“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện quy định này đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được phép từ sáu tháng trở lên được sở hữu một nhà ởriêng lẻ hoặc một căn hộ” do đó
Trang 1Buổi thảo luận thứ hai: GIAO DỊCH DÂN SỰ
***************************
Lớp QTL46A1
Nhóm 1:
1 Nguyễn Ngọc Anh _ 2153401020013
2 Huỳnh Phạm Minh Châu _ 2153401020035
3 Nguyễn Thị Thùy Dung _ 2153401020055
Trang 2 Năng lực pháp luật dân sự của chủ thế trong xác lập giao dịch
+ Đến khi vợ chồng ông J Ph T và bà A Th Ph về nước yêu cầu bà L K Đ giao trả nhà
là 200m2 và đất vườn có diện tích 1.051,8m2
+ Sau đó, tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã thay đổi yêu cầu khởi kiện: yêu cầu bà
L K Đ phải trả lại cho nguyên đơn giá trị nhà và đất là 550.000.000 đồng
- Nhận định của Tòa án:
Xét thấy việc mua bán giữa nguyên đơn và bị đơn là có thật Tại bản tự khai ngày09/5/2018 và các lời trình bày của bị đơn trong các phiên tòa hòa giải bà cũng thừanhận là có nhận tiền của nguyên đơn và khi nào nguyên đơn về Việt Nam thì bà chonguyên đơn một nền thổ cư, bà cũng thừa nhận căn nhà cấp 4 gắn liền với phần đấttranh chấp là do bà xây dựng nhưng nguồn tiền là do phía nguyên đơn gửi về Tuynhiên giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004được lập giữa nguyên đơn và bị đơn xét về hình thức thì tờ cho đất thổ cư không tuânthủ theo quy định của pháp luật, không được công chứng chứng thực theo quy định tạiĐiều 127 của Luật hợp đồng Hơn nữa ông Ph J T và bà L Th H là người Việt Nam ởnước ngoài đã nhập quốc tịch Mỹ thì theo quy định Luật đất đai năm 2003 và Điều 121của Luật nhà ở năm 2005 thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền sở hữunhà ởViệt Nam khi thỏa mãn các điều kiện sau: “Người Việt Nam định cư ở nướcngoài về đầu tư lâu dài tại Việt Nam, người có công đóng góp với đất nước, nhà hoạtđộng văn hóa, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm
Trang 3phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước, người được phép về sống ổn định tại Việt Nam
và các đối tượng khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định được sở hữu nhà tạiViệt Nam” “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện quy định này đã
về Việt Nam cư trú với thời hạn được phép từ sáu tháng trở lên được sở hữu một nhà ởriêng lẻ hoặc một căn hộ” do đó ông T và bà H không được sở hữu quyền sử dụng đất
ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm tại Việt Nam vì vậy các giao dịch giấy cho nềnthổ cư ngày 31/5/2004 bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật và do không tuânthủ quy định về hình thức theo Điều 117, 123, 129 của Bộ luật dân sự và căn cứ theoĐiều 131 của Bộ luật dân sự thì các đương sự phải khôi phục lại tình trạng ban đầu,hoàn trả cho nhau những gì đã nhận
Nguyên đơn trình bày đã gửi tiền về cho bà Đ với số tiền 13.950 USD và bản thân bà
Đ cũng thừa nhận là đã nhận số tiền trên và số tiền này quy đổi ra tiền Việt Nam là329.220.000 đồng và bà đồng ý trả lại số tiền này cho nguyên đơn nhưng tại phiên tòađại diện bị đơn bà L K Đ tự nguyên trả cho nguyên đơn số tiền 350.000.000 đồng
- Quyết định: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
+ Vô hiệu giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004
và giấy cam kết ngày 16/3/2011 mà các bên đã xác lập do vi phạm điều cấm của phápluật
+ Buộc bà L K Đ hoàn trả cho ông J Ph (Ph J T) và bà A Th Ph (L Th H) số tiền350.000.000 đồng
- So với BLDS năm 2005, BLDS 2015 có gì khác về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự? Suy nghĩ của anh/chị về sự thay đổi trên.
