Như chúng ta đã biết xung quanh ta dều có những vi sinh vật bé nhỏ sinh sống. Một vài có thể không ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ chúng ta, một số khác lại gây những căn bệnh nguy hiểm đến tính mạng và đa số chúng là những virus có mặt trong không khí hoặc từ các vật nuôi, vật trung gian… truyền vào. Lúc nhiễm virus, vi khuẩn tuỳ vào hệ thống miễn dịch của từng người mà có những đáp ứng miễn dịch khác nhau. Vào thế kỉ XVII các virus vẫn chưa được khám phá, còn vi khuẩn tuy đã được tìm ra nhưng vai trò gây bệnh của chúng chưa được biết, khái niệm về vaccine là chưa có nhưng con người đã sử dụng một đặc tính tương tự như vaccine là cho cơ thể tiếp xúc với mầm bệnh nhằm tạo ra sự quen thuộc và tăng sức chịu đựng của cơ thể.Năm 1796, châu Âu đang có dịch đậu mùa, Edward Jenner (một bác sĩ người Anh) đã thực hiện thành công thử nghiệm vaccine ngừa căn bệnh này. Kinh nghiệm dân gian cho thấy những nông dân vắt sữa bò có thể bị lây bệnh đậu bò, nhưng sau khi khỏi bệnh, họ trở nên miễn nhiễm đối với bệnh đậu mùa. Dựa vào đó, Jenner chiết lấy dịch từ các vết đậu bò trên cánh tay của cô bệnh nhân Sarah Nelmes rồi cấy dịch này vào cánh tay của cậu bé 8 tuổi khỏe mạnh cùng làng tên là James Phipps. Sau đó Phipps đã có những triệu chứng của bệnh đậu bò. Bốn mươi tám ngày sau, Phipps khỏi hẳn bệnh đậu bò, Jenner liền tiêm chất có chứa mầm bệnh đậu mùa cho Phipps, nhưng Phipps không hề mắc căn bệnh này. Như vậy rõ ràng là đứa trẻ đó đã được chủng ngừa và đề kháng được bệnh. Tám mươi năm sau, Louis Pasteur nghiên cứu bệnh tả khi dịch tả đang tàn sát đàn gà. Ông cấy các vi khuẩn tả trong phòng thí nghiệm rồi đem tiêm cho gà: những con bị tiêm chết hết. Mùa hè năm 1878, ông chuẩn bị một bình dung dịch nuôi cấy vi khuẩn dạng huyền phù, rồi để đó, đi nghỉ mát. Khi trở về, ông lại trích lấy huyền phù đó đem tiêm cho gà. Lần này thì bầy gà chỉ bị bệnh nhẹ rồi cả đàn cùng khỏe lại. Pasteur hiểu ra rằng khi ông đi vắng, vi khuẩn trong huyền phù đó đã bị biến tính, suy yếu đi. Ông bèn lấy vi khuẩn tả (bình thường) đem tiêm cho những con gà vừa trải qua thí nghiệm trên và những con chưa hề bị tiêm vi khuẩn. Kết quả là những con nào từng được tiêm vi khuẩn (biến tính) thì có khả năng đề kháng lại mầm bệnh, số còn lại chết hết. Qua đó, Pasteur đã xác nhận các giả thuyết của Jenner và mở đường cho khoa miễn dịch học hiện đại.Hai dẫn chứng trên cho ta biết được quá trình tìm ra cách để tạo ra một loại thuốc chống được một số căn bệnh nguy hiểm và thuật ngữ “vaccine” được ra đời. Ngày nay với sự phát triển của y học và nhất là sự phát triển mạnh mẽ công nghệ gen đã khiến cho việc điều chế vaccine hiệu quả hơn. Nhờ có vaccine mà một số căn bệnh nguy hiểm hầu như đã được ngăn chặn như: triệt tiêu hoàn toàn bệnh đậu mùa (virus đậu mùa chỉ còn ở trong viện lưu trữ mẫu), gần như ngăn chặn hoàn toàn bệnh bại liệt, giảm đáng kể các bệnh sởi, bạch hầu, ho gà, bệnh ban đào, thủy đậu, quai bị, thương hàn và uốn ván v.v…Bài viết dưới đây nhóm xin giới thiệu về vaccine và ứng dụng công nghệ sinh học trong việc điều chế vaccine.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
A SƠ LƯỢC VỀ VACCINE I ĐỊNH NGHĨA VACCINE: 4
1) Vaccine là gì? 4
2) Thành phần chủ yếu của vaccine: 4
3) Phân loại vaccine: 4
