( VỢ NHẶT, KIM LÂN, PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1 ( Tác phẩm không chỉ là kết quả của một quá trình suy ngẫm, gọt giũa về cả nội dung và nghệ thuật mà con mang âm hưởng của thời đại mới trong thời điểm đát n. VỢ NHẶT, KIM LÂN, PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1 VỢ NHẶT, KIM LÂN, PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1 VỢ NHẶT, KIM LÂN, PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1 VỢ NHẶT, KIM LÂN, PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1 VỢ NHẶT, KIM LÂN, PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1 VỢ NHẶT, KIM LÂN, PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1 VỢ NHẶT, KIM LÂN, PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1v VỢ NHẶT, KIM LÂN, PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1
Trang 1
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1
VỢ NHẶT KIM LÂN
Tác phẩm không chỉ là kết quả của một quá trình suy ngẫm, gọt giũa về cả nội dung và nghệ thuật mà con mang âm hưởng của thời đại mới trong thời điểm đát nước giải phóng
sau 1954
-Là cây bút chuyên viết truyện ngắn.
-Cuộc sống và con người ở làng quê Việt nam
đòng bằng Bắc Bộ là đề tài chính trong sáng tác
tác của Kim Lân, cũng là đề tài ông có sự hiểu
biết sâu sắc.
Nên vợ nên chồng (tập truyện ngắn, 1995), Con
chó xấu xí (tập truyện ngắn, 1962)
Tiền thân của truyện là một chương trong tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” viết ngay sau 1945, tới
1954, Kim Lân dựa vào một phần cốt truyện
cũ để viết “Vợ Nhặt”.
Là gương mặt xuất sắn của văn học
việt nam hiện đại, sáng tác trước và
sau giai đoạn năm 1945
In trong tập “con chó xấu xí” năm 1962
Trang 2PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2
NẠN ĐÓI 1945
thê thảm, tối tăm
TRÀNG ( VỢ NHẶT)
Trên tỉnh: - hò 1 câu cho đỡ nhọc,
- nghẹo mấy cô gái ở cổng nhà kho
Trên đường đưa vợ về: - mặt hớn hở, tự vênh, tự đắc
-cười tủm tỉm
-mắt sáng lấp lánh
-ngỡ ngàng, phấn chấn
Về nhà: - lo lắng bồn chồn, chờ mẹ về
- nôn nóng thưa với mẹ về chuyện có vợ
-thở phào nhẹ nhõm khi được mẹ chấp nhận
Sáng hôm sau: Bỗng yêu đời, vui sướng ngập tràn, thấy yêu thương
ngôi nhà của mình
Trang 3Hoàn thành bảng để tìm hình huống truyện
Nạn đói năm
1945 Chi tiết được miêu tả Cảm nhận của anh/chị
Được cảm nhận
bằng thị giác -Những gia đình từ vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế ,
dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, nằm ngổn ngang khắp lều chợ
- Người chết như ngả dạ -Không buổi sáng nào không gặp ba bốn cái thây nằm cong queo bên đường
- Dòng sống trắng uốn khúc trong cảnh đồng tối
Cái đói hoành hành khắp nơi, cái đói đã tràn về xóm Ngụ cư và gây ra bao tàn bạo đối với người dân nơi đây Kim Lân đã vẽ ra bức tranh trước mắt người đọc một khung cảnh thật thảm khốc, xung quanh nơi nơi, đều tồn tại sự hắc ám của
hiện thực
Được cảm nhận
bằng thính giác -Tiếng khờ khó vẳng từ phía những nhà có người chết đói
-Ngoài đình tiếng trống thúc thuế dồn dập
-Tiếng quạ kêu
=> Qua đó cho chúng ta thấy rằng sự thật khinh khủng của nạn đói 1945, cái đói đã lấy did sinh mạng của không biết bao nhiêu người, và gây ra sự sống còn vô cùng tội nghiệp đối
với con người Được cảm nhận
bằng khứu giác -Mùi ẩm mốc của rác rưởi-Mùi gây của xác người
- Mùi đống rấm ở những nhà có người chết theo chiều gió thoảng vào khét lẹt
Được cảm nhận
qua ngoại hình
con người
-Những gương mặt hốc hác, u tối -Thị - quần áo tả tơi như tổ đỉa,người gầy sọp, trên khuôn mặt sám xịt chỉ thấy 2 con mắt
Trang 4
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 4
Phân tích tình huống của truyện ngắn “Vợ nhặt”
3.Thị
2.Tràng
1.Nạn đói 1945
Trang 5Phân tích nhân vật Tràng
-Tràng thay đổi: +Thấy thấm thía cảm động, thấy yêu thương gia đình hơn
+Nhận thức: Thấy mình có bổn phận phải
lo lắng cho vợ con sau này, thấy trưởng thành hơn +Hành động: muốn làm gì để tu sửa căn nhà.
