BTL TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT ⸺⸺ TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN Đề tài VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀ PHÁT TRIỂN ĐỂ ĐÁNH GIÁ CUỘC ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ- LUẬT
⸺⸺
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
Đề tài: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀ PHÁT TRIỂN
ĐỂ ĐÁNH GIÁ CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG ĐẠI DỊCH COVID Ở VIỆT NAM
Mã học phần: 212TR0415 - Nhóm: 10 Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Kim Chung
TP Hồ Chí Minh, tháng 05 năm 2022
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN
Thông tin nhóm trưởng:
- Tên: Trương Mạnh Bảo
Lời mở đầu + Nộidung Chương I –Phần 2
Trang 3Nhận xét của GV:
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
GIẢNG VIÊN
(Ký, ghi rõ họ tên)
NHÓM TRƯỞNG
(Ký, ghi rõ họ tên)
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 5
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG I: QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀ QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN 7
1 QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN 7
1.1 Khái niệm 7
1.2 Nguồn gốc 7
1.3 Cơ sở lý luận 8
1.4 Nội dung 9
1.5 Ý nghĩa phương pháp luận 10
2 QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN 11
2.1 Khái niệm 11
2.2 Nguồn gốc 11
2.3 Cơ sở lý luận 12
2.4 Nội dung 13
2.5 Ý nghĩa phương pháp luận 14
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀ PHÁT TRIỂN ĐỂ ĐÁNH GIÁ CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG ĐẠI DỊCH COVID Ở VIỆT NAM 16
1 BỐI CẢNH 16
1.1 Vi-rút SARS-CoV-2 và bệnh COVID-19 16
1.2 Diễn biến, tình hình dịch bệnh 17
1.3 Tác động của COVID-19 đến các khía cạnh khác nhau của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng 24
1.4 Việt Nam và chiến lược “Zero COVID” 31
2 ĐÁNH GIÁ CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG ĐẠI DỊCH COVID-19 Ở VIỆT NAM 33
2.1 Những kết quả đạt được 33
2.2 Hạn chế 34
2.3 Hướng khắc phục 36
KẾT LUẬN 37
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Ngày 11/03/2020, Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế thế giới (WHO) - TedrosAdhanom Ghebreyesus đã chính thức tuyên bố dịch viêm đường hô hấp cấpCOVID-19 là đại dịch toàn cầu, sau khi chứng kiến sự lây lan dữ dội của virusSARS-CoV-2 trên diện rộng trong khoảng thời gian ngắn Đến nay, nhờ những
nỗ lực kiểm soát dịch COVID-19 ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là nhữngtiến bộ trong việc bao phủ vaccine, chúng ta đã và đang nhận được những tínhiệu tích cực về một cuộc sống bình thường mới, khi các nước đang từng bướcphục hồi nền kinh tế, tiến đến mở cửa toàn cầu
Trong 2 năm qua, dịch bệnh lây lan ở gần 200 quốc gia, đạt đỉnh điểm ở cácnước như Mỹ, Ấn Độ, Anh, Brazil, Đức, Pháp, Ý…, dù không ít lần lắng xuốngnhưng sau đó lại nhanh chóng bùng phát trở lại với những điểm nóng mới, cùngnhững biến thể virus khác nhau Tại Việt Nam, vào khoảng đầu năm 2020, bảntin đầu tiên của Bộ Y tế tuyên truyền về dịch bệnh COVID-19 cũng bị xem nhẹ
do chẳng ai ngờ đến sự nguy hiểm mà nó có thể gây ra Tuy nhiên, nhờ vào tầmnhìn xa và nhận thức đúng đắn đối với dịch bệnh COVID-19 mà Nhà nước ta đãsớm đề ra những chính sách ngăn chặn và phòng ngừa phù hợp
