1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BAO CAO GIAI PHAP THI GVDG (THU)

10 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 30,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc vận dụng kiến thức liên môn trong một môn học, một giờ học là một biện pháp rất hữu ích, nó không những giúp cho người thầy có thêm nhiều kiến thức và phương pháp khác nhau trong mộ

Trang 1

MỘT SỐ GIẢI PHÁP: VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC DẠY HỌC LIÊN MÔN CỦA CÁC MÔN HỌC KHÁC VÀO BÀI DẠY NHỮNG CHUYỂN BIẾN TRONG

ĐỜI SỐNG KINH TẾ - LỊCH SỬ 6

I Lý do chọn giải pháp

Dạy học liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng trong dạy học Đây được coi là một quan niệm dạy học hiện đại, nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường Việc vận dụng kiến thức liên môn trong một môn học, một giờ học là một biện pháp rất hữu ích, nó không những giúp cho người thầy có thêm nhiều kiến thức và phương pháp khác nhau trong một giờ dạy mà còn giúp cho các em học sinh chủ động trong hoạt động học tập, giải quyết các vấn đề và tích hợp kiến thức các môn học để thực hiện học tập tốt môn học đó và áp dụng giải quyết một vấn đề bất kỳ có hiệu quả, thông minh với nhiều cách giải quyết khác nhau[1]

Việc sử dụng kiến thức liên môn, chủ đề tích hợp sẽ giúp học sinh hiểu được sâu sắc các vấn đề lịch sử, nhận thức được sự phát triển xã hội một cách liên tục, thống nhất, thấy được mối liên hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội[2] Việc sử dụng kiến thức liên môn còn giúp học sinh củng cố thêm những hiểu biết của mình ở nhiều môn học khác HS phải biết đặt các khái niệm đã học trong từng môn học cũng như giữa các môn học khác nhau, có như vậy thì các em mới thực sự làm chủ được kiến thức

Đặc biệt từ việc hình thành được những biểu tượng lịch sử cụ thể, sinh động thông qua vận dụng tích hợp các kiến thức liên môn sẽ tạo nên những gợi cảm mới, tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của học sinh, sẽ đem lại hiệu quả tích hợp giáo dục sâu sắc trong nhiều chủ đề theo hướng dẫn của Bộ GD & ĐT Đổi mới phương pháp dạy học

và cải tiến nội dung sách giáo khoa ở THCS là một bước tiến quan trọng của giáo dục Việt Nam nhằm

Lịch sử và và các môn học liên quan có một vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp cho học sinh về những mốc son về các sự kiện, hiện tượng, nhân vật Lịch sử tiêu biểu theo dòng thời gian từ buổi đầu dựng nước tới nay, hay những sự vật, hiện tượng và các mối quan hệ địa lý đơn giản ở Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới Thông qua những kiến thức đó môn học Lịch sử và các môn học liên quan rèn luyện cho học sinh các kỹ năng cơ bản của việc quan sát và nhận biết các sự vật hiện tượng, các sự kiện Lịch

sử để trình bày những hiểu biết của bản thân bằng lời nói và bài viết, biết vận dụng một cách linh hoạt vào thực tiễn của cuộc sống Qua đó bồi dưỡng và phát triển cho các em thói quen ham học hỏi, tìm hiểu và xây dựng tình yêu thiên nhiên, yêu tổ quốc Một trong những mục tiêu trọng điểm của việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống đòi hỏi nội dung chương trình môn Lịch sử và các môn học liên quan phải cung cấp cho các em những thông tin, sự kiện hoặc những giá trị về Lịch sử của địa phương, nơi học sinh đang sinh sống Nhưng cho đến nay nội dung chương trình môn học Lịch sử ở THCS còn rất ít

Trang 2

(ở lớp 6 chỉ có 1 tiết/tuần nên không đủ cung cấp hết kiến thức cho cho học sinh) Chính

vì thế trong quá trình dạy và học về môn Lịch sử tôi đã vận dụng các kiến thức môn học khác để các em yêu thích môn học Lịch sử hơn và đó cũng là lý do mà tôi chọn đề tài

“Vận dụng nguyên tắc dạy học liên môn của các môn học khác vào bài dạy những chuyển biến trong đời sống kinh tế- Lịch sử 6” làm giải pháp áp dụng cho mình.