a) Dựa vào thành phần kháng nguyên: 4
b) Dựa vào hoạt tính của mầm bệnh: 5
4) Tiêu chuẩn của vaccine: 5
5) Quá trình sản xuất vaccine: 6
6) Nguyên tắc sử dụng vaccine : 8
7) Phạm vi và tỷ lệ tiêm chủng: 8
8) Đối tượng tiêm chủng: 8
9) Thời gian tiêm chủng: 9
10) Liều lượng và đường đưa vaccine vào cơ thể: 10
a- Liều lượng: 10
b- Đường tiêm chủng: 10
11) Các phản ứng phụ do tiêm chủng: 11
12) Bảo quản vaccine: 11
II PHÁT TRIỂN VACCINE: 12
1 Thời kỳ sơ khai: 12
2 Thời kỳ giải độc tố và vaccin bất ho ạt: 12
3 Thời kỳ vaccin sống: 12
4 Thời kỳ công nghệ gen 13
Trang 2III CÔNG NGHỆ MỚI TRONG SẢN XUẤT VACCINE: 13
1 Giớ i thiê ̣u chung: 13
2 Vaccin sống 15
a/ Vaccine cổ điển: 15
b/ Vaccine tái tổ hợp: 16
3 Vaccine bất hoạt: 17
a/ Vaccine bất hoạt nguyên tế bào: 17
b/ Vaccine bất hoạt protein: 17
IV HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRONG TƯƠNG LAI: 18
B- VACCINE CHỮA BỆNH UỐN VÁN I CÁC LOẠI VACCINE CHỮA BỆNH UỐN VÁN: 19
II CƠ CHẾ ĐÁP ỨNG MIỄN DI ̣CH CỦA VACCINE: 23
III SẢN XUẤT VACCINE : 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết xung quanh ta dều có những vi sinh vật bé nhỏ sinh sống Một vài có thể không ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ chúng ta, một số khác lại gây những căn bệnh nguy hiểm đến tính mạng và đa số chúng là những virus có mặt trong không khí hoặc từ các vật nuôi, vật trung gian… truyền vào Lúc nhiễm virus, vi khuẩn tuỳ vào hệ thống miễn dịch của từng người mà có những đáp ứng miễn dịch khác nhau Vào thế kỉ XVII các virus vẫn chưa được khám phá, còn vi khuẩn tuy đã được tìm ra nhưng vai trò gây bệnh của chúng chưa được biết, khái niệm về vaccine là chưa có nhưng con người đã
sử dụng một đặc tính tương tự như vaccine là cho cơ thể tiếp xúc với mầm bệnh nhằm tạo
ra sự quen thuộc và tăng sức chịu đựng của cơ thể
Năm 1796, châu Âu đang có dịch đậu mùa, Edward Jenner (một bác sĩ người Anh) đã thực hiện thành công thử nghiệm vaccine ngừa căn bệnh này Kinh nghiệm dân gian cho thấy những nông dân vắt sữa bò có thể bị lây bệnh đậu bò, nhưng sau khi khỏi bệnh, họ trở nên miễn nhiễm đối với bệnh đậu mùa Dựa vào đó, Jenner chiết lấy dịch từ các vết đậu bò trên cánh tay của cô bệnh nhân Sarah Nelmes rồi cấy dịch này vào cánh tay của cậu bé 8 tuổi khỏe mạnh cùng làng tên là James Phipps Sau đó Phipps đã có những triệu chứng của bệnh đậu bò Bốn mươi tám ngày sau, Phipps khỏi hẳn bệnh đậu bò, Jenner liền tiêm chất có chứa mầm bệnh đậu mùa cho Phipps, nhưng Phipps không hề mắc căn bệnh này Như vậy rõ ràng là đứa trẻ đó đã được chủng ngừa và đề kháng được bệnh Tám mươi năm sau, Louis Pasteur nghiên cứu bệnh tả khi dịch tả đang tàn sát đàn gà Ông cấy các vi khuẩn tả trong phòng thí nghiệm rồi đem tiêm cho gà: những con bị tiêm chết hết Mùa hè năm 1878, ông chuẩn bị một bình dung dịch nuôi cấy vi khuẩn dạng huyền phù, rồi để đó, đi nghỉ mát Khi trở về, ông lại trích lấy huyền phù đó đem tiêm cho gà Lần này thì bầy gà chỉ bị bệnh nhẹ rồi cả đàn cùng khỏe lại Pasteur hiểu ra rằng khi ông đi vắng, vi khuẩn trong huyền phù đó đã bị biến tính, suy yếu đi Ông bèn lấy vi khuẩn tả (bình thường) đem tiêm cho những con gà vừa trải qua thí nghiệm trên và những con chưa hề bị tiêm vi khuẩn Kết quả là những con nào từng được tiêm vi khuẩn (biến tính) thì có khả năng đề kháng lại mầm bệnh, số còn lại chết hết Qua đó, Pasteur đã xác nhận các giả thuyết của Jenner và mở đường cho khoa miễn dịch học hiện đại
