28 3.2.4 Biện pháp cải thiện điều kiện làm việc của người công nhân trước tác động của của vi khí hậu trên công trường .... Đối với các ngành sản xuất khác, trong quá trình sản xuất ngườ
QUAN TÀI LIỆU VỀ AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG CỦA NGÀNH XÂY DỰNG
Tình hình an toàn lao động-vệ sinh lao động trong và ngoài nước
Số công nhân xây dựng tăng lên trung bình khoảng 10.000 người mỗi năm, nhưng đồng thời tình hình tai nạn lao động (TNLĐ) và số vụ TNLĐ chết người cũng có xu hướng tăng lên đáng kể Môi trường làm việc trong ngành xây dựng vẫn chưa ổn định và chịu tác động trực tiếp của thời tiết, yếu tố máy móc và thiết bị, đẩy nguy cơ suy giảm sức khỏe và mắc các bệnh nghề nghiệp lên mức gia tăng Để bảo vệ người lao động và giảm thiểu rủi ro TNLĐ, cần tăng cường an toàn lao động, giám sát chặt chẽ và triển khai biện pháp phòng ngừa hiệu quả trong mọi công trình.
1.5 Tình hình an toàn lao động-vệ sinh lao động trong và ngoài nước
1.2.1 An toàn vệ sinh lao động ở nước ngoài
Xây dựng là một ngành công nghiệp trọng yếu trên toàn cầu, bao phủ nhiều lĩnh vực từ tái thiết công trình sau thảm họa do thiên tai và con người gây ra đến cung cấp năng lượng, xây dựng nhà ở, cầu cống và các công trình hạ tầng khác Dù nhiều nước đã áp dụng cơ khí hóa cao, ngành xây dựng vẫn sử dụng lượng lao động lớn, chiếm từ 9–12% và có lúc lên tới 20% tổng lực lượng lao động của quốc gia Để duy trì sự phát triển và đáp ứng nhu cầu xây dựng ngày càng cao, ngành phải đối mặt với chi phí và rủi ro đáng kể Mặc dù việc thống kê số liệu về tai nạn lao động còn gặp nhiều khó khăn và TNLĐ thường không được điều tra và báo cáo đầy đủ, nhiều nước vẫn ghi nhận các vụ tai nạn nghiêm trọng và số ca tử vong cao, gây tổn thất lớn về người và của cải.
Các tài liệu tham khảo cho thấy tai nạn lao động (TNLĐ) chiếm tỷ lệ cao, đứng thứ hai sau ngành khai thác mỏ và đôi khi sau ngành lâm nghiệp và gia công gỗ tùy từng quốc gia Ở những nước có nền kinh tế phát triển và đô thị hóa nhanh, sự tập trung vào xây dựng các công trình cao tầng đã làm tăng TNLĐ liên quan đến ngành này Tại Mỹ, ngành xây dựng có hệ số tần suất TNLĐ là 0,0335 trên 100.000 công nhân, xếp thứ 13 trên 374 nghề khác nhau; ngành này chiếm khoảng 6% lực lượng lao động nhưng đóng góp 19% số ca tử vong và 12% tổng số TNLĐ và BNN của cả nước TNLĐ ngành xây dựng có tỷ lệ chết người và tàn tật đứng hàng đầu so với các ngành khác, và thiệt hại về kinh tế do TNLĐ ở Mỹ được ước tính từ 5 đến 10 tỷ USD.
1.2.2 Tình hình tai nạn lao động trong nước từ năm 1995 – 2003
Theo số liệu từ báo cáo của các tỉnh (không đầy đủ số đơn vị), trong giai đoạn 1995–2003, cả nước có 24.845 vụ tai nạn lao động Trong đó có 3.094 vụ tử vong, chiếm 12,4% tổng số vụ tai nạn Trong số 3.094 vụ chết người có 515 vụ có từ 2 người chết trở lên, chiếm 16,6% số vụ chết.
Số người bị TNLĐ trong những năm này là 25.770 người, trong đó có 3.337 người chết, chiếm 12,9% số người bị nạn và 22.433 người bị thương, chiếm 87,1%
Từ năm 1995 đến 2002, số vụ và người bị TNLĐ tăng qua các năm Tuy nhiên, năm 2003 số cả số người bị nạn giảm so với năm 2002
Số vụ và người bị TNLĐ trong cả nước trong những năm qua tăng như sau:
Tổng số vụ TNLĐ tăng 197%
Số vụ TNLĐ có người chết tăng 104%
Số vụ TNLĐ có 2 người chết trở lên 34%
Số người bị TNLĐ tăng 270%
Số người bị chết tăng 94%
Số người bị thương tăng 325%
( theo báo cáo của BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI năm 2004 – internet )
Hình 1.2: Số người bị TNLĐ trong khoảng thời gian từ 1995 – 2003
1.2.3 Phân tích các vụ tai nạn lao động
1.2.3.1 Các địa phương xảy ra nhiều TNLĐ
Các địa phương có số vụ tai nạn lao động chết người nhiều nhất từ năm 1995 đến 2003 là Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Quảng Ninh, Đồng Nai và Hải Phòng, xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp.
Trong các địa phương này, có thành Phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Quảng Ninh là 3 địa phương xảy ra nhiều TNLĐ trong cả 9 năm
Thành Phố Hồ Chí Minh xảy ra 3943 vụ TNLĐ, chiếm 19,18%, trong đó có
346 vụ TNLĐ chết người, chiếm 11,18% Tổng số người chết là 385 người, chiếm 11,53% và số người bị thương là 3766 người, chiếm 20,53%
Ở Hà Nội, đã xảy ra 1.659 vụ TNLĐ, chiếm 8,07% tổng số vụ Trong số này có 243 vụ TNLĐ chết người, chiếm 7,85% Tổng số người chết do TNLĐ là 254 người, chiếm 7,61%, trong khi số người bị thương là 1.474 người, chiếm 8,03%.
Đồng Nai ghi nhận 2.958 vụ tai nạn lao động (TNLĐ), chiếm 14,39% tổng số vụ TNLĐ; trong đó có 95 vụ TNLĐ chết người, chiếm 3,31% Tổng số người chết là 99 người, chiếm 3,22%, và số người bị thương là 2.818 người, chiếm 17,10%.
Hải Phòng xảy ra 1449 vụ TNLĐ, chiếm 7,05%, trong đó có 82 vụ TNLĐ chết người, chiếm 3,24% Tổng số người chết là 84 người, chiếm 2,94% và
Hình 1.3: Tình hình TNLĐ ở các địa phương 1.2.3.2 Những lĩnh vực xảy ra nhiều tai nạn lao động chết người
Có 4 lĩnh vực xảy ra nhiều TNLĐ chết người là: xây dựng, lắp đặt, sửa chữa và sử dụng điện; khai thác khoáng sản và sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động
Tình hình TNLĐ chết người xảy ra ở các lĩnh vực này trong những năm qua như sau: a) Xây dựng
Xảy ra 475 vụ TNLĐ chết người, chiếm 16,58% của tổng các lĩnh vực, làm chết là 547 người, chiếm 17,80% của tổng các lĩnh vực
Trong đó tai nạn do:
Ngã cao: có 362 vụ, chiếm 76,21% của lĩnh vực, làm chết 366 người, chiếm 66,91% của lĩnh vực
Sụp đổ công trình:có 60 vụ, chiếm 12,63% của lĩnh vực, làm chết 106 người, chiếm 19,37% của lĩnh vực
Sập đất: có 30 vụ, chiếm 6,31% của lĩnh vực, làm chết 37 người, chiếm 6,76% của lĩnh vực
Số vụ TNLĐ và người bị nạn còn lại của lĩnh vực này là do các nguyên nhân khác b) Lắp đặt, sửa chữa và sử dụng điện
Xảy ra 448 vụ TNLĐ chết người, chiếm 15,64% của tổng các lĩnh vực, làm chết là 473 ngừơi, chiếm 15,39% của tổng các lĩnh vực
Trong đó, tai nạn do bị điện giật cao thế là 59 vụ(từ năm 1997 – 2003), chiếm 14,89% của lĩnh vực, làm chết 7 ngừơi, chiếm 1,66% c) Khai thác khoáng sản
Xảy ra 246 vụ TNLĐ chết người, chiếm 8,85% của tổng các lĩnh vực, làm chết là d) Sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ
Xảy ra 163 vụ TNLĐ chết người, chiếm 5,69% của tổng các lĩnh vực, làm chết là
189 người, chiếm 6,15% của tổng các lĩnh vực
Trong 4 lĩnh vực có TNLĐ chết người, số vụ là 1.332, chiếm 46,50% tổng số vụ Toàn ngành ghi nhận 1.562 người chết do TNLĐ ở tất cả các lĩnh vực, chiếm 50,82% tổng số người chết ở tất cả các lĩnh vực.
Hình 1.4: TNLĐ ở các lĩnh vực
Theo báo cáo đánh giá của Ban Bảo hộ lao động (Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam) về giai đoạn 2000-2004, tai nạn lao động chết người tập trung nhiều nhất tại các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp quản lý với 29,8% tổng số vụ, tiếp đến là ngành xây dựng với 25,4%, và khu vực doanh nghiệp thuộc ngành Giao thông vận tải (GTVT) đứng thứ ba với 21,2% Nguyên nhân chủ yếu là tổ chức-kỹ thuật chiếm tới 80,5%, phần còn lại là các nguyên nhân khác Những sự cố như nổ khí, bục nước trong khai thác hầm lò, rò rỉ và cháy khí độc tại các cơ sở sử dụng hóa chất, máy cán ép, tai nạn ngã cao, đổ sập dàn giáo, tai nạn điện trong ngành cơ khí, xây dựng và vận tải luôn tiềm ẩn và là nguy cơ TNLĐ cao.
Hình 1.5: Tình hình TNLĐ từ năm 2000 - 2004 1.2.4 Thiệt hại về vật chất
Theo số liệu tổng hợp từ các địa phương, thiệt hại về vật chất do tai nạn lao động (TNLĐ) xảy ra trong giai đoạn 1995–2003 lên tới 103.757.308.972 đồng, gồm chi phí thuốc men, mai táng và bồi thường cho những người bị nạn Những con số này cho thấy quy mô tác động của TNLĐ đối với đời sống người lao động và nhấn mạnh nhu cầu đầu tư cho công tác phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro và nâng cao chế độ hỗ trợ cho nạn nhân.
1.6 Đánh giá chung về tình hình tai nạn lao động trong những năm vừa qua
Ở Việt Nam, số vụ tai nạn lao động, số người bị nạn và mức độ nghiêm trọng của các vụ tai nạn ngày càng tăng trên phạm vi cả nước Trong giai đoạn 1995–2002, các số liệu về tai nạn lao động (TNLĐ) cho thấy xu hướng tăng liên tục, với mỗi năm sau luôn cao hơn năm trước.
- Theo thống kê chưa đầy đủ, năm 2005, TPHCM xảy ra 543 vụ TNLĐ, làm chết và bị thương 572 người
Tổng thiệt hại vật chất trên 5,6 tỉ đồng, trong đó thiệt hại về tài sản gần 1 tỉ đồng Có 65 vụ TNLĐ chết người, khiến 67 người tử vong, tăng 8,3% so với năm trước.
