt Nam ở nước ngoài đã nhập quốc tịch
Mỹ thì theo quy định tại Điều 121 của Luật Đất đai 2003 thì người Việt Nam định cư ởnước ngoài được quyền sở hữu nhà ở Việt Nam khi thỏa mãn các điều kiện sau:
“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt Nam; người có công đóng góp với đất nước; nhà hoạt động văn hóa, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước; người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định được sở hữu nhà tại Việt Nam” “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện quy định này đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được phép từ sáu tháng trở lên được sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ” Ông T và bà H không
thuộc một trong các đối tượng trên nên không được sở hữu quyền sử dụng đất ở nôngthôn và đất trồng cây lâu năm tại Việt Nam
Trang 9Câu 3: Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ đã
bị Tòa án tuyên bố vô hiệu?
Ở mục 1 phần “Quyết định” đã cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ bịTòa án tuyên bố vô hiệu Cụ thể: “Vô hiệu giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đấtthổ cư ngày 02/6/2004 và giấy cam kết ngày 16/3/2011 mà các bên đã xác lập do vi phạm điềucấm của luật”
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị (trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của chủ thể)
về căn cứ để Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu ?
Theo em, Tòa án đã căn cứ vào Điều 128 của Bộ luật Dân sự năm 2005 để tuyên
bố giao dịch trên vô hiệu Cụ thể Điều 128 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về Giaodịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội:
“Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.
Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống
xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.”
Có thể thấy, giao dịch dân sự của ông T và bà H với bà Đ đã vi phạm điều cấmcủa luật Cụ thể tại thời điểm lập giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đấtthổ cư ngày 02/6/2004, bà Đ đã vi phạm Khoản 1 Điều 121 Luật Đất đai 2003:
“1 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây thì được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam:
a) Người về đầu tư lâu dài có nhu cầu nhà ở trong thời gian đầu tư tại Việt Nam;
b) Người có công đóng góp với đất nước;
c) Những nhà hoạt động văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước;
d) Người có nhu cầu về sống ổn định tại Việt Nam;
đ) Các đối tượng khác theo quy định của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.”
Ông T và bà H không thuộc các đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sửdụng đất ở tại Việt Nam nên không được phép mua Vì vậy việc bà Đ lập giấy cho nềnthổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004 là không đúng với quyđịnh của luật Từ đó cho thấy giao dịch dân sự giữa ông T và bà H với bà Đ là vi phạmđiều cấm của luật Như vậy, Tòa án tuyên bố vô hiệu giao dịch trên theo quy định tạiĐiều 128 Bộ luật Dân sự năm 2005 là hoàn toàn có cơ sở, công bằng và khách quan.1
1 Nguyễn Thị Hồng Nhung (2017), “Bình luận một số điểm mới trong phần Quy định chung của Bộ
luật Dân sự năm 2015”, Tạp chí Kiểm sát, số 14/2017
Trang 10PHẦN II: GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI KHÔNG CÓ
Câu 1: Từ thời điểm nào ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức và từ thời điểm nào ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?
Thực chất từ năm 2007 ông Hội đã bị tai biến nằm liệt một chỗ không nhận thứcđược Nhưng đến ngày 10/8/2010 ông Hội mới bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vidân sự
Câu 2: Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau khi ông Hội bị Tòa tuyên mất năng lực hành vi dân sự.
Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước khi ông Hội bịTòa tuyên mất năng lực hành vi dân sự Giao dịch được xác lập vào 09/02/2010 còn ôngHội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự vào 10/8/2010
Câu 3: Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội có vô hiệu
không? Vì sao? Trên cơ sở quy định nào?
