1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo BTL đề tài 3.1 môn Triết học Mác Lênin Trường Đại học Bách Khoa HCM

32 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Ý nghĩa thực tiễn của quy luật đối với việc phát huy vai trò người lao động trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả Trần Nguyễn Trung Kiên, Lê Trung Kiên, Tạ Nguyễn Ngọc Lan, Đào Phước Lộc, Phùng Bảo Minh
Người hướng dẫn TS. An Thị Ngọc Trinh
Trường học Trường Đại học Bách Khoa TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học Mác – Lênin
Thể loại Báo cáo kết quả làm việc nhóm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 654,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. PHẦN MỞ ĐẦU (6)
  • 2. PHẦN NỘI DUNG (7)
  • Chương 1. QUY LUẬT VỀ SỰ PHÙ HỢP CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT (7)
    • 1.1. Những khái niệm cơ bản (7)
    • 1.2 Nội dung của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (9)
    • 1.3 Ý nghĩa của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (12)
  • Chương 2. Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA QUY LUẬT L ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT (13)
    • 2.1 Khái quát về hội nhập kinh tế quốc tế (13)
    • 2.2 Vai trò của người lao động trong quá trình sản xuất vật chất (15)
    • 2.3 Đánh giá thực trạng việc phát huy vai trò của người lao động trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay (17)
      • 2.3.1 Những kết quả đạt được trong việc phát huy vai trò của người lao động trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay (17)
      • 2.3.2 Những hạn chế nhất định trong việc phát huy vai trò của người lao động (19)
      • 2.3.3 Những giải pháp nhằm khắc phục hạn chế trong việc phát huy vai trò của người lao động trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay (25)
    • 3. KẾT LUẬN (29)
    • 4. TÀI LIỆU THAM KHẢO (30)

Nội dung

Báo cáo BTL môn Triết học Mác Lênin Trường Đại học Bách Khoa HCM đề tài 3.1: Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Ý nghĩa thực tiễn của quy luật đối với việc phát huy vai trò người lao động trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

PHẦN MỞ ĐẦU

Sự phát triển kinh tế và xã hội luôn là mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia Để hiểu rõ quy luật và quy trình phát triển này, cần nghiên cứu về mối quan hệ phù hợp giữa quan hệ sản xuất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Quy luật này nhấn mạnh rằng sự tiến bộ của nền kinh tế phụ thuộc vào sự hài hòa giữa cấu trúc các quan hệ sản xuất và khả năng phát triển của lực lượng sản xuất.

Hiện nay, nghiên cứu về quy luật phát triển của lực lượng sản xuất không chỉ mang tính lý thuyết mà còn có ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội Sự tiến bộ của lực lượng sản xuất, gồm con người, công nghệ, tài nguyên và cơ sở hạ tầng, là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy phát triển kinh tế Quy luật biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất khẳng định rằng để đạt được sự phát triển bền vững, cần điều chỉnh và đổi mới quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, từ đó thúc đẩy tiến trình kinh tế-xã hội phát triển hiệu quả.

Nghiên cứu và hiểu rõ quy luật phát triển của nền kinh tế và xã hội giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc về các quá trình biến đổi này Nhờ đó, chúng ta có thể đưa ra những quyết định chính xác và phù hợp, tối ưu hóa sự phát triển bền vững Việc nắm bắt các quy luật này là yếu tố then chốt để xây dựng chiến lược phát triển hiệu quả, góp phần thúc đẩy sự thịnh vượng chung.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển công nghệ ngày càng nhanh chóng, việc đổi mới công nghệ và nâng cao hiệu suất sản xuất trở nên cực kỳ cấp thiết Thúc đẩy hợp tác và trao đổi kinh nghiệm với các quốc gia giúp tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việc này không chỉ nâng cao vai trò của người lao động mà còn thúc đẩy sự phát triển toàn diện và bền vững cho đất nước.

Nội dung của Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất theo chủ nghĩa Mác-Lênin

Cách để phát huy vai trò của người lao động Việt Nam hiện nay trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đóng vai trò cốt lõi trong quá trình phát triển kinh tế Việc áp dụng phương pháp luận này giúp tối ưu hoá vai trò của người lao động tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Nhận thức rõ mối liên hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là yếu tố quan trọng để thúc đẩy phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.

* Phương pháp gồm 2 phương pháp sau:

Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là nền tảng trong triết học Mác-Lênin, được sử dụng để phân tích và hiểu rõ các quá trình phát triển của xã hội và tự nhiên một cách sâu sắc Các phương pháp này giúp nhận thức các mâu thuẫn, chuyển biến và xu hướng vận động của lịch sử, từ đó đưa ra những luận cứ khoa học chính xác Áp dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng, chúng ta có thể nhìn nhận các hiện tượng như một quá trình liên tục vận động và thay đổi, phản ánh bản chất thực của thực tại khách quan Trong khi đó, chủ nghĩa duy vật lịch sử tập trung vào sự ảnh hưởng của các yếu tố vật chất và các cuộc đấu tranh xã hội trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại Cả hai phương pháp này đều là công cụ quan trọng giúp phân tích sâu hơn các vấn đề xã hội, chính trị và lý luận trong tư duy Mác-Lênin.