Trang 4Hai dẫn chứng trên cho ta biết được quá trình tìm ra cách để tạo ra một loại thuốc chống được một số căn bệnh nguy hiểm và thuật ngữ “vaccine” được ra đời Ngày nay với sự phát triển của y học và nhất là sự phát triển mạnh mẽ công nghệ gen đã khiến cho việc điều chế vaccine hiệu quả hơn Nhờ có vaccine mà một số căn bệnh nguy hiểm hầu như đã được ngăn chặn như: triệt tiêu hoàn toàn bệnh đậu mùa (virus đậu mùa chỉ còn ở trong viện lưu trữ mẫu), gần như ngăn chặn hoàn toàn bệnh bại liệt, giảm đáng kể các bệnh sởi, bạch hầu, ho gà, bệnh ban đào, thủy đậu, quai bị, thương hàn và uốn ván v.v… Bài viết dưới đây nhóm xin giới thiệu về vaccine và ứng dụng công nghệ sinh học trong việc điều chế vaccine
Trang 5A SƠ LƯỢC VỀ VACCINE
1) Vaccine là gì?
Vaccine là chế phẩm có tính kháng nguyên dùng để tạo miễn dịch đặc hiệu chủ động, nhằm tăng sức đề kháng của cơ thể đối với một số tác nhân gây bệnh cụ thể Các nghiên cứu mới còn mở ra hướng dùng vắc-xin để điều trị một số bệnh Thuật ngữ vaccine xuất phát từ vaccinia, loại virus gây bệnh đậu bò nhưng khi đem tiêm cho người lại giúp ngừa
được bệnh đậu mùa (tiếng Latinh vacca nghĩa là "con bò cái") Việc dùng vaccine để
phòng bệnh gọi chung là chủng ngừa hay tiêm phòng hoặc tiêm chủng, mặc dù vaccine không những được tiêm mà còn có thể được đưa vào cơ thể qua đường miệng
2) Thành phần chủ yếu của vaccine:
Có hai thành phần chủ yếu trong vaccine đó là: Kháng nguyên và chất bổ trợ vaccine
- Kháng nguyên: kháng nguyên được hiểu là một chất khi đưa vào cơ thể sẽ kích thích
cơ thể vật chủ sản sinh kháng thể và tạo ra mộ lớp tế bào mẫn cảm đặc hiệu chống lại sự xâm nhập và gây bệnh của mầm bệnh
- Chất bổ trợ vaccine: Là những chất được bổ sung vào vaccine, có khả năng kích thích sinh miễn dịch không đặc hiệu nhằm nâng cao hiệu lực và độ dài miễn dịch của vaccine Bổ trợ kết hợp với kháng nguyên làm tăng tính lạ của kháng nguyên khi vào cơ thể, nên đáp ứng miễn dịch mạnh hơn, quá trình tổng hợp protein cao hơn.Vaccine có bổ sung chất bổ trợ sẽ tạo được miển dịch mạnh hơn ,thời gian miễn dịch kéo dài hơn
3) Phân loại vaccine:
Dựa vào thành phần kháng nguyên có trong vaccine, hoặc căn cứ vào hoạt tính của mầm bệnh hoặc công nghệ chế tạo vaccine để phân loại vaccine:
a) Dựa vào thành phần kháng nguyên:
+ Vaccine thế hệ I – vaccine toàn khuẩn:
Vaccine toàn khuẩn có thể bao gồm kháng nguyên thân, vỏ bọc và độc tố của mầm bệnh sản sinh ra trong quá trình phát triển
+ Vaccine thế hệ II:
Trang 6Trong vaccine chỉ chứa một số thành phần gây bệnh của mầm bệnh nguyên + Vaccine thế hệ III - vaccine tái tổ hợp:
Vaccine tái tổ hợp được sản xuất bằng nghệ gen (genetic engeneering) như vaccine tái
tổ hợp phòng bệnh cúm gia cầm H5N1, vaccine tái tổ hợp LMLM v.v
b) Dựa vào hoạt tính của mầm bệnh:
Trong nhóm này có hai loại vaccine: vaccine vô hoạt và vaccine nhược độc + Vaccine vô hoạt:
Vaccine vô hoạt là vaccine chứa mầm bệnh - kháng nguyên đã được vô hoạt bằng các yếu tố vật lý như: nhiệt độ, tia tử ngoại, sóng siêu âm; bằng các hóa chất như: các loại thuốc nhuộm,các axit, formol v.v