-Thị thay đổi: +Trở nên ý tứ, ngượng ngùng +Sáng hôm sau dậy sớm giúp mẹ làm việc nhà
4 Mái nhà hạnh phúc
5.Lí do làm nên sự thay đổi kì diệu:
Sự xất hiện của người vợ nhặt đã thổi 1 luồng khí mới, hướng về 1 cuộc sống tương lai tốt đẹp, mọi người phải có trách nhiệm trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình.
-Nhà nghèo,sống cùng mẹ già
-Ngoại hình xấu xí, thô kệch
- Là con người vô tư, giàu lòng
yêu thương,khát khao hạnh phúc,
sống có trách nhiệm, mơ ước
tương lai tươi sáng.
-Quần áo lả tả, người gầy gò, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt, chỉ thấy 2 còn mắt
-Cong cớn, cháo chát
ANH CU TRÀNG
3.Trên đường đưa
“Thị” về nhà:
+Phớn phở, cười tủm tỉm +Hãnh diện, vênh mặt tự đắc trước lời bàn tán của người trong xóm.
1.Ngoại hình, số
phận, tính cách:
+ ngoại hình xấu xí
+Là người lao động nghèo,
kéo xe bò thuê
+Tính tình vô tư, thô kệch
nhưng tốt bụng, giàu lòng
yêu thương,…
6 Cảm nhận của anh/chị về sự thay đổi từ trước và sau khi nhặt vợ của nhân vật Tràng Ý nghĩa của sự khắc họa thay đổi này?
Sự thay đổi của Tràng là sự biến chuyển tích cực của một con người nghèo khó và khát khao hạnh phúc gia đình, tương lai tươi sáng Sau khi nhặt vợ, Tràng trở thành một con người biết sống có trách nhiệm hơn, cảm thấy cuộc sống tươi sáng hơn và “hắn thấy hắn nên người” Điều đó như thồi 1 luồng sinh khí mới mẻ vào căn nhà nghèo khó của Tràng, giúp những con người tróng bóng tối cảm thấy nhìn thấy ánh sáng cuộc đời Đấy là sự thay đổi tình
cờ nhưng mang tính tất yếu Qua đó, người đọc có thể cảm nhận được tấm lòng nhân đạo đáng quý mà nhà văn Kim Lân đã gửi gắm vào tác phẩm, sự trân trọng đối với những người lao độn cùng cực nhưng vẫn giữ trọn nét đẹp
5.Sau đêm đầu tiên sống cuộc sống gia đình:
+Lững thững ra sân, khoan khoái
+Thấy cảnh vaath thay đổi mới mẻ
+Thấy yêu thương cảm
4 Khi về nhà:
+ Ngượng ngịu, đứng tây ngay giữ nhà
+Băn khoăn, áy náy trước vẻ mặt buồn bã của Thị
+Sốt sắng chờ mẹ về, giới thiệu 1 cách trân trọng và thở phào khi mẹ đồng ý.