Tòa án nhân dân tối cao chưa xác định phần giao dịch của ông Hội có vô hiệuhay không Vì theo phần xét thấy của Quyết định giám đốc thẩm số 329/2013/DS-GĐTngày 25/7/2013, Tòa án nhân dân tối cao cho rằng: Bản án sơ thẩm quyết định hủy toàn
Trang 11bộ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 8/02/2010 giữa vợ chồng ôngĐặng Hữu Hội, bà Phạm Thị Hương với vợ chồng ông Lưu Hoàng Phi Hùng, bà Bùi Thị
Tú Trinh, và Bản án phúc thẩm quyết định công nhận toàn bộ hợp đồng mua bán nhàgắn liền quyền sử dụng đất ở lập ngày 8/02/2010 giữa vợ chồng ông Đặng Hữu Hội(chết), bà Phạm Thị Hương và vợ chồng ông Lưu Hoàng Phi Hùng, bà Bùi Thị Tú Trinhđều là không đúng Nên Tòa án nhân dân tối cao quyết định hủy cả 2 bản án này để sơthẩm lại
Nhưng xét trên thực tế, phần giao dịch của ông Hội bị vô hiệu Vì trên thực tế,lúc thực hiện giao dịch dân sự ông Hội đã bị bệnh nằm liệt giường 3 năm, khi điểm chỉông Hội không thể tự mình thực hiện mà phải có một người khác điểm chỉ dưới sựchứng kiến của cán bộ Như vậy, ông Hội đã không tự nguyện thực hiện giao dịch này.Theo Điểm c Khoản 1 Điều 122 BLDS 2005, Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
là người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện và Điều 127 BLDS 2005: "Giao dịchdân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì
vô hiệu" thì phần giao dịch của ông Hội bị vô hiệu
Câu 4: Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hoàn cảnh của ông Hội không
và Tòa án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà anh/chị biết.
Trong thực tiễn xét xử, có bản án 01/2006/DSST ngày 21/02/2016 của Tòa ánNhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái giống hoàn cảnh với ông Hội
Hướng giải quyết của Tòa án: Tuyên bố hợp đồng giữa ông Cường, bà Bính vớianh Thăng vô hiệu Xử hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ôngCường và bà Bính với anh Thăng Buộc anh Thăng phải trả lại 288m2 đất thổ cư cho ôngCường và người giám hộ của ông Cường là anh Hưng quản lý, sử dụng Xử buộc anhHưng phải thanh toán cho anh Thăng số tiền là 20.049.000 đồng Buộc bà Bính phảithanh toán cho anh Thăng số tiền là 15.850.000 đồng.2
Tóm tắt bản án: Ông Cường là người sử dụng không có quyền định đoạt diện tích288m2 đất (do mẹ ông để lại nhưng việc chia di sản chưa được thực hiện) Ngày20/01/2004, ông Cường và bà Bính (vợ ông Cường) ký giấy chuyển nhượng cho anhThăng (con riêng của bà Bính) diện tích đất trên Ngày 13/6/2005, Tòa án huyện xử bàBính ly hôn với ông Cường Sau đó, anh Hưng (con riêng ông Cường) đón ông Cường
về nuôi dưỡng và phát hiện ông Cường có biểu hiện của người bị tâm thần nên đã yêucầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu Tại biên bản giám định pháp y tâm thần số 147/GĐPY ngày 15/12/2005 của tổ chức giám định pháp y tâm thần tỉnh đã kết luận:
2 (ĐỖ VĂN ĐẠI - TS luật học, Giảng viên Trường đại học Paris 13 (CH Pháp) (2007), TẠP CHÍ KHPL SỐ 4(41)/2007, https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/Ban-ve-hop-dong-vo-hieu-do-duoc- giao-ket-boi-nguoi-bi-mat nang-luc-hanh-vi-dan-su-qua-mot-vu-an-5562/ , truy cập ngày 25/03/2022
Trang 12ông Cường bị mắc “loạn thần do sử dụng rượu” Thời điểm mắc bệnh là trước ngày01/01/2004 với biểu hiện của căn bệnh là mất hoàn toàn khả năng tư duy, khả năng hiểubiết và khả năng điều khiển hành vi của mình Từ đó Tòa án xác định “ông Cường đượccoi là người mất hoàn toàn năng lực trách nhiệm, năng lực hành vi dân sự từ thời điểmtrước ngày 01/01/2004” Do vậy Tòa đã tuyên bố hợp đồng giữa ông Cường, bà Bínhvới anh Thăng vô hiệu.3
Câu 5: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong
vụ việc trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp lý khi đưa
ra hướng xử lý.