Vaccine vô hoạt không có bổ trợ: Loại vaccine này còn được gọi là bacterin Vaccine bacterin chỉ chứa một thành phần chủ yếu là kháng nguyên Công nghệ chế tạo bacterin khá đơn giản phù hợp với các nước có trình độ chế tạo vaccine đơn giản, có giá thành hạ Song hiệu lực vaccine này thấp, độ dài miễn dịch ngắn Hiện nay loại vaccine này được sản xuất rất ít, thường sản xuất dạng vaccine chuồng cho một số cơ sở có yêu cầu
Vaccine vô hoạt có bổ trợ vaccine: Trong vaccine này ngoài kháng nguyên đã được vô hoạt còn có bổ trợ vaccine Các bổ trợ vaccine hiện nay thường dùng là keo phèn, phèn chua và bổ trợ dầu khoáng
+ Vaccine nhược độc:
Vaccine nhược độc là vacine chứa mầm bệnh được làm nhược độc hoặc vô độc, nhưng vẫn bảo toàn tính kháng nguyên
4) Tiêu chuẩn của vaccine:
Hai tiêu chuẩn cơ bản nhất của vaccine là an toàn và hiệu lực
a) An toàn
Một vaccin lý tưởng khi sử dụng sẽ không gây bệnh, không gây độc và không gây phản ứng Sau khi sản xuất vaccine phải được cơ quan kiểm định nhà nước kiểm tra chặt chẽ về mặt vô khuẩn, thuần khiết và không độc
- Vô khuẩn: Vaccine không được nhiễm các vi sinh vật khác, nhất là các vi sinh vật gây bệnh
Trang 7- Thuần khiết: Ngoài kháng nguyên đưa vào để kích thích cơ thể đáp ứng miễn dịch chống vi sinh vật gây bệnh, không được lẫn các thành phần kháng nguyên khác có thể gây
ra các phản ứng phụ bất lợi
- Không độc: Liều sử dụng phải thấp hơn rất nhiều so với liều gây độc
Tuy nhiên, không có vaccine nào đạt được độ an toàn tuyệt đối Khi cân nhắc để quyết định xem một vaccine nào đó có được đưa vào sử dụng hay không, cần phải so sách giữa mức độ phản ứng do vaccine và tính nguy hiểm của bệnh nhiễm khuẩn tương ứng b) Hiệu lực
Vaccine có hiệu lực lớn là vaccine gây được miễn dịch ở mức độ cao và tồn tại trong một thời gian dài Hiệu lực gây miễn dịch của vaccine trước hết được đánh giá trên động vật thí nghiệm, sau đó trên thực địa
Trên động vật thí nghiệm: Cách thứ nhất, đánh giá mức độ đáp ứng miễn dịch thông qua việc xác định hiệu giá kháng thể hoặc xác định mức độ dương tính của phản ứng da Cách đánh giá này không cho biết hiệu lực bảo vệ Cách thứ hai, xác định tỷ lệ động vật đã được tiêm chủng sống sót sau khi thử thách bằng vi sinh vật gây bệnh
Dù đã được cơ quan kiểm định nhà nước kiểm tra và đã được đánh giá trên động vật, trước khi đưa ra tiêm chủng rộng rãi, vaccineđều phải được thử nghiệm trên thực địa (field test): Vaccine được tiêm chủng cho một cộng đồng, theo dõi thống kê tất cả các phản ứng phụ và đánh giá khả năng bảo vệ khi mùa dịch tới
Ngoài 2 tiêu chuẩn trên, để chọn một vaccine tiêm chủng, người ta còn quan tâm đến giá thành và tính thuận lợi cho việc tiến hành tiêm chủng
5) Quá trình sản xuất vaccine:
1885 Vaccine dại bất hoạt Louis Pasteur
Trang 81915 Vaccine chống hoại thư Weinberg
1921 Vaccine BCG phòng lao L.C.A.Calmette-A.F.Mguerin
1932 Vaccine sống sốt vàng M.Theiler
1937 Vaccine cúm bất hoạt Salk
1938 Vaccine viêm não A.Cmorodinsov-E.Levkovich
1940 Vaccine dại bất hoạt D.Semple
1953 Vaccine bại liệt chết (Salk) Salk
1957 Vaccine bại liệt sống uống Sabin
1960 Vaccine sởi sống J.F.Enders,Yokuno,A.A.Smordintsev
1967 Vaccine quai bị bất hoạt (Hoa Kỳ)
1968 Vaccine viêm não mủ C Gotschlich
1969 Vaccine Rubella sống (Hoa Kỳ-Bỉ)