Theo Bộ luật dân sự 2015:
Điều 122 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:
1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự
b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, khôngtrái đạo đức xã hội
c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện
2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợppháp luật có quy định
Trang 4- BLDS 2015:
Điều 117 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:
1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịchdân sự được xác lập
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, khôngtrái đạo đức xã hội
2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trongtrường hợp luật có quy định
- Những điểm thay đổi ở BLDS 2015 so với BLDS 2005:
+ Thay “người” trong BLDS 2005 thành “chủ thể” trong BLDS 2015
=> Chủ thể tham gia giao dịch dân sự có thể là cá nhân hoặc pháp nhân Sự thay đổinày đã mở rộng phạm vi tham gia giao dịch dân sự
+ BLDS 2015 có thêm quy định “phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập”
=> Yêu cầu về mức độ năng lực hành vi dân sự của chủ thể sẽ thay đổi ở mỗi giao dịchdân sự khác nhau, sự thay đổi này giúp điều luật trở nên rõ ràng hơn
+ BLDS 2015 có thêm điều kiện “năng lực pháp luật dân sự”
=> Quy định càng thêm cụ thể
+ BLDS 2005 quy định “không vi phạm điều cấm của pháp luật” còn BLDS 2015 thìquy định “không vi phạm điều cấm của luật”
=> “Pháp luật” có nội hàm rộng hơn so với “luật” Nên việc thay “pháp luật” thành
“luật” sẽ mở rộng phạm vi giao dịch cho các chủ thể tham gia Ở BLDS 2015, điềucấm được giới hạn bởi văn bản do Quốc hội ban hành (luật)
- Đoạn nào của bản án trên cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam?
Trang 5- Bản án cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam ở phần
“Nhận định của Tòa án”:
“[2] Xét về nội dung: Hơn nữa ông J Ph T và bà L Th H là người Việt Nam ở nướcngoài đã nhập quốc tịch Mỹ thì theo quy định Luật đất đai năm 2003 và Điều 121 củaLuật nhà ở năm 2005 thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền sở hữu nhà
ở Việt Nam khi thỏa mãn các điều kiện sau: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài vềđầu tư lâu dài tại Việt Nam, người có công đóng góp với đất nước, nhà hoạt động vănhóa, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ
sự nghiệp xây dựng đất nước, người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và cácđối tượng khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định được sở hữu nhà ở tại ViệtNam” “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện quy định này đã vềViệt Nam cư trú với thời hạn được phép từ sáu tháng trở lên được sở hữu một nhà ởriêng lẻ hoặc một căn hộ” do đó ông T và bà H không được sở hữu quyền sử dụng đất
ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm tại Việt Nam ”
- Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ đã bị Tòa án tuyên bố vô hiệu?
Giao dịch của ông T và bà H với bà Đ đã bị Tòa án tuyên bố vô hiệu ở phần “Quyếtđịnh”:
“Tuyên xử:
1 Chấp nhận một phần yêu cầu khởi của nguyên đơn
- Vô hiệu giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004
và giấy cam kết ngày 16/3/2011 mà các bên đã xác lập do vi phạm điều cấm của phápluật ”
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị (trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của chủ thể) vềcăn cứ để Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu?