Trong bối cảnh chưa từng có tiền lệ ứng phó với đại dịch COVID-19, Chínhphủ và Nhà nước ta luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân và đấtnước, nắm chắc tình hình, quyết liệt, sáng tạo trong điều hành, huy động sự vàocuộc của cả hệ thống chính trị và nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp, quyếttâm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Đồng thời, Đảng và Chínhphủ cũng đã đưa ra những chính sách, chỉ thị nhằm hạn chế và đẩy lùi các đợtdịch ở nước ta một cách nhanh chóng và hiệu quả
Trang 6Để hiểu rõ hơn về quan điểm toàn diện và phát triển cũng như có đượcnhững nhìn nhận về những quyết định, những chính sách của Đảng và Chínhphủ đối với đại dịch COVID-19, nhóm chúng em sẽ thực hiện đề tài “Vận dụngquan điểm toàn diện và phát triển để đánh giá cuộc đấu tranh chống đại dịchCovid ở Việt Nam” Chúng em xin cảm ơn cô đã dành thời gian quý báu để đọc
và đánh giá bài tiểu luận Triết học Mác – Lênin của nhóm ạ
Mục đích nghiên cứu: Đề tài nhằm khái quát lại về quan điểm toàn diện và
phát triển cũng như vận dụng những quan điểm ấy để có được những nhìn nhận
về những quyết định, những chính sách của Đảng và Chính phủ trong đại dịchCovid
Phương pháp nghiên cứu: Để hoàn thành tốt bài tiểu luận và đạt được mục
đích nghiên cứu đề tài, chúng ta cần phải nghiên cứu những vấn đề lý luận vàthực tiễn của đề tài, cụ thể như sau:
a) Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
b) Phương pháp nghiên cứu định tính
c) Phương pháp quan sát khoa học
d) Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm
Kết cấu đề tài: Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2
chương, 17 tiểu tiết
Trang 7NỘI DUNG CHƯƠNG I: QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀ QUAN ĐIỂM
sự vật, hiện tượng chúng ta phải xem xét sự tồn tại của nó trong mối liên hệ qualại giữa các bộ phận, yếu tố, thuộc tính khác nhau trong tính chỉnh thể của sựvật, hiện tượng ấy và trong mối liên hệ qua lại giữa sự vật, hiện tượng đó với sựvật hiện tượng khác; tránh cách xem xét phiến diện, một chiều Nguyên tắc toàndiện đòi hỏi phải xem xét: đánh giá từng mặt, từng mối liên hệ, và phải nắmđược đâu là mối liên hệ chủ yếu, bản chất quy định sự vận động, phát triển của
sự vật, hiện tượng; tránh chủ nghĩa chiết trung, kết hợp vô nguyên tắc các mốiliên hệ; tránh sai lầm của thuật ngụy biện, coi cái cơ bản thành cái không cơ bản,không bản chất thành bản chất hoặc ngược lại, dẫn đến sự nhận thức sai lệch,xuyên tạc bản chất sự vật, hiện tượng
Nguyên tắc toàn diện là một phần của nguyên lý mối quan hệ phổ biếnnên cũng có những tính chất của nguyên lý này là khách quan và phổ biến
1.2 Nguồn gốc
Trang 8Điều này xuất phát từ mối liên hệ nằm trong nguyên lý phổ biến của cáchiện tượng, sự vật trên thế giới Với các tính chất trong tác động và phản ánh kếtquả khác nhau Bởi phải có quan điểm toàn diện vì bất cứ mối quan hệ nào cũngtồn tại sự vật, sự việc Không có bất cứ sự vật nào tồn tại một cách riêng biệt,hay chỉ chịu tác động từ duy nhất một yếu tố Có khả năng tồn tại cô lập, độc lậpvới các sự vật khác Tính chất trong những ảnh hưởng từ chủ quan và kháchquan là rất đa dạng Nghiên cứu và phân tích cho thấy rằng, nếu muốn đánh giáchủ thể một cách hiệu quả nhất, cần nhìn nhận vào toàn diện và bày tỏ quanđiểm.
