1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỐI TƯỢNG và LỊCH sử PHÁT TRIỂN của LOGIC học

27 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 84,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Logic học là khoa học xuất hiện rất sớm trong lịch sử. Nó được xuất hiện vào thế kỉ thứ IV trước công nguyên, khi mà sự phát triển của khoa học nói riêng và tư duy nói chung đã đòi hỏi phải trả lời câu hỏi: làm thế nào để đảm bảo suy ra được kết luận đúng đắn, chân thực từ các tiền đề chân thực?

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

MÔN HỌC: NHẬP MÔN LOGIC HỌC

TIỂU LUẬN CUỐI KỲ

ĐỀ TÀI: ĐỐI TƯỢNG VÀ LỊCH SỬ PHÁT

TRIỂN CỦA LOGIC HỌC

MÃ MÔN HỌC & MÃ LỚP: INLO220405_21_2_09

NHÓM THỰC HIỆN: Thứ 2 - tiết: 7-8

Tp Hồ Chí Minh, tháng 05 năm 2022

Trang 2

DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM THAM GIA VIẾT TIỂU LUẬN

HỌC KÌ 2, NĂM HỌC: 2021_2022

Nhóm 9 Thứ 2 tiết 7_8

Đề tài: ĐỐI TƯỢNG VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA LOGIC HỌC.

Nhận xét của giáo viên:

Ngày…… tháng …… năm ……

Giáo viên chấm điểm

MỤC LỤC

Trang 3

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 2

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của tiểu luận 2

6 Kết cấu tiểu luận 2

PHẦN 2: NỘI DUNG 3

1 Đối tượng của logic học 3

1.1 Đặc thù cuả logic học như là một khoa học 3

1.2. Các đặc điểm của tư duy trừu tượng 4

1.3 Mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ 7

1.4 Nội dung và hình thức của tư tưởng 8

1.5 Mối liên hệ của các hình thức logic Quy luật của tư duy 9

1.6 Tính chân thực và tính đúng đắn của tư duy 13

2 Lịch sử phát triển của logic học 14

2.1 Sự xuất hiện và phát triển của logic học hình thức truyền thống 14

2.2 Sự xuất hiện và phát triển của logic toán 15

2.3 Sự hình thành và phát triển của logic học biện chứng 16

3 Ý nghĩa của logic học Liên hệ thực tiễn 18

PHẦN 3: KẾT LUẬN 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

Trang 4

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Như chúng ta đã biết, trong quá trình lao động và giao tiếp, việc ứng dụnglogic học vào các ngành khoa học và đời sống được sử dụng phổ biến và rộng rãi.Những kiến thức logic học nó là những gì đã được tích lũy đúc kết từ hành trình

tư duy của nhân loại qua nhiều thế hệ Ta có thể nói kiến thức logic học giốngnhư vaccine của tư duy vậy, tức là khi chúng ta đã nắm vững và vận dụng đượcnhững kiến thức logic học vào trong hoạt động nhận thức thì chúng ta sẽ rất dễdàng tránh được những sai lầm trong tư duy của mình cũng như dễ dàng phát hiện

ra những sai lầm của người khác Đó chính là công dụng của logic học được đúckết lại trong cuộc sống của chúng ta

Trong quá trình tồn tại của mình, con người luôn khát vọng hiểu biết về tựnhiên và xã hội Do vậy, nhận thức hiện thực khách quan là một nhu cầu tất yếucủa con người Nhưng làm thế nào con người có thể nhận thức đúng đắn hiệnthực khách quan, tìm ra chân lý và hành động có hiệu quả tốt? Nhận thức đúng làđiều kiện cần giúp con người hành động đũng, đạt được hiệu quả mong muốn.Ngược lại, nhận thức sai, không nắm bắt được bản chất và quy luật của hiện thựckhách quan thì con người sẽ hành động phiêu lưu, mạo hiểm, dễ đi đến thất bại.Nhận thức đúng đắn, tư duy chính xác, lập luận chặt chẽ, mạch lạc, có sức thuyếtphục là những nội dung quan trọng mà khoa học Logic mang lại cho con người Chúng ta cũng thấy rằng tầm quan trọng của logic trong cuộc sống như thếnào? Nếu có một ngày có ai đó hỏi bạn logic là gì, hay nó bắt đầu từ đâu thì bạn

sẽ trả lời như thế nào? Vì vậy ngay bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu về “Đối tượng

và lịch sử phát triển của logic học”.