1971 Vaccine viêm não mủ A Gotschlich
1974 Vaccine Rubella sống Takahashi
1978 Vaccine viêm gan B huyết tương
1980 Vaccine dại nuôi cấy tế bào Austrian
1981 Vaccine ho gà vô bào (Pháp – Nhật)
1983 Vaccine viêm gan B tái tổ hợp Takahshi
1986 Vaccine sởi+quai bị+Rubella MerkCo.Ltd (Hoa Kỳ), Myanohara
(Nhật)
1993 Vaccine cộng hợp 5 thành phần
DTP-IPV-Hib
Trang 9
1998 Vaccine Rota và Lyme
6) Nguyên tắc sử dụng vaccine :
Việc sử dụng vaccine phải đảm bảo các nguyên tắc sau đây:
a) Tiêm chủng trên phạm vi rộng, đạt tỷ lệ cao
b) Tiêm chủng đúng đối tượng
c) Bắt đầu tiêm chủng đúng lúc; bảo đảm đúng khoảng cách giữa các lần tiêm chủng; tiêm chủng nhắc lại đúng thời gian
d) Tiêm chủng đúng đường và đúng liều lượng
e) Nắm vững phương pháp phòng và xử trí các phản ứng không mong muốn do tiêm chủng
f) Bảo quản vaccine đúng quy định
7) Phạm vi và tỷ lệ tiêm chủng:
- Về phạm vi tiêm chủng:
Phạm vi tiêm chủng được quy định theo tình hình dịch tễ của từng bệnh Phạm vi tiêm chủng đương nhiên không giống nhau giữa các nước Ngay cả các khu vực trong một nước cũng có thể có sự khác nhau Những quy định này lại có thể thay đổi theo thời gian
do sự thay đổi về dịch tễ học của bệnh Về lý thuyết, người ta thường nói tiêm chủng càng rộng càng tốt Thực tế thì không thể thực hiện được điều đó vì những lý do sau đây: Thứ nhất, sẽ rất tốn kém (chi phí cho việc mua hoặc sản xuất vaccine và cho việc tổ chức tiêm chủng); thứ hai, tuy các phản ứng không mong muốn do vaccine gây ra rất ít nhưng không phải là không có
- Về tỷ lệ tiêm chủng:
Những khu vực có lưu hành bệnh truyền nhiễm, tiêm chủng phải đạt trên 80% đối tượng chưa có miễn dịch mới có khả năng ngăn ngừa được dịch Nếu tỷ lệ tiêm chủng chỉ đạt trong khoảng từ 50% đến 80%, nguy cơ xảy ra dịch chỉ giảm bớt Nếu tỷ lệ tiêm chủng dưới 50% dịch vẫn dễ dàng xảy ra
8) Đối tượng tiêm chủng:
Trang 10Đối tượng cần được tiêm chủng một loại vaccine nào đó là tất cả những người có nguy
cơ nhiễm vi sinh vật gây bệnh mà chưa có miễn dịch
Trẻ em là đối tượng cần được đặc biệt quan tâm Sau khi hết miễn dịch thụ động do
mẹ truyền (trong thời gian khoảng 6 tháng) nguy cơ mắc bệnh của trẻ rất lớn Mặt khác miễn dịch thụ động nhờ kháng thể truyền qua nhau thai hoặc qua sữa chỉ có đối với những bệnh mà cơ chế bảo vệ chủ yếu do miễn dịch dịch thể Đối với những bệnh mà cơ chế bảo
vệ là miễn dịch qua trung gian tế bào thì trẻ có thể bị bệnh ngay từ những tháng đầu tiên sau khi sinh Những hiểu biết này là cơ sở cho việc quy định thời điểm bắt đầu tiêm chủng cho trẻ em Trừ những đối tượng chống chỉ định, tất cả trẻ em đều phải được tiêm chủng
Đối với người lớn, đối tượng tiêm chủng thu hẹp hơn Thường chỉ tiến hành tiêm chủng cho những nhóm người có nguy cơ cao
Không được tiêm chủng cho các đối tượng sau đây:
- Những người đang bị sốt cao Những trường hợp đang bị nhiễm khuẩn nhẹ không sốt hoặc chỉ sốt nhẹ thì không cần phải hoãn tiêm chủng
- Những người đang ở trong tình trạng dị ứng Những người có cơ địa dị ứng hoặc
có lịch sử gia đình bị dị ứng vẫn tiêm chủng được, nhưng cần phải theo dõi cẩn thận hơn
- Vaccine sống giảm độc lực không được tiêm chủng cho những người bị thiếu hụt miễn dịch, những người mắc bệnh ác tính
- Tất cả các loại vaccine virus sống giảm độc lực không được tiêm chủng cho phụ