Các mối liên hệ có tính khách quan, phổ biến và đa dạng, chúng giữnhững vai trò khác nhau quy định sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng.Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, không nên tuyệt đối hóa mốiliên hệ nào và cũng không nên tách rời mối liên hệ này ra khỏi các mối liên hệkhác bởi trên thực tế các mối liên hệ còn phải được nghiên cứu cụ thể trong sựbiến đổi và sự phát triển của chúng
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến khái quát bức tranh toàn cảnh về thếgiới trong mối liên hệ chằng chịt giữa các sự vật hiện tượng của nó Tính vô hạncủa thế giới khách quan, tính có hạn của sự vật hiện tượng trong thế giới đó chỉ
có thể giải thích được trong mối liên hệ phổ biến và được quy định bằng nhiều
Trang 9mối liên hệ có hình thức, vai trò khác nhau Từ nguyên lý về mối liên hệ phổbiến, con người rút ra được những quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo hoạt độngnhận thức và hoạt động thực tiễn.
1.4 Nội dung
Khi chúng ta phân tích bất cứ một đối tượng nào, việc thực hiện xác địnhtiêu chí là cần thiết Trong xác định những mục tiêu cần xác định trên đối tượng.Mục tiêu đặt ra càng nhiều thì các tính chất cần đánh giá càng lớn Từ đó màngười tiến hành có những hiểu biết đối với bản chất của đối tượng Khi nhìnnhận trên khía cạnh nào, họ cũng có thể cho ra những đánh giá Tính chất toàndiện được phản ánh
Chúng ta cần vận dụng lý thuyết một cách hệ thống, khi thực hiện trên cácđối tượng khác nhau Tùy thuộc vào đối tượng và tính chất của nó mà cách tiếpcận trên những phương diện cụ thể Cũng như sự áp dụng linh hoạt, sáng tạo vàkhông dập khuôn Phải biết điều chỉnh các mức độ và yếu tố tác động hợp lý đểtìm kiếm hiệu quả tốt nhất Tức là: xem xét nó được cấu thành nên từ những yếu
tố, những bộ phận nào với những mối quan hệ ràng buộc và tương tác ra sao.Thực hiện các phân tích để hiểu rõ về cơ chế hay những mối liên hệ giữa nhữngkết quả phản ánh Từ đó có thể phát hiện ra thuộc tính chung của hệ thống vốnkhông có ở mỗi yếu tố
Mặt khác khi nhìn nhận toàn diện, phải xem xét cả mối quan hệ của sự vậtvới các yếu tố xung quanh Trong tính chất tác động hay ảnh hưởng lẫn nhaugiữa các yếu tố Điều này cũng làm cho hướng tiếp cận được thể hiện hiệu quảhơn khi đánh giá toàn diện các phản ánh từ sự vật Xem xét sự vật ấy trong tính
Trang 10các yếu tố tạo thành môi trường vận động, phát triển của nó… Tạo ra sự toàndiện từ nhìn nhận bên trong đến các tác động bên ngoài.