- Các yếu tố chính gây ra TNLĐ chết người: do ngã cao (tỉ lệ 30,7%); điện giật và phóng điện (29,23%); do vật rơi, văng bắn (15,38%) Lĩnh vực xảy ra
TNLĐ chết người nhiều nhất là: xây dựng, dịch vụ, giao thông vận tải
(Nguồn: Sở LĐ-TB-XH TPHCM)
Theo số liệu được công bố, tình hình tai nạn lao động (TNLĐ) tại các thành phố lớn đang ở mức cao, trong đó ngành xây dựng có tỷ lệ TNLĐ cao nhất Trong lĩnh vực này, tai nạn do ngã từ cao và điện giật là hai nguyên nhân chủ yếu gây ra TNLĐ.
Con số các trường hợp chấn thương, tai nạn và chết người xảy ra tại công trường xây dựng được cho là cao hơn nhiều so với các ngành nghề khác Điều này cho thấy môi trường làm việc tại công trường tiềm ẩn nhiều rủi ro liên quan đến thiết bị, thao tác và quản lý an toàn Để giảm thiểu các chấn thương và tử vong, việc tăng cường đào tạo an toàn, tuân thủ chuẩn an toàn và kiểm soát rủi ro trong từng ca làm việc là rất cần thiết Việc ứng dụng biện pháp bảo hộ cá nhân, hệ thống an toàn và quản lý quy trình làm việc có thể cải thiện an toàn lao động tại công trường Các doanh nghiệp xây dựng cần chú trọng an toàn lao động như yếu tố sống còn trong vận hành, đồng thời đáp ứng đầy đủ yêu cầu pháp lý và chuẩn mực của ngành.
Doanh nghiệp thuộc giao thông vận tải, 21.20%
Doanh nghiệp và quản lý, 29.80% 1 2
GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 3/2
Quá trình hình thành và phát triển công ty 3/2
Công ty Đầu tư xây dựng 3/2, thành lập ngày 08/01/1993, sau hơn 10 năm phấn đấu và phát triển đã trở thành một trong những công ty hàng đầu của tỉnh trong lĩnh vực xây dựng Năm qua, công ty vinh dự nhận Giấy chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000/ISO 9001:2000 do Trung tâm chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng cấp, thể hiện cam kết về chất lượng và quản lý chất lượng theo chuẩn quốc gia.
Song song với việc phát triển sản xuất kinh doanh, công ty chú trọng đến văn hóa xã hội và chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động Cùng với người lao động, công ty chia sẻ khó khăn về kinh tế và đời sống với cộng đồng bằng cách đóng góp một phần quỹ và ngày công lao động hàng năm cho các phong trào an sinh xã hội.
Kinh doanh bất động sản
Khai thác đá xây dựng Địa chỉ: số 45A đường Nguyễn Văn Tiết, Thị Trấn Lái Thiêu, huyện Thuận an, tỉnh Bình Dương Điện thoại: 0650.755605 Fax: 0650.755605
Hình 2.1: Công ty đầu tư xây dựng 3/2 (C.I.C)
Tổ chức bộ máy quản lý và sản xuất kinh doanh
Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty
Phòng đầu tư Phòng khai thác &
Phòng cơ khí và cấu kiện bê tông
Tổ chức công tác BHLĐ tại công ty
• Hệ thống tổ chức công tác bảo hộ lao động tại công ty
Hình 2.3: S ơ đồ t ổ ch ứ c b ộ máy b ả o h ộ lao độ ng công ty
Sơ đồ tổ chức bảo hộ lao động tại công ty hiện không phù hợp và chưa phản ánh đúng nhiệm vụ của phòng ban BHLĐ Qua sơ đồ này, vai trò và trách nhiệm của cán bộ phụ trách công tác BHLĐ chưa được thể hiện rõ, khiến việc quản lý an toàn lao động thiếu tính nhất quán Việc kiểm tra, giám sát các công trình vẫn mang tính độc lập, chưa được tích hợp với hệ thống quản lý an toàn và tuân thủ quy trình của công ty.
Tôi xin đề xuất lại sơ đồ hệ thống tổ chức bộ máy BHLĐ của công ty
HỘI ĐỒNG BẢO HỘ LAO ĐỘNG CTY
SXVLXD PHÒNG KINH TẾ – KỸ THUẬT PHÒNG
TỔ SẢN XUẤT BAN BHLĐ
CÔNG NHÂN TỔ SẢN XUẤT TỔ TRƯỞNG
Hình 2.4: Sơ đồ tổ chức bộ máy BHLĐ của Công ty
Chú thích chữ viết tắt trong sơ đồ:
• XNKT & SXVLXD – Xí nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng
• NS – HC : Phòng nhân sự - hành chính
• KT – KT: Phòng kinh tế - kỹ thuật
• XNCK & CKBT: Xí nghiệp cơ khí và cấu kiện bê tông
XNKT & SXVLXD Phòng KT - KT
XNCK & CKBT Công trường XD
Tại công ty, cán bộ chuyên trách BHLĐ được bố trí làm việc ở phòng Nhân sự – Hành chính và đảm nhiệm công tác ATLĐ – VSLĐ cho toàn công ty, nên trong sơ đồ tổ chức của phòng Nhân sự họ là đơn vị kiểm soát các vấn đề BHLĐ trên toàn công ty.
Hội đồng bảo hộ lao động của Công ty Đầu tư Xây dựng 3/2 được thành lập dựa trên Quyết định số 549/QĐ-UB ngày 28/02/1997 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc thành lập Công ty Đầu tư Xây dựng 3/2.
Căn cứ Thông tư liên tịch số 14/1998/TTLT – BLĐTBXH – BYT – TLĐLĐ
Văn bản ngày 31/10/1998 do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ban hành nhằm hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác bảo hộ lao động trong các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Giới thiệu về công trường xây dựng Trịnh Hoài Đức và Trần Quốc Toản thuộc ban quản lý công ty đầu tư xây dựng 3/2
Đây là hai công trình dạng dân dụng( xây dựng trường học), với quy mô trường học là 3 lầu, do công ty làm chủ thầu
2.3.1 Đặc điểm nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực của hai công trình cho thấy số lượng công nhân có hợp đồng lao động chủ yếu thuộc biên chế chính thức; tuy nhiên, đa số lao động hiện tại không có hợp đồng lao động vì người sử dụng lao động chủ yếu tuyển dụng lao động thời vụ và lao động làm việc tại chỗ Tổng số công nhân viên tại hai công trường là 105 người.
.Nữ: 10 người b) Phân loại theo nghề nghiệp
Bảng 2.1: Phân công theo công việc Stt Tổ thi công.(làm việc) Số tổ Tổng số công nhân
TỔNG 10 105 c) Phân loại theo bậc thợ
Bảng 2.2: Phân loại các loại thợ tham gia làm việc trên công trường
Các thông số trên bảng ghi nhận chưa phản ánh đúng trình độ chuyên môn của từng người lao động, vì một thợ có thể đảm nhận nhiều công việc khác nhau cùng lúc Riêng đội thợ cốp pha và thợ điện hàn đòi hỏi mức độ chuyên môn cao và kinh nghiệm, nên trình độ được phản ánh tương đối chính xác ở nhóm này Tuy vậy, tai nạn lao động vẫn xảy ra với các thợ này dù họ đã được huấn luyện và có chứng chỉ về ATLĐ, cho thấy ý thức chấp hành an toàn khi làm việc còn chưa cao.
Do đặc tính của ngành xây dựng nên số lượng nhân công có sự thay đổi theo từng giai đoạn công việc, nên việc thu thập số liệu thống kê trong bảng chỉ mang tính chất tương đối Qua kết quả thăm dò bằng phiếu cá nhân với 105 công nhân đang làm việc trên 2 công trường, thì được kết quả như sau:
Bảng 2.3: Trình độ văn hóa của công nhân
Stt Loại nghề Người ngoài tỉnh(%) Trình độ văn hóa(%)
Số người Tỷ lệ(%) Tiểu học PTCS PTTH
Stt Loại nghề Bậc thợ.(người)
Qua bảng số liệu có thể thấy, lao động phổ thông và thợ xây (nề, hồ) chiếm tỷ lệ cao nhất trên công trường, cho thấy lượng lao động địa phương đến làm việc theo mùa là rất đông và chiếm phần lớn trong nhóm lao động thời vụ Trình độ văn hóa của người lao động còn hạn chế, phần lớn chỉ đạt mức tiểu học Ý thức và nhận thức công việc ở các nhóm lao động này còn ở mức thấp, là một trong những khó khăn chủ yếu trong công tác quản lý lao động tại công trường.
Những số liệu dưới đây chỉ mang tính chất minh họa vào một thời điểm khảo sát trên 105 người lao động của 2 công trình
Do đặc thù của ngành xây dựng là lượng lao động thay đổi theo từng thời điểm thi công, nên số công nhân tại mỗi công trình biến động theo tiến độ và quy mô dự án Vì vậy, trong các công trình xây dựng, phần lớn lao động thường không ký hợp đồng lao động theo luật định, với các khoảng thời hạn phổ biến là dưới 1 năm, từ 1–3 năm hoặc trên 3 năm.
Bảng 2.4: Hợp đồng lao động Stt Hợp đồng lao động Số lao động Tỷ lệ
1 Hợp đồng có thời hạn(3 năm) 25 23,8%
2 Hợp đồng thời vụ(3 tháng) 70 66,6%
Dữ liệu trong bảng cho thấy hợp đồng có thời hạn 3 năm còn hiếm, trong khi hợp đồng 3 tháng chiếm đa số, cho thấy tính chất thời vụ nổi bật của công việc trong ngành xây dựng Sự biến động nhân sự trên công trường là một trong những nguyên nhân khiến công tác quản lý lao động và an toàn lao động (ATLĐ) gặp nhiều khó khăn Việc kiểm soát và huấn luyện trở nên khó khăn hơn, đặc biệt vào những thời điểm công trình tăng ca để đẩy nhanh tiến độ Để trả công lao động ở mức thấp cho thợ hồ, thợ xây, chủ công trình thường tuyển dụng chủ yếu lao động phổ thông, thời vụ và lao động nhập cư có trình độ văn hóa tay nghề thấp Do đó, khi tốc độ xây dựng tăng lên, tỷ lệ vụ TNLĐ và số người bị nạn cũng có xu hướng gia tăng.
Vi phạm kỹ thuật an toàn lao động đang diễn ra phổ biến, trong khi công tác thanh tra và kiểm tra tại công trường thường bị qua loa Hầu như không có trường hợp công trình bị đình chỉ thi công khi thiếu an toàn, khiến rủi ro cho người lao động vẫn ở mức cao Làm việc trong điều kiện rơi vào rủi ro cao và thiếu an toàn dẫn đến thiệt thòi cho người lao động, ảnh hưởng tới sức khỏe, năng suất và uy tín của dự án.
CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ATVSLĐ –MTLĐ TRÊN
Điều kiện làm việc của công nhân
Trong công tác thi công, đặc điểm công nhân xây dựng đòi hỏi liên tục điều chỉnh tổ chức và sắp xếp bố trí chỗ làm sao cho phù hợp với từng công trình và thời điểm khác nhau Sự thay đổi này khiến việc phân công nhân sự giữa các thành viên trong tổ đội bị xáo trộn, đồng thời mối quan hệ giữa con người với máy móc, thiết bị, công cụ và vật liệu sản xuất cũng phải luôn thích nghi Tất cả các yếu tố trên làm tăng tính phức tạp của quá trình làm việc và đòi hỏi sự linh hoạt từ đội ngũ quản lý cũng như người lao động để đảm bảo tiến độ, an toàn và hiệu quả thi công.
Phần lớn thời gian trong ngày, công nhân xây dựng phải làm việc ngoài trời và chịu ảnh hưởng trực tiếp của thời tiết như nắng nóng, mưa, giông bão và sự biến đổi đột ngột của nhiệt độ Những điều kiện thời tiết khắc nghiệt này dễ làm cho cơ thể mệt mỏi, suy nhược và gây cảm nóng, cảm lạnh Việc làm ngoài trời đòi hỏi sự thích ứng liên tục với môi trường, nên ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc và an toàn lao động Vì vậy, chăm sóc sức khỏe cho công nhân xây dựng và đảm bảo an toàn dưới thời tiết khắc nghiệt là yếu tố thiết yếu cho hoạt động thi công.
Hầu hết công nhân làm việc trong ngành xây dựng đều chịu ảnh hưởng của các yếu tố:
- Công việc chủ yếu được tiến hành ngoài trời và hầu như phải phụ thuộc vào thời tiết
Khí hậu của khu vực phía Nam được chia theo hai mùa rõ rệt (mùa nắng và mùa mưa)
Ở TP.HCM, nhiệt độ mùa nắng có thể lên tới 37°C, còn mùa mưa có lượng mưa kéo dài đến khoảng 20 ngày mỗi tháng, khiến điều kiện làm việc bị ảnh hưởng Các yếu tố vi khí hậu như nóng, bụi, ồn và mưa tác động nhiều đến sức khỏe và năng suất của công nhân xây dựng, cũng như tiến độ thi công Tùy giai đoạn thi công, thời tiết có thể làm tăng nguy cơ tai nạn lao động: thi công hố móng trong mùa mưa dễ gây sạt lở, còn làm việc trên mái khi gặp mưa gió rất nguy hiểm Vào mùa nắng, nhiệt độ cao ảnh hưởng đến sức khỏe và hiệu suất của công nhân, do đó cần biện pháp an toàn và quản lý rủi ro phù hợp để duy trì tiến độ thi công.
- Bên cạnh đó điều kiện làm việc không ổn định cũng là một trong những nguyên nhân có thể dẫn đến TNLĐ
Trong ngành xây dựng, công việc được thực hiện theo từng bước và từng giai đoạn nên vị trí công việc có thể thay đổi theo chỉ đạo của đội trưởng Do đặc thù của công trình và tiến độ thi công, công nhân phải di chuyển giữa các vị trí làm việc theo yêu cầu, từ làm dưới đất sang làm ở trên cao ở công trình khác Việc thích nghi với sự thay đổi vị trí và duy trì tâm lý làm việc ổn định là yếu tố then chốt để đảm bảo an toàn, hiệu quả và đạt yêu cầu kỹ thuật Tâm lý làm việc tích cực và tính linh hoạt của người lao động đóng vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện công việc xây dựng.
Môi trường làm việc có nhiều yếu tố độc hại và công nhân thường có sự chủ quan khi nhận thức rủi ro Bụi công nghiệp xuất hiện nhiều trong các công đoạn như vận chuyển đất đá, trộn hồ, giũ bao xi măng, làm đất, san lấp và nhất là khi chà nhám để sơn tường Sự tiếp xúc với bụi và các chất ô nhiễm có thể ảnh hưởng đến sức khỏe hô hấp nếu không có biện pháp bảo hộ và quản lý bụi hiệu quả Vì vậy, cần tăng cường an toàn lao động, trang bị bảo hộ phù hợp, kiểm soát bụi và nâng cao ý thức phòng ngừa trên công trường.
Tiếng ồn và rung ở công trình xây dựng phụ thuộc vào không gian làm việc; vì khu vực có không gian rộng nên âm thanh có thể loãng hơn một chút, nhưng đối với những người làm việc trực tiếp với máy đầm và máy đục bê tông thì mức âm thanh và rung động vẫn rất lớn, đòi hỏi các biện pháp bảo hộ và quản lý tiếng ồn phù hợp để đảm bảo an toàn cho người lao động.
3.1.1 Ảnh hưởng của điều kiện làm việc đến sức khỏe của công nhân làm việc trên công trường
Dù trên công trường đã triển khai các biện pháp quản lý và kỹ thuật về ATLĐ – VSLĐ, vẫn còn tồn tại một số thiếu sót trong công tác VSLĐ Sự tác động của thời tiết lên công nhân là rất lớn, ngay cả khi đã phân bổ thời gian làm việc nhằm tránh giờ cao điểm Hiện tại vẫn thiếu sót trong việc trang bị phòng hộ cho người lao động, bao gồm quần áo bảo hộ, găng tay và giày bảo hộ Để giảm thiểu rủi ro, cần rà soát và bổ sung đầy đủ trang bị bảo hộ và tăng cường công tác quản lý ATLĐ – VSLĐ.
Các yếu tố môi trường như nhiệt độ nóng, bụi và tiếng ồn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người công nhân, khiến họ mệt mỏi và uể oải, từ đó làm giảm năng suất lao động và dễ gặp căng thẳng Việc mệt mỏi và căng thẳng khiến người lao động khó tập trung, khó thực hiện các thao tác một cách chính xác, làm hiệu quả công việc suy giảm và tiềm ẩn rủi ro cho an toàn lao động.
Mức cảm nhận các yếu tố có hại có thể tham khảo qua bản khảo sát thông qua 105 người lao động trực tiếp trên hai công trường như sau:
MỨC CẢM NHẬN VỀ MÔI TRƯỜNG LÀM VIỆC TRÊN CÔNG TRƯỜNG
0 20 40 60 80 100 120 Ồn Bụi Nóng Rung Thiếu AS
Hình 3.1: Mức độ cảm nhận về môi trường làm việc trên công trường xây dựng
Qua biểu đồ chúng ta có thể thấy thời tiết ảnh hửơng rất lớn đến người lao động Mùa khô là mùa thích hợp nhất cho công tác xây dựng cho nên công việc
Nhiệt độ ngoài trời cao nhất hằng năm nằm trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 5, có nhiệt độ trung bình cao nhất từ 34,8 – 350
Số giờ nắng cao hàng năm xuất hiện trong khoảng thời gian từ tháng 12 đến tháng 5 ( số giờ nắng trung bình cả năm là 2006 giờ, tháng 3 có giờ nắng trung bình nhiều nhất là 220 giờ )
Thời gian có lượng mưa lớn nhất tập trung trong khoảng từ tháng 6 đến tháng 10
Độ ẩm tương đối trung bình cao trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 11( 82% )
Khí hậu nóng ẩm khiến mồ hôi khó bay hơi, dẫn tới mất nước và mất các vitamin cùng chất điện giải, làm rối loạn thăng bằng nhiệt của cơ thể Mất nước kéo dài khiến cơ thể khát nước và tạo điều kiện cho sự phát triển của vi sinh vật và nấm trên da, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh ngoài da.
3.1.2 Về tư thế lao động của công nhân trên công trường.( EGÔNÔMI )
Hiện nay các công trường đã đầu tư đáng kể vào máy móc và thiết bị nhằm giảm thiểu lao động thủ công và tăng năng suất lao động Tuy vậy, máy móc chỉ đáp ứng một phần công việc; vẫn có những trường hợp máy không hoạt động hoặc được điều động sang công trình khác, buộc người lao động phải đảm nhận phần công việc còn lại và làm những công việc nặng nhọc Chính những hạn chế này là nguyên nhân gây mệt mỏi và tác động tiêu cực đến sức khỏe, làm giảm sức lao động của công nhân.
Những công việc mang vác, nâng hạ vật nặng lên cao và vận chuyển vật liệu từ nơi này sang nơi khác tại công trường là nhiệm vụ mà công nhân thường đảm nhận Tư thế làm việc phải di chuyển liên tục, và gánh nặng của khối lượng công việc cùng vật liệu là nguyên nhân chính dẫn đến đau lưng và đau khớp cho người lao động.
Ergonomi hay công thái học là quá trình xem xét, đánh giá và tổ chức các mối quan hệ giữa con người, công cụ và môi trường làm việc nhằm nâng cao sự thoải mái và hiệu suất làm việc Việc áp dụng công thái học giúp nâng cao năng suất lao động, cải thiện an toàn và sức khỏe người lao động, đồng thời giảm nguy cơ chấn thương Các yếu tố như bố trí thiết bị và công cụ, ánh sáng, tiếng ồn, nhiệt độ và tư thế làm việc được tối ưu hóa để tăng hiệu quả làm việc và chất lượng sản phẩm.
Hình 3.2 & 3.3 : Tư thế nhậc vật nặng của người công nhân
Đau lưng và đau cột sống là hệ quả của lao động nặng nhọc và việc mang vác vật nặng, đặc biệt trên công trường Công nhân phải làm việc ở nhiều tư thế khác nhau như ngồi, đứng, khom lưng, cúi xuống, trèo lên giàn giáo hay ngước lên; những tư thế này vốn là đặc thù của ngành xây dựng và ít ai thực sự quan tâm đến tác động của chúng lên sức khỏe Tuy nhiên, nhịp độ làm việc cao và cường độ lao động thường vượt quá khả năng của bản thân, bắt người lao động phải làm việc để theo kịp tiến độ công trình Vì vậy, hiệu quả công việc phụ thuộc vừa vào tay nghề vừa vào sức khỏe và sự chịu đựng, đòi hỏi sự chăm chỉ kết hợp với các biện pháp bảo vệ sức khỏe để giảm đau lưng và bảo vệ cột sống.