Trang 5

2 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu và góp phần làm sáng tỏa những nội dung cơ bản về đối tượng và sựphát triển của logic học trong thời đại hiện nay Trên cơ sở đó tổng kết nhữngthành tựu, những hạn chế, rút ra những kinh nghiệm về việc áp dụng logic họctrong mỗi con người

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu những nội dung cơ bản về cácquy luật logic trong đời sống, tiểu luận đi sau về nghiên cứu sự tiếp thu, vận dụngcủa con người trong đời sống Phạm vi nghiên cứu Tiểu luận tập trung nghiên cứuviệc ra đời của logic và sự phát triển của logic qua nhiều giai đoạn

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Tiểu luận được nghiên cứu dựa trên việc phát triển các quy luật của logictrong đời sống Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình thực hiện đề tài, tiểuluận được sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu bao gồm phương pháptổng hợp và phương pháp phân tích

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của tiểu luận

Tiểu luận góp phần cung cấp và làm rõ hơn những nội dung cơ bản của cácquy luật của logic trong đời sống, phục vụ cho các cá nhân có nhu cầu tìm hiểu vềcác nội dung này Trình bày quá trình phát triển của logic qua nhiều giai đoạn củalịch sử góp phần vào việc nghiên cứu tổng hợp

6 Kết cấu tiểu luận

Tiểu luận được chia thành 3 phần

Trang 6

PHẦN 2: NỘI DUNG

1 Đối tượng của logic học

Logic học là khoa học xuất hiện rất sớm trong lịch sử Nó được xuất hiện vàothế kỉ thứ IV trước công nguyên, khi mà sự phát triển của khoa học nói riêng và

tư duy nói chung đã đòi hỏi phải trả lời câu hỏi: làm thế nào để đảm bảo suy rađược kết luận đúng đắn, chân thực từ các tiền đề chân thực?

1.1 Đặc thù của logic học như một khoa học

Thuật ngữ ''logic'' được sử dụng từ thời xa xưa, Airistot - nhà triết học vĩ đại vàuyên bác của Hy Lạp cổ đại chính là người đưa thuật ngữ đó vào một ngành khoahọc Từ “logic” có nguồn gốc từ Hy Lạp “Logos”, có rất nhiều nghĩa, trong đó hainghĩa ngày nay được dùng nhiều nhất như sau:

- Thứ nhất, nó được dùng để chỉ tính quy luật của sự tồn tại và phát triển của thếgiới khách quan

- Thứ hai, từ “logic” dùng để chỉ những quy luật đặc thù của tư duy Khi ta nói

“Logic của sự vật là như vậy”, ta đã sử dụng nghĩa thứ nhất Còn khi nói “Anh ấysuy luận hợp logic lắm”, ta dùng nghĩa thứ hai của từ logic

Theo quan điểm phổ biến nhất hiện nay thì logic học là khoa học về các hìnhthức, các quy luật của tư duy Nhưng khác với các khoa học khác cũng nghiêncứu về tư duy như tâm lý học, sinh lý học thần kinh, , logic học nghiên cứu cáchình thức và quy luật của tư duy để đảm bảo suy ra các kết luận chân thực từ các tiền đề, kiến thức đã có, và đưa ra các phương pháp để có được các suy luận đúngđắn Để hiểu cặn kẽ hơn về đối tượng của logic học, ta phải tìm hiểu các đặc điểm

Trang 7

của giai đoạn nhận thức lý tính và trả lời cho câu hỏi thế nào là hình thức và quyluật của tư duy.