Trong hoạt động nhận thức, thực tiễn cần thiết thực hiện các nhận thứctoàn diện Vừa mang đến những hiểu biết rõ bản chất của đối tượng Vừa hạnchế được cái nhìn hay tác động phiến diện có thể gây ra trên sự vật Sự nhìnnhận này khiến cho hiệu quả trong công tác đánh giá hay nhận thức không mangđến hiệu quả Đôi khi còn mang đến cái nhìn sai lệch và tiêu cực Cần thiết thựchiện việc quan sát và tìm hiểu tổng thể trong phản ánh của đối tượng Mang đếnnhững hình dung và xâu chuỗi cho các đặc tính tồn tại bên trong sản phẩm cũngnhư thực hiện với quan sát các mối quan hệ hay tác động bên ngoài của nó qualại với những nhân tố khác Việc thực hiện nhìn nhận và đưa ra quan điểm hiệuquả giúp cho các yêu cầu trong mục tiêu phân tích được phản ánh
Theo quan điểm toàn diện, con người cần nhận thức sự vật qua mối quan
hệ qua lại Chỉ có như vậy mới mang đến những phản ánh cho hiểu biết về sựvật Tính nhiều chiều và phân tích càng cụ thể, có thể mang đến những nhìnnhận đầy đủ và hiệu quả nhất Việc am hiểu về đối tượng mới mang đến các tínhtoán và tác động hiệu quả lên đối tượng đó
1.5 Ý nghĩa phương pháp luận
Để cải tạo một sự vật, hiện tượng, để hoàn thành nhiệm vụ đặt ra tronghoạt động thực tiễn, đòi hỏi một hệ thống các biện pháp nhất định Nếu thiếutính toàn diện trong các chủ trương biện pháp thì sẽ không đạt được hiệu quảnhư mong muốn Song toàn diện đồng bộ, không phải cái gì cũng đặt ra mộtcách đều tràn lan, mà đòi hỏi trong mỗi một thời kỳ, mỗi một giai đoạn phải cónhững chủ trương, những biện pháp mang tính trọng tâm, trọng điểm, phải xácđịnh được những khẩu then chốt tập trung giải quyết để làm cơ sở cho nhữngchủ trương biện pháp khác một cách đồng bộ.
Trang 11Trong thế giới khách quan mọi sự vật, hiện tượng đều có rất nhiều mốiliên hệ Vì vậy cần phải xem xét một mặt hoặc một vài mặt mà đã vội kết luậnngay vấn đề, như vậy sẽ không chính xác Các quan hệ lợi ích thường thấy lợiích trước mắt mà không thấy được cái lợi ích lâu dài.
Chống lại chủ nghĩa chiết trung và thuật ngụy biện (Chủ nghĩa chiết trungnhân danh toàn diện để kết hợp một cách vô nguyên tắc những cái hết sức khácnhau thành một hình ảnh không đúng về sự vật Thuật ngụy biện thì lại lập luậnchủ quan, lấy thứ yêu thay cho chủ yếu, lấy cái không cơ bản thay cho cái cơbản… nhằm xuyên tạc biện chứng của sự vật)
2 2 QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN
2.1 Khái niệm
Phát triển là quá trình vận động đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiệnđến hoàn thiện hơn; nguồn gốc của sự phát triển là mâu thuẫn giữa các mặt đốilập bên trong sự vật, hiện tượng và giải quyết mâu thuẫn đó là động lực của sựphát triển; phát triển vừa diễn ra dần dần, vừa nhảy vọt đi theo đường xoáy ốc,dường như lặp lại sự vật, hiện tượng cũ nhưng trên cơ sở cao hơn; thể hiện tínhquanh co, phức tạp, có thể có những bước thụt lùi tương đối trong sự phát triển
Tính chất của sự phát triển: Phát triển có tính khách quan; tính phổ biến;tính kế thừa và tính đa dạng, phong phú Các tính chất đó của sự phát triển phảnánh tính chất của các sự vật, hiện tượng trong thế giới đa dạng
2.2 Nguồn gốc
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin thì nguồn gốc của sự phát triển xuất phát từ
“Mâu thuẫn” Quá trình để dẫn đến phát triển là sự vận động của các sự vật, hiệntượng, mà mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động
Trang 12Từ xưa đến nay, Mỗi mâu thuẫn bao hàm sự thống nhất và đấu tranh giữacác mặt đối lập, làm cho sự vật hiện tượng không thể giữ nguyên trạng thái cũ.Đến một thời điểm nhất định, những mâu thuẫn cũ mất đi thì những mâu thuẫnmới sẽ được hình thành, những sự vật và hiện tượng cũ cũng từ đó mà được thaythế bằng những sự vật, hiện tượng mới Từ mâu thuẫn dẫn đến đấu tranh, sự đấutranh giữa các mặt đối lập chính là nguồn gốc vận động và phát triển của sự vật