2.Trên tỉnh, gặp Thị:
Thấy Thị theo mình về
nhà, ban đầu Tràng cũng
chợn nghĩ không biết có
nuôi nổi không nhưng sau
rồi cũng:”Chậc, kệ!”
Trang 6PHIẾU HỌC TẬP SỐ 6
Tìm hiểu nhân vật “Người vợ nhặt”
NGƯỜI VỢ NHẶT
4 Dự cảm đổi đời
-Lời kể của thị về Việt Minh trong bừa cơm ngày đói
-Hình ảnh lá cờ đỏ phất phớt
=>Niềm hi vọng đi theo cách mạng
4 Dự cảm đổi đời -Lời kể của thị về Việt Minh trong bừa cơm ngày đói
-Hình ảnh lá cờ đỏ phất phớt
=>Niềm hi vọng đi theo cách mạng
NẠN ĐÓI 1945
1.Liệt kê những chi
tiết miêu tả về người
vợ nhặt:
- Ngoại hình: khuôn mặt xám
xịt, “quần áo rách như tổ đỉa”
-Trước khi làm vợ Tràng:
+Là người cong cớn
+ Đẩy xe cho Tràng, sưng sỉa
đề được ăn, theo không về làm
vợ Tràng
-Sau khi làm vợ Tràng:
+ Trên đường về vô cùng
ngượng ngịu
+ Chỉ dám ngồi ở mép giường,
mặt buồn thiu
+Sau đêm tân hôn, dạy sớm
giúp mẹ làm việc nhà, trở
2 Bất hạnh
-Nạn nhân của cái đói
-Không có việc làm cụ thể, cuộc sống bấp
bênh
-Sống tha hương cầu thực
-Vì miếng ăn mà theo người đàn ông khác
về lm vợ
5 Ý nghĩa cửa sự thay đổi nhân vật Thị:
-Là hệ quả tất yếu bởi vẻ chao chát, trước kia
là sản phẩm của sự nghèo đói, ko phải bản chất con người thị.
- Qua đó, Kim Lân lên án tố cáo xã hội phong kiến đã làm con người ta rơi vào cảnh bị tha
3.1.Có khát vọng sống mãnh liệt
3.2.Là người ý tứ,phép tắc
3 Phẩm hạnh
3.4.Có niềm tin vào tương lai
3.3.Là người có lòng đồng cảm, xót thương
1.Liệt kê những chi tiết miêu
tả về người vợ nhặt:
- Ngoại hình: khuôn mặt xám
xịt, “quần áo rách như tổ đỉa”
-Trước khi làm vợ Tràng:
+Là người cong cớn
+ Đẩy xe cho Tràng, sưng sỉa
đề được ăn, theo không về làm
vợ Tràng
-Sau khi làm vợ Tràng:
+ Trên đường về vô cùng
ngượng ngịu
+ Chỉ dám ngồi ở mép giường,
mặt buồn thiu
+Sau đêm tân hôn, dạy sớm
giúp mẹ làm việc nhà, trở
thành người phụ nữ đúng mực.
+ Tróng bữa cơm đói, thấy gia
đình chồng nghèo khó nhưng
vẫn cố nén thất vọng, tỏ ra
Trang 7Phân tích nhân vật bà cụ Tứ khi đưa người vợ nhặt về nhà.
Diễn biến tâm trạng bà cụ
Tứ khi con trai đưa người vợ
nhặt về nhà
Ý kiến của tôi Ý kiến của
bạn
1 Khi vừa bước vào nhà:
-Ngỡ ngàng, ngạc nhiên đến cao độ
- Đứng sững lại giữa sân
- Độc thoại nội tâm: “Quái, sao lại có
người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ?”,
“Ai thế nhỉ”
- Không tin vào mắt mình, hấp háy
cặp mắt già nua
Bà cụ vô cùng ngỡ ngàng, ngạc nhiên Điều này đã diễn tả nỗi xót xa cho thân phận con người, phải chăng chính sự cùng quẫn của hoàn cảnh đã đánh mất ở người mẹ sự nhạy cảm, khiến
bà không dám mơ tưởng con trai mình- con nhà nghèo, dân ngụ cư mà lại có được vợ?