Hình 3.4 & 3.5: Công nhân vận chuyển gạch thi công lầu 2
Nhận xét về điều kiện lao động của công nhân trên công trường xây dựng
3.2.1 Các yếu tố so sánh đặc trưng liên quan đến điều kiện lao động xấu của ngành xây dựng với các ngành kinh tế khác
Bảng 3.2 : Bảng so sánh điều kiện lao động của ngành xây dựng với các ngành khác
Các yếu tố so sánh đặc trưng
Ngành xây dựng Các ngành kinh tế khác
- Chủ yếu diễn ra ở ngoài trời, chịu ảnh hưởng trực tiếp của thời tiết khắc nghiệt
- Mặt bằng làm việc rộng lớn, biến động đòi hỏi phải chuyển
- Chủ yếu diễn ra trong nhà xưởng, hạn chế được ảnh hưởng xấu của thời tiết
- Mặt bằng làm việc ổn định, ít di chuyển mặt nước, dưới nước, trên địa hình không thuận lợi
-Biến động nhiều theo công trình, theo thời tiết
- Ít biến động do sự ổn định của kế hoạch sản xuất
Sử dụng dây chuyền công nghệ đứt đoạn, mức độ cơ giới hoá thấp
Hầu như sử dụng công nghệ liên tục, cơ giới hoá và tự động hoá cao
Thiết bị công nghệ được lắp đặt tạm thời trong thời gian ngắn và thường di chuyển theo yêu cầu của quá trình sản xuất, tạo nên sự linh hoạt cho chuỗi cung ứng Trong thực tế, có nhiều thiết bị thuê mướn với tính di động cao khiến công tác quản lý trở nên khó khăn và phức tạp Để duy trì hiệu suất và kiểm soát tài sản, doanh nghiệp cần một giải pháp quản lý thiết bị thuê mướn hiệu quả, giúp theo dõi vị trí, tình trạng và lịch bảo trì, từ đó tối ưu phân bổ nguồn lực và giảm thiểu rủi ro thất thoát hay sai lệch dữ liệu.
Sử dụng khối lượng lớn nguyên vật liệu, các bán sản phẩm có kích thước và trọng lượng lớn
Điện nước, chiếu sáng được cung cấp bằng những hệ thống thiết bị lắp đặt tạm thời, không hoàn chỉnh
Tổ chức sản xuất phân tán rộng
Thiết bị công nghệ thường đặt cố định, lâu dài, được quản lý chặt
Sử dụng không nhiều nguyên vật liệu, nhiên liệu
Điện, nước, chiếu sáng phục vụ sản xuất được lắp đặt tương đối hoàn chỉnh, an toàn
Tổ chức sản xuất tập trung
Nguồn lao động biến động mạnh, theo quy mô chất lượng công trình, theo tiến độ, địa điểm thi công
Sử dụng nhiều lao động phổ thông và lao động hợp đồng ngắn hạn (thời vụ), chưa
Nguồn lao động ổn định theo kế hoạch sản xuất
Sử dụng nhiều lao động kỹ thuật tay nghề cao, đa dạng về nghề nghiệp đối tốt
Điều kiện làm việc kém, thiếu an toàn
Điều kiện sinh hoạt tạm bợ, kèm một số động công nhân sinh sống ngay tại nơi làm việc
Điều kiện làm việc tương đối bảo đảm về an toàn – vệ sinh
Điều kiện sinh hoạt được bảo đảm khá theo quy định của pháp luật Công nhân sinh hoạt ổn định tại gia đình hay bên ngoài nhà máy
3.2.2 Tóm tắt các tác hại nghề nghiệp đặc trưng của ngành xây dựng và hậu quả của chúng
Bảng 3.3 : Bảng tóm tắt bệnh nghề nghiệp của ngành xây dựng
Loại công việc Đặc điểm tác haị nghề nghiệp
Hậu quả hay khả năng nhiễm bệnh
Làm việc ngoài trời, lái cần trục và các máy đào xúc ngoài trời
Vi khí hậu bất lợi tại nơi làm việc, từ quá nhiệt kéo dài đến cảm lạnh lặp đi lặp lại, tác động tiêu cực đến sức khỏe người lao động Quá nhiệt một cách hệ thống có thể gây đột quỵ nhiệt và say nắng, đồng thời làm tăng nguy cơ rối loạn thần kinh mạch và tổn thương do lạnh Những ảnh hưởng này có thể dẫn tới viêm khớp mãn tính và các vấn đề sức khỏe khác, đặc biệt ở những người làm việc trong môi trường có sự biến động nhiệt độ và độ ẩm cao.
Làm việc với dụng cụ khí nén, rung hạ cọc và cọc ván, gia công cơ khí, gỗ
Tiếng ồn sản xuất vượt quá giới hạn cho phép về tần số và độ lớn
Tiếp xúc lâu dài với rung động và tiếng ồn từ các dụng cụ có tác động va đập chạy bằng điện hoặc khí nén, như đầm rung hỗn hợp bê tông, làm việc trên cần trục, máy san lùi và đào xúc, có thể làm giảm khả năng nghe và gây điếc, đồng thời gây viêm thanh quản mãn tính Những người làm việc với các thiết bị rung động và tiếng ồn cao cần nhận diện nguy cơ và áp dụng biện pháp bảo hộ tai, kiểm soát thời gian tiếp xúc và giảm rung động để hạn chế tác động lên thính giác và cổ họng.
Rung và chấn động với các thông số vượt quá giới hạn cho phép
Loạn thần kinh, bệnh rung
Công việc sơn, làm việc cách ly, công việc bê tông atfan và công việc lợp mái có sử dụng mattit bitum, làm việc với vật liệu polime
Các vật liệu có chất độc (tiếp xúc lâu dài với các sản phẩm dầu mỏ, các hoá chất kích thích)
Bị nhiễm độc ở các mức độ khác nhau(trong đó có nhiễm độc mãn tính), bị xơ phổi, tổn thương da, bỏng hoá học
Khoan nổ mìn, bốc xếp vật Bụi sản xuất có nguồn gốc Bệnh cơ quan hô hấp, bệnh da, mắt
Hàn điện hvà hàn hơi
Tác động của năng lượng bức xạ ở mức cao một cách có hệ thống
Phá hoại thị giác, bệnh đục nhãn mắt, viêm kết mạc mắt, bỏng da
Chiếu sáng không đạt yêu cầu
Chiếu sáng không tốt vị trí làm việc gây ra căng thẳng mắt thường
Cận thị cao, làm yếu thị giác, khả năng chấn thương cao
Hoàn thành các công việc nặng bằng tay, làm việc với đá, lợp mái, đóng sàn vát lán, xây lót làm đường
Sự quá tải kéo dài một cách có hệ thống của các nhóm cơ riêng biệt, tư thế lao động không thuận lợi, tải trọng tĩnh đáng kể
Các vấn đề sức khỏe phổ biến liên quan đến hệ tuần hoàn, thần kinh, cơ và gan gồm dãn tĩnh mạch, viêm tắc tĩnh mạch, đau dây thần kinh, viêm dây thần kinh, viêm cơ, viêm khớp mãn tính, viêm màng hoạt dịch, viêm bao hoạt dịch và viêm gan Nhận diện sớm và điều trị phù hợp các tình trạng này có thể cải thiện chất lượng cuộc sống và hạn chế biến chứng lâu dài.
Dò khuyết tật bằng tia
Gamma Dò các kết cấu kim loại bằng tia Roghen
Tác động của bức xạ ion hoá của các chất phóng xạ và đồng vị của tia Rơnghen
Bệnh đa cấp và mãn tính trong đó có ung thư, chàm, ezecma, viêm loét của bệnh phóng xạ
Làm việc trên núi cao, lặn khi làm cầu, làm hầm dưới nước, làm việc trong
Làm việc ở áp lực thấp ở núi cao, ở áp lực cao ở sâu dưới nước
Xuất huyết ngoài, bệnh Ketxon
3.2.3 Ảnh hưởng của nghề nghiệp lên cơ thể người công nhân xây dựng
Bảng 3.4: Tác hại nghề nghiệp lên cơ thể người công nhân xây dựng
Stt Điều kiện làm việc Tác hại đến sức khỏe người lao động Công việc
1 Tiếng ồn Làm giảm thính giác
Làm việc với máy khí, các loại máy đầm, máy ép cọc
2 Nhiệt độ nóng hay lạnh
Say nóng, say nắng, cảm lạnh
Lái cẩu, làm việc ngoài trời…
3 Rung động thường xuyên Đau khớp, đau xương Làm việc với máy đầm, máy bắn bê tông
5 Thiếu ánh sáng Giảm thị lực, cận thị
Làm việc trong phòng hay làm việ vào ban đêm
6 Làm việc trong tư thế gò bó Đau mỏi, tê cơ Tô trần, cán nền
3.2.4 Biện pháp cải thiện điều kiện làm việc của người công nhân trước tác động của của vi khí hậu trên công trường
Trong ngành xây dựng, công việc thường tiếp xúc trực tiếp với thời tiết nắng nóng, đặc biệt tại khu vực phía Nam Vì vậy, việc phòng tránh những yếu tố bất lợi của thời tiết cho người lao động là một phần quan trọng trong công tác tổ chức và quản lý an toàn lao động Các biện pháp bảo đảm điều kiện làm việc an toàn bao gồm cung cấp nước uống đầy đủ, nghỉ ngơi giữa ca ở nơi có bóng râm, che chắn công trình và điều chỉnh thời gian làm việc theo diễn biến thời tiết Cùng với đó, đào tạo nhận thức về phòng chống nắng nóng và bảo hộ lao động như mũ, áo chống nắng, kính và khẩu trang giúp giảm thiểu rủi ro sức khỏe cho người lao động Tổ chức cần lên kế hoạch ứng phó với các đợt nắng nóng gay gắt, mưa bão hoặc gió lớn dựa trên dự báo thời tiết và theo dõi diễn biến khí hậu liên tục để bảo đảm hiệu suất làm việc và an toàn cho người lao động.
BHLĐ nói riêng và công tác thi công nói chung
Ở nơi công việc ngoài trời dưới trời nắng nóng, công nhân cần uống đủ nước để bù nước mất theo mồ hôi, và do đó cần tổ chức uống nước hợp lý để duy trì chức năng sinh lý bình thường; có thể bổ sung chất điện giải vào nước uống để bù đắp lượng muối và khoáng chất đã mất Khi công việc kéo dài, nên sắp xếp nghỉ giữa giờ và nếu có thể áp dụng chế độ giữa ca hợp lý Đây là yếu tố quan trọng trong làm việc ngoài trời, vì mệt mỏi có thể làm công nhân mất tập trung và dẫn đến tai nạn lao động.
Trước khi vào ca làm việc, công nhân cần được trang bị đầy đủ quần áo bảo hộ và nón bảo hộ để đảm bảo an toàn lao động Quần áo bảo hộ phải đáp ứng hai yêu cầu cơ bản là cản nhiệt từ bên ngoài và thoát nhiệt từ bên trong ra, giúp người lao động làm việc an toàn và thoải mái Thông thường sử dụng trang phục bằng vải bông và vải gai, thiết kế rộng thoáng để tăng khả năng bay hơi mồ hôi và duy trì thân nhiệt ở mức an toàn.
Loại hình TNLĐ không có người chết
Thông qua phiếu thăm dò cá nhân được phát cho 105 người lao động làm việc trên hai công trình Trần Quốc Toản và Trịnh Hoài Đức, tôi đã ghi nhận các loại hình tai nạn lao động xảy ra trên công trường, đồng thời xác định số người bị TNLĐ và tần suất tai nạn tương ứng cho từng loại.