1.2 Các đặc điểm của tư duy trừu tượng

Nếu nói một cách giản lược nhất thì nhận thức là quá trình tìm hiểu, xác địnhđối tượng Triết học Mác-Lênin hiểu nhận thức là quá trình phản ánh thực tạikhách quan Nhận thức là hoạt động phản ánh được phát triển trong lịch sử, đượcđảm bảo và quy định về mặt xã hội

Quá trình nhận thức bao giờ cũng bắt đầu bởi sự tác động trực tiếp của thực tạikhách quan lên các giác quan của con người Đây là giai đoạn đầu của quá trìnhnhận thức, gọi là giai đoạn nhận thức cảm tính, hay là giai đoạn nhận thức trựctiếp Trong giai đoạn này ta thu nhận được tri thức nhờ sự tác động trực tiếp củađối tượng lên các giác quan Nhận thức cảm tính gồm những hình thức: cảm giác,tri giác, biểu tượng

- Cảm giác là sự phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của các sự vật, hiện tượng

khi chúng đang tác động trực tiếp vào các giác quan của con người

- Tri giác là hình ảnh tương đối toàn vẹn về sự vật khi sự vật đó đang trực tiếp

tác động vào các giác quan Tri giác này sinh ra dựa trên cơ sở của cảm giác, là sựtổng hợp của nhiều cảm giác So với cảm giác thì tri giác là hình thức có nhậnthức cao hơn, đầy đủ hơn, phong phú hơn về sự vật

- Biểu tượng là hình thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất của giai đoạn trực

quan sinh động Đó là hình ảnh cảm tính và tương đối hoàn chỉnh còn lưu lạitrong bộ óc người về sự vật khi nó không còn trực tiếp tác động vào các giácquan

Đặc điểm của nhận thức cảm tính là tính trực tiếp, cụ thể và không cần đếnngôn ngữ Ở giai đoạn này ta chỉ nhận thức được từng mặt, từng khía cạnh riêng

Trang 8

rẽ hay hình ảnh bề ngoài của đối tượng mà không thấy được bản chất của đốitượng, không thấy được các quy luật vận động và phát triển của nó Thật vậy, nếuquan sát một chiếc máy đang chạy, ta sẽ có hình ảnh đang chạy của nó, nhưngkhông thể biết vì sao nó chạy, thậm chí tốc độ chính xác của nó ta cũng khôngbiết Thêm vào đó, tính khái quát không cao Ví dụ, ta không thể có tri giác vềmột thành phố, một đất nước được vì nó quá lớn, bằng giác quan ta không thể baoquát hết được.

Logic học không nghiên cứu giai đoạn cảm tính của quá trình nhận thức, màchỉ nghiên cứu giai đoạn thứ hai của quá trình đó, là giai đoạn nhận thức lý tính.Nhận thức lý tính là sự phản ánh gián tiếp thực tại khách quan Nhận thức lý tínhphản ánh thực tại khách quan một cách trừu tượng, nghĩa là bằng các khái niệm,phạm trù, phán đoán, suy luận, lý thuyết, giả thuyết Nhờ đó ta đó thể nhận thứcđược những mối liên hệ bên trong, bản chất, những quy luật của sự tồn tại và pháttriển của thực tại khách quan

Ví dụ: Bằng giác quan ta chỉ có thể nhận thấy màu sắc xanh, đỏ, tím, vàng của ánh sáng Nhưng bằng các phân tích sâu sắc, các nhà vật lý đã khám phá rabản chất sóng điện từ của ánh sáng Vì nhận thức lý tính chỉ có thể thấy được nhờcác khái niệm, phạm trù, giả thuyết, lý thuyết là những hình thức trừu tượng,nên nó còn được gọi là tư duy trừu tượng

Nhận thức lý tính có đặc trưng là trừu tượng và khái quát Từ những dữ liệu do

hiện thực khách quan cung cấp, ta tách riêng ra những nét, những tính chất chung,rồi khái quát chúng lên, và nhờ đó tách ra các đối tượng cùng có tính chất chungnhất định thành một kiểu, một lớp riêng Trong quá trình này, cùng với việc táchriêng các tính chất chung của các đối tượng, ta bỏ qua những tính chất khác củađối tượng, và đó chính là quá trình trừu tượng hóa

Trang 9

Một đặc trưng nữa của nhận thức lý tính là nó gắn liền với ngôn ngữ Ngôn

ngữ là phương tiện của tư duy Nhờ có ngôn ngữ, tư tưởng mới hình thành được

và mới được củng cố, được lưu giữ Cũng nhờ ngôn ngữ, con người mới có thểtrao đổi với nhau các tư tưởng của mình Ngôn ngữ ở đây được hiểu theo nghĩarộng: ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu

Nhận thức lý tính phản ánh hiện tượng khách quan một cách tích cực Để nhậnthức, tìm hiểu một vấn đề, con người hướng tư duy của mình vào đó, chuẩn bị sẵncác điều kiện cho quá trình nhận thức Ví dụ, khi nhà bác học muốn nghiên cứucấu tạo của nguyên tử, ông ta bắn phá nó bằng chùm hạt như Rutherford đã làm.Tính chất này giải thích tại sao cùng nghiên cứu một đối tượng như nhau, màngười này nhận ra quy luật, người khác thì không

Nhận thức lý tính gồm các hình thức cơ bản như khái niệm, phán đoán, lýthuyết, suy luận, giả thuyết Trong các hình thức này của nhận thức lý tính, bahình thức đầu là các hình thức hình thành và biểu thị tri thức, còn hai hình thứcsau là các hình thức thu nhận và phát triển kiến thức từ những kiến thức đã có.Logic học nghiên cứu các hình thức đó của tư duy Trong chương trình này chúng

ta sẽ nghiên cứu cặn kẽ từng hình thức đó, vì vậy ở đây chúng tôi chỉ nêu ra địnhnghĩa khái quát của chúng để góp phần làm rõ đối tượng của logic học

Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những đặc tính

bản chất của sự vật Sự hình thành khái niệm là kết quả của sự khái quát, tổnghợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật hay một lớp của sự vật

Phán đoán phản ánh quan hệ giữa các đối tượng với nhau hoặc giữa đối tượng

với tính chất của nó Phán đoán có được nhờ liên kết các khái niệm Một phánđoán có thể khẳng định hay phủ định quan hệ giữa các đối tượng nhất định haygiữa đối tượng với tính chất nào đó của nó

Trang 10

Suy luận là hình thức của tư duy, trong đó từ một hay nhiều phán đoán đã có

suy ra các phán đoán mới Nó là hình thức nhận được các kiến thức mới từ nhữngkiến thức đã có Những phán đoán đã có gọi là các tiền đề, còn phán đoán mới thu

được gọi là kết luận Trong suy luận sau đây “Bất cứ phương trình bậc ba nào cũng có ít nhất một nghiệm thực, phương trình 6x 3 + 3x 2 - 4x + m = 0 là phương trình bậc ba, vậy phương trình này có ít nhất một nghiệm thực”, hai phán đoán

đầu là tiền đề, còn phán đoán thứ ba, sau cùng, là kết luận Kết luận đó được rút

ra một cách tất yếu từ hai phán đoán tiền đề

1.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy

Quan điểm của triết học Mác - Ăngghen cho thấy, ngôn ngữ và tư duy đều hìnhthành trong quá trình lao động của loài người Nhờ lao động, con người tách khỏigiới động vật, hình thành ý thức (trong đó có tư duy) và ngôn ngữ

Theo quan điểm triết học Mac – Lenin, tư duy là một bộ phận của ý thức, là sựphản ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người một cách gián tiếp và kháiquát Tư duy là thuộc tính đặc biệt của vật chất có tổ chức cao, nó là hình ảnh chủquan của một thế giới khách quan Tư duy từ lâu đã trở thành chủ đề nghiên cứucủa triết học, tâm lý học, sư phạm, y học hay khoa học máy tính, v.v Việc táitạo lại bộ não dạng số học hay tạo ra cỗ máy có thể tư duy như con người đangdần trở thành hiện thực, nhờ những nghiên cứu về nguồn gốc và cách hoạt độngcủa tư duy trong hàng ngàn năm lịch sử con người

Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức Không có hệthống tín hiệu này - tức ngôn ngữ thì ý thức nói chung và tư duy nói riêng không

thể tồn tại và thể hiện được Ngôn ngữ, theo C Mác là cái vỏ vật chất của tuy duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, không có ngôn ngữ, con người không thể

có ý thức Ngôn ngữ là hình thức vật chất của các hình thức và quy luật của tư

duy Con người không thể tư duy nếu không dùng tới ngôn ngữ

Trang 11

Ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết) vừa là phương tiện giao tiếp, đồng thời làcông cụ của tư duy Nhờ ngôn ngữ, con người mới có thể khái quát hóa, trừutượng hóa, mới có thể suy nghĩ, tách khỏi sự vật cảm tính Mặt khác, ý thức, tưduy không phải là một hiện tượng thuần túy cá nhân mà là một hiện tượng có tínhchất xã hội, do đó nếu không có phương tiện trao đổi xã hội về mặt ngôn ngữ thì

ý thức, tư duy không thể hình thành và phát triển được Tư duy lôgic đến lượt nólại giúp cho việc sử dụng ngôn ngữ, diễn đạt ngôn ngữ của mỗi người tốt hơn, cóhiệu quả hơn Điều khác biệt giữa ngôn ngữ và tư duy lôgic là ở chỗ: ngôn ngữ cótính cộng đồng, dân tộc, còn tư duy logic không mang tính cộng đồng, tính dântộc hay tính giai cấp mà nó mang tính thống nhất trên toàn thế giới, nghĩa là aicũng tư duy theo những hình thức, quy tắc, quy luật giống nhau

Như vậy, tư duy logic và ngôn ngữ có mối liên hệ gắn bó chặt chẽ, giao thoa

lẫn nhau Việc nghiên cứu rõ hơn mối quan hệ này cho thấy việc nắm vững các trithức của Lôgíc học, việc phát triển tư duy lôgíc rất quan trọng đối với mọi người.Đồng thời nó giúp chúng ta vận dụng một cách tự giác những hình thức và quytắc của suy nghĩ, tư duy, nghĩa là giúp ta nâng cao trình độ “kỹ thuật” suy nghĩ, tưduy, tạo ra thói quen suy nghĩ “thông minh” hơn, góp phần vào việc nâng cao tínhxác định, tính chính xác, tính không mâu thuẫn, tính liên tục, tính triệt để, tínhchứng minh được của lập luận cùng với đó là tăng cường hiệu quả và niềm tin củasuy nghĩ, lời nói ; định hướng và chỉ đạo đúng đắn cho hoạt động nhận thức vàhoạt động thực tiễn của con người Tri thức cơ bản của Lôgíc học đặc biệt quantrọng trong quá trình nắm vững tri thức mới, trong nghiên cứu khoa học, tronggiảng dạy và học tập, viết luận văn và bài phát biểu, cũng như nâng cao hiệu quảgiao tiếp, thuyết trình

1.4 Nội dung và hình thức của tư tưởng

Trang 12

Hình thức logic của một tư tưởng nào đó là cấu trúc chung của tư tưởng đó,hay nói một cách khác là phương thức chung liên kết giữa các thành phần của tưtưởng với nhau Hình thức lôgic của một tư tưởng xác định là sự phản ánh cấutrúc chung của các mối liên hệ các quan hệ giữa các sự vật và hiện tượng haygiữa các sự vật, hiện tượng với thuộc tính của chúng.

Thí dụ:

Tuy nội dung các tư tưởng (1) và (2) này rất khác nhau nhưng cấu trúc của tức hình thức logic của chúng là giống nhau, theo công thức:

chúng-Tất cả S là P (1) Một số S là P (2)

Trong đó,

Từ nối “là” khẳng định có P ở S với lượng từ toàn thư “tất cả” hay lượng từ bộphận “một số”

Trong thí dụ (3) hình thức logic của tư duy là: nếu S là P thì S là P1” hay mộtcách khái quát hơn: nếu A thì B với A là ký hiệu tượng trưng của “nếu 2 tam giác

có ba cạnh bằng nhau” và B là ký hiệu tượng trưng của “chúng bằng nhau” Trong quá trình tư duy hình thức và nội dung của tư duy liên kết ít nhiều chặtchẽ với nhau Không có hình thức logic thuần túy phi nội dung và không có nộidung nằm ngoài hình thức lôgíc Tùy theo nội dung cụ thể của một tư tưởng xác

Trang 13

định, chúng ta sẽ có hình thức lôgíc cụ thể biểu thị nội dung đó Từ đó hoạt động

tư duy của con người phải dựa vào hình thức lôgíc của các tư tưởng với các tưtưởng có chung một hình thức lôgíc, chúng ta sẽ xây dựng các quy tắc lôgíc ápdụng chung cho chúng

1.5 Mối liên hệ của các hình thức logic Quy luật của tư duy

* Mối liên hệ của các hình thức logic

Logic hình thức và lôgic biện chứng đều nghiên cứu quy luật, hình thức và phương pháp của tư duy nhưng với những phương thức khác nhau Đúng như tên

của nó, môn lôgic học hình thức, có nhiệm vụ nghiên cứu tư duy về mặt hình thức

mà không nghiên cứu nội dung cụ thể được phản ánh trong tư duy, không nghiêncứu quá trình sản sinh, hình thành và phát triển của tư duy, mà chỉ phân tíchnghiên cứu tư duy trong trạng thái vốn sẵn có Do đó, lôgic hình thức chủ yếu làsắp xếp, chỉnh lý các khái niệm, phán đoán và lập luận về mặt hình thức Lôgicbiện chứng nghiên cứu tư duy trong sự thống nhất giữa nội dung và hình thức,khảo sát tư duy trong quá trình phát triển, khái quát về mặt lôgíc quá trình nhậnthức của con người, đồng thời chỉ ra những nội dung biện chứng của những hìnhthức tư duy và quan hệ biện chứng giữa các hình thức tư duy

Logic hình thức và lôgic biện chứng đều phản ánh thế giới khách quan nhưng với những góc độ và thứ bậc khác nhau Những lý luận và phương pháp

của logic hình thức có cơ sở của thực tế khách quan là sự đứng im tương đối vàranh giới xác định của các sự vật Khi con người nhận thức ở trong trạng thái ổnđịnh, không quan tâm đến mối liên hệ giữa các sự vật thì môn logic hình thức vớinhững phạm trù cố định là cần thiết và có hiệu quả, nhưng nếu tuyệt đối hóa vaitrò của logic hình thức thì sẽ dẫn đến sai lầm Logic biện chứng vượt ra ngoàiphạm vi của logic hình thức, nó không chỉ phản ánh sự khác nhau giữa sự vật màcòn phải phản ánh mối liên hệ giữa chúng, không chỉ phản ánh trong trạng thái

Ngày đăng: 30/10/2022, 18:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w