2 Khi hiểu ra cơ sự:
-Cúi đầu nín lặng
-Xót xa tủi thân cho mình,cho con:
“Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng
cho con là lúc ăn nên làm nổi, con
mình thì ”
-Lo lắng, thương xót cho các con: “
Không biết chúng nó có nuôi nổi
nhau sống qua được cơn đói khát này
không”
-Thương người đàn bà: “Người ta có
gặp bước khó khăn đói khổ này người
ta mới lấy đến con mình Mà con
mình mới có vợ được!”
- Kim Lân đã nhập sâu vào nhân vật để thấm thía trọn vẹn nỗi tủi thân tủi phận của người mẹ nghèo Những giọt nước mắt thương xót, giọt nước mắt của tình mẹ rủ xuống hai kẽ mắt đầy âu lo
-Không những thế, sự xót thương cho người vợ nhặt còn là biểu hiện của tình người ấm áp bao dung, bằng sự nhân hậu vị tha bà đã mở rộng vòng tay để cưu mang, che chở những kiếp người khốn khổ hơn mình
3 Khi trò truyện với các con:
-Mở rộng vòng tay đón nhận: “Ừ thôi
thì các con đã phải duyên phải kiếp
với nhau, u cũng mừng lòng”
-Thương xót cho các con: “Nhà mình
nghèo, năm nay đói to đấy Chúng
mày lấy nhau lúc này u thương quá,.”
-Động viên, an ủi các con: “Ai giàu ba
họ, ai khó ba đời”
Người mẹ già đã công nhận nàng dâu mới bởi cuộc hôn nhân này là chính đáng, bình đẳng như bao cuộc hôn nhân khác, dù giàu dù nghèo nhưng
nó được tạo nên bởi duyên kiếp, bởi số phận
-Những câu nói đối thoại mà tưởng như độc thoại, nói với con
mà cũng như tự nhủ với bản thân mình: Hãy biết vượt lên khốn khổ bằng thật nhiều nỗ lực
Trang 84 Những suy nghĩ của bà cụ Tứ
- Khi trở về với cõi riêng của mình,
lòng người mẹ nghèo lại quặn thắt
những đau đớn xót xa: “Bà lão đăm
đăm nhìn ra ngoài, trong lòng là
ngổn ngang những hồi tưởng về
những năm tháng dằng dặc của thời
quá khứ.”
-Tình thương con trỗi dậy: “ Chúng
mày lấy nhau lúc này u thương quá”,
những dòng nước mắt “cứ chảy
xuống ròng ròng.”
Người mẹ nghèo xót xa tủi hổ cho phận mình nhưng sau cùng, nỗi lo lắng cho các con đã lớn hơn sự thương thân Qua đó cho thấy tấm lòng thương con vô bờ bến và sự nhân hậu, cảm thông với những người cùng cảnh ngộ
5 Sáng hôm sau:
-Nhẹ nhõm, tươi tình
- Xăm xăm thu dọn, quét tước lại căn
nhà
Trong bữa cơm ngày đói
-Nói toàn chuyện vui, chuyện sung
sướng sau này
-Bà lão lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ
bưng ra nồi cháo cám, đon đả múc
cho các con
- Tiếng trống thúc thuế vang lên dồn
dập kéo bà cụ Tứ trở về với hiện
thực, niềm vui của bà không thể cất
cánh
- Nghe lời kể của người con dâu về
Việt Minh Nỗi niềm của bà vơi dần
đi
-Từ vẻ mặt đến hành động của
bà cụ đều biểu hiện cho một niềm vui, niềm hi vọng hướng đến tương lai
- Lời kể của người con dâu đã thắp lên ngọn lửa le lói của ánh sáng hi vọng về một lối thoát cho những người dân khốn cùng như bà
Trang 9BÀ CỤ TỨ
1.
