1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHẬP MÔN CÔNG NGHỆN SINH HỌCVACCIN

31 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhập Môn Công Nghệ Sinh Học Vaccin
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Ngọc, Trần Thị Thùy, Nguyễn Phú Cường, Lê Anh Duy, Nguyễn Thị Ngọc Hà
Người hướng dẫn Phạm Vân Tuấn, PTS
Trường học Trường đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Công nghệ sinh học
Thể loại Báo cáo môn học
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 781,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Khái niệm và nguyên lý (4)
  • 2. Đặc tính cơ bản (8)
  • 3. Thành phần (10)
  • 4. Phân loại (15)
  • 5. Công nghệ mới trong sản xuất vaccin (22)
  • B. Giới thiệu qui trình sản xuất vacxin (25)

Nội dung

• Ngay từ khi xuất hiện sự sống, trong sự đấu tranh của các loài sinh vật thì bệnh tật đã xuất hiện. Đặc biệt là sự ký sinh của các loài vi sinh vật tới các động vật bậc cao đã gây ra những bệnh tật hiểm nghèo tạo ra những nạn dịch thảm khốc và cướp đi nhiều sinh mạng. Để giành giật sự sống con người đã tìm mọi biện pháp nhằm hạn chế tác động có hại đó của các đối tượng gây bệnh. Vacxin được coi là một tiến bộ y học quan trọng nhất của thế kỷ XX . Ngày nay cùng với sự phát triển không ngừng của công nghệ sinh học con người đã tìm ra được vũ khí hữu hiệu để bảo vệ chính mình với số lượng nhiều, an toàn và nhanh chóng. Để hiểu rõ hơn vấn đề này, chúng em tiến hành tìm hiểu đề tài: Vaccin.

Khái niệm và nguyên lý

Từ xưa, con người đã nhận thấy một số bệnh truyền nhiễm chỉ gặp ở một số loài động vật và trong cùng một vụ dịch mức độ nghiêm trọng có thể khác nhau giữa các cá thể; bên cạnh đó, có những bệnh sau khi bị mắc rồi khỏi sẽ vĩnh viễn không tái mắc, điều này gợi ý cho khái niệm miễn dịch mà ngày nay ta gọi là hệ miễn dịch ở người Đối với các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, nhân loại đã trải qua một quá trình đấu tranh phòng chống nhằm giành giật sự sống.

Bước ngoặt lịch sử trong phòng và chống bệnh đậu mùa được đánh dấu vào năm 1798 Lúc này, bệnh đậu mùa lan rộng khắp châu Âu và làm chết rất nhiều người đến nỗi ở châu Âu có câu ngạn ngữ: “Tình yêu và bệnh đậu mùa không trừ một ai”.

Gloucestershire thuộc nước Anh, nơi bác sĩ thú y Edward Jenner quan sát thấy phụ nữ vắt sữa bò thường không mắc bệnh đậu mùa; với sự thấu hiểu và thận trọng, năm 1776 Jenner tiến hành thử nghiệm miễn dịch chủ động bằng cách tiêm cho một bé trai 8 tuổi dịch chứa virus đậu bò và sau đó thách thức với bệnh đậu mùa, kết quả bé trai không mắc bệnh; từ kết quả này Jenner mở rộng áp dụng phương pháp phòng bệnh và năm 1798 công bố cuốn sách về phòng bệnh đậu mùa từ chế phẩm đậu bò, mở đầu cho sự phát triển của miễn dịch học; để ghi nhận sự kiện này, năm 1885 Louis Pasteur (Pháp), một trong những nhà khoa học hàng đầu vi sinh vật học thế giới, đề nghị dùng từ vắc-xin để gọi tất cả các chế phẩm sinh học có nguyên lý phòng bệnh nhằm tỏ lòng kính trọng Edward Jenner, thuật ngữ này bắt nguồn từ từ “vaccinia” (tên của virus đậu bò); cuối thế kỷ 19, nhiều vi khuẩn gây bệnh truyền nhiễm ở người và động vật được phát hiện như vi khuẩn gây thương hàn, bạch hầu, lao, và người ta xây dựng được các phòng thí nghiệm nuôi cấy thuần khiết các vi khuẩn, mở đường cho sự phát triển của vắc-xin.

Louis Pasteur, dựa trên phát hiện của Edward Jenner, đã nghiên cứu và chế tạo vắc-xin phòng bệnh cho người và động vật Lần đầu tiên, ông phát hiện hiện tượng giảm độc lực của vi khuẩn và đã tạo ra được một giống vi khuẩn nhiệt thán dùng để chế vắc-xin Tháng 5 năm 1881, Pasteur và các đồng sự Émile Roux và Charles Chamberland đã tiến hành một thí nghiệm lịch sử tại Pouilly-le-Fort bằng vắc-xin trên cừu Kết quả cho thấy những con cừu được tiêm vắc-xin đã không mắc bệnh khi thử thách bằng vi khuẩn có độc lực cao.

Phát triển ý tưởng của Pasteur, Haffkine đã chế được vacxin nhược độc phòng bệnh tả Calmette - Guerin đã chế tạo thành công vacxin BCG

Vào năm 1896, Wilhelm Kolle đã bất hoạt vi khuẩn tả bằng nhiệt để tạo miễn dịch và phát triển vacxin Cũng trong năm đó, Richard Pfeiffer đã bất hoạt vi khuẩn thương hàn bằng nhiệt và bảo quản trong phenol để chế vacxin Đến năm 1915, vacxin thương hàn vô hoạt đã được sử dụng cho binh lính ở châu Âu và châu Mỹ.

Như vậy, các nhà khoa học trên đã đưa ra nguyên lý sử dụng vi khuẩn toàn tế bào bất hoạt để gây miễn dịch

Vào những năm 1920, Max Theiler đã tìm ra một chủng virus sốt vàng nhược độc mang tên 17D sau nhiều lần cấy ghép virus gây bệnh lên mô phôi gà, từ đó sản xuất vacxin phòng sốt vàng hiệu quả và an toàn Chủng 17D trở thành nền tảng của vacxin sốt vàng nhược độc và mở đường cho việc sản xuất hàng loạt các vacxin dựa trên các chủng virus được làm yếu bằng cách nhược hoá nhân tạo Các vacxin nhược độc sau đó được phát triển từ nhiều chủng virus, ví dụ như vacxin bại liệt và vacxin quai bị.