và hiện tượng trong xã hội
2.3 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển là nội dung nguyên lý về sự pháttriển Vận động là thuộc tính cố hữu, là phương thức tồn tại của vật chất; vậnđộng được hiểu như sự thay đổi nói chung “Vận động hiểu theo nghĩa chungnhất, tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cốhữu của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ratrong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”
Phát triển là khuynh hướng vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giảnđến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, do mâu thuẫn trong bảnthân sự vật gây ra Phát triển là một khuynh hướng vận động tổng hợp của hệthống sự vật, trong đó, sự vận động có thay đổi những quy định về chất (thay đổikết cấu – tổ chức) của hệ thống sự vật theo khuynh hướng tiến bộ giữ vai trò chủđạo; còn sự vận động có thay đổi những quy định về chất của sự vật theo xuhướng thoái bộ và sự vận động chỉ có thay đổi những quy định về lượng của sựvật theo xu hướng ổn định giữ vai trò phụ đạo, cần thiết cho xu hướng chủ đạotrên
“Hai quan điểm cơ bản về sự phát triển (sự tiến hóa): sự phát triển coi như
là giảm đi và tăng lên, như lập lại; và sự phát triển coi như sự thống nhất của cácmặt đối lập Quan điểm thứ nhất thì chết cứng, nghèo nàn, khô khan Quan điểmthứ hai là sinh động Chỉ có quan điểm thứ 2 mới cho ta chìa khóa của “sự vận
Trang 13động”, của tất thảy mọi cái “đang tồn tại”; chỉ có nó mới cho ta chìa khóa củanhững “bước nhảy vọt”, của “sự gián đoạn của tính tiệm tiến”, của “sự chuyểnhóa thành mặt đối lập”, của sự tiêu diệt cái cũ và sự nảy sinh ra cái mới”.
Phát triển như sự chuyển hóa: giữa các mặt đối lập; giữa chất và lượng;giữa cái cũ và cái mới; giữa cái riêng và cái chung; giữa nguyên nhân và kếtquả; giữa nội dung và hình thức; giữa bản chất và hiện tượng; giữa tất nhiên vàngẫu nhiên; giữa khả năng và hiện thực Phát triển là quá trình tự thân của thếgiới vật chất, mang tính khách quan, phổ biến và đa dạng: phát triển trong giới
tự nhiên vô sinh; phát triển trong giới tự nhiên hữu sinh; phát triển trong xã hội;phát triển trong tư duy, tinh thần
2.4 Nội dung
Nguyên tắc phát triển (quan điểm phát triển) yêu cầu: Khi xem xét sự vật,hiện tượng, phải đặt nó trong trạng thái vận động, biến đổi, chuyển hoá đểkhông chỉ nhận thức sự vật, hiện tượng trong trạng thái hiện tại, mà còn phảithấy được khuynh hướng phát triển của nó trong tương lai Cần chỉ ra nguồn gốccủa sự phát triển là mâu thuẫn, còn động lực của sự phát triển là đấu tranh giữacác mặt đối lập trong sự vật, hiện tượng đó
Nguyên tắc phát triển yêu cầu: Phải nhận thức sự phát triển là quá trìnhtrải qua nhiều giai đoạn, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoànthiện đến hoàn thiện hơn Mỗi giai đoạn phát triển lại có những đặc điểm, tínhchất, hình thức khác nhau; bởi vậy, phải phân tích cụ thể để tìm ra những hìnhthức hoạt động, phương pháp tác động phù hợp để hoặc, thúc đẩy, hoặc kìm hãm
sự phát triển đó
Nguyên tắc phát triển đòi hỏi trong hoạt động nhận thức và hoạt độngthực tiễn phải nhạy cảm với cái mới, sớm phát hiện ra cái mới, ủng hộ cái mớihợp quy luật, tạo điều kiện cho cái mới phát triển; phải chống lại quan điểm bảo
Trang 14thủ, trì trệ, định kiến v.v Sự thay thế cái cũ bằng cái mới diễn ra rất phức tạp,nhiều khi cái mới hợp quy luật chịu thất bại tạm thời, tạo nên con đường pháttriển không thẳng mà quanh co, phức tạp; tránh lạc quan và bi quan thái quátrong quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng.