Toà án đưa ra quyết định: Huỷ toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm số35/2012/DSPT ngày 10/07/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên và bản án dân sự sơthẩm số 98/2011/DSST ngày 22/12/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuy Hoà, tỉnh PhúYên Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơthẩm lại theo quy định của pháp luật
Theo em, hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc trên là hợp
lý vì nếu sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật thì hướng giải quyết sẽ là tuyên bố giaodịch của ông Hội vô hiệu Theo Điểm a Khoản 1 Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005,
giao dịch dân sự có hiệu lực khi “Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân
sự” Tuy nhiên, vào thời điểm thực hiện giao dịch, ông Hội đã bị tai biến nằm liệt
giường 3 năm, có thể thời điểm đó đã không còn nhận thức được Mặt khác, dù thờiđiểm đó ông Hội còn nhận thức được nhưng cũng không thể tự thực hiện giao dịch vìbệnh liệt giường mà người đã thực hiện giao dịch là vợ ông, do đó theo Điểm c Khoản 1
Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005 “Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện”, ông Hội không tự nguyện thực hiện giao dịch này, vì vậy, giao dịch dân sự này cũng
không có hiệu lực Nhìn chung, Tòa án Nhân dân Tối cao dựa trên Điều 127 Bộ luật Dân
sự năm 2005 để đưa ra quyết định vô hiệu giao dịch dân sự do ông Hội xác lập là hợp lý,đảm bảo quyền lợi cho ông Hội
Câu 6: Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó có
bị vô hiệu không? Vì sao?
Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó không
bị vô hiệu Theo Điểm a Khoản 1 Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì giao dịch sẽ có
hiệu lực pháp lý khi “Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự” và Điểm a Khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì giao dịch sẽ có hiệu lực pháp lý khi
“chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập”, cụ thể, nếu chỉ nhận quyền sử dụng đất thì ông
3 (Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, Nxb Chính trị Quốc gia 2010
Trang 13Hội vẫn đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự để xác lập giao dịch.
Vì không phải tất cả giao dịch dân sự đều có mục đích, nội dung giống nhau và yêu cầu
về mức độ năng lực hành vi dân sự của các chủ thể trong giao dịch dân sự phụ thuộc vàotừng giao dịch cụ thể
Mặt khác, Khoản 2 Điều 125 BLDS 2015, giao dịch dân sự của người mất nănglực hành vi dân sự sẽ không bị vô hiệu trong trường hợp giao dịch chỉ làm phát sinhquyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người mất năng lực hành vi dân sự với người đãxác lập, thực hiện giao dịch với họ Trên cơ sở đó, giao dịch tặng cho ông Hội chỉ làmphát sinh thêm quyền sử dụng đất của ông nên giao dịch đó sẽ không bị vô hiệu
Khoản 2 Điều 125 BLDS 2015: Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên,người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành
vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện
“2 Giao dịch dân sự của người quy định tại khoản 1 Điều này không bị vô hiệu trong trường hợp sau đây:
a) Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;
b) Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;
c) Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.”
PHẦN III: GIAO DỊCH XÁC LẬP DO CÓ LỪA DỐI Tóm tắt Quyết định số: 521/2010/DS-GĐT ngày 19/08/2010 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao: Hợp đồng mua bán nhà giữa bên bán là ông Đô và bà Thu, bên mua là
bà Phố đã công chứng chứng thực, hoàn thành thủ tục sang tên đăng ký quyền sở hữu mang tên bà Phố nhưng vẫn còn lại 100 lượng vàng chưa thanh toán Ngày 19/05/2004,
mă Šc dù chưa có thỏa thuâ Šn với bà Phố, bà Thu (vợ của ông Đô) vànha Vinh (con của
bà Phố) thỏa thuâ Šn hoán nhượng nhà đất trị giá 100 lượng vàng và bà Phố không phải trả số tiền còn lại Tuy nhiên, tại thời điểm giao dịch, UBND đã ra quyết định về viê Šc thu hồi đất và giao đất xây dựng khu đô thị mới, Tòa án xét thấy anh Vinh và người liên quan gồm có ông Toàn, bà Vân (họ hàng anh Vinh) không thông báo cho ông Đô, bà Thu
về tình trạng nhà đất có sự gian dối Mà trong thỏa thuâ Šn hoán nhượng không có chữ kýcủa ông Đô nên giao dịch này vô hiê Šu Do đó Tòa ánquyết định hủy bản án phúc thẩm
và sơ thẩm để xét xử lại theo đúng quy định của pháp luâ Št