Bà mẹ khó nghèo, già nua
2.Thương con
Khi biết con mình “nhặt”
được vợ, bà lão đã không
nén nổi sự xót xa, lo lắng
cho tương lai của các con
giữa những năm đói kinh
hoàng, từ đôi mắt già nua
rỉ xuống hai hàng
4 Giàu niềm tin, hi vọng về một tương lai tốt đẹp
Người mẹ nghèo ấy trong mọi hoàn ảnh dù khắc nghiệt nhất vẫn cố gắng xua tan những buồn lo để vui sống, khơi lên ngọn lửa niềm tin và hi vọng cho con cái, trở thành chỗ dựa tinh thần vững chãi cho các con.
Bà lão thương cho người con dâu nghèo khổ bất hạnh, sẵn sàng mở rộng tấm lòng đón nhận, cưu mang 1 kiếp người khốn khổ hơn mình
Trang 10PHIẾU HỌC TẬP SỐ 9
Dựa trên sơ đồ tư duy vừa xây dựng, anh/chị hãy viết một bài làm văn với đề bài sau:
Có nhận định cho rằng “Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân không chỉ là thiên truyện về cái đói mà còn là thiên truyện về lòng mẹ”
Hãy làm sáng tỏ nhận định trên
Bài làm
Kim Lân được mệnh danh là nhà văn đi đời về với nước, với người, với ‘thuần hậu nguyên thủy’ của cuộc sống nông thôn Nhắc đến Kim Lân là nhắc đến những tác phẩm về những tác phẩm hình ảnh làng quê Việt Nam, đời sông vất vả và tình nghĩa của đồng bào dân tộc trước Cách mạng tháng Tám.”Vợ nhặt” được coi là kiệt tác trong sự nghiệp sáng tác của Kim Lân, cũng là 1 truyện ngắn xuất sắc của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam Bàn về tác phẩm,
có ý kiến cho rằng: “Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân không chỉ là thiên truyện về cái đói mà còn là thiên truyện về lòng mẹ”
“Vợ nhặt” là truyện ngắn xuất sắc kết tinh tài hoa và tâm huyết của Kim Lân
in trong tập “con chó xấu xí” năm 1962 Tiền thân của truyện ngắn là tiêu thuyết Xóm ngụ cư được viết ngay sau cách mạng tháng Tám Đến năm
1954, Kim Lân dựa vào phần cốt truyện cũ để viết tiếp cốt truyện của truyện ngắn này, vì vậy tác phẩm là kết quả của cả quá trình suy ngẫm, hài hòa về nội dung, nghệ thuật, và mang âm hưởng của thời đại mới vào thời điểm đất nước được giải phóng “Vợ nhặt là thiên truyện về cái đói”, đó là giá trị hiện thực của tác phẩm Khi viết về cái đói, nhà văn không đi sâu vào khía cạnh tăm tối và bất lực của tác phẩm mà tác giả muốn nhấn mạnh tấm lòng nhân đạo, muốn thắp sáng lên niềm tin của cuộc sống mới Và khi nói “ Vợ nhặt là thiên truyện về lòng mẹ”, nghĩa là đang làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác phẩm, và điều này thể hiện ở tình thương vô bờ bến của bà cụ Tứ đối với các con của mình Ý kiến trên thật đúng đắn, nó đã đề cập đến 2 khía cạnh đặc sắc của tác phẩm: giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo
Trước hết, “Vợ nhặt là thiên truyện về cái đói” Truyện lấy bối cảnh là nạn đói
Ất Dậu năm 1945, được ví như thảm họa, khi nhân dân ta rên xiết dưới ách
đô hộ của Pháp, Nhật Bằng ngòi bút điêu luyện của mình, Kim Lân đã dẫn người đọc trở về thời kì tăm tối của những năm trước cách mạng tháng Tám,