Trong quá trình thay thế cái cũ bằng cái mới phải biết kế thừa những yếu
tố tích cực đã đạt được từ cái cũ mà phát triển sáng tạo chúng trong điều kiệnmới
2.5 Ý nghĩa phương pháp luận
Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận khoa học để định hướng việcnhận thức thế giới và cải tạo thế giới Theo nguyên lý này, trong mọi nhận thức
và thực tiễn cần phải có quan điểm phát triển Theo V.I Lênin, “… Logic biệnchứng đòi hỏi phải xét sự vật trong sự phát triển, trong “sự tự vận động” …,trong sự biến đổi của nó” Quan điểm phát triển đòi hỏi phải khắc phục tư tưởngbảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lập với sự phát triển
Nguyên lý về sự phát triển chính là cơ sở lý luận khoa học để có thể địnhhướng được việc nhận thức thế giới và cải tạo thế giới Theo như nguyên lý nàythì trong mọi nhận thức và trong thực tiễn cần phải có quan điểm về sự pháttriển Để có thể phát triển được thì cần phải khắc phục được những tư tưởng bảothủ, trì trệ, lạc hậu, định kiến, đối lập với sự phát triển
Nguyên lý về sự phát triển cho thấy trong hoạt động nhận thức và tronghoạt động thực tiễn của con người cần phải tôn trọng quan điểm phát triển pháttriển Quan điểm này đòi hỏi khi nhận thức cũng như khi giải quyết một vấn đềnào đó thì con người cần phải đặt chúng ở trạng thái động và nằm trong khuynhhướng chung của sự phát triển Để nhận thức và giải quyết được bất cứ nhữngvấn đề gì trong thực tiễn thì một mặt cần phải đặt sự vật theo khuynh hướng đi
Trang 15lên của nó Phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp trong quá trình pháttriển (tức là phải có quan điểm lịch sự cụ thể trong nhận thức và giải quyết cácvấn đề của thực tiễn, phù hợp với tính chất phong phú, đa dạng phức tạp củanó) Trên cơ sở này tìm ra phương pháp nhận thức và những cách tác động phùhợp nhằm thúc đẩy sự vật tiến triển nhanh hơn hoặc là kìm hãm sự phát triển của
nó tùy thuộc vào sự phát triển đó có lợi hay là có hại đối với đời sống của conngười
Vận dụng quan điểm phát triển vào hoạt động thực tiễn nhằm mục đíchthúc đẩy các sự vật phát triển theo đúng như quy luật vốn có của nó đòi hỏichúng ta cần phải tìm ra được những mâu thuẫn của sự vật qua hoạt động thựctiễn từ đó giải quyết được mâu thuẫn và tìm ra được sự phát triển Phải khắcphục từ tư tưởng bảo thủ, định kiến, trì trệ, Phải đặt sự vật, hiện tượng theokhuynh hướng đi lên Quan điểm phát triển góp phần khắc phục tư tưởng bảothủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, góp phầnđịnh hướng, chỉ đạo và cải tạo chính bản thân con người
Từ đó có thể rút ra được những bài học về sự phát triển như sau:
Thứ nhất, cần tích cực, chủ động nghiên cứu tìm ra được những mâu
thuẫn trong mỗi sự vật, sự việc, hiện tượng để từ đó xác định được định hướngphát triển và những biện pháp giải quyết phù hợp
Thứ hai, khi xem xét các sự vật, hiện tượng thì cần đặt sự vật hiện tượng
đó trong sự vận động và phát triển Bởi sự vật không chỉ như là cái mà nó đang
có, đang hiện hữu trước mắt mà còn cần phải nắm được và hiểu rõ được khuynhhướng phát triển, khả năng chuyển hóa của nó
Thứ ba, cần phải có sự nhìn nhận, đánh giá khách quan đối với sự vật hiện
tượng, không được dao động trước những quanh co, những phức tạp của sự pháttriển ở trong thực tiễn
Trang 16Kế thừa những thuộc tính, những bộ phận còn hợp lý của cái cũ nhưngđồng thời cũng phải kiên quyết loại quả những cái đã quá lạc hậu cản trở và gâyảnh hưởng đến sự phát triển Vì trong phát triển có sự kế thừa do đó cần phảichủ động phát hiện, cổ vũ những cái mới, cái phù hợp từ đó có thể tìm cách thúcđẩy để phát triển cái mới, để cái mới chiếm đóng vai trò chủ đạo.