nữ đang mang thai
9) Thời gian tiêm chủng:
Việc tiêm chủng được tiến hành thường xuyên hoặc tập trung tiêm chủng hàng loạt tùy thuộc vào yêu cầu của mỗi loại vaccin và các điều kiện cụ thể khác
Thời điểm tổ chức tiêm chủng: Khi đã xác định được quy luật xuất hiện dịch, cần phải tiến hành tiêm chủng đón trước mùa dịch, để cơ thể có đủ thời gian hình thành miễn dịch Đối với vaccine được tiêm chủng lần đầu, thời gian tiềm tàng kéo dài từ 24 giờ đến 2 tuần (trung bình khoảng 1 tuần), tùy thuộc vào bản chất vaccine và tính phản ứng của cơ thể Hiệu giá kháng thể đạt được đỉnh cao nhất sau khoảng 4 ngày đến 4 tuần (trung bình 2
Trang 11tuần) Đó là kết quả của đáp ứng miễn dịch tiên phát Khi tiêm chủng nhắc lại, thời gian tiềm tàng sẽ rút ngắn, hiệu giá kháng thể đạt được đỉnh cao nhất chỉ sau một số ngày nhờ những tế bào “lympho B nhớ” miễn dịch Đó là kết quả của đáp ứng miễn dịch thứ phát Khoảng cách giữa các lần tiêm chủng: Đối với những vaccine phải tiêm chủng nhiều lần (khi tạo miễn dịch cơ bản), khoảng cách hợp lý giữa các lần tiêm chủng là 1 tháng Nếu khoảng cách này ngắn hơn, mặc dù tiêm chủng lần sau nhưng kết quả đáp ứng của cơ thể vẫn chỉ như tiên phát, đáp ứng miễn dịch thứ phát sẽ không có hoặc bị hạn chế Ngược lại, vì một lý do nào đó phải tiêm chủng lần tiếp theo sau hơn 1 tháng, hiệu quả miễn dịch vẫn được đảm bảo, vì vậy lần tiêm chủng trước vẫn được tính Tuy nhiên, không nên kéo dài việc tiêm chủng nếu không có những lý do bắt buộc, vì trẻ có thể bị mắc bệnh trước khi được tiêm chủng đầy đủ
Thời gian tiêm chủng nhắc lại: Tùy thuộc vào thời gian duy trì được tình trạng miễn dịch có đủ hiệu lực bảo vệ của mỗi loại vaccin Thời gian này khác nhau đối với các loại vaccine khác nhau Khi tiêm chủng nhắc lại thường chỉ cần 1 lần Với lần tăng cường này,
cơ thể sẽ đáp ứng miễn dịch nhanh và mạnh hơn, cho dù kháng thể của lần tiêm chủng trước chỉ còn lại rất ít
10) Liều lượng và đường đưa vaccine vào cơ thể:
a- Liều lượng:
Liều lượng vaccine tùy thuộc vào loại vaccine và đường đưa vào cơ thể Liều lượng quá thấp sẽ không đủ khả năng kích thích cơ thể đáp ứng miễn dịch Ngược lại, liều lượng quá lớn sẽ dẫn đến tình trạng dung nạp đặc hiệu đối với lần tiêm chủng tiếp theo
b- Đường tiêm chủng:
- Chủng (rạch da): đây là đường cổ điển nhất, được thực hiện ngay từ lúc Jenner sáng chế ra vaccine phòng bệnh đậu mùa Đối với vaccine này, đường chủng vẫn được dùng cho tới khi bệnh đậu mùa bị tiêu diệt hoàn toàn, không cần phải chủng đậu nữa Ngày nay đường chủng vẫn còn được sử dụng cho một số ít vaccine
- Đường tiêm: Có thể tiêm trong da, tiêm dưới da hoặc tiêm bắp, không bao giờ tiêm vaccine vào đường tĩnh mạch Tiêm trong da có thể được thực hiện bằng bơm kim tiêm hoặc bằng bơm nén áp lực không kim
Trang 12- Đường uống: Đường uống là đường đưa vaccin vào cơ thể dễ thực hiện nhất Tuy nhiên chỉ thực hiện được đối với vaccin không bị dịch đường tiêu hóa phá hủy
khuẩn, nơi tiêm có thể bị viêm nhiễm, mưng mủ
- Phản ứng toàn thân: Trong các phản ứng toàn thân, sốt hay gặp hơn cả (10% đến 20%) Sốt thường hết nhanh sau một vài ngày Co giật có thể gặp nhưng với tỷ lệ rất thấp (1/10.000), hầu hết khỏi không để lại di chứng gì Một số vaccine có thể gây ra phản ứng