Vào năm 1890, Behring và Kitasato phát hiện rằng nuôi cấy vi khuẩn bạch hầu hoặc uốn ván trong môi trường lỏng khiến chúng tiết độc tố vào môi trường Sau khi xử lý bằng formalin, độc tố bị mất độc lực nhưng vẫn giữ được tính kháng nguyên để kích thích cơ thể động vật sinh miễn dịch Độc tố mất độc lực được gọi là giải độc tố (anatoxin) và được dùng để chế vaccine Phát hiện này là cơ sở để chế tạo vaccine dưới đơn vị (subunit vaccines) Đến nay, những tiến bộ về kỹ thuật gen không chỉ ảnh hưởng đến thiết kế vaccine dưới đơn vị mà còn được áp dụng trong 3 lĩnh vực đặc biệt khác.

- Làm mất đoạn và biến dị gen để tạo ra những chủng vi khuẩn, virus không độc để chế tạo vacxin Ví dụ:vacxin Aujeski

Trong lĩnh vực vaccine tái tổ hợp, mục tiêu là tạo ra các vector mang gen chi phối sự sinh sản của kháng nguyên tái tổ hợp và cytokine tái tổ hợp nhằm tạo ra vaccine tái tổ hợp có vector dẫn truyền Các vector này đóng vai trò là phương tiện mang các yếu tố kháng nguyên và cytokine, giúp tăng cường đáp ứng miễn dịch và tối ưu hóa hiệu quả của vaccine Việc phát triển các vector như vậy góp phần nâng cao khả năng biểu hiện kháng nguyên và cytokine trong cơ thể người, từ đó mang lại giải pháp tiêm chủng an toàn, hiệu quả và có thể ứng dụng rộng rãi cho sức khỏe cộng đồng.

- Thúc đẩy về sự ra đời vacxin ADN dưới dạng một plasmid với một gen khởi động (promotor) thích hợp

Tóm lại, lịch sử phát triển của vacxin có thể chia thành

- Giai đoạn Jenner (từ 1796): Sử dụng các virus nguyên độc để gây miễn dịch cho người

- Giai đoạn Pasteur (1860 - 1990): Sử dụng các mầm bệnh nhược độc và các tế bào vi khuẩn toàn vẹn đã được vô hoạt để chế tạo vacxin

Giai đoạn vắc-xin ADN bắt đầu từ năm 1996, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong cuộc cách mạng vắc-xin Nhiều hướng tiếp cận đã được mở ra để phát triển các vi khuẩn thế hệ mới, hiện đại và hiệu quả hơn, mở rộng khả năng ứng dụng của vắc xin DNA trong y học hiện đại.

Hiện nay, danh pháp của một vacxin gồm 2 từ ghép :

Vắc-xin ra đời đã làm cho công cuộc phòng chống các bệnh truyền nhiễm ngày càng hiệu quả hơn; nhờ vắc-xin, nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với con người và động vật đã được khống chế và dần bị loại trừ.

Năm 1977, trường hợp đậu mùa cuối cùng ở người trên thế giới là Ali Maow Maalin, người Somalia

Năm 1979, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã công bố loại trừ hoàn toàn bệnh đậu mùa trên toàn thế giới

Năm 1987, kỷ niệm 10 năm thanh toán bệnh đậu mùa.Maalin, người Somalia, được Năm 2000, Bộ Y tế Việt Nam tuyên bố loại trừ bệnh bại liệt ở Việt Nam

Trong lĩnh vực thú y, bệnh dịch tả trâu bò cũng đã được thanh toán

Vắc-xin được xem là thành tựu vĩ đại nhất của y học hiện đại, và công tác tiêm chủng đã được triển khai ở mọi quốc gia, trở thành lá chắn vững chắc giúp ngăn ngừa nhiều bệnh truyền nhiễm cho con người và động vật Việc tiêm chủng rộng rãi không chỉ bảo vệ cá nhân mà còn tạo khối miễn dịch cộng đồng, làm giảm sự lây lan và hậu quả của các dịch bệnh Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bệnh truyền nhiễm đe dọa do vi sinh vật, đặc biệt là virus gây ra, chưa có vắc-xin dự phòng phù hợp.

Hiện nay, việc nghiên cứu để cải tiến các vắc xin hiện có và chế tạo các vắc xin mới đang trở thành mục tiêu hàng đầu của các nhà khoa học, nhằm nâng cao hiệu quả phòng bệnh và bảo vệ sức khỏe cộng đồng Trong phần b) Khái niệm, chúng ta sẽ đi vào định nghĩa và các khía cạnh cơ bản về vắc xin, đồng thời làm rõ vai trò của quá trình cải tiến và phát triển vắc xin đối với y tế dự phòng và hệ thống chăm sóc sức khỏe.

Theo quan điểm trước đây, vacxin được xem là một chế phẩm sinh học chứa mầm bệnh hoặc kháng nguyên của mầm bệnh nhằm phòng ngừa một bệnh truyền nhiễm Nếu là mầm bệnh, chúng được xử lý để giết hoặc làm nhược độc bằng các yếu tố vật lý, hóa học và sinh học nhằm đảm bảo an toàn Khi được dùng cho động vật, vacxin kích hoạt đáp ứng miễn dịch chủ động, giúp động vật nhận diện và chống lại sự xâm nhập của mầm bệnh tương ứng Nhờ đó, vacxin tăng cường khả năng miễn dịch và giảm nguy cơ mắc bệnh ở đàn vật nuôi.

Hiện nay, khái niệm về vacxin đã có sự thay đổi: không chỉ là chế phẩm từ vi sinh vật hoặc ký sinh trùng dùng để phòng bệnh mà còn được làm từ các vật liệu sinh học khác (không vi sinh vật) và được dùng với mục đích không phải phòng bệnh Ví dụ, vacxin chống khối u có thể làm từ tế bào sinh khối u, vacxin chống thụ thai có thể làm từ receptor của trứng Dù vacxin được chế tạo từ vật liệu nào và được dùng với mục đích gì, thành phần bắt buộc phải có trong vacxin là kháng nguyên, và khi đưa vào cơ thể động vật, kháng nguyên sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch.

Hiện nay, khái niệm về vắc-xin được hiểu ở phạm vi rộng hơn: vắc-xin là một chế phẩm sinh học chứa kháng nguyên, có khả năng kích thích cơ thể tạo ra đáp ứng miễn dịch và được sử dụng nhằm phòng bệnh hoặc phục vụ các mục đích khác Nguyên lý cơ bản của vắc-xin dựa trên việc nhận diện kháng nguyên bởi hệ miễn dịch để sinh ra đáp ứng bảo vệ, từ đó ngăn ngừa sự xâm nhập của tác nhân gây bệnh và tăng cường khả năng miễn dịch lâu dài.