- Trong phần “Nhận định của toà án” của bản án số 32/2018/DS-ST ngày 20-12-2018của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long có ghi: “ ông J Ph T và bà L Th H là người ViệtNam ở nước ngoài đã nhập quốc tịch Mỹ thì theo quy định Luật đất đai năm 2003 vàĐiều 121 của Luật nhà ở năm 2005 thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài đượcquyền sở hữu nhà ở Việt Nam khi thỏa mãn các điều kiện sau: “Người Việt Nam định
Trang 6nhà hoạt động văn hóa, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại ViệtNam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước, người được phép về sống ổn định tạiViệt Nam và các đối tượng khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định được sở hữunhà ở tại Việt Nam” “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện quyđịnh này đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được phép từ sáu tháng trở lên được sởhữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ” do đó ông T và bà H không được sở hữuquyền sử dụng đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm tại Việt Nam ”
=> Ông T và bà H không có quyền được sử dụng đất ở nông thôn và đất trồng cây lâunăm tại Việt Nam => Ông T và bà H không có năng lực mua bán quyền sử dụng đấttại Việt Nam
- Cụ thể:
+ BLDS 2005: “Điều 122 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:
1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự
b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, khôngtrái đạo đức xã hội ”
+ BLDS 2015: “Điều 117 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:
1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịchdân sự được xác lập ”
=> Không thể xác lập gia dịch dân sự
=> Căn cứ để Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu hoàn toàn hợp lý
Trang 7 Giao dịch xác lập bởi người không có khả năng nhận thức
và ngày 29/10/2010 ông Hội chết Nguyên đơn yêu cầu hủy giao dịch dân sự giữa ôngHội, bà Hương và ông Hùng vì cho rằng ông Hội không nhận thức được, từ đó xảy ratranh chấp
- Từ thời điểm nào ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức và từ thời điểm nào ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?
Theo quyết định 329/2013/DS-GĐT ngày 25/7/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhândân tối cao thì:
Thời điểm thực chất ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức: vào năm
2007 ông Hội bị tai biến năm liệt một chỗ không nhận thức được
Thời điểm ông Hội bị tòa tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự: từ ngày07/05/2010 bởi Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa vào ngày 10/08/2010
- Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau khi ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự?
Căn cứ vào quyết định 329/2013/DS-GĐT ngày 25/7/2013 của Tòa dân sự Tòa
án nhân dân tối cao thì ta có thể kết luận rằng giao dịch của ông Hội được xác lập trướckhi ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự Tuy nhiên, trên thực tếlúc này ông Hội đã mất đi năng lực hành vi dân sự
- Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội có vô hiệu không?
Trang 8Vì sao? Trên cơ sở quy định nào?
Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội bị vô hiệu
Ông Hội bị Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà tuyên bố mất năng lực hành vidân sự vào7/5/2010 và qua đời vào 10/8/2010 Việc tuyên bố ông Hội mất năng lựchành vi nhân sự là quá muộn khiến cho các giao dịch được thực hiện dù không có sựđồng ý của ông Hội Chị Đặng Thị Kim Ánh sau đó là người đại diện cho ông Hội vàthừa kế quyền, nghĩa vụ của ông Hội do đó chị có quyền khởi kiện, yêu cầu giao dịchcủa ông Hội là vô hiệu
Căn cứ theo:
Quy định tại Điều 130 và 133 Bộ luật dân sự 2005:
“Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sựhoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu củangười đại diện của người đó, Toà án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy địnhcủa pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện.”
“Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểmkhông nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên
bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.”
Quy định tại Khoản 1, Điều 125 BLDS 2015:
“Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự,người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lựchành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa
án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải dongười đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp quy định tạikhoản 2 Điều này.”
- Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hoàn cảnh của ông Hội không và Tòa án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà anh/chị biết.