nguy hiểm hơn, trong đó có sốc phản vệ, tuy nhiên tỷ lệ rất thấp
Khi bàn về những phản ứng do vaccin, rất cần phải nhấn mạnh rằng mức độ nguy hiểm do vaccin nhỏ hơn rất nhiều so với mức độ nguy hiểm do bệnh nhiễm khuẩn tương
ứng gây ra
12) Bảo quản vaccine:
Vaccine rất dễ bị hỏng nếu không được bảo quản đúng Chất lượng vaccin ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực tạo miễn dịch, vì vậy các vaccine cần phải được bảo quản tốt ngay
từ lúc nó được sản xuất cho tới khi được tiêm chủng vào cơ thể Thường quy trình bảo quản các vaccine không giống nhau, nhưng nói chung các vaccine đều cần được bảo quản trong điều kiện khô, tối và lạnh
Nhiệt và ánh sáng phá hủy tất cả các loại vaccine Ngược lại, đông lạnh phá hủy nhanh các vaccine giải độc tố (như vaccine phòng uốn ván và bạch hầu) Trong quá trình sử dụng ở cộng đồng, các vaccine cần được bảo quản ở nhiệt độ trong khoảng từ 2oC đến
8oC
Một trong những công việc quan trọng nhất trong việc tổ chức tiêm chủng là tạo lập được dây chuyền lạnh Dây chuyền lạnh không đơn thuần là có các nhà lạnh, tủ lạnh, các
Trang 13phích đá hoặc các hộp cách nhiệt mà còn phải lưu ý cả những khâu trung gian trong quá trình vận chuyển vaccin và tiến hành tiêm chủng Vaccine nếu đã bị phá hủy dù có được bảo quản lại ở điều kiện thích hợp cũng không thể có hiệu lực trở lại, cũng không có tác dụng nữa, phải loại bỏ
Một điểm cũng cần được lưu ý là các hóa chất tẩy uế, sát trùng đều có thể phá hủy vaccine Nếu các dụng cụ tiêm chủng được khử trùng bằng hóa chất thì chỉ cần một lượng rất ít dính lại cũng có thể làm hỏng vaccine Vì vậy các dụng cụ tiêm chủng trước khi dùng phải được rửa sạch sau đó khử trùng ở nhiệt độ cao bằng cách luộc hoặc hấp
1 Thời kỳ sơ khai:
Đậu mùa, sau bệnh sẽ không mắc lại, biện pháp miễn dịch chủ động do Jenner (1796)
đề xuất với chủng đậu Bò Kapikian và cộng sự đề nghị tiêm vaccine cho trẻ chống bệnh viêm dạ dày ruột qua đường uống Rotavirus từ khỉ theo phương pháp Jenner
Năm 1985 Pasteur dùng vaccine làm yếu qua cấy truyền trên thỏ phòng dại – phát sinh
từ vaccine Từ đó tạo nguyên lý “làm yếu mầm bệnh bằng cấy truyền sang cơ chất không thích hợp” còn gọi là “phương pháp cố định”
2 Thời kỳ giải độc tố và vaccin bất hoạt:
- 1884 Laffler phát hiện vi khuẩn bạch hầu và Roux – Yersin phát hiện độc tố bạch hầu gây bệnh
- Sau khi Behring – Kitasato phát hiện kháng huyết thanh thì Gleumy – Ramon giải độc độc tố bằng formalin – ra đời vaccine giải độc tố bạch hầu năm 1923
- Tiến đến phát minh vaccine toàn thân tế bào bất hoạt chống vi khuẩn thương hàn,
tả, ho gà, vaccine virus bất hoạt khác như: Bại liệt Salk, viêm não Nhật Bản, cúm
3 Thời kỳ vaccin sống:
Nuôi cấy virus trong phòng thí nghiệm đã thành công vào giữa thế kỷ 20 nhờ đó việc sản xuất vaccine phát triển Enders tạo môi trường nuôi virus từ 1948 Năm 1954 Sabin phát triển vaccine bại liệt bất hoạt bằng kỹ thuật nuôi cấy tế bào thận khỉ đồng thời Sabin
và cộng sự làm vaccine bại liệt sống gồm 3 typ Tiếp đó là các vaccine sống như: Sốt vàng, sởi, quai bị, rubella (thập kỷ 60), Rota, bại liệt Sabin
Trang 144 Thời kỳ công nghệ gen