Đặc tính cơ bản

Vacxin phải đảm bảo 4 đặc tính cơ bản là:

Tính sinh miễn dịch hay tính mẫn cảm là khả năng gây ra đáp ứng miễn dịch dịch thể hoặc tế bào, hoặc cả hai Tính sinh miễn dịch phụ thuộc vào kháng nguyên và cơ thể nhận kích thích, có nghĩa là nó chịu ảnh hưởng bởi tính lạ của kháng nguyên, đường đưa của kháng nguyên và cơ địa của mỗi cá thể động vật.

- Tính kháng nguyên hay tính sinh kháng thể

Một vaccine khi đưa vào cơ thể phải có khả năng kích thích hệ miễn dịch sản sinh kháng thể Các yếu tố gây bệnh có thể mang nhiều epitop khác nhau; trong đó có những epitop quá nhỏ (hapten) không có tính sinh miễn dịch nếu để nguyên Muốn hapten sinh kháng thể chống lại mầm bệnh, nó phải được biến đổi thành một kháng nguyên bằng cách liên kết với một protein mang tải vô hại (carrier protein), từ đó kích hoạt đáp ứng miễn dịch và hình thành kháng thể đặc hiệu.

Tính hiệu lực nói lên khả năng bảo hộ động vật sau khi được sử dụng vacxin

Một vacxin được đưa vào cơ thể kích thích hệ miễn dịch sản sinh nhiều kháng thể, nhưng không phải loại kháng thể nào cũng có hiệu lực tiêu diệt yếu tố gây bệnh Vì yếu tố gây bệnh có nhiều kháng nguyên khác nhau nên trong quá trình bào chế vacxin phải tập trung đáp ứng miễn dịch vào những nhóm kháng nguyên thiết yếu Khi hệ miễn dịch tập trung tấn công đúng nhóm kháng nguyên này, yếu tố gây bệnh bị tiêu diệt hoặc ít nhất cũng không còn khả năng gây hại.

Trong nghiên cứu sản xuất vacxin hiện nay, các nhà khoa học đang tập trung phân lập các kháng nguyên và nhóm quy định kháng nguyên thiết yếu để đảm bảo tính thuần khiết của vacxin Điều này hướng tới khả năng tổng hợp các kháng nguyên ấy, mở đường cho quá trình sản xuất vacxin an toàn và hiệu quả hơn trong tương lai.

Trong lĩnh vực miễn dịch và vaccin, mỗi virus có một kháng nguyên thiết yếu giúp xác định khả năng kích hoạt miễn dịch ở vật chủ Cụ thể, với virus Gumboro, protein VP2 được coi là kháng nguyên thiết yếu; với virus cúm gia cầm, kháng nguyên H và N là thiết yếu; còn với virus viêm gan B, kháng nguyên bề mặt HBs là yếu tố thiết yếu.

Hiệu lực hay khả năng bảo vệ của vaccine được đánh giá chủ yếu thông qua các đánh giá thực nghiệm và đặc biệt là đánh giá trên thực địa sau tiêm chủng ở từng cá nhân cũng như mức độ miễn dịch của quần thể; các chỉ số quan trọng để xác định mức độ bảo vệ bao gồm hàm lượng kháng thể trung bình trong huyết thanh và tỷ lệ bảo hộ trong quần thể, từ đó cho thấy hiệu quả của vaccine đối với cộng đồng.

Trong nghiên cứu trên động vật thí nghiệm, mục tiêu là đánh giá đáp ứng miễn dịch sau tiêm chủng vacxin và xác định hiệu lực bảo hộ của vacxin thông qua thử thách độc lực với tác nhân gây bệnh.

Trong thử nghiệm thực địa, vắc-xin được tiêm cho một quần thể động vật, theo dõi chặt chẽ các phản ứng phụ và thống kê kết quả để đánh giá khả năng bảo hộ khi mùa dịch đến; đồng thời, một nhóm ngẫu nhiên trong quần thể được tiến hành thử thách với tác nhân gây bệnh nhằm xác nhận hiệu quả bảo vệ của vắc xin trong điều kiện tự nhiên.

Vacxin có hiệu lực là vacxin gây được miễn dịch ở mức độ cao và bảo vệ cơ thể động vật lâu bền

Hiệu lực của một vacxin phụ thuộc vào nhiều yếu tố như bảo quản, vận chuyển và kỹ thuật tiêm phòng Vì vậy, người ta đã xây dựng một môn khoa học mới mang tên vacxin học (vacxinology) nhằm nghiên cứu toàn diện mọi biện pháp từ quá trình sản xuất đến khi tiêu thụ nhằm tăng tính hiệu lực của vacxin.

Tính an toàn là một đặc tính then chốt của vaccine và là yếu tố được đặt lên hàng đầu trong toàn bộ quá trình phát triển và sản xuất Sau khi sản xuất, vaccine phải được cơ quan kiểm định nhà nước kiểm tra nghiêm ngặt về vô trùng, thuần khiết và vô độc để đảm bảo an toàn tiêm chủng cho cộng đồng.

- Vô trùng: Không được nhiễm các vi sinh vật khác

- Thuần khiết: Không được lẫn các thành phần kháng nguyên khác có thể gây ra các phản ứng phụ

- Vô độc: Liều sử dụng phải thấp hơn rất nhiều so với liều gây độc

Sau sản xuất, vacxin phải được thử tính an toàn qua nhiều bước thử trong phòng thí nghiệm, trên thực địa, thử ở quy mô nhỏ và đại trà

Tần suất và mức độ nặng nhẹ của các phản ứng phụ nếu có phải được xác định trước khi được đem ra dùng nhưng vẫn phải được theo dõi hết sức cẩn thận

Hình 2 Vắc-xin giúp cơ thể sản sinh ra kháng thể chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn, virut.

Thành phần

Vacxin bao gồm hai thành phần chính là kháng nguyên và chất bổ trợ a Kháng nguyên

Trước đây, kháng nguyên được coi là một chất lạ có bản chất là protein; khi đưa vào cơ thể, chúng kích thích cơ thể sản sinh kháng thể đặc hiệu và kháng thể ấy sẽ trung hòa kháng nguyên Hiện nay, khi nghiên cứu đáp ứng miễn dịch, người ta thấy kháng nguyên không chỉ kích thích miễn dịch dịch thể mà còn tạo ra lớp tế bào mẫn cảm có khả năng phản ứng với kháng nguyên (miễn dịch tế bào) Vì vậy, kháng nguyên được hiểu là những chất khi đưa vào cơ thể sẽ kích thích sản sinh cả kháng thể dịch thể và tế bào mẫn cảm đặc hiệu để chống lại sự xâm nhập và gây bệnh của mầm bệnh Khả năng kích thích miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào của kháng nguyên được gọi là tính kháng nguyên.