Bản án số 01/2006/DSST ngày 21/02/2006 của Tòa án nhân dân huyện VănChấn tỉnh Yên Bái có tình tiết tương tự hoàn cảnh của ông Hội
Hướng giải quyết của Tòa án: Tuyên bố GDDS vô hiệu toàn bộ do vi phạm quyđịnh tại Điều 133 BLDS 2005 (giao dịch vô hiệu do người xác lập không nhận thức vàlàm chủ hành vi của mình)
Tóm tắt: Ngày 20/01/2004, ông Cường và bà Bình (vợ ông Cường) ký giấychuyển nhượng cho anh Thăng (con riêng của bà Bình) một bất động sản (BĐS) Đến
Trang 9ngày 10/08/2005, anh Hưng là con trai ông Cường và bà Chế (đã ly hôm năm 1979)mới đăng ký việc giám hộ cho ông Cường tại UBND xã Tại Biêm bản giám định pháp
y tâm thần số 147/GĐPY ngày 15/12/2005 có kết luận: ông Cường bị mắc bệnh “Loạnthần do sử dụng rượu” Thời điểm mắc bệnh là trước ngày 1/1/2004 với biểu hiện củachứng bệnh là mất hoàn toàn khả năng tư duy, khả năng hiểu biết và khả năng điềukhiển hành vi của mình Từ đó, Tòa án xác định: “Ông Cường được coi là mất hoàntoàn năng lực trách nhiệm, năng lực hành vi dân sự từ thời điểm trước ngày01/01/2004” Như vậy, hợp đồng được xác lập ngày 20/01/2004 nhưng sau ngày nàyông mới được Tòa án xác nhận mất năng lực hành vi dân sự Thêm vào đó, BĐS nàyđược coi là tài sản riêng của ông Cường nêm việc bà Bình tự ý định đoạt BĐS này làtrái với qui định của pháp luật về quyền sở hữu Vì vậy, hợp đồng giao dịch giữa ôngCường, bà Bình và anh Thăng là giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ do vi phạm Điều 133BLDS 2005 Cuối cùng, Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn đã ra quyết định hủy bỏ hợpđồng giao dịch đã xác lập giữa các bên; yêu cầu anh Hưng (người đại diện cho ôngCường) và bà Bình phải cùng chịu trách nhiệm hoàn trả lại toàn bộ số tiền từ anhThăng và chi phí khi anh Thăng đầu tư xây dựng công trình trên đất
- Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp lý khi đưa
ra hướng xử lý.
Theo em, hướng giải quyết của Toà án nhân dân tối cao: quyết định huỷ toàn bộbản án dân sự phúc thẩm số 35/2012/DSPT ngày 10/07/2012 của Toà án nhân dân tỉnhPhú Yên và bản án dân sự sơ thẩm số 98/2011/DSST ngày 22/12/2011 của Toà ánnhân dân tỉnh Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thànhphố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật là hợp lý
Căn cứ vào:
Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015: Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:
1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giaodịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật,không trái đạo đức xã hội
Trang 102 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trongtrường hợp luật có quy định.
Việc chuyển nhượng phần đất này là giao dịch hợp đồng nên phải có sự thỏa thuậngiữa các bên, nhưng ông Hội đã bị tai biến nằm liệt một chỗ không nhận thức được từnăm 2007 khi thực hiện giao dịch, vì thế mà giao dịch do ông và vợ thực hiện bị vôhiệu
Ngoài ra, bà Hương đã bán căn nhà gắn liền với mảnh đất có diện tích 167,3m2 choông Hùng Tuy nhiên, theo biên bản giám định 30/6/2001 của Toà án nhân dân thànhphố Tuy Hoà xác định ngoài diện tích mà bà Hương đã được cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất thì còn có 43,7m2 đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất nên hợp đồng mua bán giữa bà Hương và ông Hùng bị vô hiệu
- Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó có bị
vô hiệu không? Vì sao?
Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đókhông bị vô hiệu ngay cả khi ông Hội bị mất năng lực hành vi dân sự
Căn cứ vào:
Khoản 2 Điều 125 BLDS 2005: “Trong trường hợp điều kiện làm phát sinh hoặchủy bỏ giao dịch dân sự không thể xảy ra được do hành vi cố ý cản trở của một bênhoặc của người thứ ba thì coi như điều kiện đó đã xảy ra; nếu có sự tác động của mộtbên hoặc của người thứ ba cố ý thúc đẩy cho điều kiện để làm phát sinh hoặc hủy bỏgiao dịch dân sự xảy ra thì coi như điều kiện đó không xảy ra.”
Khoản 2 Điều 125 BLDS 2015: “Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉmiễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự,người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ”
Việc xác lập giao dịch không làm hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp của ông
mà chỉ phát sinh thêm quyền và lợi ích của ông Hội
Trang 11 Giao dịch xác lập do có lừa dối
Tóm tắt bản án:
1 Quyết định số 521/2010/DS-GĐT ngày 19/08/2010
- Nguyên đơn : Nguyễn Danh Đô, Phạm Thị Thu
Bị đơn : Trần Thị Phố (Trần Thị Phú), Nguyễn Thế Vinh
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan : Trần Bá Toàn, Trần Thị Phú
Vân
- Ông Nguyễn Danh Đô và bà Phạm Thị Thu bán căn nhà cho bà Trần Thị Phố(Trần Thị Phú), đã hoàn thành thủ tục sang tên chứng thực với giá 330 lượngvàng Bà Phố đã đưa 230 lượng vàng cho bên bán, tuy nhiên sau đó con trai bàPhố anh Nguyễn Thế Vinh lại thỏa thuận riêng với vợ chồng bà Thu, thay vì đưa
100 lượng vàng còn lại anh sẽ hoán nhượng cho bà Thu sở hữu, sử dụng ½ diệntích nhà, đất khác thuộc sở hữu của anh Nhưng nhà và đất đó trước đó đã cóQuyết định giải tỏa đền bù nhưng anh Vinh và họ hàng của anh có biết lại khôngnói cho vợ chồng bà Thu, có ý định lừa đảo
- Quyết định : Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 810/2008/DS-PT ngày 29/7/2008
của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và hủy bản án dân sự sơ thẩm số15/2008/DS-PT ngày 10 đến ngày 14/01/2008 của Tòa án nhân dân quận GòVấp về vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà” của các nguyên đơn và bịđơn nêu trên Giao vụ án cho Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm lạitheo đúng quy định của pháp luật
2 Quyết định số 210/2013/DS-GĐT ngày 21/05/2013
- Nguyên đơn: Châu Thị Nhất
Bị đơn: Nguyễn Văn Dưỡng
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Võ Thị Hậu, Võ Văn Dũng, Võ
Văn Tân, Võ Minh Thi, Châu Ngọc Diễm, Võ Minh Tiến, Huỳnh Thị HồngTươi; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Theo đơn kiện ngày 13/12/2010, bà Châu Thị Nhất cho biết tài sản chung củahai vợ chồng bà là 5 lô đất Trong thời gian bà đi xuất khẩu lao động Đài Loan
từ 10/2001 đến 4/2004, ông Dưỡng đã giả mạo chữ ký của bà Nhất để bán thửa
Trang 12đất đứng tên bà (Lô đất số 2) cho ông Võ Minh Thi vào tháng 2/2003 Và đến8/2007 bà và ông Dưỡng ly hôn bà mới biết sự việc trên Đến nay bà yêu cầuhủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà với ông Thi vì bàkhông ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng
- Tại tòa giám đốc thẩm, Tòa án nhân dân tối cao quyết định: chấp nhận Khángnghị số 27/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 27/03/2013; hủy toàn bộ Bản án dân sự phúcthẩm số 199/2012/DSPT ngày 19/9/2012 và hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm
số 14/2012/DS-ST ngày 18/4/2012; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dânhuyện Hòn Đất, Kiên Giang xử sơ thẩm lại vụ án
- Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu do có lừa dối theo BLDS
2005 và BLDS 2015
Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu do có lừa dối theo:
+ BLDS 2005: Điều 132 Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc
bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ banhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nộidung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó
+ BLDS 2015: Điều 127 Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc
bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ banhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nộidung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó
Điều 132 mục 1 phần B Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vôhiệu quy định tại các Điều 125, 126, 127, 128 và 129 của Bộ luật này là 02 năm,
kể từ ngày: Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xáclập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối
- Đoạn nào của Quyết định số 521 cho thấy thỏa thuận hoán nhượng đã bị tuyên
vô hiệu do có lừa dối?
Đoạn “Việc anh Vinh và người có liên quan… áp dụng Điều 132 BLDS để giải