Phương pháp riêng của chúng tôi bao gồm việc phân tích tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau đã được kiểm chứng, giúp đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của thông tin Chúng tôi giải thích rõ các khái niệm liên quan và chứng minh đề tài bằng cách liệt kê lợi ích cũng như so sánh các phương pháp khác nhau, từ đó xác định ra phương pháp tối ưu nhất Phương pháp này kết hợp nghiên cứu kỹ lưỡng và phân tích thực tiễn, nhằm đem lại kết quả chính xác, phù hợp với yêu cầu của người đọc và tối ưu hóa hiệu quả công việc.

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2 chương và 6 tiểu tiết.

QUY LUẬT VỀ SỰ PHÙ HỢP CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

Những khái niệm cơ bản

Phương thức sản xuất là cách thức con người tiến hành quá trình sản xuất vật chất trong các giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người Nó phản ánh sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và trình độ phát triển của chúng cùng với quan hệ sản xuất phù hợp Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai yếu tố then chốt của nền sản xuất vật chất xã hội, trong đó lực lượng sản xuất thể hiện quan hệ giữa con người với tự nhiên, còn quan hệ sản xuất thể hiện mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất.

Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra sức sản xuất và năng lực thực tiễn để biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu của con người và xã hội.

Người lao động là con người có tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động và năng lực sáng tạo trong quá trình sản xuất xã hội Họ vừa là chủ thể sáng tạo vừa là chủ thể tiêu thụ mọi của cải vật chất xã hội, đóng vai trò là nguồn lực cơ bản, vô tận và đặc biệt của sản xuất Trong bối cảnh nền kinh tế hiện đại, tỷ lệ lao động chân tay đang dần giảm đi, trong khi lao động có trí tuệ và lao động trí tuệ ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong quá trình phát triển kinh tế.

Tư liệu sản xuất là yếu tố vật chất thiết yếu để tổ chức quá trình sản xuất, bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động Đối tượng lao động là các yếu tố vật chất mà con người tác động để biến đổi phù hợp với mục đích sử dụng, trong khi tư liệu lao động gồm công cụ và phương tiện lao động dùng để tác động lên đối tượng lao động Phương tiện lao động là các yếu tố vật chất cùng với công cụ lao động, đóng vai trò là phương tiện tác động trực tiếp vào đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm phù hợp yêu cầu sản xuất Công cụ lao động là những phương tiện vật chất con người sử dụng để biến đổi đối tượng lao động thành của cải vật chất phục vụ nhu cầu xã hội và con người Công cụ lao động còn được xem là “khí quan” của trí óc, tượng trưng cho tri thức vật thể hóa do con người sáng tạo ra, đóng vai trò trung gian và truyền dẫn trong quá trình sản xuất.

Quan hệ sản xuất là tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất, đóng vai trò là mối liên hệ vật chất quan trọng nhất trong xã hội Đây chính là nền tảng của các mối quan hệ vật chất giữa con người, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế và xã hội Quan hệ sản xuất bao gồm các yếu tố như quyền sở hữu tư liệu sản xuất, phân phối sản phẩm, cũng như các mối quan hệ lợi ích trong quá trình sản xuất Hiểu rõ về quan hệ sản xuất giúp phân tích các đặc điểm kinh tế của một xã hội và dự đoán xu hướng phát triển trong tương lai.

Quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất đóng vai trò cốt yếu trong nền kinh tế, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền kiểm soát và phân phối tài nguyên Trong tổ chức quản lý và trao đổi hoạt động, các mối quan hệ này quyết định hiệu quả vận hành và sự phối hợp giữa các bộ phận Ngoài ra, quan hệ về phân phối sản phẩm lao động cũng là yếu tố quan trọng, đảm bảo phân chia thành quả lao động công bằng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là mối quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc chiếm hữu và sử dụng các tư liệu sản xuất xã hội, quyết định vị trí kinh tế - xã hội của từng nhóm trong quá trình sản xuất Đây là yếu tố then chốt quy định cách quản lý, phân phối nguồn lực và kết quả sản xuất trong nền kinh tế, ảnh hưởng sâu sắc đến cơ cấu xã hội và sự phát triển kinh tế của quốc gia.

Quan hệ về tổ chức và quản lý sản xuất là mối liên hệ giữa các nhóm người trong việc tổ chức sản xuất và phân công lao động Những quan hệ này ảnh hưởng trực tiếp tới quy mô, tốc độ và hiệu quả của nền sản xuất, đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của nền kinh tế xã hội Tổ chức và quản lý sản xuất tốt có khả năng thúc đẩy tăng trưởng, trong khi quản lý yếu kém có thể kìm hãm sự tiến bộ của nền sản xuất xã hội.