Độ kháng nguyên của một kháng nguyên trong vaccine mạnh hay yếu phụ thuộc vào tổng số nhóm quyết định kháng nguyên, trọng lượng phân tử, thành phần hoá học, cấu trúc lập thể và khả năng tích điện của các phân tử kháng nguyên Một kháng nguyên tạo phòng vệ tốt cho cơ thể không chỉ cần có tính kháng nguyên cao mà còn phải có tính đặc hiệu cao Tính đặc hiệu của kháng nguyên phụ thuộc vào đặc tính và cấu trúc của các nhóm quyết định tính kháng nguyên.

Kháng nguyên để chế tạo vacxin phòng bệnh truyền nhiễm thường là kháng nguyên của vi sinh vật, có thể bao gồm kháng nguyên của thân, lông, vỏ bọc và độc tố của chúng sản sinh ra trong quá trình phát triển (vacxin toàn khuẩn - vacxin thế hệ I) như vacxin phòng bệnh tụ huyết trùng gia súc, gia cầm và vacxin phòng bệnh phó thương hàn lợn con Nó cũng có thể là thành phần của các yếu tố gây bệnh của vi sinh vật (vacxin tiểu phần - vacxin thế hệ II) như vacxin chứa kháng nguyên F4, F5, F6, F18 của vi khuẩn E.coli để phòng bệnh tiêu chảy lợn con, bê, nghé, phù đầu lợn hoặc vacxin chứa kháng nguyên VP2 của virus Gumboro dùng để phòng bệnh Gumboro ở gà Ngoài ra, có thể là DNA, protein tái tổ hợp (vacxin thế hệ III) như vacxin tái tổ hợp phòng bệnh lở mồm long móng và bệnh lưỡi xanh, vacxin Trovac phòng bệnh cúm gia cầm H5N1.

Thành phần hoá học của các kháng nguyên vi sinh vật trong vaccine chủ yếu là protein (kháng nguyên lông, kháng nguyên độc tố), lipopolysaccharide (kháng nguyên thân) và polysaccharide (kháng nguyên vỏ/bọc) Trong các loại kháng nguyên này, kháng nguyên có bản chất là protein và lipopolysaccharide thể hiện tính kháng nguyên mạnh và tính đặc hiệu cao Kháng nguyên polysaccharide thường có phản ứng chéo với nhau do chúng chứa các nhóm đường cấu tạo nên các quyết định kháng nguyên giống nhau b Chất bổ trợ.

Chất bổ trợ là những hợp chất hóa học được thêm vào trong vacxin nhằm làm tăng khả năng kích thích miễn dịch và tăng hiệu lực của vacxin

Trong quá trình chế tạo và sử dụng vắc-xin, người ta nhận thấy vắc-xin chỉ chứa kháng nguyên cho hiệu lực bảo hộ thấp, khó kéo dài và tỉ lệ đáp ứng miễn dịch thấp Ngược lại, khi được bổ sung các chất không phải kháng nguyên vào vắc-xin, hiệu lực và thời gian bảo hộ được tăng lên Các chất được đưa vào vắc-xin gọi là chất bổ trợ Chất bổ trợ vắc-xin là những chất có hoạt tính kích thích miễn dịch không đặc hiệu, được thêm vào để nâng cao hiệu lực và kéo dài thời gian miễn dịch (Ramon, 1931).

Bahneman (1990), chất bổ trợ của vacxin có ba tác dụng:

- Hấp thu và lưu giữ kháng nguyên trong cơ thể lâu hơn, không bài thải nhanh kháng nguyên.

- Tạo kích thích đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu của cơ thể

- Giảm kích thích phản ứng của độc tố (nếu có) trong vacxin đối với cơ thể

Dựa vào bản chất và thành phần cấu tạo của chất bổ trợ, các chất bổ trợ được dùng trong chế tạo vaccine hiện nay được phân thành các nhóm chính nhằm tăng cường đáp ứng miễn dịch, tối ưu hóa hiệu quả bảo vệ và đảm bảo an toàn cho người tiêm.

Chất bổ trợ vô cơ bao gồm các loại như muối nhôm, than hoạt tính, nhôm hydroxit (Al(OH)3), sunphat alumin kali (KAl(SO4)2·12H2O) và phosphat nhôm (AlPO4) Các chất bổ trợ vô cơ thường hấp phụ kháng nguyên lên bề mặt để tăng cường đáp ứng miễn dịch của cơ thể và đồng thời giải phóng kháng nguyên từ từ vào hệ bạch huyết, kéo dài thời gian kích thích đáp ứng miễn dịch.

Chất bổ trợ hữu cơ bao gồm các loại dầu thực vật như dầu hướng dương, dầu lạc và dầu ôliu, cùng với các loại mỡ động vật và các sản phẩm của dầu khoáng hoặc Montanide 50 của Pháp Khi hỗn hợp với kháng nguyên, các chất bổ trợ hữu cơ sẽ hình thành nhũ tương nước trong dầu, giúp tăng cường trình diện kháng nguyên và nâng cao đáp ứng miễn dịch.

Chất bổ trợ dầu trong vaccine hoạt động tương tự chất bổ trợ vô cơ Nhờ phức hợp nhũ tương antigen - dầu - nước, kháng nguyên được giải phóng từ từ vào cơ thể để kích thích sinh kháng thể và tế bào miễn dịch đặc hiệu kéo dài Đồng thời các hạt nhũ di chuyển từ vị trí tiêm tới hạch lympho hoặc các cơ quan miễn dịch có thẩm quyền để kích thích miễn dịch không đặc hiệu Kết quả là liều vaccine có thể giảm, hiệu lực miễn dịch tăng cao và thời gian miễn dịch được kéo dài.

Chất bổ trợ (adjuvant) là một thành phần có nguồn gốc sinh vật được dùng để tăng cường đáp ứng miễn dịch của vaccine Thông thường, adjuvant được làm từ xác của một số loài vi khuẩn ở dạng bất hoạt, như Mycobacterium tuberculosis hoặc Salmonella typhimurium, nhằm kích thích hệ miễn dịch một cách an toàn Ngoài ra, nội độc tố của vi khuẩn như lipopolysaccharide (LPS) cũng có thể được sử dụng ở liều kiểm soát để nâng cao hiệu quả tiêm chủng Gồm có các dạng phổ biến như xác vi khuẩn bất hoạt và/hoặc nội độc tố vi khuẩn, tùy thuộc vào mục tiêu và loại vaccine mà nhà sản xuất lựa chọn.