Virus học và nuôi cấy mô phát triển là tiền đề cho phát triển vaccine Đặc biệt khi miễn dịch học hiện đại và công nghệ gen tái tổ hợp ra đời đã kích thích mạnh mẽ nghiên cứu sản xuất vaccine công nghệ cao Trước đây chỉ có các bác sĩ nhân y và thú y quan tâm đến vaccine Đến nay, nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực sinh, hóa, lý và công nghệ đã kết hợp với nhau nghiên cứu ứng dụng công nghệ gen và protein trong phát triển vaccine
Đầu tiên là với vaccine viêm gan B: Tác nhân gây bệnh là virus nhóm ADN mà tiểu phần HBs có trong máu bệnh nhân là kháng nguyên chính Vì chưa có thể sản xuất lớn, việc thu nhóm HBs lúc đầu dựa vào nguồn máu bệnh nhân nên dễ lây nhiễm, số lượng có hạn và không an toàn Khắc phục điều này có hai nhà sản xuất Merck (Mỹ) và Matsubazơ (Nhật) đồng thời tìm ra phương pháp tái tổ hợp dùng nấm men sản xuất kháng nguyên HBs ADN của virus viêm gan B được gắn vào nấm men thông qua plasmid và nuôi cấy nấm men tái tổ hợp sẽ sản sinh số lượng lớn kháng nguyên dùng pha chế vaccine Phương pháp mới đã thay thế hoàn toàn công nghệ cổ điển và đưa ngành sản xuất vaccine bước vào kỷ nguyên mới
1 Giơ ́ i thiê ̣u chung:
Các công nghệ mới trong sản xuất vaccine đã góp phần quan trọng trong quá trình phòng chống bệnh tật cho con người Sự bùng nổ về số lượng các công nghệ như tái tổ hợp ADN, tinh khiết đại phân tử, sinh hoá học protein … đã tạo ra nhiều ứng dụng trong sản xuất các loại vaccine đặc hiệu cho nhiều loại bệnh mà y học tưởng như bó tay (viêm gan B, viêm não Nhật Bản, …) Trong khoảng hai thập kỷ cuối của thiên niên kỷ thứ 2 đã
có sự bùng nổ về số lượng những vấn đề kỹ thuật trong sản xuất vaccin mới Có được sự phát triển này là do những tiến bộ nhanh chóng trong nhiều lĩnh vực, bao gồm sinh học phân tử, công nghệ tái tổ hợp ADN (rADN), sinh hoá học protein, hoá học polysaccharit, sinh hoá học phân tích, tinh khiết đại phân tử, virus học, vi khuẩn học, huyết thanh học và miễn dịch học Một vài ứng dụng sớm nhất của những công nghệ mới hơn đã dành cho những vaccine đã có, với mục đích là để tăng số lượng sản xuất (như vaccine viêm gan B)
Trang 15hoặc để có sự an toàn hơn (như vaccine ho gà) Tuy nhiên, phần lớn những ứng dụng đều hướng vào việc phát triển những vaccine mới mà từ trước đến nay chưa làm được Các công nghệ mới còn được mở rộng sang những lĩnh vực khác như thay đổi sinh lý học (thụ tinh), dị ứng, ung thư, điều trị miễn dịch và hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải Mục tiêu của một vaccine chủ động là kích thích cơ thể tạo ra một trạng thái miễn dịch bảo vệ ở người được tiêm Có hai loại vaccine chủ động: Vaccine “sống” là một vi sinh vật hoạt động như một tác nhân gây miễn dịch, có khả năng gây nhiễm cho các tế bào và nhân lên ở túc chủ mà không gây ra bệnh; Vaccine “chết” hay “bất hoạt” là một kháng nguyên gây miễn dịch, không có khả năng gây bệnh truyền nhiễm túc chủ
-Nhận biết kháng nguyên -Tách kháng nguyên -Tổng hợp kháng nguyên -Loại trừ đột biến
-Loại trừ độc lực Hóa sinh
Tổng hợp peptid -Nhận biết các biểu vị peptid
-Tổng hợp biểu vị peptid
-Dự đoán bằng vi tính về các biểu vị tế bào T
-Nhận biết kháng nguyên -Tách kháng nguyên -Xác định độ dao động của biểu bì -Tá chất mới
Miễn dịch Kháng thể đơn dòng
-Nhận dạng kháng nguyên -Tách kháng nguyên -Xác định sự biến đổi của biểu vị -Kích hoạt biểu vị không là protein -Tiềm năng của tá chất mới
Điều hòa miễn dịch -Tính miễn dịch phân tử