Quan hệ phân phối sản phẩm lao động thể hiện cách thức và quy mô của cải vật chất mà các tập đoàn người nhận được, phản ánh mối liên hệ giữa các nhóm người trong việc phân phối sản phẩm lao động xã hội Đây là quá trình xác định mức độ hưởng thụ tài sản, ảnh hưởng trực tiếp đến bất bình đẳng và đời sống của các tầng lớp xã hội Hiểu rõ quan hệ phân phối sản phẩm lao động giúp phân tích cách của cải xã hội được chia sẻ và thể hiện các yếu tố quyết định trong hệ thống kinh tế.

Nội dung của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là yếu tố quyết định sự vận động và phát triển của các phương thức sản xuất qua các giai đoạn lịch sử Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tác động qua lại, tạo ra sự biến đổi và tiến bộ trong nền kinh tế, xã hội Hiểu rõ mối quan hệ này giúp nắm bắt được quá trình lịch sử phát triển của các phương thức sản xuất, từ đó thúc đẩy sự đổi mới và phát triển bền vững.

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai chủ đề không thể tách rời của một phương thức sản xuất, với mối quan hệ biện chứng chặt chẽ Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành và phát triển của quan hệ sản xuất, trong khi quan hệ sản xuất còn tác động trở lại, ảnh hưởng đến lực lượng sản xuất C Mác nhấn mạnh rằng trong quá trình sản xuất xã hội, con người xây dựng những quan hệ nhất định, tất yếu và không chịu ảnh hưởng bởi ý muốn chủ quan, phản ánh trình độ phát triển của các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội đó.

Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, trong khi không phù hợp sẽ kìm hãm sự tiến bộ xã hội Đây là quy luật cơ bản nhất của sự vận động và phát triển xã hội.

1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.14-15

* Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất:

Sự vận động và phát triển của phương thức sản xuất bắt nguồn từ sự biến đổi của lực lượng sản xuất, yếu tố động, mang tính cách mạng và thường xuyên tiến bộ Lực lượng sản xuất là phần nội dung của quá trình sản xuất, trong khi quan hệ sản xuất đại diện cho hình thức xã hội của quá trình này và có tính ổn định tương đối Trong quá trình mâu thuẫn biện chứng, lực lượng sản xuất quyết định hình thái của quan hệ sản xuất Sự vận động liên tục của lực lượng sản xuất chủ yếu do mâu thuẫn giữa sản xuất và nhu cầu của con người, tính năng động của công cụ lao động, vai trò sáng tạo của người lao động, cùng với tính kế thừa khách quan của quá trình phát triển lực lượng sản xuất qua các giai đoạn lịch sử.

Lực lượng sản xuất vận động không ngừng phát triển dẫn đến mâu thuẫn với tính “đứng im” của quan hệ sản xuất, gây ra những hạn chế cho sự tiến bộ của xã hội Để đáp ứng sự phát triển của lực lượng sản xuất, cần thiết phải xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ và xây dựng hệ thống mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng đó Theo C Mác, các quan hệ xã hội luôn gắn liền mật thiết với lực lượng sản xuất; khi có những lực lượng sản xuất mới, phương thức sản xuất và cách kiếm sống của con người cũng thay đổi, từ đó hình thành các quan hệ xã hội mới, ví dụ như chuyển từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản công nghiệp.

Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành của quan hệ sản xuất mới, ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung và tính chất của các quan hệ xã hội Nhờ năng lực nhận thức và thực tiễn, con người không ngừng phát hiện, giải quyết mâu thuẫn và thiết lập các sự phù hợp mới, từ đó thúc đẩy quá trình phát triển của sản xuất tiến đến những mức cao hơn.

2 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.187

* Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất:

Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất có tính độc lập tương đối, ảnh hưởng mạnh mẽ đến lực lượng sản xuất Vai trò của quan hệ sản xuất trong việc thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất được thể hiện qua sự phù hợp biện chứng giữa quan hệ sản xuất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Sự thay đổi trong quan hệ sản xuất có thể tạo ra bước đột phá hoặc trở ngại cho sự tiến bộ của lực lượng sản xuất, phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa hai yếu tố này.

Quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất là trạng thái trong đó quan hệ sản xuất đóng vai trò là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất Sự phù hợp này góp phần tạo ra môi trường thuận lợi, đầy đủ để lực lượng sản xuất có thể phát triển một cách toàn diện Khi quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất, nó đảm bảo sự tiến bộ và nâng cao hiệu quả của quá trình sản xuất.