- Sản phẩm từ vi khuẩn:

+ Trợ chất đầy đủ của Freund’s

+ DETOXTM (thành tế bào Mycobacterium phlei)

Dipalmitoyl phosphatidylethanolamin - MTP (MTP - PE)

Glycerol dipalmitat - MDP (Immther) - Dipalmitoxy - Propylamid - MDP (TheramidTM)

Nếu phân loại chất bổ trợ theo cơ chế tác dụng, có:

Chất mang kháng nguyên là một protein sinh miễn dịch gắn với hapten hoặc kháng nguyên sinh miễn dịch yếu Nó có thể là một vector mang gen biểu thị hapten hoặc mang kháng nguyên ngoại lai trên bề mặt của nó Chất mang cung cấp cho tế bào T sự hỗ trợ khi nhận diện hapten hoặc kháng nguyên, từ đó tăng cường quá trình đáp ứng miễn dịch Nhờ cơ chế này, hệ miễn dịch có thể phản ứng mạnh mẽ hơn với tác nhân ngoại lai, mang ý nghĩa quan trọng trong thiết kế vaccine và ứng dụng chẩn đoán miễn dịch.

- Toxoid vi khuẩn (uốn ván, bạch hầu )

- Protein màng ngoài não mô cầu (Proteosome)

- Độc tố tả, độc tố LT

- Phẩy khuẩn tả giảm độc

 Chất chuyển tải kháng nguyên:

Chất chuyển tải đóng vai trò cung cấp giá trị chuyển tải cho trợ chất kháng nguyên hoặc cho kháng nguyên Khác với các chất mang kháng nguyên, bản thân chất chuyển tải không sinh miễn dịch Tuy nhiên, giống như chất mang, phần lớn các chất chuyển tải có thể nâng cao phẩm chất kháng nguyên và vì vậy được xem là một loại trợ chất khác.

* Tác dụng của chất bổ trợ :

- Đưa kháng nguyên vào vi môi trường cơ thể thích hợp

- Hoạt hoá bổ thể và đưa đến tổng hợp, giải phóng và liên kết các Cytokin

Việc kích thích miễn dịch bằng chất bổ trợ gây ra phản ứng viêm nhẹ, đồng thời thu hút đại thực bào và các tế bào miễn dịch có vai trò trọng yếu, từ đó tăng cường khả năng nhận diện tác nhân gây bệnh và nâng cao hiệu quả đáp ứng miễn dịch của cơ thể.

Hấp phụ kháng nguyên và khoanh vùng kháng nguyên tại vị trí tiêm làm chậm quá trình giải phóng kháng nguyên, giúp kháng nguyên tồn tại lâu trong cơ thể và kéo dài sự trình diện kháng nguyên cho hệ miễn dịch Nhờ cơ chế này, thời gian tương tác với tế bào miễn dịch được kéo dài, từ đó tăng cường đáp ứng miễn dịch và khả năng nhận diện kháng nguyên.

- Kích thích sự hoạt động của APC để quá trình phân tích, trình diện kháng nguyên đạt hiệu quả.

- Chất bổ trợ sinh vật có tác dụng kích thích tế bào miễn dịch

* Trợ chất của vacxin có thể:

Các peptit nhỏ có tiềm năng tăng cường tương tác giữa tế bào lympho và đại thực bào khi vi khuẩn lao kích hoạt, từ đó nâng cao đáp ứng miễn dịch tế bào LPS tác động lên tế bào lympho B, thúc đẩy quá trình phân bào và hình thành tế bào plasmocyte, làm tăng sản lượng kháng thể đặc hiệu trong dịch thể.

Phân loại

Có thể chia vacxin làm 4 loại sau:

- Vacxin thế hệ mới sản xuất bằng công nghệ gen

Đây là loại vaccine cổ điển nhất Nguyên tắc của nó là làm chết yếu tố gây bệnh (virus hoặc vi khuẩn) nhưng vẫn giữ được tính mẫn cảm và tính kháng nguyên của tác nhân, từ đó kích thích hệ miễn dịch nhận diện và ghi nhớ tác nhân gây bệnh Do đặc điểm này, vaccine bất hoạt chủ yếu gây đáp ứng miễn dịch kiểu dịch thể, tập trung vào sản xuất kháng thể để bảo vệ cơ thể trước nhiễm trùng.

- Phương pháp làm chết yếu tố gây bệnh:

Có 2 phương pháp: hóa học và vật lý.

 Phương pháp hóa học: Dùng các hóa chất như formol để giết chết vi khuẩn

Ví dụ: vacxin tụ huyết trùng lợn vô hoạt, vacxin đóng dấu lợn vô hoạt

Những hóa chất này vô hoạt hoàn toàn virus nhưng không làm biến đổi protein cấu trúc

Ví dụ: Vacxin bại liệt Salk dạng tiêm ở người

Hình3: Vacxin dại bất hoạt dùng βpropiolacton

Phương pháp lý học: Dùng sức nóng, tia xạ (X, UV)

- Ưu, nhược điểm của vacxin chết:

 Ưu điểm: Không độc, không gây ô nhiễm môi trường, tính an toàn cao

Thời gian duy trì miễn dịch ngắn do lượng kháng nguyên cố định và ít dần chứ không nhân lên được như vacxin sống

Liều lượng tiêm lớn do đó khó tiêm và dễ gây áp xe

Miễn dịch xuất hiện chậm, gây miễn dịch tế bào kém

Không can thiệp trực tiếp vào ổ dịch

Phải đưa vacxin nhiều lần, tăng nguy cơ dị ứng

Vắc-xin sống là loại vắc-xin được sản xuất từ các chủng virus hoặc vi khuẩn còn sống, hầu như không gây bệnh cho động vật được tiêm phòng nhưng có khả năng gây đáp ứng miễn dịch mạnh Những tác nhân còn sống này nhân lên trong cơ thể vật chủ và tiếp tục kích thích kháng nguyên trong một khoảng thời gian, từ đó xây dựng sự bảo vệ lâu dài cho vật nuôi.

Vacxin sống bao gồm: vacxin nguyên độc, vacxin vô độc và vacxin nhược độc

* Vacxin nguyên độc: Dùng chủng virus nguyên độc có quan hệ từ loài động vật khác

Ví dụ về vaccine dựa trên virus cho người: dùng virus đậu bò để phòng bệnh đậu ở người Trong quá trình nghiên cứu, virus có độc lực hoặc đã được giảm độc lực được đưa vào cơ thể theo con đường thực nghiệm; độc lực của virus sẽ giảm khi được đưa vào cơ thể qua đường thực nghiệm, khác với sự xâm nhập của chúng trong tự nhiên Ví dụ điển hình là tiêm phòng hội chứng viêm phổi ở người bằng adenovirus sống.