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀ PHÁT TRIỂN ĐỂ ĐÁNH GIÁ CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG ĐẠI
DỊCH COVID Ở VIỆT NAM
1 BỐI CẢNH
1.1 Vi-rút SARS-CoV-2 và bệnh COVID-19
Vi-rút SARS-CoV-2 là vi-rút gây ra đại dịch COVID-19 Nó là một phầncủa họ vi-rút corona, bao gồm các loại vi-rút phổ biến gây ra nhiều loại bệnh từcảm thông thường hoặc viêm phế quản đến các bệnh nghiêm trọng hơn Giốngnhư nhiều loại vi-rút đường hô hấp khác, vi-rút corona lây lan nhanh chóng quacác giọt nhỏ mà bạn bắn ra khỏi miệng hoặc mũi khi bạn thở, ho, hắt hơi hoặcnói Từ corona có nghĩa là vương miện và cũng tượng trưng cho các protein hìnhgai nhọn nhô ra từ chúng Trên thực tế, những protein gai này có thể gắn lên trựctiếp các tế bào của cơ thể người và gây nhiễm vi-rút Vậy nên, các nhà khoa họccũng bám vào việc nghiên cứu chúng để tìm ra cách kháng thể
Tùy thuộc vào thuộc tính mà tốc độ lây lan của vi-rút, mức độ nghiêmtrọng của bệnh tật mà hoặc hiệu quả của các phương pháp điều trị cũng sẽ khácnhau Các nhà khoa học gọi những thay đổi này là "biến thể" của virus SARS-CoV-2
COVID-19 thường gây ra các triệu chứng hô hấp, có thể cảm thấy giốngnhư cảm lạnh, cúm hoặc viêm phổi Nó có thể tấn công không chỉ phổi và hệ hôhấp mà các bộ phận khác của cơ thể người bệnh cũng có thể bị ảnh hưởng Hầu
Trang 17hết những người bị COVID-19 có các triệu chứng nhẹ, nhưng những người caotuổi hoặc người có các bệnh lý nền có nguy cơ cao mắc bệnh nghiêm trọng docăn bệnh này gây ra Cho đến nay, không có phương pháp điều trị nào đặc hiệunào với coronavirus ở người, vì vậy các phương pháp điều trị chỉ mang tính hỗtrợ Phòng bệnh hơn chữa bệnh, cần giảm lây truyền coronavirus bằng cách thựchiện nghiêm chỉnh nguyên tắc 5K và tiêm vắc-xin ngừa COVID-19.
1.2 Diễn biến, tình hình dịch bệnh
1.1.1 Dịch bệnh COVID-19 trên thế giới
Ngày 08/12/2019, Trung Quốc phát hiện ca nhiễm Covid-19 đầu tiên Chỉsau đó hơn 3 tháng, ở gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ đã có đến 735.000 canhiễm, với hơn 34.000 người tử vong
Trải qua hơn 2 năm, trên thế giới đã xuất hiện tổng cộng 5 biến thể “đáng
lo ngại” là: Alpha (B.1.1.7) lần đầu được phát hiện ở Anh (tháng 12/2020); Beta
(B.1.351) lần đầu được phát hiện ở Nam Phi (tháng 12/2020); Gamma (P.1)
được xác định ở Brazil (tháng 1/2021); Delta (B.1.617.2) được ghi nhận lần đầu
ở Ấn Độ (bùng phát trên thế giới từ tháng 4/2021); gần đây nhất là Omicron
(B.1.1.529) được phát hiện ở Nam Phi (tháng 11/2021) Và hiện nay, cái tên
Omicron được nhắc đến ngày càng nhiều bởi nó đang là biến thể chủ đạo với tốc
độ lây lan nhanh đến chóng mặt
Như biểu đồ dưới đây, nhìn chung, từ cuối năm 2021, số ca nhiễm
Covid-19 đã tăng vọt ở một số quốc gia lớn như Pháp, Anh, Đức, Mỹ Và cho đến hiệntại thì Pháp đang là quốc gia dẫn đầu về số ca nhiễm trong ngày.