Hãy tập trung vào mục đích sản xuất xã hội của nước ta hiện nay, đó là sản xuất ra nhiều của cải nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của nhân dân Mục tiêu này giúp mở rộng quy mô sản xuất mà không chỉ tập trung vào lợi nhuận, hướng đến phát triển kinh tế bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Sự tác động của quan hệ sản xuất diễn ra theo hai chiều hướng: thúc đẩy và kìm hãm:

Khi quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất, hoạt động sản xuất sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ và phát triển Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, quá trình này thường có xu hướng tích cực, nhưng ở nước ta trước đổi mới lại xuất hiện tình trạng duy ý chí, gây ra những yếu tố vượt trước so với trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất Điều này khiến quan hệ sản xuất không phù hợp và kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, dẫn đến suy yếu kinh tế và rơi vào khủng hoảng.

Quan hệ sản xuất có thể kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất khi chúng mâu thuẫn với nhau, thường xảy ra vào giai đoạn cuối của quá trình phát triển Tuy nhiên, sự kìm hãm này chỉ mang tính tạm thời, vì khi lực lượng sản xuất được giải phóng khỏi sự giới hạn của quan hệ sản xuất cũ, chúng sẽ thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển Để xóa bỏ một quan hệ sản xuất cũ và xây dựng một quan hệ mới, cần trải qua một cuộc Cách mạng xã hội, bắt đầu từ Cách mạng kinh tế nhằm thay đổi lĩnh vực kinh tế Chỉ có cuộc Cách mạng xã hội mới có khả năng thay đổi căn bản quan hệ sản xuất, mở đường cho sự tiến bộ toàn diện của xã hội.

3 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.15

Trạng thái vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất diễn ra qua các giai đoạn từ tự phù hợp đến không phù hợp, sau đó chuyển biến thành sự phù hợp mới ở trình độ cao hơn Quá trình này thể hiện rõ sự phát triển liên tục và không ngừng của các mâu thuẫn trong lịch sử kinh tế, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của lực lượng sản xuất và nâng cao năng suất lao động Hiểu rõ quy luật vận động này giúp xác định xu hướng phát triển của xã hội và thúc đẩy các hoạt động đổi mới trong sản xuất.

C Mác khẳng định: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội.” 4

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là nguyên tắc cơ bản chi phối toàn bộ quá trình lịch sử nhân loại Sự mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất dẫn đến sự biến đổi liên tục của các phương thức sản xuất qua các thời kỳ Lịch sử xã hội loài người phản ánh sự chuyển tiếp từ phương thức sản xuất cộng sản nguyên thủy đến phương thức chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và hiện nay là hướng tới xây dựng phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa.

Sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất buộc phải thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu để thúc đẩy phát triển kinh tế Phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa dần loại bỏ các mâu thuẫn xã hội, hướng tới sự ổn định và phát triển bền vững Quá trình này không diễn ra “tự động”, mà đòi hỏi nhận thức và vận dụng quy luật một cách tự giác, có ý thức cao của mỗi cá nhân và tổ chức Quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội xã hội chủ nghĩa có thể bị “biến dạng” nếu nhận thức và vận dụng quy luật chưa đúng đắn, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phát triển của xã hội.

Ý nghĩa của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

* Ý nghĩa trong đời sống xã hội:

Có ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng

4 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.15

Để phát triển kinh tế bền vững, cần bắt đầu từ việc phát triển lực lượng sản xuất, đặc biệt là nâng cao năng lực lao động và nâng cấp công cụ lao động Việc xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ và thiết lập quan hệ mới phải dựa trên trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phải phù hợp với quy luật phát triển khách quan của nền kinh tế Chống lại các hành động tùy tiện, chủ quan, duy tâm và duy ý chí là yếu tố then chốt để đảm bảo sự thay đổi phù hợp và hiệu quả trong quá trình chuyển đổi hệ thống kinh tế.

Nhận thức đúng đắn quy luật này đóng vai trò quan trọng trong việc quán triệt và vận dụng các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam Việc hiểu rõ quy luật tạo nền tảng khoa học để nhận thức sâu sắc hơn về quá trình đổi mới tư duy kinh tế của Đảng Điều này giúp củng cố sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình phát triển kinh tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.

Trong quá trình cách mạng Việt Nam và sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặc biệt quan tâm đến việc nhận thức và vận dụng đúng đắn, sáng tạo các quy luật phát triển kinh tế Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quy luật quan hệ sản xuất, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững tại Việt Nam Việc vận dụng linh hoạt các quy luật này đã đem lại hiệu quả rõ rệt trong thực tiễn, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA QUY LUẬT L ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT

Khái quát về hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập quốc tế là quá trình các quốc gia hợp tác để cải thiện mối quan hệ dựa trên chia sẻ lợi ích, mục tiêu và giá trị chung Các quốc gia tham gia phải tuân thủ các quy định của cộng đồng quốc tế để gia nhập các tổ chức toàn cầu Hội nhập kinh tế quốc tế thể hiện qua sự liên kết, giao lưu và hợp tác giữa các nền kinh tế quốc gia và các tổ chức kinh tế khu vực, toàn cầu Mỗi quốc gia, bao gồm Việt Nam, có chính sách và chiến lược hội nhập riêng, nhưng đều dựa trên các phương thức chủ yếu chung để thúc đẩy phát triển kinh tế quốc tế.

Các quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia thỏa thuận ưu đãi cam kết dành cho nhau các ưu đãi về thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hóa, từ đó hình thành các ưu đãi thương mại nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế quốc tế.

Khu vực mậu dịch tự do là một nhóm các quốc gia đã thống nhất loại trừ thuế quan, hạn ngạch và các ưu đãi để thúc đẩy trao đổi thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa các thành viên Điều này giúp tăng cường hợp tác kinh tế, giảm chi phí thương mại và mở ra cơ hội phát triển cho các quốc gia trong khu vực Mục tiêu chính của khu vực mậu dịch tự do là thúc đẩy thương mại tự do, tạo môi trường cạnh tranh công bằng và thu hút đầu tư từ các quốc gia khác.

Hiệp định đối tác kinh tế là thỏa thuận giữa các quốc gia nhằm bãi bỏ thuế quan và hàng rào phi thuế quan đối với hầu hết hoặc tất cả hàng hóa và dịch vụ giữa các bên, qua đó thúc đẩy thương mại quốc tế và hợp tác kinh tế Ngoài ra, hiệp định còn bảo vệ đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại điện tử giữa các quốc gia ký kết, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững và hội nhập toàn cầu.

Liên minh thuế quan bao gồm các thành viên cùng nhau cắt giảm và loại bỏ thuế quan trong thương mại nội khối, thúc đẩy giao thương tự do và thông thoáng hơn Các quốc gia trong liên minh thống nhất thực hiện chính sách thuế quan chung đối với các nước bên ngoài khối, tạo ra một hàng rào thuế đồng bộ và tăng cường hợp tác kinh tế quốc tế Chính sách thuế quan này giúp thúc đẩy thương mại trong khu vực, nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm nội địa trên thị trường toàn cầu.

Thị trường chung hiện nay hội tụ đầy đủ các yếu tố của hiệp định đối tác kinh tế và liên minh thuế quan, góp phần thúc đẩy sự hợp tác và phát triển kinh tế giữa các thành viên Ngoài ra, việc tự do di chuyển các yếu tố sản xuất như vốn và lao động giữa các nước thành viên giúp tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế khu vực.

Liên minh kinh tế và tiền tệ chứng tỏ sự thống nhất của các quốc gia thành viên trong việc thực hiện các chính sách thương mại, tiền tệ, tài chính và các chính sách kinh tế - xã hội chung Các thành viên phối hợp chặt chẽ để thống nhất chính sách tiền tệ, thỏa thuận về dự trữ ngoại tệ và phát hành đồng tiền chung, nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững trong khối.

Diễn đàn hợp tác kinh tế là nơi các quốc gia tham gia với nguyên tắc tự nguyện và linh hoạt, không có cam kết ràng buộc, nhằm thúc đẩy tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại, đầu tư trên cơ sở khuyến nghị và hướng dẫn chung Các nguyên tắc xây dựng trong diễn đàn giúp tạo ra môi trường hợp tác thuận lợi, thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các quốc gia một cách linh hoạt và không ép buộc.

Ngoài ra, các quốc gia còn áp dụng nhiều phương thức khác nhau phù hợp với tình trạng, nhu cầu và mức độ cấp thiết của từng nước Việc lựa chọn chính sách phù hợp giúp thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của từng quốc gia Các biện pháp này đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược hội nhập phù hợp với đặc thù của mỗi quốc gia.

Việt Nam là một quốc gia tích cực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, bắt đầu từ sau ngày 30/4/1975 khi đất nước mới giành độc lập và đối mặt với nhiều sự cấm vận từ khu vực và quốc tế, chỉ có một số đồng minh trong khối xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu nổi bật như gia nhập Liên Hợp Quốc vào năm 1977, ASEAN vào năm 1995, APEC vào năm 1998, WTO vào năm 2007, và là thành viên sáng lập của ASEM năm 1996 Quá trình hội nhập của Việt Nam diễn ra trên nhiều cấp độ từ khu vực đến toàn cầu, thông qua các đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại tự do với nhiều quốc gia Hiện nay, Việt Nam chủ động và tích cực hơn bao giờ hết trong hội nhập kinh tế quốc tế, giúp đất nước chuyển mình từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu thành một quốc gia hiện đại, văn minh và có tiếng nói quan trọng trong cộng đồng quốc tế.

Vai trò của người lao động trong quá trình sản xuất vật chất

Người lao động là chủ thể sáng tạo và tiêu dùng mọi của cải vật chất xã hội, là nguồn lực cơ bản và vô tận của sản xuất Trong nền kinh tế hiện đại, tỷ trọng lao động trí tuệ ngày càng tăng, trong khi lao động chân tay đang giảm, phản ánh sự tiến bộ của quá trình sản xuất Tư liệu sản xuất, gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động, là điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất Đối tượng lao động là những yếu tố vật chất mà con người tác động nhằm biến đổi phù hợp với mục đích sử dụng, còn tư liệu lao động là các yếu tố vật chất dùng để tác động lên đối tượng lao động, nhằm thực hiện quá trình sản xuất hiệu quả hơn.

Lực lượng sản xuất bao gồm 16 tượng lao động nhằm biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm phù hợp với yêu cầu sản xuất của con người Người lao động giữ vai trò chủ đạo trong lực lượng sản xuất, tạo ra sức sản xuất và năng lực thực tiễn để biến đổi các đối tượng vật chất của tự nhiên theo nhu cầu của xã hội.

Sự vận động và phát triển của phương thức sản xuất bắt nguồn từ sự biến đổi của lực lượng sản xuất, là nội dung năng động và cách mạng của quá trình sản xuất Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, trong khi quan hệ sản xuất phản ánh hình thức xã hội của quá trình này và duy trì tính ổn định tương đối Cơ sở khách quan của sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất do sự biện chứng giữa sản xuất và nhu cầu con người, nhấn mạnh vai trò quan trọng của tính năng động, cách mạng của công cụ lao động và vai trò sáng tạo của người lao động – lực lượng sản xuất hàng đầu Đồng thời, quá trình này còn bị ảnh hưởng bởi tính kế thừa khách quan của các thành tựu và lực lượng đã có trong lịch sử phát triển.

Quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đây là một yêu cầu khách quan của nền sản xuất Khi lực lượng sản xuất vận động và phát triển liên tục, nó sẽ đối đầu với tính “đứng im” tương đối của quan hệ sản xuất, từ đó biến quan hệ này thành rào cản, hạn chế sự tiến bộ Để thúc đẩy sự phát triển, cần xóa bỏ các quan hệ sản xuất cũ và thiết lập các quan hệ mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đã đạt được Theo C Mác, sự phát triển của lực lượng sản xuất giữ vai trò then chốt trong việc thay đổi các quan hệ xã hội, khi những lực lượng mới thúc đẩy loài người thay đổi phương thức sản xuất và cách kiếm sống, từ đó làm thay đổi toàn bộ các quan hệ xã hội, như sự chuyển đổi từ xã hội phong kiến sang xã hội công nghiệp.

5 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.187

C Mác cũng đã từng viết: ”Người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử” Nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa Như vậy, hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thỏa mãn nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất” 6 – khẳng định vai trò quan trọng quyết định của quá trình sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội loài người, gián tiếp khẳng định tầm quan trọng của người lao động trong quá trình sản xuất vật chất

Trong bối cảnh sự tiến bộ của xã hội và mạng lưới toàn cầu mở rộng, yêu cầu về chất lượng và tri thức của người lao động ngày càng cao trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Đội ngũ công nhân trí thức ngày càng tăng cả về số lượng lẫn chất lượng để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế tri thức, góp phần thay đổi dần tỷ trọng giữa lao động phổ thông và lao động có trình độ cao Để cạnh tranh hiệu quả trong thị trường trong nước và quốc tế, việc nâng cao trình độ tri thức của người lao động là xu thế bắt buộc, thúc đẩy quá trình trí thức hóa nguồn nhân lực trong giai đoạn hội nhập toàn cầu.

Người lao động đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất và duy trì nền tảng phát triển của xã hội Vai trò của họ không chỉ quyết định sự tiến bộ kinh tế mà còn ảnh hưởng sâu rộng đến sự ổn định và phát triển bền vững của xã hội loài người Chính vì vậy, việc nâng cao vai trò và vị thế của người lao động là yếu tố trung tâm để thúc đẩy xu hướng phát triển tích cực trong tương lai của xã hội.

Đánh giá thực trạng việc phát huy vai trò của người lao động trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay

2.3.1 Những kết quả đạt được trong việc phát huy vai trò của người lao động trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay

Người lao động đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế quốc gia Họ đã có tác động tích cực và lâu dài, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững và thành công của các mục tiêu kinh tế của đất nước trong những năm qua.

6 C Mác và Ph Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t 3, tr 40

Nguồn lực lao động lớn đóng vai trò quan trọng trong nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Đây giúp ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đảm bảo huy động nguồn vốn và các nguồn lực khoa học – công nghệ cần thiết cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Vào thứ ba, việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế giúp người lao động Việt Nam tiếp cận với các tiến bộ khoa học - công nghệ mới và các phương pháp quản lý tiên tiến trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, kỹ thuật và văn hóa - xã hội Những hoạt động này góp phần nâng cao năng suất lao động, tăng cường năng lực cạnh tranh trong sản xuất và kinh doanh, thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.

Thứ tư, người lao động tác động tới việc xây dựng nền kinh tế thị trường đầy đủ

Thông qua hoàn thiện môi trường kinh doanh, người lao động đã góp phần nâng cao năng lực canh tranh quốc gia

Vào thứ năm, người lao động đã tác động tích cực tới các lĩnh vực xã hội, văn hóa, môi trường, chính trị và an ninh quốc phòng của đất nước Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đặc biệt quan tâm đến các vấn đề an sinh xã hội, nhằm xóa đói giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Việt Nam đã trở thành một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định trong khu vực nhờ vào việc phát huy vai trò của người lao động trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Sự đóng góp chủ yếu vào sự tăng trưởng này là từ ngành công nghiệp chế biến, xuất khẩu và dịch vụ, nơi người lao động giữ vai trò quan trọng trong thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam.

Vào thứ bảy, việc phát huy vai trò của người lao động trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo động lực quan trọng cho các cải cách và nâng cao năng suất lao động Áp lực cạnh tranh toàn cầu thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện cải tổ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, dịch vụ để cạnh tranh hiệu quả trên thị trường quốc tế.

Thứ tám, phát huy vai trò của người lao động trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế giúp tăng thu nhập và cải thiện đời sống vật chất Sự gia tăng xuất nhập khẩu và thu nhập từ người lao động đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng mua sắm và đời sống hàng ngày của họ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.

Việc phát huy vai trò của người lao động trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hội nhập văn hóa và quan hệ quốc tế của Việt Nam Tham gia vào môi trường làm việc quốc tế cùng với người nước ngoài giúp mở rộng kiến thức, nâng cao hiểu biết về các nền văn hóa khác nhau, cũng như học hỏi phương pháp làm việc hiệu quả từ các quốc gia khác.

Việc phát huy vai trò của người lao động trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển khu vực nông thôn Hội nhập kinh tế đã mở ra nhiều cơ hội mới cho người lao động nông thôn tham gia vào các hoạt động sản xuất và kinh doanh, từ đó góp phần nâng cao đời sống và cải thiện điều kiện sống ở vùng nông thôn.

2.3.2 Những hạn chế nhất định trong việc phát huy vai trò của người lao động trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, Việt Nam còn thiếu nguồn lao động có trình độ chuyên môn cao Mặc dù

Việt Nam có nguồn lao động dồi dào nhưng chưa đủ để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Trong các nước ASEAN, trình độ chuyên môn của người lao động Việt Nam còn ở mức trung bình thấp, gây khó khăn trong cạnh tranh Hiện tại, chỉ có 23% nhu cầu về nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao được đáp ứng tại Việt Nam Nguyên nhân chính là do trình độ chuyên môn của người lao động vẫn còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.

Thiếu nhân lực trình độ cao tại Việt Nam do phần lớn người lao động có trình độ thấp hoặc chưa qua đào tạo đại học, gây khó khăn trong việc hoàn thành các công việc yêu cầu kỹ năng cao Điều này ảnh hưởng đến năng suất lao động và hạn chế khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời khiến người lao động gặp khó khăn trong việc nhận mức lương xứng đáng Cần có các chính sách đào tạo nâng cao kỹ năng để đáp ứng yêu cầu thị trường lao động ngày càng khắt khe.

Thiếu đầu tư vào đào tạo và phát triển kỹ năng cho người lao động ảnh hưởng lớn đến khả năng nâng cao trình độ và nâng cao năng suất Các chương trình đào tạo nghề vẫn còn hạn chế, khiến người lao động gặp khó khăn trong việc phát triển sự nghiệp và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động Việc chưa tập trung đầu tư vào cải thiện kỹ năng gây trở ngại lớn cho sự cạnh tranh của doanh nghiệp và sự phát triển bền vững của nguồn nhân lực nội địa.

Việc thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao có thể dẫn đến những vấn đề sau đây:

Khó khăn trong cạnh tranh quốc tế chủ yếu xuất phát từ việc thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao, đặc biệt trong các ngành công nghiệp công nghệ cao và hiện đại Trình độ chuyên môn cao là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia trên thị trường toàn cầu, và việc thiếu hụt nhân lực chất lượng cao có thể làm giảm khả năng phát triển và mở rộng thị phần quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam.

Thiếu động lực sáng tạo khiến nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao không thể đóng góp ý tưởng đột phá và nghiên cứu phát triển mới Điều này hạn chế sự phát triển của các ngành công nghiệp và lĩnh vực, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh và đổi mới của doanh nghiệp Để thúc đẩy sự sáng tạo, cần tạo môi trường khích lệ ý tưởng và phát triển kỹ năng sáng tạo trong lực lượng lao động chất lượng cao.

Hạn chế trong nghiên cứu và phát triển là một thách thức lớn đối với nền kinh tế quốc gia Trình độ chuyên môn cao thường đi kèm với khả năng thực hiện các nghiên cứu và phát triển sản phẩm, dịch vụ mới, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, thiếu nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn phù hợp có thể làm giảm khả năng tham gia vào các dự án nghiên cứu quốc tế, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của quốc gia.

KẾT LUẬN

Phát triển lực lượng sản xuất không thể diễn ra mà không hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp Quy luật này nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc điều chỉnh quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để thúc đẩy sự phát triển toàn diện của nền kinh tế - xã hội Để thực hiện đúng quy luật này, cần có nhận thức đúng đắn và chính xác trong việc áp dụng các nguyên tắc phù hợp nhằm đảm bảo sự tiến bộ bền vững của nền kinh tế quốc dân.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, người lao động đối mặt với nhiều cơ hội mới nhưng cũng đối diện với thách thức lớn về khả năng thích ứng với môi trường hiện đại Phát triển nhanh lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất là yêu cầu cấp thiết để giúp đất nước vượt qua nguy cơ tụt hậu kinh tế và đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội Việc cập nhật và ứng dụng công nghệ mới nhất đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, trong đó con người được coi là yếu tố quyết định và trung tâm của mọi sáng tạo và tiến bộ.

Để thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, cần tập trung vào phát triển con người về tư duy và đạo đức, vì con người là nguồn lực quan trọng nhất thúc đẩy kinh tế Đảm bảo con người được trang bị kiến thức, năng lực, kỹ năng, công nghệ và ý thức là chìa khóa để đạt được sự phát triển bền vững Việc đầu tư vào giáo dục và đào tạo giúp mọi người phát huy tiềm năng, thúc đẩy sáng tạo và đổi mới để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế.

Mục tiêu cuối cùng của chúng ta là xây dựng một xã hội hiện đại và văn minh Để đạt được điều này, cần phát triển một cộng đồng có ý thức đạo đức cao, tôn trọng nhân quyền và thúc đẩy công bằng xã hội Việc xây dựng một môi trường khách quan, minh bạch giúp mọi người có cơ hội thể hiện và phát huy tiềm năng của mình một cách tự do và sáng tạo.

Quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là nền tảng khoa học để đổi mới nền kinh tế hiện nay Để thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, cần tập trung phát triển lực lượng sản xuất đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất Điều này bao gồm việc đầu tư phát triển con người, nâng cao giáo dục và đào tạo, cũng như tạo điều kiện cho sáng tạo và đổi mới Chỉ khi thực hiện đúng quy luật này, chúng ta mới xây dựng một xã hội văn minh, hiện đại.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Giáo dục và đào tạo (2021), Giáo trình Triết học Mác – Lênin, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội

3 Tổng cục Thống kê (2017), Bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam, NXB Bộ Lao động Thương binh và Xã hội

4 Thanh Nhung (2017), Lao động cả nước năm 2017 ước đạt 54,8 triệu người, Báo

5 Phạm Thị Bạch Tuyết (2014), Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với lao động ở Việt Nam hiện nay Tạp chí Đại học Khoa học Sư phạm TP Hồ Chí Minh số

6 TS LÊ THỊ CHIÊN, Viện Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (14- 01-2021), Quan điểm của C Mác về lực lượng sản xuất và vấn đề bổ sung, phát triển quan điểm này trong giai đoạn hiện nay Truy cập từ https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quan-triet-va-thuc-hien-nghi-quyet- ai-hoi-xii-cua-ang/-/2018/821033/view_content

7 Phạm Đông (08/07/2021), Thể hiện vai trò của người lao động trong xây dựng phát triển đất nước Truy cập từ https://laodong.vn/cong-doan/the-hien-vai-tro-cua- nguoi-lao-dong-trong-xay-dung-phat-trien-dat-nuoc-928443.ldo

8 Hồ Giao (17/09/2015), Hội nhập kinh tế quốc tế- Những tác động tới lao động Việt

International economic integration significantly impacts Vietnamese labor, fostering new employment opportunities and skill development However, it also presents challenges such as increased competition and job insecurity for local workers Embracing these changes requires adapting workforce skills to meet global standards, ensuring workers can thrive in a dynamic, interconnected economy Strengthening vocational training and social protections is essential to mitigate negative effects and maximize the benefits of economic integration for Vietnam's labor force.

9 Thúy Hiền (06/10/2022), Giải pháp cải thiện chất lượng nguồn cung và cuộc sống cho người lao động Truy cập từ https://bnews.vn/giai-phap-nao-cai-thien-chat- luong-nguon-cung-va-cuoc-song-cho-nguoi-lao- dong/261086.html?fbclid=IwAR0he0F_U8bcziCcswKT5-

10 Quyên Lưu (21/08/2017), Vai trò của người lao động trong sự thúc đẩy phát triển kinh tế thời hội nhập Truy cập từ https://moit.gov.vn/tin-tuc/quoc-te/vai-tro-cua- nguoi-lao-dong-trong-su-thuc-day-phat-trien-kinh.html

11 G.Nam (06/10/2021), Đời sống công nhân Truy cập từ http://congdoan.vn/tin- tuc/doi-song-cong-nhan-503/gan-74phan-tram-nguoi-lao-dong-chua-qua-dao-tao- 597759.tld?fbclid=IwAR0lIG1tP2zVB-

WGeRvKsRQn9bb7VK7z10qyku9xFjCBeSxhg5FUpBuglnk

Ngày đăng: 22/08/2023, 16:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w