* Vacxin vô độc (vacxin nhược độc tự nhiên): được sản xuất từ những chủng vi sinh vật vô độc phân lập trong tự nhiên

Vacxin nhược độc hóa, còn được gọi là vaccine sống giảm độc lực, được sản xuất từ các chủng vi sinh vật sống có độc lực yếu Những chủng này không có khả năng gây bệnh cho động vật được tiêm chủng và vẫn có thể kích hoạt đáp ứng miễn dịch hiệu quả Vì vậy, vacxin nhược độc hóa đóng vai trò quan trọng trong chương trình tiêm chủng để phòng ngừa các bệnh liên quan ở vật nuôi.

Các chủng vi sinh vật này được làm giảm độc lực bằng các phương pháp: vật lý, hóa học, sinh vật học và công nghệ gen

- Phương pháp làm giảm độc vi sinh vật:

Giảm độc bằng nhiệt độ: Vi sinh vật gây bệnh thường nhạy cảm với nhiệt độ; nuôi cấy ở nhiệt độ không phù hợp làm giảm độc lực của vi sinh vật, nhưng tính kháng nguyên vẫn được bảo tồn, giúp duy trì đặc tính nhận diện và tiềm năng ứng dụng trong nghiên cứu và phòng ngừa.

 Giảm độc bằng yếu tố hóa học

Ví dụ về vacxin BCG (Bacillus Calmette-Guérin) là một chủng trực khuẩn lao bò mang tên khoa học Mycobacterium bovis BCG Ban đầu chủng này có độc lực cao, nhưng đã được làm suy yếu thông qua quá trình nuôi cấy kéo dài và nhiều lần truyền qua các môi trường nuôi khác nhau, từng có thời kỳ nuôi trong môi trường có mật bò nhằm giảm độc lực Hiện nay vacxin BCG được sử dụng rộng rãi để phòng ngừa lao ở trẻ em và một số nhóm người nhất định, là thành phần quan trọng của chương trình tiêm chủng ở nhiều quốc gia.

230 lần cấy chuyển, vi khuẩn đã không còn độc, được sử dụng để sản xuất vacxin BCG

Phương pháp giảm độc bằng sinh vật học là phương pháp cổ điển để làm giảm độc lực của vi sinh vật; nhiều vaccine virus dành cho người và động vật được sản xuất theo cách này Vi sinh vật được truyền qua nhiều thế hệ qua môi trường ít cảm thụ (như động vật thí nghiệm, nuôi tế bào hoặc phôi gia cầm) Trong quá trình này, vi sinh vật không còn đủ điều kiện để thực hiện đầy đủ chu kỳ sống và buộc phải thích nghi với các điều kiện sống mới bằng cách biến đổi hệ gen, từ đó làm giảm độc lực và khả năng gây bệnh.

 Ưu điểm của vacxin sống:

Tiêm chủng giúp tạo miễn dịch nhanh và mạnh, đồng thời miễn dịch tồn tại lâu bền nhờ hệ miễn dịch được huấn luyện để nhận diện và ghi nhớ vi sinh vật gây bệnh Khi tái gặp tác nhân gây bệnh, cơ thể sẽ phản ứng nhanh chóng và mạnh mẽ, ngăn ngừa sự xâm nhập và hạn chế bệnh tật Nhờ cơ chế ghi nhớ miễn dịch, kháng thể và tế bào miễn dịch đặc hiệu được duy trì lâu dài, mang lại sự bảo vệ lâu hơn cho cá nhân và cộng đồng.

- Tạo miễn dịch tế bào cao hơn so với vacxin chết

- Có thể dùng can thiệp trực tiếp vào ổ dịch

- Liều lượng ít, dễ tiêm chủng

- Mức độ an toàn thấp do đột biến dẫn đến sự trở lại cường độc

- Tạp nhiễm virus trong nuôi cấy tế bào; ví dụ: tế bào thận khỉ có thể tạp nhiễm với SV40 (Simianvirus)

- Khó bảo quản, chi phí lớn

- Không sử dụng được cho động vật mang thai

- Không dùng cho những vùng an toàn dịch

Bảng 1: So sánh 2 loại vaccin

Vaccine dưới đơn vị là loại vaccine được sản xuất chứa các kháng nguyên tương đối tinh khiết được chiết tách từ virus hoặc vi khuẩn gây bệnh Trong nhóm này, trước tiên là vaccine chống độc tố (toxoid) Một số vi khuẩn gây bệnh bằng độc tố, ví dụ như Clostridium tetani và Corynebacterium diphtheriae, được nuôi cấy, chiết tách độc tố và giải độc bằng các phương pháp hóa học hoặc vật lý theo nguyên lý của vaccine bất hoạt Các độc tố mất hoạt tính được gọi là giải độc tố (anatoxin) và được dùng làm vaccine.

Phẩy khuẩn tả gây bệnh nhờ enterotoxin, gồm một dưới đơn vị A rất độc và năm dưới đơn vị B không độc; nhưng B lại có khả năng sinh kháng thể bảo vệ nên người ta nuôi vi khuẩn, tinh lọc enterotoxin, tách dưới đơn vị B dùng làm vaccine chống bệnh thổ tả Cần lưu ý rằng việc tăng độ tinh khiết có thể dẫn đến mất tính sinh miễn dịch hoặc sẽ bị các enzym phá hủy trước khi kích thích miễn dịch Vì vậy loại vaccine này đòi hỏi phải có chất mang hay chất bổ trợ, ví dụ như muối nhôm.

Vacxin dưới đơn vị có mức độ thuần khiết cao hơn so với toàn bộ vi sinh vật gây bệnh, nhờ đó chúng kích thích đáp ứng miễn dịch mạnh mẽ, tăng sinh kháng thể và đảm bảo hiệu lực bảo vệ cao.

Vacxin thế hệ mới sản xuất bằng công nghệ gen

Những tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực vi sinh vật, miễn dịch học và sinh hóa protein, đặc biệt là kỹ thuật gen học và công nghệ sinh học phân tử, mở ra hướng ứng dụng mới trong nghiên cứu và sản xuất các loại vắc-xin bằng công nghệ gen Những vắc-xin được tạo ra bằng phương pháp này được gọi là vắc-xin thế hệ mới, nhằm phân biệt với các loại vắc-xin đã được nghiên cứu và sản xuất theo công nghệ truyền thống Một vắc-xin được coi là thế hệ mới phải là thành phẩm của một quy trình có sự can thiệp, sử dụng và thao tác của công nghệ gen.

Hiện nay, nhiều loại vaccine thế hệ mới đã và đang được đưa vào sử dụng với hiệu quả cao, góp phần quan trọng vào công tác phòng chống bệnh tật cho cả người và động vật Những tiến bộ này mở rộng khả năng bảo vệ cộng đồng trước các dịch bệnh và nâng cao chất lượng y tế dự phòng cũng như an toàn sinh học.