Trang 18(Nguồn: https://ourworldindata.org)
Bên cạnh đó, mức độ tử vong tại một số nước cũng tăng cao qua từng giaiđoạn Đến hiện tại, Hòa Kỳ là nước có số ca tử vong cao nhất thế giới, với tổngcộng hơn 982 nghìn trường hợp và trung bình có thêm 1 - 2 nghìn ca tử vongmới mỗi ngày
Trang 19Giai đoạn 1: Từ 22/01/2022 đến 22/07/2022
Tình hình: Cả nước ghi nhận 415 ca Covid (309 F0 trong nước và 106 F0
nhập cảnh), không có bệnh nhân tử vong 2 ca bệnh đầu tiên là cha con ngườiTrung Quốc, nhập cảnh từ thành phố Vũ Hán (Trung Quốc) vào Việt Nam Sau
đó, nước ta phát hiện ổ dịch tại cộng đồng với 6 F0 là người thân, họ hàng tronggia đình trên địa bàn xã Sơn Lôi, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, có tiếp xúcgần bệnh nhân là công nhân về từ Vũ Hán Các ổ dịch tiếp theo được ghi nhận
Trang 20tại quán Bar Buddha (TP.HCM), Hạ Lôi (Mê Linh, Hà Nội) và Bệnh viện BạchMai (Hà Nội).
Hướng giải pháp: Từ những đợt bùng dịch như SARS (2002) đã gây ra
những hậu quả nặng nề trước đó Đứng trước nguy cơ bùng phát dịch bệnh Đảng
và nhà nước đã chủ trương dập dịch khoanh vùng những nơi có tiếp xúc F0 cónguy cơ lây lan trong cộng đồng Cụ thể:
Ngày 21 tháng 03, Việt Nam tạm ngừng nhập cảnh khách nước ngoài.
Từ 0h ngày 01 tháng 04 năm 2020, cách ly xã hội trên phạm vi cả nướctrong vòng 15 ngày để phòng chống COVID-19
Ngày 15 tháng 04, việc cách ly xã hội gia hạn với Hà Nội, Thành phố Hồ
Chí Minh và 1 số tỉnh thành "có nguy cơ cao"
Từ ngày 23 tháng 04, cả nước "cơ bản" dừng cách ly xã hội nhưng vẫn tiếp
tục đảm bảo các quy tắc phòng chống dịch
Ngày 25 tháng 4, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc ban hành chỉ
thị 19 nhằm tiếp tục các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 trong tình hìnhmới
Giai đoạn 2: Từ ngày 23/7/2020 đến 27/01/2021
Tình hình: Ghi nhận 1.136 trường hợp Covid-19 (1.073 ca trong nước và 63
ca nhập cảnh). Ở giai đoạn này có 35 bệnh nhân tử vong do bệnh lý nền nặng.Các ca mắc tập trung ở Thành phố Đà Nẵng và địa phương có yếu tố dịch tễ liênquan đến Đà Nẵng, sau đó lan rộng ra 15 tỉnh, thành phố Đặc biệt, dịch đã xâmnhập các khoa điều trị bệnh nhân nặng như hồi sức cấp cứu, thận nhân tạo
Hướng giải pháp: Lúc này chuyện chống dịch không chỉ ngắn hạn mà phải
chống dịch “dài hơi”: