Từ những suy nghĩ và lập luận trên, người viết chọn đề tài xây dựng “ bộ định dạng thương hiệu cho công ty sản xuất đồ gốm mang tên “Gốm Mới”, tạo dựng một mô hình sản xuất gốm mang đậm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA MỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
(Phần lý luận)
Đề tài: Bộ nhận dạng thương hiệu
Cho công ty sản xuất gốm
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 31 Lý do chọn đề tài ( tính cấp thiết của đề tài):
Ngày nay, khi đời sống kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu người dân cao hơn, hàng hóa đa dạng hơn, tốt hơn thì quảng cáo hàng hóa cũng phát triển, các hãng muốn mọi người biết đến mình, người tiêu dùng thì thông qua các loại hình
đồ họa và thông tin đại chúng để tiếp cận các mặt hàng Đồ họa góp phần quảng cáo cho thương hiệu một cách hiệu quả nhất Vì vậy, Chuyên ngành Đồ Họa ngày càng chiếm vị trí quan trọng hơn trong xã hội Với sự phát triển nhanh chóng và đời sống đô thị sôi động như hiện nay, hàng loạt các loại hình dịch vụ xuất hiện với quy mô ngày càng mở rộng đã cho ra đời những phong cách sống mới, hiện đại và tích cực hơn
Thế kỉ 21 hay còn gọi là thời đại tòan cầu hóa với xu hướng chung của thế giới, Việt Nam từng bước hội nhập vào thế giới , trở thành một phần của kinh tế toàn cầu Vậy hội nhập là gì? Mượn từ “convergence” trong tiếng Anh, tôi cho rằng mục tiêu của hội nhập phải là hội tụ Nói cách khác là để đẩy Việt Nam lên một tầng văn minh mới thì cần biến Việt Nam thành một môi trường hội tụ những điều hay, đẹp, sáng tạo, nhất của nhân loại, song song đó vẫn phải giữ gìn nét đẹp văn hóa đặc trưng của dân tộc
Việt Nam đang là một bến cảng quốc tế, có xu hướng “mở”, con người Việt Nam năng động, không dừng lại ở sự định hình mà còn tiếp tục hòan thiện và thích ứng Nhìn nhận về người Việt Nam phải đặt trong trạng thái “động” – không ngừng phát triển Điều đó thể hiện rõ ở mọi mặt trong đời sống người Việt hiện nay, đặc biệt là những người Việt trẻ
Những người Việt trẻ - lực lượng nòng cốt trong công cuộc phát triển đất nước
Họ thích thử thách, khám phá những cái mới, thích nghi nhanh với cuộc sống công nghiệp, luôn muốn thể hiện cái tôi cá nhân, khẳng định vị trí và vai trò của
Trang 4mình trong xã hội Trong giai đoạn chuyển mình của đất nước, họ càng tất bật hơn với những công việc nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống tương lai của bản thân nói riêng và cũng chính là đáp ứng nhu cầu tương lai của cả đất nước nói chung Phát huy truyền thống xưa, đưa nghệ thuật gốm hiện đại đến một mức cao hơn trong việc phục vụ nhiều mặt của cuộc sống xã hội ngày nay Đó là xu hướng chung mà nhiều nước trên thế giới hiện đang đề cập tới Đó cũng là yêu cầu, mục đích của nghệ thuật gốm Việt Nam hiện còn nhiều khả năng tiềm tàng, đang chờ đón những ngày nở rộ
Đây cũng chính là một đặc trưng cho một xã hội phát triển với nền kinh tế phát triển từng ngày
Gốm Việt Nam nổi bật những đặc tính truyền thống đó Gốm Việt Nam không phân biệt giữa gốm "lò quan" và gốm "lò dân" như ở một số nước thời phong kiến, mặc dù có một số gốm làm ra phần nào phục vụ cho vua chúa Cho nên, muốn đánh giá nghệ thuật gốm Việt Nam, điều quan trọng là cần đứng chỗ đứng của nghệ thuật dân gian, cần nhìn rõ mối quan hệ giữa gốm và cuộc sống của đông đảo quần chúng đương thời Không vì thấy thiếu hào nhoáng, thiếu lộng lẫy
mà không thấy cái cốt lõi rất quý của gốm Việt Nam, thường mang tính trong sáng, nhuần nhuyễn, bình dị, có khi còn thô sơ như tiếng nói giọng hò quen thuộc trong nhân dân
Để tồn tại và phát triển trong một nền kinh tế thị trường mang tính cạnh tranh đầy khốc liệt thì các doanh nghiệp cần nỗ lực hết sức trong việc xây dựng và bảo
vệ thương hiệu của mình Một trong những động thái tích cực nhất để khuếch trương thương hiệu một cách có hiệu quả là đầu tư đúng cách vào bộ mặt của thương hiệu Thương hiệu của bạn cũng có thể có được những lợi ích chức năng
và lợi ích cảm tính này Song để làm được như vậy, bạn phải có một mẫu định dạng chuẩn cho thương hiệu
Bộ nhận diện thương hiệu – mang lại hiệu quả về mặt nhận biết thương hiệu sẽ giúp các nhà đầu tư dễ dàng tạo dựng vị trí của mình trong lòng người tiêu dùng
Trang 5Một thương hiệu mới xây dựng cần được phân biệt dễ dàng với những thương hiệu khác trong cùng lĩnh vực hàng hóa, dịch vụ
Từ những suy nghĩ và lập luận trên, người viết chọn đề tài xây dựng “ bộ định dạng thương hiệu cho công ty sản xuất đồ gốm mang tên “Gốm Mới”, tạo dựng một mô hình sản xuất gốm mang đậm chất truyền thống cũng như không kém phần hiện đại để phục vụ đời sống của người Việt Nam
2 Mục đích nghiên cứu:
Trên thế giới, tất cả các nhãn hàng đều mong muốn sản phẩm hay nhãn hiệu của mình được tất cả mọi người biết đến và lựa chọn, nó không nằm ngoài mục tiêu nhằm mở rộng thị phần hay gia tăng doanh số bán hàng, và để làm được điều đó thì việc trước tiên chính là làm thế nào để trở thành sự lựa chọn hàng đầu trong tâm trí người tiêu dùng Đây là điều hết sức quan trọng và mang ý nghĩa rất lớn tới sự thành bại của thương hiệu, mỗi thương hiệu thành công đều hiểu rõ tầm quan trọng của việc chiếm lĩnh tâm trí khách hang Tạo dụng được vị trí nhất định trong long khách hang rõ rang không phải là điều đơn giản khi lượng thông tin mà người tiêu dùng nhận được hàng ngày là rất lớn chính vì vậy các chủ doanh nghiệp làm thế nào lưu lại thông điệp của mình trong lòng khách hàng?
Mọi thương hiệu đều cung cấp đến người tiêu dùng những lợi ích chức năng, vì vậy rất khó để tạo sự khác biệt, dễ gây nhầm lẫn nếu chỉ dựa vào những đặc điểm này Đó là lý do vì sao dù bạn có muốn hay không, những công ty phải lấy lợi ích cảm xúc làm vũ khí mới để chiến thắng đối thủ của mình
Ngày nay, một công ty muốn thành công thì cần phải giành được sự chú ý của khách hàng Với một nhãn hàng mới ra đời, không gì quan trọng hơn là phài đưa hình ảnh của mình đến gần với người tiêu dùng, công việc của nhà thiết kế cần làm là tạo dựng hình ảnh, bộ mặt cho thương hiệu, thu hút sự chú ý của người
Trang 6tiêu dùng, cái khó là cần tạo được sự chú ý phù hợp, lien quan đến những đặc điểm, tính chất riêng của sản phẩm gốm của Gốm Mới
3 Đối tượng nghiên cứu:
3.1 Sản phẩm Gốm Mới:
Một sản phẩm gốm đẹp làm rung động lòng người luôn là sự kết hợp tinh túy giữa tính sáng tạo nghệ thuật và sự tuân thủ các nguyên tắc kỹ thuật Khác với các quá trình sản xuất cơ giới hoá, sản xuất gốm yêu cầu tính sáng tạo nghệ thuật rất cao và chính với sự sáng tạo đó những người thợ gốm đã thổi hồn mình vào đất để tạo ra các sản phẩm gốm độc đáo, luôn luôn có sức cuốn hút mãnh liệt và mang nặng yếu tố con người Do đó sản phẩm của công ty Gốm Mới rất
đa dạng và phong phú bao giồm hai mảng đó là gốm phục vụ đời sống hằng ngày và gốm sử dụng cho trang trí nội ngoại thất
Trang 7Một dòng sản phẩm mới sẽ thất bại nếu nhà sản xuất không ý thức được rõ rang
về đối tượng khách hàng của họ là ai Các công ty thành công đều biết rất rõ về đối tượng người tiêu dùng mà họ nhắm đến, điều này làm cho sản phẩm và dịch
vụ của họ mang tính cạnh tranh cao hơn những công ty đối thủ
Công ty sản xuất gốm “ Gốm Mới” xác định rõ nhóm khách hàng thường xuyên
mà mình hương tới sẽ là đại bộ phận người trong xã hội không phân biệt tầng lớp xã hội Những người có nhu cầu sử dụng những sản phẩm gốm chất lượng, đẹp và giá phải chăng cũng như đáp ứng nhu cầu trang trí nội ngoại thất của họ Mang lại cho ngôi nhà Việt vẻ đẹp mộc mạc nhưng không kém phần sang trọng
4 Nhiệm vụ nghiên cứu:
"Hệ thống nhận diện thương hiệu" là sự diễn đạt bản sắc của một công ty bằng hình ảnh thông qua việc sử dụng văn từ và các biểu tượng "Hệ thống nhận diện thương hiệu" gồm những yếu tố nhận biết cấu thành thương hiệu được thể hiện một cách đồng bộ, nhất quán tạo nên đặc điểm riêng giúp phân biệt thương hiệu
đó với những thương hiệu khác
Bộ nhận diện thương hiệu có tác dụng giúp nhận dạng sản phẩm Nó tạo ra ấn tượng trong lòng người tiêu dùng về cấp độ của sản phẩm và giúp quảng cáo cho sản phẩm đó Thương hiệu mới xây dựng cần được phân biệt dễ dàng với những thương hiệu khác trong cùng lĩnh vực hàng hóa, dịch vụ, vì vậy bộ nhận dạng thương hiệu cần tạo được sự khác biệt và chú ý của người tiêu dùng
Trang 8Nhà thiết kế có rất nhiều lựa chọn về bố cục kết hợp, để có thể tạo ra mẫu định dạng format chuẩn cho thương hiệu Để bất kỳ sự lựa chọn kết hợp các yếu tố trên mang lại lợi ích cho thương hiệu, nhà thiết kế không những phải ghi nhớ những yêu cầu về mặt thẩm mỹ, mà còn phải cân nhắc xem liệu hiệu quả mang lại sẽ góp phần thể hiện hay làm lu mờ tính cách của thương hiệu
Hơn nữa, khi định dạng format cho một phương tiện truyền thông nhất định, ví
dụ như biểu mẫu giao dịch, thì nhà thiết kế cũng cần cân nhắc xem nó sẽ liên hệ
về mặt hình ảnh như thế nào với các phương tiện truyền thông khác, như tài liệu giới thiệu sản phẩm hay bản tin nội bộ Các mẫu định dạng format cho các phương tiện truyền thông khác nhau cần phải điều chỉnh cho phù hợp với những yêu cầu kỹ thuật đặc thù Tuy vậy, chúng cần phải có diện mạo tương tự nhau,
để cùng giúp thương hiệu tạo được ấn tượng tối đa một cách nhất quán
5 Phương pháp nghiên cứu:
Một hệ thống nhận diện thương hiệu thường bao gồm những yếu tố nhận biết cơ bản sau:
Biểu tượng ( Logo)
Màu sắc trong các tài liệu truyền thông
Kiểu chữ trong các tài liệu giao dịch và truyền thông
Dấu hiệu nhận biết thương hiệu trên các tài liệu văn phòng
Trang 9Thẻ nhân viên
Tài liệu thuyết trình
Đồng phục
Dấu hiệu nhận biết thương hiệu trên sản phẩm và bao gói
Dấu hiệu nhận biết thương hiệu trên sản phẩm
Dấu hiệu nhận biết thương hiệu trên tem nhãn dán lên sản phẩm
Dấu hiệu nhận biết thương hiệu in trực tiếp lên sản phẩm
Dấu hiệu nhận biết thương hiệu trên bao gói sản phẩm
Bố cục trình bày dấu hiệu nhận biết thương hiệu trên bao gói sản phẩm
Một số minh họa ứng dụng
Dấu hiệu nhận biết thương hiệu trên các biển hiệu
Các dạng biển hiệu
Biển hiệu Tổng công ty
Biển hiệu phòng ban
Biển hiệu tại quầy lễ tân và phòng họp
Biển quảng cáo
Biển hiệu đại lý
Dấu hiệu nhận biết thương hiệu trong truyền thông marketing
Ấn phẩm quảng cáo
Thiết kế gian hàng hội chợ triển lãm
Quảng cáo trên truyền hình (tư vấn)
Quảng cáo trên các phương tiện vận chuyển
Hàng khuyến mại
Website và vỏ đĩa CD (Thiết kế giao diện)
Một quy trình xây dựng và thiết kế hình ảnh, bản sắc thương hiệu thường được bắt đầu bằng những nghiên cứu khách hàng về: định vị thương hiệu, sản phẩm, khách hàng từ đó có thể giúp cho những ý tưởng sáng tạo được hình thành
Trang 10Phần lớn thời gian của một quy trình xây dựng và thiết kế hệ thống nhận diện thương hiệu dựa trên tầm cỡ, tính phức tạp cũng như số lượng những hạng mục thiết kế của dự án
5.1 Nghiên cứu và Phân tích (Research & Analysis)
Những Dự án xây dựng và thiết kế hệ thống nhận diện thương hiệu dù lớn hay nhỏ luôn cần sự phối hợp nghiên cứu và phân tích giữa nhà thiết kế và khách hàng, đây là cách tốt nhất cho những những định hướng sáng tạo mang tính khác biệt rõ ràng với những thương hiệu khác Về phía khách hàng, chủ doanh nghiệp bắt buộc phải tham gia ngay từ khâu này
Những cuộc nghiên cứu tùy mức độ sẽ bao gồm các bước cơ bản sau:
Kiểm tra nội bộ (Internal audit):
Thống nhất những mục tiêu cụ thể của dự án Những thông tin, tài liệu liên quan
có ích cho dự án hay những cuộc trao đổi, thảo luận bàn tròn cũng có những giá trị hữu ích cho những nghiên cứu và phân tích ban đầu
Thấu hiểu người tiêu dùng (Customer insight):
Những nghiên cứu mang tính thấu hiểu người tiêu dùng sẽ cho những kết quả khách quan và đúng đắn nhằm giúp nhà thiết kế và khách hàng tìm ra được những định hướng, giải pháp và ý tưởng phù hợp với những suy nghĩ, cảm nhận của họ
Đối thủ cạnh tranh (Competitors):
Nghiên cứu kỹ lưỡng đối thủ cạnh tranh sẽ giúp cho nhà thiết kế và khách hàng
có những định hướng chiến lược mang tính đúng đắn, điều này sẽ giúp tạo được
sự khác biệt và tách biệt với đối thủ
5.2 Chiến lược (Strategy)
Ở bước này những yếu tố định vị và cốt lõi thương hiệu, ý tưởng nền của khách hàng, khái niệm thiết kế cơ bản (Concept), thông điệp chính phải được xác định
Trang 11một cách rõ ràng Một bảng tóm tắt về dự án (Project brief) bao gồm những giải pháp và ý tưởng, mục tiêu của dự án và những kết quả nghiên cứu được nhà thiết kế thuyết trình cùng khách hàng
Hai đến ba định hướng chiến lược của dự án sẽ được đưa ra, khách hàng chọn một, định hướng được chọn là định hướng chính của dự án, tất cả những ý tưởng, hình ảnh, thông điệp… đều xoay quanh định hướng này cho đến khi hoàn tất dự án
5.3 Thiết kế (Design)
Đây là giai đoạn đã quyết định ý tưởng và định hướng chính của dự án nhằm bước vào triển khai các thiết kế cơ bản Những thiết kế cơ bản hoàn tất sẽ được thuyết trình với khách hàng và sẽ được điều chỉnh để chọn ra mẫu thích hợp nhất Mẫu được chọn là xuất phát điểm cho việc triển khai toàn bộ những hạng mục thiết kế của dự án
5.4 Bảo hộ (Trademark protection)
Bảo hộ thương hiệu luôn là nhu cầu cần thiết nhằm bảo đảm an toàn cho thương hiệu tránh những sự sao chép, bắt chước từ đối thủ cạnh tranh Việc đăng ký bảo hộ cũng là bước an toàn cho giai đoạn tung dự án ra thị trường
5.5 Ứng dụng (Application)
Toàn bộ hạng mục thiết kế của dự án được thiết kế theo từng nhóm cơ bản, khách hàng điều chỉnh và ký duyệt theo từng nhóm cho đến khi hoàn tất Các thiết kế hoàn tất bao gồm tất cả những yếu tố thiết kế về kiểu dáng, màu sắc, chất liệu và cả những tham vấn cho khách hàng trong việc đưa vào sản xuất thực tế
5.6 Sản xuất Dự án (Implementation)
Trang 12Tùy vào thỏa thuận ban đầu giữa khách hàng và nhà thiết kế mà một bản thiết
kế có những chi tiết hướng dẫn thiết kế theo từng mức độ khác nhau, nó có thể
là những lời tư vấn miệng hay những bản hướng dẫn thiết kế chi tiết (manual guide) cho việc sản xuất dự án Khách hàng cũng có thể yêu cầu nhà thiết kế trong vai trò là một giám sát và tư vấn để làm việc với nhà cung ứng trong suốt quá trình sản xuất dự án với một khoản phí được thỏa thuận giữa hai bên
Vai trò giám sát của nhà thiết kế cho việc sản xuất dự án sẽ rất cần thiết và quan trọng, những kinh nghiệm của nhà thiết kế sẽ giúp cho kết quả sản xuất dự án đạt được độ chính xác cao, hạn chế rủi ro hoặc phát sinh Ngoài ra còn giúp cho khách hàng chọn được những nhà cung ứng có năng lực và tiết kiệm tối đa ngân sách đầu tư
PHẦN NỘI DUNG
Trang 14Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Tổng quan lịch sử của đề tài:
1.1.1 Lịch sử đề tài nghiên cứu:
Theo dòng xoáy thời gian, mọi vật trong cuộc sống đều phát triển không ngừng, cùng với các bước tiến của xã hội, rất nhiều các lĩnh vực trong đời sống đều có những bước phát triển đánh dấu sự ra đời của nhiều phong cách mới, phong phú
và thích hợp hơn, đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau của con người
Gốm ban đầu là một sản phẩm được hình thành từ thành phần chính là đất sét trải qua quá trình nào và nặn để tạo ra hình dáng của sản phẩm sau đó mang đi nung để tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh có công năng sử dụng để “chứa đựng” Trãi qua một thời gian dài từ lịch sử sơ khai đến thời kì hiện đại
1.1.1.1 Lịch sử - nguồn gốc của gốm Việt Nam:
Liệu chúng ta có thể coi những ông Đầu Rau chính là những đồ gốm cổ đầu tiên
ở của Việt Nam? Theo thời gian, các sản phẩm được làm từ đất sét nung đi vào cuộc sống một cách tự nhiên và mang theo những dấu ấn văn hóa và công nghệ của tổ tiên chúng ta?
Lịch sử đồ gốm Việt Nam đã bắt đầu từ những món đồ bằng đất sét trộn bột vỏ
sò không tráng men, dùng khuôn bằng giỏ đan, màu nâu đậm hay nâu nhạt
…qua những vật tích tìm được ở Hoà Bình, ở Bắc Sơn, ở Quảng Yên, ở Thanh Hoá
Trong phạm vi đồ gốm – nét văn minh sơ khởi nhất của con người, bởi vì không
có đồ gốm để nấu nướng, cất giữ, ăn uống thì nền văn minh không hình thành – ông cha ta tiếp tục phát huy, học hỏi và ứng dụng kinh nghiệm vào việc chế tạo
đồ gốm, tạo nên các nền văn hoá Phùng Nguyên, văn hoá Ðông Sơn Dù di tích còn rất ít, nhưng đồ gốm Việt Nam trong thời này đã cho thấy sắc thái của một
Trang 15nền văn hóa cá biệt Trong những thế kỷ sau đó, đồ gốm Việt Nam đạt được mức phát triển rất cao, đã xuất cảng sang Ả Rập, Nam Dương…
Sang thế kỷ thứ 10, đồ gốm mang một sắc thái khác với nước men trong, dày, khá đều, với hoa văn chim hạc, cọp, voi, hoa sen, hoa cúc… đã xuất hiện nhiều Người thợ Việt Nam đã biết cách làm các đường rạn thưa hay dày theo ý muốn Rồi từ đời Lý (đầu thế kỷ 11) đồ gốm Việt Nam phát triển một cách huy hoàng Nhiều loại men (các loại Lý Nâu, Lý Ðen, Lý Trắng, Lý Lục, men ngọc), nhiều hoa văn, nhiều thể loại tràn lan khắp nơi, từ chốn triều đình, chùa, miếu đến thôn dã trong suốt từ thế kỷ 11 đến hết thế kỷ 16 (đời Hậu Lê)
Hình dáng gốm Việt Nam gồm có dĩa, đĩa, tô, chén, lọ, chai và bình Cả những kiểu đặc biệt tạo ra bởi nghệ nhân đời Minh như hũ và chén có bệ của thời kỳ 1403-1424 cũng có tương đương trong các loại đồ gốm Việt Nam Đồ gốm đất Việt Nam được cấu tạo dày và chắc hơn đồ gốm đất Trung Hoa Thân hình cấu tạo bên ngoài màu nâu và ít có bị lẫn chất bụi hoặc sạn Dưới chân đồ gốm đất hoặc là để nguyên hoặc được tráng một lớp trơn không màu hoặc một lớp tráng oxide sắt màu nâu
Có đủ loại các lớp trán trên đồ gốm Việt Nam Loại đồ gốm tráng một màu là những loại thông dụng được xuất khẩu trong thời kỳ đầu Trắng, xanh cây, đen
và nâu là những loại thông dụng và được biết nhiều Sự tiến triển của kỷ thuật
đồ gốm trong giai đoạn đầu là sự trình bày bằng lớp oxide sắt đen và nâu dưới lớp tráng Sắc thái trình bày rất thanh thoát và giản dị so với lối trình bày trên đồ gốm Trung Hoa Sự chuyển tiếp từ lối trình bày bằng oxide sắt đến cách dùng cobalt xanh trời là một sự cải tiến quan trọng trong nghệ thuật đồ gốm Việt Nam
và chứng kiến một mức độ sản xuất về xuất khẩu chưa từng có trong lịch sử đồ gốm Việt
1.1.1.2 Lịch sử phát triển gốm Việt Nam:
Trang 16Gốm thời Lý :Với quá trình phát triển nghệ thuật Gốm cổ truyền Việt Nam, có kinh nghiệm tích luỹ lâu đời Đến thời Lý thế kỷ XI-XII nghề gốm rất phát triển Các nghệ nhân Gốm thời Lý phát huy sáng tạo, thúc đẩy nghề làm Gốm Đã đạt tới trình độ khéo léo và tài nghệ cao cả về kỹ thuật lẫn nghệ thuật Trong cuốn
Đồ gốm Nhật Bản (La Céramique Japonaise) nhà xuất bản Leroux- Paris năm
1983, tác giả Oueda Tokonosouké cũng đã nói: Nhật Bản có nhiều thợ gốm giỏi bắt chước làm theo đồ gốm cổ Việt Nam (gọi là gốm Giao Chỉ - Kotchi) Những trung tâm sản xuất gốm thời Lý thường ở nơi thị dân, hay dọc ven sông có sẵn nguyên liệu sản xuất, lại thuận tiện chuyên chở tiêu thụ như: Thăng Long (cùng một số vùng phụ cận như Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng), và Thanh Hoá Đồ gốm với các chủng loại như: Gốm gia dụng có các loại bát, đĩa, ấm, chén, bình, liễn, cóng, chum, vại, thạp Đồ gốm loại này phần lớn có tráng men, biểu hiện một trình độ cao Nhiều sản phẩm gốm quý và đẹp Gốm ở Thăng Long và Thanh Hoá có nhiều nét độc đáo như gốm Men Ngọc rất quý Loại này chất đất được lọc
kỹ, xương gốm mịn, rắn chắc và nặng, được phủ lớp men dày có màu xanh dịu trong bóng trông giống như ngọc (nên gọi là men ngọc) Đồ gốm Men Ngọc của
ta được ca tụng, (và thường so sánh với gốm Long Tuyền thời Tống của Trung Quốc) Những hiện vật gốm Men Ngọc còn nguyên vẹn, hiện nay còn sưu tập được có các hoa văn trang trí theo lối in khuôn nổi hoặc chìm
Các họa tiết trên gốm đất nung thời Lý phong phú, như: về hình người có: Vũ nữ đất nung (như ở chùa Dạm, Phật Tích, Long Đội sơn ) Đặc biệt hình tượng các con vật (Rồng, Phượng, cá, chim, hổ), đến các hình: Hoa lá (hoa sen, hoa cúc, hoa Phù Dung, lá đề), Sóng nước: sóng hình sin hay sóng ba lớp chồng nhau như
ba ngọn núi (còn gọi là sóng tam sơn) Tất cả đều được đơn giản hoá, tạo những nét giản dị Đồ gốm dân gian: kiểu thức phóng khoáng, chất đất thô hơn gốm men ngọc Cốt gốm dầy, bên ngoài phủ lớp men mỏng màu nâu hoặc trắng ngà Các hình vẽ, khắc trước phủ men sau Đường nét trang trí giản dị mộc mạc
mà sinh động Gốm xây dựng, Gốm trang trí kiến trúc phát triển đáp ứng xây
Trang 17dựng kiến trúc cung đình của vương triều, đền đài lăng tẩm, các kiến trúc Đền, Chùa, hoặc nhà cửa dân dụng Sản phẩm Gốm xây dựng là: gạch xây, ngói lợp, ngói bò ốp trên bờ nóc, ngói đầu mái, hoặc gạch trang trí Gạch có hình hoa văn trang trí lát nền, hoặc trang trí bề mặt tường trong các kiến trúc cung điện, chùa tháp Có nhiều loại gạch ngói với hình dáng kích thước khác nhau, những hoa văn trang trí phong phú Những hình Rồng, Phượng, hoa lá khắc chìm hoặc đắp nổi trên bề mặt gạch Trên mặt tròn đầu mũi ngói ống ấn nổi hình hoa sen, hoa cúc, hoa thị, có khi hình mặt con thú, hổ phù Những trang trí trên mặt gạch đã
áp dụng lối in khuôn dập lên mặt gạch khi đất còn mềm trước khi để khô và nung Bố cục thường có đường chỉ gờ viền chung quanh trong các bố cục như (hình vuông, chữ nhật, hình tròn, hình lá đề, hình đa giác) Bên trong các hình
đó có chạm các: hình hoa sen, hoa cúc dây, hoa thị, hay hình Rồng, Phượng uốn lượn Sự xắp xếp theo bố cục trang trí đăng đối, đối xứng Có những bố cục trang trí to rộng, gắn ghép gốm với nhau Có những gốm đất nung được đắp, nặn, chạm trổ to, để gắn trên bờ nóc, diềm mái, đầu đao Những gốm lớn gắn vào kiến trúc có hình chim Phượng, hình Rồng uốn mình chầu ngọc Có những đầu Rồng có mào bờm uốn lượn, hình chim Phượng mỏ dài quặp lại, có mào, hai cánh uốn cong (để gắn trên đầu bờ nóc hay đầu đao) Gốm loại này thường đa dạng, đáp ứng tính chất trang trí phức tạp và đa dạng của các loại công trình kiến trúc Chùa, tháp, cung điện, lầu các, to nhỏ lớn bé các loại Gốm thời này có
độ nung già để mộc nên có màu của đất nung đỏ gạch tươi, hoặc đỏ nghệ Tuy bằng đất nung thô sơ, thậm chí to nặng nhưng khi kết hợp gắn kết vào kiến trúc, tạo thành những nét cong mềm mại, hài hoà trong độ dốc, độ cao, đường cong của đầu đao, bờ mái, mang nét đẹp độc đáo của kiến trúc cổ truyền Việt Nam
Gốm thời Trần: (thế kỷ XIII-XIV) tiếp tục phát triển trên cơ sở truyền thống thời
Lý với nhiều loại phong phú mang tính dân tộc và phong cách của thời Trần Gốm gia dụng và Gốm trang trí kiến trúc được chế tạo khác thời Lý Các lò gốm
có thêm như ở Phủ Thiên Trường (Nam Định), nổi bật là gốm Hoa Nâu Gốm gia
Trang 18dụng phủ men có ba loại: 1, Gốm Men Ngọc tạo dáng chắc khoẻ, cân đối, men dầy, dùng men chảy không đều, đôi khi còn ngấn đọng thành giọt Hoa văn ấn hoặc đắp nổi, các họa tiết trang trí là: hoa sen, hoa cúc, hoa văn hình xoắn ốc Các loại bát đĩa hình dáng hơi thô, trang trí sơ sài và để trơn Lớp men màu vàng nhạt, màu da lươn, hay nâu thường phủ mỏng phục vụ đối tượng rộng rãi Song cũng có những gốm Men Ngọc chế tác công phu phục vụ tầng lớp vua, quan, quý tộc ở thời Trần trên gốm có chữ viết dưới trôn để mộc như “Thiên Trường phủ chế”, hoặc bôi nâu ở trôn đế 2, Gốm Hoa Nâu: dân dụng, kiểu dáng to khoẻ, cốt gốm dày, thô xốp hơn gốm men ngọc, phủ lớp men trắng ngà hay vàng nhạt Có nhiều loại, cỡ khác nhau, thường to mập, có thể tích chứa đựng lớn như các loại: thạp (thạp gốm lớn ở Nam Định, Thanh Hoá) Các loại liễn dáng cao, thân thẳng, miệng hơi thu nhỏ, vai bằng và chung quanh vai đắp nổi cách sen tròn mập, có bốn núm tai ngang, chạy quanh miệng và chân liễn khắc vẽ hoa thảo cách điệu Thân liễn vẽ năm con chim Có các loại liễn thấp thành, chân đế chạm thủng Vòng quanh vai và chân liễn đắp nổi hình vòng cánh hoa sen Hoặc có Liễn trên thân chia ô trang trí xen kẽ Các loại chậu, liễn có khắc vẽ các hình: hoa thảo, chim, cá, tôm nét vẽ đơn giản nhưng linh hoạt Các loại bình, ấm: Hoa văn vẽ thành đường viền, dùng màu nâu tô vẽ, hoặc khắc chìm tô nâu hoặc để mộc Còn có loại gốm đồ thờ cúng như: Mô hình Tháp gốm (cao 1m50) ở Chùa Chò (Yên Phong, Yên Lãng-Vĩnh Phú) Trên Tháp có nhiều hình trang trí như hình hai sừng tê vắt chéo Tượng Kim Cương ở bốn cửa tháp Bên trong có cả tượng gốm Đức Phật ngồi xếp bằng Gốm Hoa Nâu tạo dáng phong phú, phát triển mạnh ở thời Trần Các hình thức trang trí quanh miệng và chân đế các: thạp, liễn, bình,
ấm thường đắp nổi cánh sen, hình khắc tô màu nâu Các hoa lá cách điệu, còn
có hình chim cò, voi, hổ, tôm cá, có cả đề tài gắn với sinh hoạt như: hai võ sĩ đang đấu kiếm (Thạp gốm Thanh Hoá), Tiên dâng hoa trên gạch (chùa Hang, núi
úc, Hoàng Liên Sơn) 3, Gốm Hoa Lam: là loại gốm phủ men trắng đục vẽ hình trang trí bằng màu lam Hình dáng gốm Hoa Lam thanh chắc, cốt đất màu trắng xám, lọc sạch mịn, ngoài phủ men trắng với kỹ thuật nhúng men đều rồi nung ở
Trang 19độ lửa khá cao, men phủ được nung mà tan chảy đều Đồ gốm Hoa Lam (trừ số
ít bình, lọ) thì bát chén vẫn chiếm số lượng nhiều Ta thấy loại bát lòng sâu: vòng
đế cao, được sản xuất nhiều với các cỡ khác nhau, nhưng theo một tỷ lệ: chiều cao chân đế bằng 1/4 chiều cao bát, đường kính vòng đế bằng 1/2 đường kính vòng miệng bát Bát, chén Hoa Lam dáng cao to đáp ứng nhu cầu thông dụng Trang trí trên gốm được tiến hành sau khi đã tạo dáng xong, nghệ nhân dùng bút lông mềm chấm màu lam vẽ hoa văn, họa tiết trực tiếp trên gốm một cách phóng khoáng, lưu loát và chủ động Các đề tài thường là: hoa, lá, thảo mộc, sen, cúc, mây tản Đồ gốm Hoa Lam với những đặc điểm độc đáo về tạo dáng, trang trí trang nhã, thanh đẹp lại đáp ứng tốt giá trị sử dụng góp phần phát triển kinh tế Nghệ thuật gốm hai thời: Lý - Trần giữ vị trí quan trọng trong sự phát triển nghệ thuật gốm Việt Nam Đời sau kế thừa và phát triển, với nhiều loại gốm quý cổ truyền độc đáo như sự tinh tế của gốm Men Ngọc, giản dị chắc khoẻ của gốm Hoa Nâu Gốm Hoa Lam (phủ men trắng vẽ màu lam) duy trì được lâu dài
và phát triển mạnh
Gốm thời Lê Sơ: chế tạo tại các lò Gốm như Bát Tràng, làng Thổ Hà (Gốm nâu), làng Phù Lãng (gốm men vàng - màu da lươn) Nghệ thuật gốm thời này dùng lối
vẽ trực tiếp lên mặt gốm, và còn dùng cả lối vẽ vạch hoặc đắp nổi Sự áp dụng
cả hai lối trên phát triển từ cuối thời Lê Sơ trở đi Lối vẽ trực tiếp lên gốm trước khi nung, tạo nên những hình vẽ trên gốm có được những nét màu thanh thoát, thoải mái sinh động (có hiệu quả gần như là vẽ trên giấy) Đề tài trang trí là: những hoa văn hình kỷ hà, đường chỉ đôi, đường dây xoắn như tay mướp leo, dải hoa dây, các loại hoa văn: hình mây, mây lửa, sóng nước, long ly quy phượng, hay các loại hoa sen, hoa cúc, hoa chanh, hoặc muông thú: chim, cua, cá, tôm, ngựa Hoặc dùng chữ Hán Việt viết thảo làm trang trí trên gốm Bên cạnh các loại gốm gia dụng còn có các loại gốm trang trí kiến trúc là gạch xây, lát nền để mộc Trên bề mặt gạch có hình hoa chanh (thấy ở thành nhà Hồ), hay tráng men màu da lươn hoặc sành nâu (dùng trong các công trình ở Lam Kinh) Các gốm
Trang 20trang trí trên bờ nóc, đầu đao, diềm mái bằng đất nung già có các hình chạm Rồng, Phượng uốn lượn Hay các họa tiết hình hoa sen, hoa cúc, hình rồng trong hình tròn các đầu ngói ống ở các cung điện Thăng Long (Đông Kinh) hay ở khu Lam Kinh (Thanh Hoá) Gốm thời Lê Sơ đã từng phát triển rực rỡ, còn mang gốm đi quan hệ với các nước trong vùng Đông Nam á
Nội), Thổ Hà, Phù Lãng (Bắc Ninh), đã xuất hiện thêm vùng làm gốm khác như Thanh Lâm (Nam Sách Hải Dương), Đức Thọ (Thanh Hoá) các loại gốm xây dựng, trang trí kiến trúc Những gốm trang trí kiến trúc trên bờ nóc, tầu mái, đầu đao các hình Rồng, Phượng, con Xô, con Kìm Gốm đất nung còn thấy ở kiến trúc Chùa, hoặc cung Điện Gạch trang trí hoa văn nổi, Gạch trổ thủng hình hoa chanh, gạch tráng men màu, cẩn ghép bề mặt tường, lan can, tường hoa Trên mặt gạch trang trí in nổi hình hoa sen, hoa cúc, các con thú Rồng, Phượng, Lân,
Hổ, Voi, Ngựa Gạch lát tường (chùa Thái Lạc), gạch xây (mộ bà chúa Mạc trong khu chùa Phổ Minh- Nam Định), gạch xây bệ tượng (ở chùa Trăm gian, chùa Mui), gạch bó thềm có những hình người, thú vật rất sinh động (gắn thềm bậc sát mặt sân trước chùa Bối Khê) Hình Rồng trên gạch, loại đặt nằm ngang thì thân rồng uốn khúc không đều, có hướng giãn rộng ra, khúc giữa uốn võng lưng Loại đặt trong khung tròn thân rồng uốn cong thành bốn khúc, đầu rồng quay vào chính tâm Các loại ngói trong kiến trúc cổ thời Mạc: ngói mũi hài, mũi ngói cong; ngói giọt gianh mũi thẳng trang trí hình lá sòi, hoặc hình cánh sen Cuối dốc mái, ở đầu ống thoát nước có gốm tạo hình cả con cá Chép (hay nửa thân có đầu cá), hoặc đầu Rồng làm ống máng thoát nước mưa từ mái đổ xuống qua miệng há to của con vật Đặc điểm các con vật trong nghệ thuật gốm thời Mạc: Hình Rồng (kể cả trên gỗ, đá): đầu nhỏ, có hai sợi râu mép dài uốn lượn song song và duỗi ra phía trước, thân chắc lẳn uốn mềm mại, lưng võng Hình chim Phượng trang trí trên gạch trong khung hình chữ nhật, hay tròn đều thể hiện chân thực, lông đuôi dài, hai cánh xoè rộng và uốn mình như múa Hình Rồng, Phượng được dân gian hoá trở thành con vật quen thuộc, sử dụng làm trang trí
Trang 21trong các đình chùa làng xã từ thời Mạc Ngoài ra còn có các con thú như: Hổ, Voi, Lân, ngựa, hươu Con hổ nằm phủ phục, đầu quay ra phía sau, đuôi cong, in trên gạch (chùa Thái Lạc); con Lân in nổi trên gạch bó thềm (chùa Bối Khê); hình voi lồng trên gạch đất nung (ở chùa Trăm gian); hình Hươu (đình Lỗ Hạnh, và đình Thổ Hà); ngựa trên gạch bệ (chùa Trăm gian) các con vật được thể hiện sinh động và hiện thực Hình các con vật: Rồng, Phượng, Lân, Ngựa phi, hoặc hoa sen khắc và đắp nổi trên gạch để trang trí tìm thấy ở chùa Ông (Bình Lương Văn Lâm-Hưng Yên) Nghệ thuật và kỹ thuật gốm trang trí đậm sắc thái dân gian, dân tộc Gốm gia dụng thời Mạc: tiêu biểu với trung tâm Bát Tràng nằm ven sông Hồng (mà từ thế kỷ 14 đã sản xuất gốm); hoặc ở Thanh Lâm (Nam Sách-Hải Dương) gần quê hương nhà Mạc gọi là Dương Kinh (kinh đô thứ hai của nhà Mạc) Gốm gia dụng thời Mạc phong phú đa dạng các loại: bát, đĩa, bình, lọ,
âu, liễn, vò, bình vôi, bát hương lớn nhỏ, có loại có nắp đậy Chẳng hạn về bát: loại lòng nông, chân đế thấp, vòng miệng uốn cong ra ngoài, trên thành bát trang trí hoa văn màu xanh, nét vẽ giản dị, trôn bát cao, có men hoặc để mộc bôi nâu Loại sâu lòng, chân đế cao, vành miệng bo lật ra ngoài, trang trí hoa văn màu xanh dưới men Hoặc có loại vẽ hình rồng, hay hình con chuồn chuồn xen với hoa văn mây xoắn Đĩa cũng nhiều loại cỡ to nhỏ khác nhau, trang trí có đường chỉ đôi viền quanh vành đĩa, hoặc đường hoa dây uốn lượn, mặt lòng đĩa
vẽ hình tôm, cá, chuồn chuồn hay ve sầu, có đĩa vẽ cò bay trên cánh đồng Hoặc
vẽ hươu chạy đầu ngoái về phía sau Có đĩa vẽ hình con trâu màu nâu điểm xanh Có đĩa vẽ cá to đang quẫy Còn có loại gốm đồ thờ như: Chân đèn, chân nến với dáng chân cao Bình gốm thờ: có bình trang trí hình mây lửa, vẽ màu xanh đen dưới men trắng ngà Trên cổ bình có đôi Phượng Có bình trang trí hình rồng vẽ màu hoặc đắp nổi
Gốm thời Lê Trung Hưng (thế kỷ 17), Lê Mạt (thế kỷ 18): tiếp tục với các loại đã
có từ trước, và phát triển các loại gốm gia dụng ở trên đồ gốm đôi khi còn có các chữ: “Vạn”,”Phúc”,”Thọ” được đóng khung Gốm thờ như: Bình, Lư hương,
Trang 22Chân đèn, giá nến với đề tài là hình Rồng, Phượng, hoa sen, sóng nước theo lối trang trí đăng đối, đối xứng Nghệ thuật gốm thời Nguyễn (nửa sau TK 19 đến non nửa đầu thế kỷ 20) vẫn duy trì kế thừa của gốm truyền thống Thời Nguyễn,
ở kinh đô Huế còn nhắc đến men Lam Huế Men Lam cùng với Pháp Lam (nó không phải Gốm mà là pháp Lam trên cốt đồng với nhiệt độ cao) cùng với Gốm kiến trúc như các loại gạch ngói: Thanh lưu ly, Hoàng lưu ly, Gốm với các màu men: xanh, vàng, nâu, gạch, ngói trang trí để xây dựng cung đình, điện các, lăng tẩm Các đồ gốm ở Móng Cái (Quảng Ninh) cũng được sản xuất nhiều để phục vụ cuộc sống Đến đầu thế kỷ 20 nổi lên với gốm Đồng Nai, Biên Hoà sản xuất gốm sành xốp, với nhiều men màu thể hiện trên sản phẩm
Từ sau 1954 nghề gốm cổ truyền dần được khôi phục, các làng nghề, phố nghề,
tổ chức lại các cơ sở sản xuất phát triển theo đời sống hiện đại Gốm được chú trọng sản xuất phục vụ đời sống và xuất khẩu Các cơ sở sản xuất gốm, cũng như việc duy trì các lò gốm truyền thống Trường Mỹ thuật công nghiệp trong nhiều năm góp phần đào tạo những họa sĩ gốm Nghệ thuật gốm là một lĩnh vực
đã và đang được các họa sĩ gốm hiện đại tìm tòi phát huy vốn nghệ thuật truyền thống để sáng tạo, cũng như nghiên cứu kỹ thuật, học thuật, để nâng cao thúc đẩy phát triển nghệ thuật gốm Việt Nam, đáp ứng nhu cầu kinh tế xã hội ngày một cao
Tóm lại: Gốm Việt Nam từ thời Lý và thời Trần đã có thành tựu rực rỡ, nhiều
kiểu dáng đẹp, sử dụng tạo men màu cho gốm Ba lọai gốm tiêu biểu là: Gốm Men Ngọc, gốm Hoa Nâu và gốm Men Trắng ngà vẽ Hoa lam những hoa văn trang trí: Hoa, quả, lá, hoặc các con vật như voi, hổ, nghê với đường nét giản
dị, mộc mạc Gốm được nung ở nhiệt độ (12000c-12800c) Những sản phẩm gốm được nung ở nhiệt độ cao thành sành nâu (ở Phù Lãng) Thời Lê Sơ kỹ thuật màu Men Hoa Lam tiếp tục phát triển về sau Thời Mạc gốm dân gian phát triển Các loại gốm ở thời Lê Trung Hưng, Lê Mạt đến Nguyễn vẫn duy trì kế thừa truyền thống và phát triển Các loại: gốm kiến trúc, tượng gốm: nặn người, động