Trong một loại vắc-xin, yếu tố quyết định tính sinh miễn dịch chính là thành phần protein đặc biệt trên bề mặt vi sinh vật gây bệnh Thành phần protein này được gọi là kháng nguyên và được tổng hợp nhờ một gen hoặc một số gen nằm trong hệ gen của vi sinh vật gây bệnh Những gen đảm nhận việc tổng hợp protein kháng nguyên được gọi là gen kháng nguyên.

Khi tách gen kháng nguyên từ vật liệu di truyền của vi sinh vật và ghép nó vào một hệ thống plasmid vector thích ứng, gen kháng nguyên này vẫn duy trì hoạt động như ở hệ gen gốc và phân tử protein kháng nguyên được tổng hợp ra vẫn có chức năng sinh miễn dịch Sản phẩm protein kháng nguyên được tạo ra theo cách này được gọi là vacxin tái tổ hợp gen hay vacxin thế hệ mới – vacxin công nghệ gen.

Công nghệ mới trong sản xuất vaccin

Các công nghệ mới trong sản xuất vaccin đã đóng vai trò then chốt trong công tác phòng chống bệnh tật, với sự bùng nổ của các công nghệ như tái tổ hợp DNA (rDNA), tinh khiết đại phân tử và sinh hóa học protein mở ra nhiều ứng dụng cho các loại vaccin đặc hiệu cho nhiều bệnh mà y học từng cho là bất khả, như viêm gan B và viêm não Nhật Bản Trong hai thập kỉ cuối của thế kỉ 20 đã xuất hiện nhiều thách thức kỹ thuật khi phát triển vaccin mới, nhờ những tiến bộ nhanh chóng ở các lĩnh vực như sinh học phân tử, công nghệ rDNA, sinh hóa học protein, hóa học polysaccharit, phân tích sinh hóa, tinh khiết đại phân tử, virus học, vi khuẩn học, huyết thanh học và miễn dịch học Một số ứng dụng sớm của các công nghệ mới được dành cho các vaccin đã có nhằm tăng sản lượng (như vaccin viêm gan B) hoặc tăng an toàn (như vaccin ho gà), nhưng phần lớn ứng dụng tập trung vào phát triển vaccin mới mà trước đây chưa thể làm được Công nghệ mới còn được mở rộng sang các lĩnh vực khác như thay đổi sinh lý học (thụ tinh), dị ứng, ung thư, điều trị miễn dịch và hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải.

Lĩnh vực Công nghệ Áp dụng

Hóa sinh Cấu trúc protein và cacbonhydra t

Xác định độ dao động của biểu bì

Miễn dịch Kháng thể đơn dòng

Nhận dạng và tách kháng nguyên

Tá chất mới Điều hòa miễn dịch

Tính miễn dịch phân tử

Khám phá miễn dịch niêm mạc đối với bệnh đường ruột

Di truyền AND tái tổ hợp

Hóa sinh Tổng hợp peptid

Các hướng phát triển vaccin hiện nay.

Việc sử dụng các phụ gia (adjuvant) mới nhằm gây ra loại đáp ứng miễn dịch mong muốn Ví dụ, phosphate nhôm và oligonucleotide CpG đã được demethyl hóa có thể được đưa vào vaccine để thúc đẩy đáp ứng miễn dịch theo hướng dịch thể (tạo kháng thể) thay vì đáp ứng tế bào.

Vắc-xin polipeptit tăng cường miễn dịch nhờ liên kết mạnh với các phân tử MHC Peptide riêng lẻ có thể được thiết kế để giống một phần của virus hoặc được gắn với MHC nhằm kích hoạt đáp ứng tế bào T Đoạn peptide này mô phỏng một epitope của kháng nguyên, giúp hệ miễn dịch nhận diện và tiêu diệt tác nhân gây bệnh một cách hiệu quả.

- Anti-idiotyp: idiotyp là cấu trúc không gian của kháng thể tại vị trí gắn kháng nguyên, đặc hiệu với kháng nguyên tương ứng Anti-idiotyp là các kháng thể đặc hiệu đối với idiotyp, do đó anti-idiotyp xét về mặt đặc hiệu lại tương tự với kháng nguyên Vậy, thay vì dùng kháng nguyên X làm vaccin, người ta dùng idiotyp anti- anti-X.

- Vaccin DNA: DNA của các tác nhân gây bệnh sẽ được biểu hiện bởi tế bào người được chủng ngừa Lợi thế của DNA là rẻ, bền, dễ sản xuất ra số lượng lớn nên thích hợp cho những chương trình tiêm chủng rộng rãi Ngoài ra, vaccin DNA còn giúp định hướng miễn dịch: tác nhân gây bệnh ngoại bào được trình diện qua MHC loại

II mô tả quá trình dẫn đến đáp ứng CD4 (dịch thể và tế bào) Khi kháng nguyên của tác nhân được cơ thể tự biểu hiện, nó sẽ được trình diện qua MHC loại I, từ đó đáp ứng miễn dịch tế bào qua CD8 được kích thích Tuy nhiên, phương pháp này là con dao hai lưỡi vì tế bào mang DNA lạ có nguy cơ bị nhận diện là “không ta”, dẫn đến nguy cơ phát sinh bệnh tự miễn.

- Sử dụng vector – dùng các virut hoặc protein “tải” và “cộng hợp” kháng nguyên.

Giới thiệu qui trình sản xuất vacxin

Quy trình sản xuất vacxin tái tổ hợp(VD: vacxin cúm)

• Bước 1:Thu nhận mẫu bệnh và thông tin tình hình dịch tễ bệnh cúm

• Bước 2: Chẩn đoán, phân lập virus và các phân tích sơ bộ

• Bước 3: Sản xuất kháng huyết thanh

• Bước 4: Phân tích đặc điểm di truyền và kháng nguyên

• Bước 5: Đánh giá và chọn virus làm vaccine

• Bước 6: Tái tổ hợp virus cúm bằng kỹ thuật di truyền ngược

• Bước 7: Xác định đặc điểm kháng nguyên và di truyền của chủng tái tổ hợp

• Bước 8: Đánh giá đặc tính phát triển của virus tái tổ hợp

• Bước 9:Chuẩn bị các hoá chất cho vaccine bất hoạt

Kỹ thuật này cho phép ghép 6 gen của virus cúm A/Puerto Rico/8/34 (PR8), gồm các gen mã hóa cho các protein NP, PA, PB1, PB2, M và NS, với 2 gen mã hóa cho protein HA và NA của chủng được khuyến nghị làm vaccine, tạo ra một virus mới mang đặc điểm kháng nguyên HA và NA và được làm giảm độc lực để mang lại hiệu quả miễn dịch nhanh và cao hơn.

Trong hai thế kỷ qua, vaccine và tiêm chủng đã đẩy lùi nhiều bệnh tật và làm giảm tỉ lệ tử vong trên toàn cầu Trung bình mỗi năm, tiêm chủng cứu sống khoảng 3 triệu người trên thế giới, đồng thời khống chế và loại trừ nhiều căn bệnh mới phát sinh mà trước đây chưa có vaccine phòng chống.

Lợi ích của tiêm chủng cho cộng đồng trong nhiều thập kỷ qua được thế giới công nhận rộng rãi Ở Việt Nam, chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia đã triển khai 10 loại vắc-xin, và nhờ đó trong hai thập kỷ qua đã giảm đáng kể tỷ lệ mắc và tử vong do các bệnh truyền nhiễm như ho gà, bạch hầu, thương hàn và lao.

Hình : Chương trình tiêm chủng mở rộng

LỨA TUỔI LOẠI VACXIN PHÒNG BỆNH LỊCH TIÊM

Từ sơ sinh (càng sớm càng tốt)

Lao (BCG) Mũi 1: Có thể nhắc lại sau 4 năm

Bại liệt (Poliomyelitis) Bại liệt sơ sinh

1 tháng tuổi Viêm gan B Mũi 2

2 tháng tuổi Bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt

Viêm màng não mủ, viêm họng, viêm

PQ, viêm phổi… do trực khuẩn H.influenza týp b

Viêm gan B Mũi 3 (Một năm sau nhắc lại mũi 4 và 8 năm sau nhắc lại mũi 5)

3 tháng tuổi Bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt Mũi 2

Viêm màng não mủ, viêm họng, viêm

PQ, viêm phổi…do trực khuẩn H.influenza týp b

4 tháng tuổi Bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt Mũi 3 (nhắc lại sau 1 năm)

Viêm màng não mủ, viêm họng, viêm

PQ, viêm phổi…do trực khuẩn H.influenza týp b

Mũi 3 (nhắc lại sau 1 năm)

9 tháng tuổi Vacxin phối hợp sởi, quai bị, rubella

(MMR) Tiêm 1 mũi, 4-6 năm sau tiêm nhắc lại (Khi cần thiết nhắc lại sau 15 tháng)

Thủy đậu (Varicella) Tiêm 1 mũi duy nhất (9 tháng – 12 tuổi)

Nếu trên 12 tuổi: tiêm 2 mũi (cách nhau 6 – 8 tuần)

12 tháng tuổi Viêm não Nhật Bản B

Tiêm 3 mũi (2 mũi đầu cách nhau 1-2 tuần và mũi 3 sau 1 năm)

15 tháng tuổi Vacxin phối hợp sởi, quai bị, rubella

Tiêm 1 mũi (nhắc lại sau 4-5 năm)

Viêm màng não do não mô cầu (vacxin A+C meningoencephalitis)

(Cứ 3 năm tiêm nhắc lại

1 lần hoặc theo chỉ định khi có dịch)

24 tháng tuổi và người lớn

Viêm gan A (Hepatitis A) = Vacxin Avaxim

Từ 2-15 tuổi: khoảng cách giữa 2 mũi là 6 tháng

Trên 15 tuổi: khoảng cách giữa 2 mũi là 6-12 tháng

Viêm phổi, viêm màng não mủ do phế cầu khuẩn = vacxin Pneumo 23

(Cứ 5 năm nhắc lại 1 lần)

Thương hàn (Typhoid) = vacxin Typhim

Vi Tiêm 1 mũi Cứ 3 năm nhắc lại 1 lần

36 tháng và người lớn Vacxin Cúm = vacxin Vaxigrip

Vắc-xin cúm nên được tiêm mỗi năm một lần, đặc biệt đối với những người có nguy cơ mắc biến chứng của bệnh cúm Vắc-xin có thể dùng cho phụ nữ đang cho con bú.

(trẻ dưới 8 tuổi: chưa mắc cúm hoặc chưa tiêm chủng phải tiêm liều thứ 2 sau 4 tuần)

Những tiến bộ khoa học ngày càng sâu trong vi sinh vật học, miễn dịch học, sinh học phân tử, di truyền học, hóa học, vật lý, tin học và công nghệ nano đang nâng cao khả năng nghiên cứu và phát triển các vaccine an toàn và hiệu quả hơn Vaccin học đã mở rộng phạm vi ứng dụng sang nhiều lĩnh vực mới như dị ứng, bệnh xã hội học và các bệnh nan y (ung thư, HIV/AIDS), cùng với các bệnh ký sinh trùng sốt rét, đạt được nhiều thành tựu đáng kể và mang lại triển vọng to lớn cho chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Những thách thức lớn đối với công tác tiêm chủng nằm ở ba yếu tố chính: an toàn vaccine, chi phí và sự xuất hiện của các bệnh mới chưa có vaccine Vấn đề an toàn là mối quan tâm hàng đầu, vì các phản ứng phụ không an toàn có thể làm giảm sự đồng thuận của cộng đồng và cản trở các chiến dịch tiêm chủng Chi phí sản xuất vaccine rất tốn kém, đòi hỏi đầu tư lớn và kế hoạch tài chính bền vững để bảo đảm nguồn cung và giá cả hợp lý cho người dân Đồng thời, vẫn có nhiều bệnh truyền nhiễm mới xuất hiện chưa có vaccine, tạo áp lực cho nghiên cứu và phát triển vaccine mới nhằm đáp ứng các nguy cơ sức khỏe cộng đồng.

HIV/ADIS, bò điên, sốt xuất huyết, cúm gà….là thách thức lớn cho giới khoa học và các nhà quản lý y tế của các nước.

Tiêm chủng là sự lựa chọn đúng đắn để xây dựng miễn dịch và bảo vệ cả cộng đồng trước các mầm bệnh nguy hiểm Khi được tiêm chủng, cơ thể sẽ phát triển miễn dịch mạnh, giúp ngăn ngừa sự lây lan và tiêu diệt mầm bệnh hiệu quả Tiêm chủng không chỉ bảo vệ bản thân mà còn bảo vệ những người xung quanh, đặc biệt là những người yếu thế không thể tiêm chủng Vì vậy, tiêm chủng không chỉ bảo vệ một thế hệ mà còn mang lại sức khỏe cho các thế hệ tiếp nối, đóng góp vào an toàn và phát triển của xã hội.

Ngày đăng: 01/11/2022, 18:27

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

w