Bảng 3.5 : Số người bị TNLĐ ( không có chết người ) trên 105 công nhân phân bố theo các loại hình TNLĐ phổ biến trên hai công trường
Tỉ lệ (%) Stt Loại hình TNLĐ Số người bị TNLĐ
Chấn thương cột sống do mang vật nặng
4 Điện giật 2 7.7 9 Sập giàn giáo gây chấn thương 7 26.92
5 Té cao 3 11.54 10 Vật liệu rơi 2 7.7
Như vậy tình hình đạp đinh trên công trường vẫn phổ biến và có liên quan rõ rệt đến tình trạng bừa bộn, mất vệ sinh tại khu vực thi công Đặc biệt cần chú ý tới các loại tai nạn do ngã cao và sập giàn giáo xảy ra tại hai công trình gần đây Qua bảng số liệu cho thấy tai nạn do ngã cao và sập giàn giáo chiếm tỷ lệ cao trong các loại tai nạn trên công trường xây dựng dân dụng Điều này phản ánh thực trạng an toàn vệ sinh lao động (ATLĐ) trên công trình và tâm lý làm việc chủ quan của người lao động khi làm việc ở trên cao.
Hình 3.6 : Tình trạng bừa bộn trên công trường
TẦN SUẤT LOẠI HÌNH TNLĐ TRÊN
Tần suất TNLĐ (%) phản ánh một cách thực tế tình hình quản lý ATVSLĐ tại hai công trường nói riêng và tại Công ty Đầu tư xây dựng 3/2 nói chung Mặc dù công ty đã có cán bộ chuyên trách ATVSLĐ nhưng vẫn không thể kiểm soát được tất cả các công trình đang đấu thầu và thi công Tại công trường, dù đã thành lập đội An toàn vệ sinh viên, hoạt động chưa hiệu quả do công tác ATVSLĐ kiêm nhiệm và chưa được tích hợp chặt vào kế hoạch sản xuất Việc chấp hành các quy định pháp luật còn tồn tại nhiều bất cập, chưa thể hiện đầy đủ trên thực tế công việc Để xảy ra TNLĐ, trách nhiệm trước tiên thuộc về NSDLĐ vì không đảm bảo điều kiện làm việc an toàn và chưa trang bị đầy đủ kiến thức ATVSLĐ cho NLĐ Công nhân làm việc trong điều kiện rủi ro cao như ở trên cao nhưng vẫn thiếu đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân.
Ý thức công việc của người lao động còn chưa cao và họ thờ ơ với việc đảm bảo an toàn lao động Họ làm việc chủ yếu theo cảm tính và kinh nghiệm cá nhân, thiếu sự tuân thủ các nguyên tắc an toàn đã được huấn luyện Việc bỏ qua nguyên tắc an toàn có thể dẫn đến tai nạn và làm giảm năng suất Cần tăng cường đào tạo an toàn, nâng cao ý thức tuân thủ và xây dựng văn hóa an toàn tại nơi làm việc để bảo vệ người lao động và kết quả sản xuất.
Nhận xét về tình hình TNLĐ xảy ra trên công trường:
Cần có một biện pháp xử lý nghiêm khi vi phạm công tác an toàn tại công
Hình 3.7 : Biểu đồ miêu tả Tần suất TNLĐ trên hai công trường
Đẩy mạnh hiệu quả hoạt động của an toàn vệ sinh viên tại công trường nhằm kịp thời phản ánh thực trạng thi công và đề xuất các biện pháp khắc phục tối ưu để đảm bảo an toàn cho người lao động và tiến độ dự án Việc duy trì hệ thống báo cáo nhanh chóng, đầy đủ và chính xác giúp nhận diện sớm các nguy cơ an toàn và vệ sinh tại hiện trường, từ đó cung cấp căn cứ cho quản lý ra quyết định Các hướng khắc phục được đề xuất cần có tính khả thi, thời gian triển khai rõ ràng và được phân bổ nguồn lực phù hợp Đồng thời tăng cường đào tạo, truyền thông và giám sát về an toàn sẽ nâng cao ý thức của toàn bộ nhân sự và giảm thiểu rủi ro tai nạn trên công trường.
Đối với người lao động (NLĐ), để ngăn ngừa rủi ro và bảo đảm sức khỏe, tính mạng, NLĐ có quyền từ chối bố trí làm việc trong điều kiện thiếu an toàn NLĐ cũng cần nâng cao ý thức tuân thủ quy trình và quy phạm an toàn vệ sinh lao động (ATLĐ) để tự bảo vệ bản thân và góp phần duy trì môi trường làm việc an toàn cho mọi người Những nguyên tắc này giúp NLĐ chủ động tham gia vào công tác an toàn, tăng cường sự tuân thủ và nâng cao chuẩn ATLĐ tại nơi làm việc.
Phân tích các vùng nguy hiểm trên công trường xây dựng Trịnh Hoài Đức và Trần Quốc Toản
Đối với các công trình dân dụng, nguy cơ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp không cao như ở một số loại công trình khác Tuy nhiên, vẫn cần lưu ý tới các vùng nguy hiểm có thể dẫn đến tai nạn trong quá trình thi công các công trình có quy mô vừa và nhỏ, nhằm đảm bảo an toàn lao động và giảm thiểu rủi ro cho người làm việc.
Những vùng nguy hiểm cần chú ý:
2 Công tác làm việc trên cao a Coffa, bê tông, cốt thép b Lắp ghép, tháo dỡ coffa
3 Công tác hoàn thiện: a Xây, tô b Sơn (trát bột)
4 Điện thi công (điện dùng cho máy móc, điện chiếu sáng…) a) An toàn lao động đối với công tác đất
Trong xây dựng, công tác làm đất thường chiếm 20% khối lượng lao động, 10% chi phí và sử dụng 10% lực lượng lao động trên công trường Đào hố để thi công hố móng cho công trình hoặc thực hiện các công việc khác như lắp đặt đường ống cấp thoát nước và đường ống cấp điện ngầm thường được thực hiện bằng phương pháp thủ công hoặc máy xúc, là hình thức đặc trưng của công tác đất Công tác đào xúc và đổ móng bê tông là bước tiếp theo trong quy trình thi công, đóng vai trò quan trọng để đảm bảo nền móng vững chắc cho dự án.
3.4.1 Thực trạng công tác đào hố, thi công làm móng trên công trường xây dựng TRỊNH HOÀI ĐỨC
Các hố thi công được đào sâu khoảng 2–2,5 m để làm móng và đổ dầm bê tông, trong khi miệng hố chứa các lớp đất đá và gạch chồng chềnh Những tảng đá chông chênh trên miệng hố rất nguy hiểm cho người lao động và thiết bị trên công trường, cần được chú ý đảm bảo an toàn.
Người công nhân xuống làm việc một cách rất tự nhiên mà không có hàng rào hay vách chắn bảo vệ, khiến khu vực làm việc tiềm ẩn nguy cơ tai nạn sạt lở đất rất cao Lớp đất đá và các khối gạch có thể sụt xuống bất cứ lúc nào, đặc biệt là sau khi trời mưa, khi độ kết dính của đất trở nên kém và dễ xảy ra sạt lở.
Qua hình ảnh cho thấy lớp đất đá bị sụp xuống sau cơn mưa chiều, cho thấy những nguy cơ tiềm ẩn luôn rình rập người lao động khi làm việc trên công trường Với công việc thi công như thế này, sự cố sạt lở đất có thể xảy ra và cho thấy nguy cơ vi phạm các quy định vệ sinh lao động và an toàn lao động tại công trường Vì vậy công tác bảo hộ lao động tại công trường cần được tăng cường với đầy đủ trang bị bảo hộ cá nhân, đào tạo an toàn cho người lao động và thực hiện các biện pháp kiểm soát rủi ro như gia cố nền đất, che chắn khu vực nguy hiểm, và giám sát an toàn liên tục.
Hình 3.9 : Đất đá bị sạt lở sau cơn mửa
Hình 3.8 : Lớp đất đá nằm chông chênh trên miệng hoá
3.4.2 Công tác đổ bê tông tại công trường
Trên công trường, máy bơm bê tông được dùng để đổ các trụ bê tông, với ống thụt bê tông từ xe xuống miệng hố và một công nhân đứng dưới hố để điều chỉnh đầu phun Quá trình này đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng giữa người vận hành và người điều chỉnh, đồng thời cần chú ý đến an toàn công trường và chất lượng bê tông ở từng vị trí trụ.
Trong khu vực làm việc dưới hố, nhiều công nhân không đeo đầy đủ PPE như giày bảo hộ hoặc ủng, găng tay, khẩu trang và kính bảo hộ, khiến họ gặp rủi ro cao khi bê tông phun hoặc tác động tại công trường Bê tông có thể bắn vào chân và mặt, gây chấn thương nghiêm trọng và ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động Việc tuân thủ trang bị bảo hộ và quy trình an toàn tại công trường là yếu tố giúp ngăn ngừa tai nạn và bảo vệ an toàn lao động.
Về ảnh hưởng trước mắt thì chưa có gì nhiều nhưng công việc này kéo dài thì có thề dẫn đến lở loét da, do xi măng ăn da
Hình 3.10 : Dùng chân điều chỉnh trực tiếp miệng thổi beâ toâng
Hình 3.11 : Mặt người bị dính đầy bê tông bắn
3.4.3 Nhận xét về những nguy cơ tai nạn trong công tác đào đất và đổ bê tông
3.4.3.1 Nguy cơ trượt, sạt lở đất
Nguy cơ lớn nhất khi đào hố là sự trượt, sạt lở vách đất xảy ra khi đang đào và ngay cả khi đào xong Nguyên nhân của hiện tượng này có thể là đất yếu và cấu trúc đất không ổn định, độ dốc của vách hố quá lớn, nước ngầm và mưa lớn làm mềm nền đất, thoát nước kém, và thiếu biện pháp gia cố cũng như che chắn Để giảm thiểu rủi ro, cần thực hiện khảo sát địa chất, chọn vị trí an toàn, gia cố thành hố, cải thiện hệ thống thoát nước và áp dụng các biện pháp an toàn thi công.
Đào hố với vách đứng vượt quá giới hạn chiều sâu cho phép theo tiêu chuẩn Kỹ thuật an toàn trong xây dựng: TCVN 5308: 1991
Đào hố với vách dốc có góc nghiêng giữa mặt phẳng nghiêng của vách hố và phương nằm ngang lớn hơn góc quy định, và mức độ lớn của góc này phụ thuộc vào loại đất và chiều sâu đào Khi thiết kế và thi công đào hố, cần xác định đúng loại đất và chiều sâu để điều chỉnh góc dốc cho phù hợp với quy định an toàn và hiệu quả thi công.
Tác động của ngoại lực do chấn động của máy, thiết bị, phương tiện giao thông hoạt động gần hố đào gây nên
Tác động của tải trọng tương hỗ giữa các công trình kế cận có sẵn lên vách và hố đào
Tác động của tải trọng ở khu vực mép hố như đất đổ, vật liệu hay thiết bị tập kết ở đó gây nên
Nguyên nhân sâu xa của hiện tượng trượt và sạt lở đất là tính chất cơ lý của đất và tác động của các yếu tố địa chất, thủy văn gây nên, như tính chất không đồng nhất của đất, nước ngầm, úng ngập và nhiệt độ Đất thường được chia thành các loại: đất vụn thô, đất có cát, đất á cát, đất có sét, đất á sét, đất hoàng thổ, bùn và than bùn.
Hình 3.12 : Bàn chân sau một thời gian đổ bê toâng
Những nguyên nhân chủ yếu gây ra tai nạn khi đào xúc
Công nhân bị mắc kẹt và bị vùi lấp trong hố do sụt lở thành hố
Công nhân bị va đập và bị thương khi đào xúc do vật liệu rơi xuống
Công nhân rơi xuống hố
Phương tiện ra vào không an toàn hoặc thiếu các phương tiện thoát hiểm trong trường hợp có lũ
Xe máy tiến tới quá sát miệng hố, đặc biệt là khi quay đầu làm sụt mép hố
Ngạt thở hoặc nhiễm độc do những khí nặng như khí thải phun xuống hố, khí thải của động cơ diesel, hay động cơ xăng
3.4.3.3 Các biện pháp an toàn khi đào hố và thi công làm đất a) Biện pháp kỹ thuật
Các loại hố đào trong thi công xây dựng thường có 3 loại sau:
• Hào hố vách đứng có vách và không có vách;
Hào hố có mái giật cấp là đặc điểm phổ biến trong thi công nhà ở và hầu hết các hố thi công là hố vách đứng; tuy nhiên, khi đào hố vách đứng cần chú ý các quy định liên quan đến chống vách hoặc không cần chống vách Ta có bảng sau trình bày các trường hợp áp dụng các biện pháp chống vách nhằm đảm bảo an toàn và tuân thủ tiêu chuẩn thi công.
Quy đị nh chi ề u sâu cho phép đ ào khi không c ầ n vách ch ố ng
Bảng 3.6 quy định chiều sâu đào đất căn cứ vào loại đất Đất mềm (đất có cát, đất sỏi, đất đắp) cho phép đào tới 1 m Đất cát pha và á cát cho phép đào tới 1.25 m Đất á sét, đất sét và đất hoàng thổ khô cho phép đào tới 1.5 m Đất cứng (đất chặt không lẫn cát) cho phép đào tới 2.0 m.
Quy đị nh ki ể u ch ố ng vách theo m ứ c đ ào sâu
Bảng 3.7 : Quy định kiểu chống vách
Kiểu chống vách Đào sâu đến 3m Đào sâu từ 3 –
5m Đào sâu > 5m Đất có độ ẩm tự nhiên
Chống ngang và để cách quãng 2 tấm
Chống ngang liên tục.(khít) Chống theo thiết kế Đất có độ ẩm cao, đất rời
Chống ngang hoặc chống liên tục.(khít)
Chống đứng Chống theo thiết kế
Khi đất có nước ngầm mạnh, cần đóng ván cừ sâu vào đáy hố móng với độ sâu tối thiểu 0.75 m và chống theo thiết kế Đối với công trình đang thi công, chiều sâu làm việc thường ở mức 1.7–2 m; tuy nhiên với độ sâu như vậy mà ban chỉ huy công trường vẫn không có biện pháp che chắn, hàng rào phía trên miệng hố thi công là không đúng với quy định.
Nhận xét về an toàn thi công cho khu vực đào đất cho thấy việc tập kết đất cách miệng hố ít nhất 1 mét và lắp đặt hàng rào chắn quanh miệng hố là cần thiết để phòng ngừa té ngã và rơi đá xuống khu vực làm việc Qua hình ảnh cho thấy sau mưa, các khối gạch ở mép miệng hố gần như có nguy cơ đổ xuống, trong khi người công nhân vẫn làm việc ở phía dưới mà không có biện pháp phòng ngừa nào được triển khai.
Việc thiếu thốn trang bị bảo hộ lao động thể hiện rõ tại công trường khi công nhân làm việc mà không đội mũ bảo hộ, không mang giày dép và quần áo bảo hộ, cho thấy công tác BHLĐ chưa được quan tâm đúng mức và việc cấp phát trang bị bảo hộ của công ty chưa đầy đủ Biện pháp quản lý an toàn tại công trường cần được tăng cường: đất ở đây tuy là đất cứng, nhưng sau khi đào xúc và đặt lên miệng hố, khi trời mưa đất sẽ trở nên mềm dẻo, mất độ kết dính và dễ khiến người lao động trượt ngã xuống hố khi đi gần mép hố.
Nguy cơ ngã cao trong xây dựng
3.5.1 Thực trạng công tác thi công tác thi công tại công trường Trịnh Hoài Đức
Hiện tại công trường đang thi công lầu 1 của công trình với độ cao 6m, tuy không phải là mức cao so với tiêu chuẩn xây dựng nhưng lại mang nguy cơ tai nạn cao cho người lao động do tâm lý chủ quan khi làm việc ở độ cao Cơ cấu che chắn còn thiếu và chưa đảm bảo an toàn, khiến khu vực làm việc trở nên vô cùng nguy hiểm và cần được khắc phục để bảo đảm an toàn cho nhân sự.
Thi công trên cao hiện nay tiềm ẩn nhiều nguy cơ tai nạn ngã cao, đặc biệt ở công trình đang thi công lầu 1 khi công nhân dễ chủ quan trong quá trình hàn ở độ cao Những nguy cơ này xuất phát từ áp lực công việc, nắng nóng, ánh sáng của tia hàn và tình trạng căng thẳng tâm lý; thêm vào đó, khi người lao động di chuyển mà không có lan can chắn hoặc điểm tựa cố định, nguy cơ ngã cao sẽ tăng lên và có thể dẫn đến tai nạn nghiêm trọng Vì vậy, việc lắp đặt lan can bảo hộ, xác định điểm tựa an toàn và thực hiện các biện pháp quản lý công việc hợp lý là cần thiết để giảm thiểu rủi ro tai nạn khi thi công trên cao.
Thi công nhà dân dụng luôn đòi hỏi sự giám sát thi công và sự hướng dẫn công việc trực tiếp; khi hai yếu tố này vắng mặt, chất lượng công trình, an toàn lao động và tiến độ thi công có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng Đây là một thiếu sót căn bản cần được khắc phục để đảm bảo hiệu quả và an toàn cho dự án xây dựng.
Trong hồ sơ thầu và thi công có một đội coffa riêng chịu trách nhiệm thi công công việc này; tuy nhiên tại công trường, các thợ phụ vẫn leo lên làm việc trên coffa, vi phạm quy định đã đặt ra và nguyên tắc an toàn lao động.
Bi ệ n pháp đề xu ấ t khi thi công ở công đ o ạ n hàn giáo, gi ằ ng khung
Công trình phải luôn có người giám sát, kiểm tra an toàn khi làm việc ở trên cao
Cán bộ chỉ đạo thi công thường xuyên giám sát, kiểm tra tình hình an toàn lao động
Hình 3.11 & 3.12 : Công nhân hàn giàn giáo ở trên cao mà không có dây đai an toàn
Trước khi bắt đầu ca làm việc mỗi ngày, chỉ huy trưởng cùng các đội trưởng và đội ATVSV tiến hành kiểm tra an toàn vị trí làm việc của công nhân Họ rà soát tình trạng giàn giáo, sàn thao tác, thang và lan can an toàn để đảm bảo môi trường làm việc an toàn và tuân thủ các quy định an toàn lao động.
Thường xuyên theo dõi và nhắc nhở công nhân chấp hành đúng kỷ luật lao động và nội quy an toàn lao động khi thi công trên cao; những trường hợp công nhân vẫn tiếp tục vi phạm thì phải xử lý nghiêm theo Nghị định 38/CP ngày 25/6/1996 về Xử phạt hành chính các vi phạm về quản lý BHLĐ.
Trong quá trình tuyển dụng công nhân, doanh nghiệp cần tuân thủ đầy đủ quy định: chỉ tuyển những người đủ tuổi theo quy định, có giấy chứng nhận sức khỏe còn hiệu lực và quan trọng là có giấy chứng nhận đã học qua lớp an toàn lao động phù hợp với ngành nghề mà họ sẽ thực hiện.
Khi làm việc ở độ cao trên 2 mét và phía dưới có chướng ngại nguy hiểm, cần mang dây an toàn và mắc vào hệ thống chống rơi thay vì mắc vào sàn thao tác Việc sử dụng dây đai an toàn giúp giảm thiểu rủi ro té ngã và bảo vệ người lao động trong quá trình làm việc ở độ cao Điều này cũng phù hợp với quy định an toàn lao động và yêu cầu kiểm tra, bảo dưỡng thiết bị trước khi sử dụng.
3.5.2 Công vi ệ c kéo t ấ m lót sàn
Hai người trên cao, 2 người dưới thấp
Người bên dưới nhiệm vụ là chuyển và móc tấm lót Hai người ở trên có nhiệm vụ kéo chúng lên
Nguy cơ mất an toàn rất cao khi làm việc ở vị trí trên cao nếu không có lan can bảo vệ Việc làm ở độ cao và mắt luôn hướng xuống phía dưới dễ gây chóng mặt và mất tập trung cho người lao động, từ đó tăng nguy cơ té ngã nếu không chú ý.
Hình 3.13 : Người lao động vận chuyển tấm lót sàn bằng sắt lên cao bằng 2 sợi dây
3.5.3 Công việc vận chuyển vật liệu lên lầu 1
Hầu như công việc của công nhân đều mang tính chất là di chuyển đi lại nhiều, làm việc đủ mọi tư thế
Quá trình vận chuyển gạch ống lên lầu 1 được thực hiện bởi bốn công nhân chia thành các vị trí làm việc khác nhau và chuyền tay nhau từ dưới lên trên, đảm bảo hiệu quả và nhịp độ công việc Mỗi người đảm nhận một phần nhiệm vụ riêng, phối hợp chặt chẽ để di chuyển vật liệu xây dựng an toàn và trơn tru.
Đánh giá vị trí làm việc
Trên công trường, người lao động ở dưới đất phải di chuyển khoảng 3–4 mét, cúi nhận gạch và chuyển gạch vượt qua đầu cho người ở trên nhận được Nguy cơ tai nạn và chấn thương đầu là rất cao khi gạch có thể rơi từ trên cao xuống, đòi hỏi tuân thủ quy trình an toàn lao động để giảm thiểu rủi ro.
Người thứ 2 đứng trên giàn giáo, phải cúi nhận gạch rồi đưa gạch lên cho người ở trên (người thứ 3); hai chân của người thứ 2 đặt trên hai thanh giàn giáo với khoảng cách rộng khoảng 16–17 cm, gây nguy cơ mất an toàn do dễ trượt ngã Người thứ 3 làm việc ở độ cao 4–4,5 m, tư thế làm việc tương tự người thứ 2 nhưng thao tác gò bó hơn vì chỉ cúi khom người, nên nguy cơ té ngã của người này cao hơn so với người thứ 2.
Trong một hệ thống làm việc theo dây chuyền sản xuất, vị trí cuối cùng lại nằm ở khu vực cao hơn, cho phép người ở đó có cái nhìn rộng và dễ dàng hỗ trợ các bước thao tác phía dưới Người thứ 4 có nhiệm vụ thao tác được đỡ đần bởi các vị trí thấp hơn, giúp quá trình làm việc diễn ra trơn tru hơn Tuy nhiên, vị trí làm việc này vẫn được đặt ở mức cao nhất, cho phép người thực hiện kiểm soát toàn bộ quy trình và đảm bảo chất lượng sản phẩm.
Tai nạn trên mái khi thi công là một trong những nhóm công việc nguy hiểm nhất trong ngành xây dựng Các tai nạn phổ biến gồm ngã từ mép mái, ngã qua lỗ hổng trên mái và sập mái do vật liệu giòn dễ vỡ Để giảm thiểu rủi ro và nâng cao an toàn thi công mái, cần áp dụng các biện pháp phòng ngừa như lắp đặt lan can, lưới bảo vệ và dây đai an toàn, che chắn và đánh dấu các lỗ hổng, kiểm tra mái và thiết bị trước khi làm việc, sắp xếp vật liệu và công cụ an toàn, đồng thời đào tạo người lao động về an toàn nghề nghiệp và quy trình xử lý sự cố.
Hình 3.14 : Công nhân vận chuyển gạch lên laàu 1
Ngã xuống từ rìa mái
Ngã xuống qua lỗ hổng trên mái
Ngã do sập mái từ vật liệu giòn và dễ vỡ là nguy cơ chính trên các công trình mái có độ dốc cao Trong quá trình thi công, nếu người lao động không mang theo các phương tiện bảo vệ cá nhân như dây đai an toàn và các biện pháp kỹ thuật như thang móc, lan can bảo vệ, thì các tình huống này có thể dẫn đến tai nạn lao động Đối với các mái dốc như trên, mái dễ trơn trượt nên cần có lan can bảo vệ quanh mép mái; nếu ngói lợp không đủ chắc chắn để bám hoặc đứng, phải dùng các thiết bị phụ trợ như thang bò, ván hoặc dù chỉ để kiểm tra mái hoặc làm việc trong thời gian ngắn Đối với loại mái giòn, dù có cảm giác an toàn và khả năng chịu tải tốt, nhưng lại không chịu được tải trọng tập trung khi đặt chân lên mái và có thể vỡ nếu người đứng trên đó bị ngã xuống, ví dụ như tấm lợp fibro xi măng, tấm sợi kim loại, tấm nhựa, tấm chất dẻo gấp múi, tôn múi Đôi khi khó nhận ra được độ giòn của một số loại tấm lợp do chúng đã được sơn phủ bằng hắc ín.
Nhận xét về các vùng nguy hiểm trên công trường và việc thi công trên
3.6.1 Một số vùng nguy hiểm phổ biến trên công trường xây dựng
Bảng 3.8 : Những vùng nguy hiểm trên công trường xây dựng
Loại vùng nguy hiểm Nguy cơ
Vùng bao quanh hố vôi Bị bỏng vôi do sụp hố
Vùng dọc theo mép hào móng hoặc bên trong chúng thường là đất yếu dễ sụp lở, đặc biệt khi gặp rung chấn và tải trọng bất thường Nguyên nhân chính bao gồm chấn động từ di chuyển xe máy và sự quá tải do vật liệu chất lên trên nền đất, khiến đất mất ổn định và tăng nguy cơ sụp lở tại khu vực móng Tình trạng này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến cấu kiện móng và an toàn công trình nếu không được kiểm soát kịp thời Để giảm thiểu rủi ro, cần quản lý tải trọng, di dời vật liệu khỏi mép hào và áp dụng các biện pháp gia cố đất phù hợp với điều kiện thi công và đặc điểm nền đất địa phương.
Té ngã xuống hào hố do sụp lở đất, bị lấp vùi dưới đất, vật liệu khi đang ở trong lòng hố hào, do trượt ngã khi băng qua chúng
Hình 3.22 : Lỗ hổng cầu thang lầu 3 mà không được che h é điện cao thế(hành lang bảo vệ chúng) phạm hành lang an toàn và bị bỏng nặng
Vùng có cần trục hoạt động nâng chuyển vật liệu và các cấu kiện, thiết bị xây dựng
Chấn thương trong quá trình làm việc với hệ thống cẩu có thể xảy ra do tải trọng rơi hoặc va đập vào thiết bị, hay do lật đổ cẩu, gây chấn thương cho công nhân; những nguy cơ này cũng có thể phát sinh từ chính người lái cẩu như điện giật khi làm việc gần nguồn điện, kẹt tay vào cơ cấu hoặc té ngã khi leo lên hoặc xuống tháp cẩu Vì vậy cần thực hiện nghiêm quy trình vận hành an toàn, kiểm tra tải trọng và thiết bị trước khi làm việc, đảm bảo khoảng cách an toàn, và trang bị đầy đủ bảo hộ để giảm thiểu rủi ro cho người lao động.
Vùng hoạt động của xe máy thi công, nhất là các vị trí có tầm nhìn che khuất
Chấn thương do va đụng xe, lật xe, kẹt người vào các khe hẹp, đá lăn, cây đổ…
Vùng hai bên khu vực căng nắn dây thép, kéo cốt thép, dự ứng lực
Chấn thương do văng bắn hay đứt cốt thép
Vùng rìa mép các vị trí làm việc trên cao
Trượt té từ trên cao vì các lý do khác nhau
Khu vực bao quanh gần công trình đang thi công Chấn thương do vật rơi
Khu vực dưới các vị trí thi công hiện đang thực hiện đồng thời các hạng mục như lắp đặt cốp pha, tháo dỡ cốp pha, lắp đặt cốt thép, cấu kiện bê tông cốt thép, tháo dỡ giàn giáo và lắp đặt ống dẫn bê tông.
Chấn thương do vật rơi, do sập đổ các kết cấu vì các lý do khác nhau
Khu vực gần các công trình đang bị đập bỏ, tháo dỡ
Chấn thương do sụp đổ công trình, do mảnh văng
Khu vực có các cơ cấu truyền động và chuyển động của máy móc thiết bị hoạt động
Chấn thương do kẹt tay, kẹt người, do bị cuốn kéo vào máy, do vật liệu gia công văng bắn…
Khu vực có cáp ngầm, đường ống dẫn khí đốt nhiên liệu đi ngầm, có bom mìn còn sót
Bị điện giật, bỏng do cháy nổ khi có sự cố đường ống… nổ bom mình gây sát thương
Khu vực làm việc trên sông nước, dưới mặt nước, trong thùng Ketxon
Chết đuối, tai nạn do va đụng với các vật lạ dưới nước, tai biến ở áp lực cao
Khu vực có các khí độc và khí cháy nổ ở các công trình ngầm ở vùng đầm lầy
Ngạt, nhiễm độc, bỏng do cháy nổ khi tiếp xúc với các khí đó
Khu vực ẩm ướt, ngập nước…nhất là khi sử dụng điện cho sản xuất Bị té ngã, bị diện giật
3.6.2 Nhận xét công tác làm việc trên cao
Trong các công trình xây dựng phát triển theo cả chiều dài và chiều cao, vị trí làm việc của công nhân liên tục thay đổi khiến việc triển khai và duy trì các biện pháp an toàn lao động gặp nhiều thách thức Việc đổi vị trí làm việc liên tục làm tăng rủi ro tai nạn và đòi hỏi hệ thống quản lý an toàn và giám sát chặt chẽ hơn trên công trường Do đó, cần xây dựng quy trình an toàn đồng bộ, đào tạo nhân lực, sử dụng đầy đủ thiết bị bảo hộ và các biện pháp ngăn ngừa rủi ro phù hợp với từng vị trí làm việc để đảm bảo an toàn cho người lao động, tối ưu hóa hiệu suất và tuân thủ các quy định về an toàn lao động.
Phân tích tai nạn lao động trong ngành xây dựng cho thấy ngã cao chiếm tỷ lệ cao nhất so với các loại tai nạn khác và để lại hậu quả nghiêm trọng Ngã cao có thể dẫn tới tử vong hoặc chấn thương sọ não ở mức đáng kể Có nhiều tình huống khác nhau gây ngã cao, vì vậy cần tăng cường các biện pháp an toàn lao động và quản lý rủi ro trên công trường để giảm thiểu nguy cơ ngã cao và bảo vệ người lao động.
Ngã cao xảy ra tại các vị trí làm việc của công nhân trên công trường, đặc biệt khi họ di chuyển đến khu vực làm việc và leo lên các vị trí ở trên cao như đỉnh tường, các kết cấu lắp ghép, giàn giáo, cố pha (ván khuôn) và trên cốt thép Những vị trí này tiềm ẩn nguy cơ ngã cao và cần các biện pháp an toàn thích hợp để giảm thiểu tai nạn.
Ngã khi đứng làm việc trên thang
Ngã khi sàn thao tác bắc tạm bị đổ gãy
Ngã khi chỗ làm việc chông chênh, nguy hiểm không đeo dây đai an toàn
Ngã cao là nguy cơ hàng đầu cho công nhân khi làm việc trên các phần nhô ra của công trình như mái đua, công xôn, lan can và hành lang, đồng thời cũng phổ biến khi làm trên mái, nhất là các mái có độ dốc lớn và mái lợp bằng vật liệu giòn dễ gãy như mái ngói hay mái lợp bằng vật liệu dễ vỡ.
Tai nạn lao động do ngã cao có thể xảy ra ở mọi giai đoạn thi công trên cao, từ xây dựng, trát, láng, ốp cho tới quét vôi và trang trí công trình Nguy cơ ngã cao còn phát sinh khi lắp dựng và tháo dỡ giàn giáo, ván khuôn, và trong quá trình lắp dựng các kết cấu thép cũng như vận chuyển vật liệu lên cao.
Ngã cao không chỉ xảy ra ở các công trình lớn, cao tầng và thi công tập trung mà còn có thể phát sinh tại các công trình nhỏ, thấp tầng và thi công phân tán Vì vậy, an toàn thi công ở mọi quy mô công trình cần được đặc biệt chú trọng, với đầy đủ biện pháp bảo hộ, quản lý rủi ro và giám sát thi công chặt chẽ để ngăn ngừa tai nạn ở cả dự án lớn lẫn dự án nhỏ.
3.6.3 Những nguyên nhân chính gây tai nạn ngã cao a) Nguyên nhân thuộc về công tác tổ chức
Việc bố trí công nhân không đủ điều kiện làm việc trên cao gây rủi ro cho an toàn lao động và có thể dẫn đến tai nạn nghiêm trọng Sức khỏe không đảm bảo, đặc biệt ở những nhóm như phụ nữ mang thai, người có bệnh tim hoặc huyết áp không ổn định, người bị điếc và mắt kém, cần được loại khỏi vị trí làm việc trên cao và trải qua sàng lọc sức khỏe định kỳ Đảm bảo điều kiện làm việc an toàn trên cao không chỉ bảo vệ quyền lợi người lao động mà còn giúp giảm thiểu rủi ro, tăng năng suất và tuân thủ các chuẩn mực an toàn lao động.