Trang 23vật gạch ngói trang trí, gạch cong xây cuốn, ngói ống đầu ngói có tráng men đáp ứng kiến trúc Gốm gia dụng, gốm sành xốp, gốm sành trắng, (với đất sét trắng - cao lanh, để làm xương gốm và men gốm) tạo nên những loại gốm mới bền đẹp trong nhiều chủng loại Những hiện vật gốm phát hiện ở các con tầu đắm vùng biển phía Nam (Cù Lao Chàm, Vũng Tầu ) hay ở khai quật Hậu Lâu (1998), Tràng Tiền và Hàng Dầu Hà Nội (1999), Bắc Môn, Đoan Môn, Văn Miếu (2000) và tây Hoàng Thành (2002-2003) bổ xung nhiều hiện vật, đã minh chứng hùng hồn
về nghệ thuật Gốm cổ Việt Nam Vẫn những trung tâm sản xuất gốm nổi tiếng: Thăng Long, Bát Tràng (Hà Nội), Thổ Hà, Phù Lãng (Bắc Ninh), Hương Canh (Vĩnh Phú), Làng Cậy (Hải Dương), Quế Sơn (Hà Nam), Phú Vinh (Trị Thiên Huế), Biên Hoà, Đồng Nai v.v
Trang 241.1.1.3 Các làng nghề truyền thống gốm Việt Nam:
a.Gốm Chu Đậu-Mỹ Xá:
Còn được biết đến là gốm Chu Đậu, là gốm sứ cổ truyền Việt Nam đã được sản xuất tại vùng mà nay thuộc làng Chu Đậu và làng Mỹ Xá, thuộc các xã Minh Tân
và Thái Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
Loại gốm sứ này thường được nhắc đến với tên gốm Chu Đậu là do lần đầu tiên người ta khai quật được các di tích của dòng gốm này ở Chu Đậu Sau này, khi khai quật tiếp ở Mỹ Xá (làng bên cạnh Chu Đậu) thì người ta phát hiện ra khối lượng di tích còn đa dạng hơn và có một số nước men người ta không tìm thấy trong số các di tích khai quật được tại Chu Đậu.Gốm Chu Đậu là dòng gốm nổi tiếng vì màu men và họa tiết thuần Việt.Nó đã từng xuất khẩu sang nhiều nước châu Âu.Năm 1997 sau khi tìm dược rất nhiếu gốm Chu Đậu trong con tàu đắm ở
Cù Lao Chàm (Nghệ An)của người Bồ Đào Nha dòng gốm này mới được biết đến
và nổi tiếng
Tại Mỹ Xá có gia phả dòng họ 14 đời có ghi câu " tổ tiên lấy nghề nung bát làm nghiệp" Câu này hiện được lưu lại trong bảng ghi lịch sử dòng gốm sứ này tại Xí nghiệp gốm sứ Chu Đậu
Cả hai vùng Mỹ Xá và Chu Đậu đều coi ông Đặng Huyền Thông, người Hùng Thắng, Minh Tân là ông tổ (đã biết) của dòng gốm sứ này.Mới đây các nhà khảo
cổ đã khẳng định bà Bùi Thị Hý là tổ nghề gốm Chu Đậu
Dòng gốm sứ này có thể đã được hình thành và phát triển trong khoảng từ thế
kỷ 13 đến thế kỷ 18 Có nguồn nói, nó bị hủy diệt do chiến tranh Lê-Mạc cuối thế
kỷ 16
Trang 25b.Gốm Bát Tràng:
là tên gọi cũ của làng Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội từ trước năm
1945 Trước đây hơn 700 năm, người dân thôn Bát Tràng di cư từ làng Bồ Bát (xã Bồ Xuyên và trang Bạch Bát thuộc tổng Bạch Bát, huyện Yên Mô, phủ Trường Yên, trấn Thanh Hóa ngoại, nay là hai thôn của xã Yên Thành, huyện Yên Mô,
vùng đất bồi trên bờ sông Hồng, lập phường làm nghề gốm (gạch xây dựng); lúc đầu thôn Bát Tràng được gọi là Bạch Thổ Phường, Xã Bát Tràng (tức làng Bát Tràng ngày nay) thuộc tổng Đông Dư, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, tỉnh Bắc Ninh) sinh sống chủ yếu bằng nghề làm gốm sứ và buôn bán và làm quan Thời nhà Hậu Lê, xã Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc Sang thời nhà Nguyễn, năm 1822 trấn Kinh Bắc đổi làm trấn Bắc Ninh, năm 1831 đổi làm tỉnh Bắc Ninh, lúc này xã Bát Tràng thuộc tổng Đông Dư, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An Đến năm 1862 chia về phủ Thuận Thành và năm 1912 chia về phủ Từ Sơn Từ tháng 2 đến tháng 11 năm 1949, huyện Gia Lâm thuộc về tỉnh Hưng Yên Từ năm 1961 đến nay, huyện Gia Lâm thuộc ngoại thành Hà Nội Năm 1948, xã Bát Tràng nhập với xã Giang Cao và xã Kim Lan lập thành xã Quang Minh Từ năm 1964, xã Bát Tràng được thành lập gồm 2 thôn Bát Tràng
và Giang Cao như hiện nay
Năm 1958, nhà nước thực hiện đào sông Bắc Hưng Hải - Đại thuỷ nông Bắc Hưng Hải làm thuỷ lợi tưới tiêu cho một vùng đồng ruộng rộng lớn của 3 tỉnh: Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, tạo ra thêm một con đường mới đi vào xã Bát Tràng, vì vậy từ Hà Nội, có thể theo đường thuỷ từ bến Chương Dương hoặc bến Phà Đen, xuôi sông Hồng đến bến Bát Tràng, cũng có thể theo đường bộ qua cầu Chương Dương (hay cầu Long Biên) rồi theo đê sông Hồng đến dốc Giang Cao rẽ xuống Bát Tràng (khoảng 15 km) hoặc theo quốc lộ số 5 đến Trâu Quỳ rẽ
về phía tay phải theo đường liên huyện qua xã Đa Tốn đến Bát Tràng (khoảng hơn 20 km) Hoặc từ trung tâm thành phố Hà Nội, nếu theo đường thủy có thể
Trang 26xuất phát từ bến Chương Dương dọc theo sông Hồng đến bến Đình Bát Tràng (cảng du lịch Bát Tràng) hoặc theo đường bộ, qua cầu Chương Dương hoặc cầu Long Biên dọc theo tuyến đê Long Biên-Xuân Quan (đê Tả Hồng) tới Cống Xuân Quan (công trình Đại thủy nông Bắc Hưng Hải) rồi rẽ tay phải đi khoảng 1 km sẽ tới Trung tâm làng cổ Bát Tràng Hoặc từ quốc lộ 5 rẽ vào Trâu Quỳ qua xã Đa Tốn lên đê rẽ tay trái tới 1 km tới cống Xuân Quan rồi rẽ tay phải (cách trường Đại học Nông nghiệp I - Trâu Quỳ chỉ khoảng 7 km)
Ngày nay việc đến Bát Tràng rất thuận lợi vì từ năm 2006, công ty vận tải Hà Nội
đã mở tuyến xe buýt 47 về đến Chợ Gốm Làng cổ Bát Tràng là điểm cuối bến
Ở huyện An Lão, thành phố Hải Phòng có một xã tên gọi Bát Trang gần giống với Bát Tràng
chinh, đoàn chiến thuyền của vua Trần Duệ Tông xuất phát từ Thăng Long xuôi theo sông Nhị (sông Hồng) đi qua "bến sông xã Bát" tức bến sông Hồng thuộc xã Bát Tràng
Dư địa chí của Nguyễn Trãi chép "Làng Bát Tràng làm đồ bát chén" và còn
Giang Hai làng ấy cung ứng đồ cống cho Trung Quốc là 70 bộ bát đĩa, 200 tấm vải thâm"
Trang 27Nhưng theo những câu chuyện thu thập được ở Bát Tràng thì làng gốm này có thể ra đời sớm hơn Tại Bát Tràng đến nay vẫn lưu truyền những huyền thoại về nguồn gốc của nghề gốm như sau:
Vào thời nhà Lý, có ba vị Thái học sinh là Hứa Vinh Kiều (hay Cảo), Đào Trí Tiến và Lưu Phương Tú (hay Lưu Vĩnh Phong) được cử đi sứ Bắc Tống Sau khi hoàn tất sứ mệnh, trên đường trở về nước qua Thiều Châu (Quảng Đông) (hiện nay tại Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc) gặp bão, phải nghỉ lại Ở đây có lò gốm nổi tiếng, ba ông đến thăm và học được một
số kỹ thuật đem về truyền bá cho dân chúng quê hương Hứa Vĩnh Kiều truyền cho Bát Tràng nước men rạn trắng Đào Trí Tiến truyền cho Thổ Hà (huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) nước men sắc màu vàng đỏ Lưu Phương
Tú truyền cho Phù Lãng (huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) nước men màu đỏ màu vàng thẫm Câu chuyện trên cũng được lưu truyền ở Thổ Hà và Phù Lãng với ít nhiều sai biệt về tình tiết Nếu đúng vậy, nghề gốm Bát Tràng
đã có từ thời nhà Lý, ngang với thời Bắc Tống nghĩa là trước năm 1127
dòng họ Nguyễn Ninh Tràng Có ý kiến cho rằng Nguyễn Ninh Tràng là họ
liệu xác nhận Gia phả một số dòng họ ở Bát Tràng như họ Lê, Vương, Phạm, Nguyễn ghi nhận rằng tổ tiên xưa từ Bồ Bát di cư ra đây (Bồ Bát
là Bồ Xuyên và Bạch Bát) Vào thời Hậu Lê khoảng cuối thế kỉ thứ 14 - đầu thế kỉ 15 và đầu thời Nguyễn, xã Bồ Xuyên và trang Bạch Bát thuộc tổng Bạch Bát, huyện Yên Mô, phủ Trường Yên, trấn Thanh Hoá Ngoại Ngày nay, Bồ Xuyên và Bạch Bát là hai thôn của xã Yên Thành, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, vùng này có loại đất sét trắng rất thích hợp với nghề làm gốm Theo truyền thuyết và gia phả một số họ như họ Vũ ở Bồ Xuyên, ngày xưa cư dân Bồ Bát chuyên làm nghề gốm từ lâu đời Điều này được
Trang 28xác nhận qua dấu tích của những lớp đất nung và mảnh gốm ken dày đặc tìm thấy nhiều nơi ở vùng này
Năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long, Thăng Long trở thành trung tâm chính trị của nước Đại Việt Do nhu cầu phát triển của kinh thành, nhiều thương nhân, thợ thủ công từ các nơi tìm về Thăng Long hành nghề và lập nghiệp Sự ra đời và phát triển của Thăng Long đã tác động mạnh đến hoạt động kinh tế của các làng xung quanh, trong đó có làng Bát Tràng Đặc biệt vùng này lại có nhiều đất sét trắng, một nguồn nguyên liệu tốt để sản xuất đồ gốm Một số thợ gốm Bồ Bát đã di cư ra đây cùng họ Nguyễn Ninh Tràng lập lò gốm, gọi là Bạch Thổ phường (phường Đất Trắng) Những đợt di cư tiếp theo đã biến Bát Tràng từ một làng gốm bình thường đã trở thành một trung tâm gốm nổi tiếng được triều đình chọn cung cấp đồ cống phẩm cho nhà Minh
Đến nay, chưa tìm thấy tư liệu lịch sử nào xác nhận tiểu sử của ba nhân vật trên cũng như khẳng định sự hình thành của làng Những công trình khai quật khảo
cổ học trong tương lai có thể cho thấy rõ hơn bề dày lịch sử và những di tích của làng gốm Bát Tràng Chỉ có điều chắc chắn là gốm Bát Tràng xuất hiện từ rất sớm, vào giai đoạn cuối của Văn hoá Hoà Bình đầu Văn hoá Bắc Sơn Trong quá trình phát triển nghề gốm, đương nhiện có nhiều quan hệ giao lưu với gốm sứ Trung Quốc và có tiếp nhận một số ảnh hưởng của gốm sứ Trung Quốc
Thế kỉ 15–16 :
Một chiếc đỉnh bằng gốm tráng men trang trí đắp nổi rồng và nghê do thợ làng Bát Tràng chế tạo vào năm 1736, thời Cảnh Hưng
Chính sách của nhà Mạc đối với công thương nghiệp trong thời gian này là cởi
mở, không chủ trương "ức thương" như trước nên kinh tế hàng hoá có điều kiện phát triển thuận lợi hơn; nhờ đó, sản phẩm gốm Bát Tràng được lưu thông rộng rãi Gốm Bát Tràng thời Mạc có nhiều sản phẩm có minh văn ghi rõ năm chế tạo, tên người đặt hàng và người sản xuất Qua những minh văn này cho thấy người đặt hàng bao gồm cả một số quan chức cao cấp và quý tộc nhà Mạc như công
Trang 29chúa Phúc Tràng, phò mã Ngạn quận công, Đà quốc công Mạc Ngọc Liễn, Mĩ quốc công phu nhân Người đặt hàng trải ra trên một không gian rộng lớn bao gồm nhiều phủ huyện vùng đồng bằng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ
Sau khi thành lập, nhà Minh (Trung Quốc) chủ trương cấm tư nhân buôn bán với nước ngoài làm cho việc xuất khẩu gốm sứ nổi tiếng của Trung Quốc bị hạn chế
đã tạo điều kiện cho đồ gốm Bát Tràng mở rộng thị trường ở vùng Đông Nam Á
vẫn cấm xuất khẩu một số nguyên liệu và mặt hàng quan trọng sang Nhật Bản,
đã tạo cho quan hệ buôn bán giữa Việt Nam và Nhật Bản đặc biệt phát triển, qua
đó nhiều đồ gốm Bát Tràng được nhập cảng vào Nhật Bản
Năm 1644 nhà Thanh (Trung Quốc) tái lập lại chính sách cấm vượt biển buôn bán với nước ngoài, cho đến năm 1684 sau khi giải phóng Đài Loan Trong thời gian đó, một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, trong đó có đồ gốm Bát Tràng không bị hàng Trung Quốc cạnh tranh nên lại có điều kiện phát triển mạnh
Thế kỉ 15–17 là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của ngành sản xuất gốm xuất khẩu Việt Nam, trong đó ở phía bắc có hai trung tâm quan trọng và nổi tiếng là Bát Tràng và Chu Đậu-Mỹ Xá (các xã Minh Tân, Thái Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) Lúc bấy giờ, Thăng Long (Hà Nội) và Phố Hiến (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) là hai đô thị lớn nhất và cũng là hại trung tâm mậu dịch đối ngoại thịnh đạt nhất của Đàng Ngoài Bát Tràng có may mắn và thuận lợi lớn là nằm bên bờ sông Nhị (sông Hồng) ở khoảng giữa Thăng Long và Phố Hiến, trên đường thuỷ