Trang 11không khí ảm đạm Hiện thực tàn khốc của nạn đói dường như đã hiện thành bức tranh u ám, trở đi trở lại trước mắt người đọc Mở đầu câu chuyện là thời gian, không gian mỗi lúc một tối hơn (bắt đầu là “mỗi buổi chiều, chạng vạng mặt người”, rồi thì”bóng chiều nhá nhem”,rồi cảnh “sầm lại”, và cuối cùng là
“tối om”) “ Người ta bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng
ma, nằm ngổn ngang khắp lều chợ” Họ hầu như chẳng còn chút sinh khí nào
cả, chỉ còn những hơi thở mong manh, chút sức lực yếu ớt cuối cùng để bám chịu, tiếp tục sống cuộc sống khó khăn của mình Cái đói tràn về xóm Ngụ Cư gây nên hậu quả thê thảm Cái đói, cái chết gào lên như “tiếng quạ gào từng hồi thê thiết”, tiếng” hờ khóc tỉ tê” của những gia đình vừa chôn cất người xong Rồi nó “ vẩn thành mùi thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”, “ mùi đốt đống giấm của những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt” Cảnh nên vợ chồng của Tràng-Thị cũng thảm thương tội nghiệp, chỉ với bốn bát bánh đúc bình dân rẻ tiền, coi đó như lễ ăn hỏi âm thầm trong cái cảnh heo hút không bóng đèn lửa và đen tối ấy… Qua đó, chúng ta có thể hình dung ra khung cảnh thương cảm, sức tàn phá của chiến tranh khảm khốc đến nhường nào Và chúng ta cũng có thể thấy rằng tác giả đã tố cáo tội ác dã man mà bọn thực dân Pháp và Nhật đã gây ra cho nhân dân ta Song song với đó, “Vợ nhặt” không chỉ là thiên truyện về cái đói mà còn là thiên truyện về lòng mẹ Ngòi bút nhân đạo của nhà văn đã chấm phá, tô điểm vào khung cảnh tối tăm thê thảm ấy bằng những ánh sáng lấp lánh của tình người, của niềm tin và sự hi vọng Tình người được tỏa sáng trong sự đồng cảm, sự cưu mang giữa những người cùng khổ, và hơn thế nữa, tình người sưởi ấm trái tim bằng tấm lòng của người mẹ tha thiết yêu thương Vẻ đẹp đó được thể hiện trước hết ở sự xót thương của bà cụ Tứ cho số phận con của mình Người mẹ ấy luôn mong con mình được sống hạnh phúc, mong đến ngày dựng vợ gả chồng cho con, nhưng than ôi, ước mơ giản dị ấy lại là một nỗi đau đáu trong tâm khảm người mẹ vì hoàn cảnh nghèo khó Cho đến khi, anh Tràng dẫn cô vợ nhặt về, trong giây phút ngỡ ngàng, “ bà lão cúi đầu nín lặng”, biết bao cảm xúc lẫn lộn trong bà Bà xót xa tủi hổ, thương Tràng “ Chao ôi! Người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà nên ăn làm nổi…con mình thì…” Rồi còn bao nhiêu nỗi lo, sự ngập ngừng , bà dồn nén thành sự xót thương:” không biết chúng nó có nuôi nổi nhau qua con khát này không” Thế rồi, “trong mắt bà rỉ xuống hai dòng nước mắt” Người mẹ
ấy nhìn con dâu bằng ánh mắt ái ngại, và rồi, bằng tình yêu thương, sự xót
xa, bà đã nói lên:” chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá!” và sau đó những dòng nước mắt “cứ chảy xuống dòng dòng” Đó là những giọt nước mắt của tình mẹ nhân hậu, của tình thương bao la, và của cả sự âu lo về