Việc công nhân chưa được đào tạo đầy đủ về chuyên môn và an toàn lao động dẫn tới vi phạm quy trình kỹ thuật, kỷ luật lao động và nội quy lao động, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và an toàn tại nơi làm việc.
Thiếu kiểm tra, giám sát thường xuyên để phát hiện, ngăn chặn và khắc phục kịp thời các hiện tượng làm việc trên cao thiếu an toàn
Thiếu các phương tiện bảo vệ cá nhân như giày chống trượt, dây đai an toàn… b) Nguyên nhân thuộc về kỹ thuật an toàn
Đơn vị thi công không sử dụng các phương tiện làm việc trên cao như thang lên giàn giáo
Đơn vị sử dụng các phương tiện làm việc trên cao nhưng chưa đảm bảo đầy đủ các yếu tố an toàn, dẫn đến sai sót và vi phạm các quy định an toàn trong quá trình thi công.
Nguyên nhân do thiết kế là xác định sơ đồ tính và tải trọng tác dụng không phản ánh đúng điều kiện thi công thực tế, khiến sự phân bổ lực và hiệu quả của kết cấu lệch so với thực tế Thêm vào đó, các chi tiết cấu tạo và liên kết không có đủ khả năng chịu lực thực tế, làm giảm khả năng chịu tải của công trình và tăng nguy cơ sự cố trong quá trình thi công và vận hành.
Những sai sót phổ biến trong gia công chế tạo xuất phát từ vật liệu kém chất lượng gây nứt, cong, vênh, mọt rỉ; đồng thời gia công không tuân thủ đúng bản vẽ thiết kế và mối hàn không đảm bảo chất lượng.
Những sai sót phổ biến trong lắp dựng và tháo dỡ giàn giáo gồm việc giàn giáo đặt nghiêng gây lệch tâm và không bố trí đủ và đúng vị trí các điểm treo giàn giáo vào công trình, khiến hệ thống treo không ổn định; đồng thời giàn giáo được đặt trên nền đất yếu có thể gây ra lún nền, ảnh hưởng đến an toàn và tiến độ thi công.
Khi lắp dựng giàn giáo công nhân không đeo dây an toàn
Thực trạng công tác an toàn về điện tại công trường
Hầu hết các thiết bị điện trên công trường hiện nay đều sử dụng các loại thiết bị điện có điện áp dưới 1000V Các loại công trình dân dụng như hiện nay thì chủ yếu là sử dụng các loại động cơ điện 380V, 220V… Các máy tời, máy độn bê tông hạng nhỏ, các mô tơ điện chạy máy hàn, máy uốn thép…
Tuy nhiên vì điện áp không đủ khả năng phóng điện như máy điện áp cao, nên công nhân thường coi thường những mối nguy hiểm tiềm ẩn mà họ không hề biết được
Trong quá trình khai thác, điện áp xuất hiện trên các bộ phận của thiết bị, trong khi ở điều kiện khai thác bình thường vỏ máy và các trạm điều khiển không có điện áp Nguyên nhân chính là hư hỏng lớp cách điện trong các ô tơ và cáp, đồng thời có thể từ thủng lớp vỏ dây dẫn, khiến điện áp có thể rò và chạm vào các bộ phận và dây dẫn ở bề mặt Việc tiếp xúc với các phần mang điện có thể gây nguy hiểm cho người vận hành và làm hỏng thiết bị, vì vậy cần kiểm tra, xác định vị trí hư hỏng và thực hiện sửa chữa hoặc thay thế các thành phần bị hỏng để đảm bảo an toàn và vận hành ổn định.
Hệ thống điện tại công trường được cấp qua một đồng hồ tổng đặt phía ngoài công trình Tuy nhiên, cách bố trí đồng hồ và tủ điện hiện tại không đúng quy định, khiến hệ thống chưa đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn và quy chuẩn về lắp đặt điện tại công trường.
Hình 3.26: Tủ điện công trình đặt phía ngoài trời và không có che chắn
Bố trí như thế này vi phạm hành lang an toàn điện và khoảng cách từ bờ rào đến tủ điện quá gần; cách mắc tủ quá thấp không đúng với tiêu chuẩn cho phép Ngoài ra, không có biển báo nguy hiểm về điện khiến khu vực này thiếu nhận diện rủi ro và tăng nguy cơ tai nạn cho người tiếp cận Cần tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn điện và lắp đặt biển báo rõ ràng để bảo đảm an toàn cho hệ thống và người vận hành.
Xuất hiện điện áp bước chân trên bề mặt của đất do đoản mạch của các dây dẫn xuống đất
Việc sử dụng dụng cụ điện cầm tay ở nơi ẩm ướt mà không có bảo vệ chống rò rỉ có thể dẫn đến điện giật và tai nạn nghiêm trọng Thiếu các thiết bị bảo vệ và cầu chì, hoặc không đáp ứng các yêu cầu về tiếp đất và nối trung hòa, làm tăng nguy cơ phóng điện và hỏng hóc thiết bị.
Hình 3.27: Cầu dao bị bể, không có nắp bảo vệ
Hình 3.28: Vùng làm việc có nguy cơ bị rò điện cao
Thiếu hoặc sử dụng không đúng các dụng cụ bảo vệ cá nhân như thảm cách điện giày, găng tay cách điện…
Sửa chữa cáp mềm bằng băng cách điện
Với những nguy cơ tai nạn điện như vậy, thì công tác lắp đặt và sử dụng điện trên công trường được chú ý và lắp đặt cẩn thận
Tất cả các thiết bị điện công nghiệp như máy hàn, máy cắt và máy mài đều có nối đất tự nhiên để bảo đảm an toàn khi vận hành Riêng với máy hàn, điện cực nối đất được kết nối với các thanh giàn giáo tại công trình nhằm thiết lập đường tiếp đất ổn định và an toàn cho quá trình hàn.
Các nguyên nhân khác có thể bắt nguồn từ việc không tuân thủ quy tắc an toàn và sai sót của công nhân, dẫn đến thiết bị có điện áp nhưng không được giám sát đúng cách Bên cạnh đó, nhiều yếu tố tổ chức như thiếu quy trình vận hành chuẩn, thiếu đào tạo và sự phối hợp giữa các bộ phận chưa hiệu quả cũng góp phần làm tăng rủi ro Khi cả yếu tố con người và yếu tố tổ chức đều thiếu kiểm soát, nguy cơ gặp sự cố liên quan đến điện áp và thiết bị sẽ cao hơn.
Biện pháp an toàn đ i ệ n a) Sử dụng điện an toàn
Những nơi nguy hiểm về điện phải sử dụng điện áp nhỏ để hạn chế mức độ nguy hiểm
- Những nơi nguy hiểm điện áp không quá 36V
- Những nơi đặc biệt nguy hiểm (nơi quá ẩm) điện áp không quá 12V
- Các đèn chiếu sáng chugn nối với lưới điện có điện áp 110V và 220V b) Làm cách điện dây dẫn
Các thiết bị điện và đường dây phải được cách điện tốt; chất lượng cách điện bị giảm theo thời gian do quá nóng, biến đổi nhiệt độ, ma sát nhiều và môi trường ẩm ướt, vì vậy cần kiểm tra định kỳ và thay thế sửa chữa kịp thời Đối với dây dẫn đặt ngoài trời của công trình cấp điện tạm thời, phải dùng dây có vỏ bọc và được mắc trên cột có sứ cách điện Đoạn dây dẫn giữa hai cột không được có quá hai mối nối; các mối nối nên được bố trí ở gần điểm buộc dây lên cổ sứ Để bảo vệ người khỏi điện giật, gần các máy móc và thiết bị nguy hiểm, cần đặt hàng rào chắn hoặc che chắn và tách các máy móc, thiết bị đó ra khỏi khoảng cách an toàn.
Trong công trường xây dựng và khi lắp đặt các trang thiết bị xây dựng, các máy cắt điện tự động, cầu dao chuyển mạch và dụng cụ điện cần được bảo vệ bằng vỏ hộp bảo vệ nhằm đảm bảo an toàn điện, ngăn ngừa sự cố và bảo vệ người vận hành cũng như thiết bị Nối đất bảo vệ thiết bị là biện pháp bắt buộc để đảm bảo tiếp đất an toàn, hạn chế rò điện và tăng độ tin cậy cho hệ thống điện trên công trường.
Dùng dây dẫn nối vỏ kim loại với cọc nối đất bằng sắt thép chôn dưới đất có điện trở nhỏ e) Nối không bảo vệ thiết bị
Việc nối không có tác dụng khi điện chạm vào vỏ thiết bị điện Để đảm bảo an toàn và ngắt nguồn kịp thời, cầu chảy của cầu dao hoặc aptômát được lựa chọn và chỉnh định đúng thông số; khi đúng, cầu chảy sẽ đứt hoặc aptômát sẽ nhảy để cắt nguồn cung cấp cho thiết bị.
Các yêu cầu trong việc nối không bảo vệ thiết bị:
Chỉ nên nối các phần kim loại không mang điện của thiết bị điện với dây bảo vệ (dây đất) Không được nối các phần kim loại này với dây trung tính làm việc nhằm tránh xuất hiện điện áp trên vỏ thiết bị khi phụ tải không cân bằng.
Cầu chì, aptomát hoặc máy cắt hạ áp được sử dụng trong mạch bảo vệ nối không phải đảm bảo yêu cầu
Trong các thiết bị nằm trên cùng một mạng điện, để đảm bảo an toàn cho người dùng, không được nối tắt các thiết bị; một số thiết bị khác phải được nối đất bảo vệ để giảm nguy cơ điện giật và duy trì an toàn hệ thống.
Dây không bảo vệ nếu đặt song song ở cạnh với dây pha thì cách điện của vỏ bọc phải bằng cách điện của dây pha
Nếu dùng dây không có vỏ cách điện để làm dây không bảo vệ thì phải đặt tách biệt với dây pha và dây không làm việc
Không được dùng dây không bảo vệ của mạng điện này để nối không bảo v65 cho thiết bị trong mạng điện khác f) Sử dụng các dụng cụ bảo vệ
Gồm 2 loại dụng cụ: Dụng cụ bảo vệ chính và dụng cụ bảo vệ bổ trợ
Dụng cụ bảo vệ là những thiết bị được thiết kế để chịu được điện áp khi tiếp xúc với các phần dẫn điện trong thời gian dài, giúp tăng cường an toàn cho người thao tác Các loại dụng cụ này bao gồm sàn cách điện, kìm cách điện, kìm đo điện và tuốc vít có lớp cách điện, được chế tạo để hạn chế nguy cơ điện giật và bảo vệ người dùng khi làm việc với hệ thống điện.
Dụng cụ bổ trợ: găng tay và ủng cao su, bục và thảm cách điện
Các dụng cụ bảo vệ phải tuân theo TCVN 5587 -1991; TCVN 5588-1991; TCVN 5589-1991; TCVN 5589-1992; TCVN 5586-1992.