II Cơ sở của biện pháp

1 Cơ sở lý luận

Hiện nay, dạy học tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đang được quan tâm Thực hiện tích hợp trong dạy học sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho việc góp phần hình thành và phát triển các năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh[4]

Tích hợp theo nghĩa chung nhất được hiểu là sự liên kết các thành phần, các bộ phận khác nhau một cách hòa hợp, tương thích trong một tổng thể[5] Dạy học tích hợp được hình thành trên cơ sở của những quan niệm tích cực về quá trình học tập và quá trình dạy học, thực hiện quan điểm tích hợp trong giáo dục sẽ góp phần phát triển tư duy tổng hợp, năng lực giải quyết vấn đề và làm cho việc học tập trở nên ý nghĩa hơn đối với học sinh

so với việc học và thực hiện các mặt giáo dục một cách riêng rẽ[6] Các sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội vốn không tồn rại một cách rời rạc, đơn lẻ, chúng là những thể tổng hợp, hoàn chỉnh và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau[7]

Trong những năm gần đây Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức các cuộc thi: Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tiễn dành cho học sinh và cuộc thi Dạy học theo chủ đề tích hợp dành cho giáo viên trung học Mục đích:

- Khuyến khích học sinh vận dụng kiến thức tổng hợp của các môn học khác nhau để giải quyết các tình huống thực tiễn; tăng cường khả năng vận dụng tổng hợp, khả năng tự học, tự nghiên cứu của học sinh;

- Thúc đẩy việc gắn kiến thức lý thuyết và thực hành trong nhà trường với thực tiễn đời sống; đẩy mạnh thực hiện dạy học theo phương châm "học đi đôi với hành";

- Góp phần đổi mới hình thức, phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập; thúc đẩy sự tham gia của gia đình, cộng đồng vào công tác giáo dục

- Khuyến khích giáo viên sáng tạo, thực hiện dạy học theo chủ đề, chủ điểm có nội dung liên quan đến nhiều môn học và gắn liền với thực tiễn;

- Góp phần đổi mới hình thức tổ chức dạy học, đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập; tăng cường ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong dạy học

Thực trạng việc dạy bộ môn nói chung, môn Lịch sử lớp 6 nói riêng mặc dù quan niệm dạy học tích hợp đã được vận dụng vào giảng dạy, song hiệu quả đạt được là chưa cao Do đó phần lớn học sinh hiện nay có thái độ bình thường, chưa phát huy được tính

tích cực trong học tập Giáo viên trong các nhà trường chưa thực sự hiểu hết ý nghĩa, tầm

quan trọng của việc dạy học liên môn, đặc biệt là việc dạy học liên môn trong môn Lịch

sử Quá trình vân dụng tích hợp liên môn vào trong bài dạy còn gặp nhiều lúng túng nên

Trang 3

trong quá trình giảng dạy thường chỉ tập trung vào kiến thức đặc thù của bộ môn mà thiếu sự quan tâm, liên hệ với các bộ môn khác Về phía học sinh xuất hiện tâm lí coi nhẹ, chủ quan trong bộ môn Các em thường cho rằng kiến thức của bộ môn nhẹ, không

có tác dụng nhiều trong việc học tập nên thiếu quan tâm, thậm chí bỏ rơi bộ môn khi thấy mình đã có đủ cơ số điểm cần thiết Vì vậy nên khi được hỏi, khai thác sâu vào vấn đề các em thường tỏ ra lúng túng hoặc không thể trả lời câu hỏi.Mỗi một bài dạy và học Lịch sử có vai trò quan trọng đối với cả thầy và trò Để nâng cao chất lượng, hiệu quả

dạy học, tôi lựa chọn đề tài “Vận dụng kiến thức liên môn của các môn học khác vào bài dạy những chuyển biến trong đời sống kinh tế - Lịch sử 6”

2 Cơ sở thực tiễn

a Thuận lợi:

- Đối với giáo viên:

+Trong quá trình dạy học môn học của mình, giáo viên vẫn thường xuyên phải dạy những kiến thức có liên quan đến các môn học khác và vì vậy đã có sự am hiểu về những kiến thức liên môn đó hay nói cách khác đội ngũ giáo viên chúng ta đã dạy tích hợp liên môn từ lâu rồi nhưng chúng ta chưa đi sâu và chưa có khái niệm tên gọi cụ thể

mà thôi

+ Với việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, vai trò của giáo viên không còn là người truyền thụ kiến thức mà là người tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học của học sinh cả ở trong và ngoài lớp học; vì vậy, giáo viên các bộ môn liên quan có điều kiện và chủ động hơn trong sự phối hợp, hỗ trợ nhau trong dạy học

+ Trong những năm qua giáo viên cũng đã được trang bị thêm nhiều kiến thức mới về phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực: như phương pháp bàn tay nặn bột hoặc

kĩ thuật khăn trải bàn, dạy học theo dự án ……

+ Môi trường " Trường học kết nối rất thuận lợi để giáo viên đổi mới trong dạy tích hợp, liên môn

+ Nhà trường đã đầu tư nhiều phương tiện dạy học có thể đáp ứng một phần đổi mới phương pháp dạy học hiện nay

+ Sự phát triển của CNTT, sự hiểu biết của đội ngũ giáo viên của nhà trường là

cơ hội để chúng ta triển khai tốt dạy học tích hợp, liên môn

- Đối với học sinh:

Học sinh có hứng thú tìm hiểu kiến thức các bộ môn nhất là các bộ môn tự nhiên ngày càng nhiều hơn, sách giáo khoa được trình bày theo hướng “ mở ”nên cũng tạo điều kiên, cơ hội cũng như môi trường thuận lợi cho học sinh phát huy tư duy sáng tạo

b Khó khăn

- Đối với giáo viên

+ Giáo viên phải tìm hiểu sâu hơn những kiến thức thuộc các môn học khác

+ Vấn đề tâm lý chủ yếu vẫn quen dạy theo chủ đề đơn môn nên khi dạy theo chủ

đề tích hợp, liên môn, các giáo viên sẽ vất vả hơn, phải xem xét, rà soát nội dung chương trình, sách giáo khoa (SGK) hiện hành để loại bỏ những thông tin cũ, lạc hậu, đồng thời

Trang 4

bổ sung, cập nhật những thông tin mới, phù hợp Nội dung của phương pháp dạy tích hợp, liên môn cũng yêu cầu GV cấu trúc, sắp xếp lại nội dung dạy học trong chương trình hiện hành theo định hướng phát triển năng lực học sinh nên không tránh khỏi làm cho giáo viên có cảm giác ngại thay đổi

+ Điều kiện cơ sở vật chất (thiết bị thông tin ,truyền thông) phục vụ cho việc dạy học trong nhà trường còn nhiều hạn chế nhất là các trường ở nông thôn

- Đối với học sinh:

+ Dạy tích hợp là cả một quá trình từ tiểu học đến THPT nên giai đoạn đầu này, đặc biệt là thế hệ HS hiện tại đang quen với lối mòn cũ nên khi đổi mới học sinh thấy lạ lẫm và khó bắt kịp

+ Do xu thế chọn ngành nghề theo thực tế xã hội nước ta hiện nay và việc quy định các môn thi trong các kì thi tuyển sinh nên đa số các học sinh và phụ huynh kém mặn mà (coi nhẹ) với các môn không thi, ít thi (môn phụ)

III MỘT SỐ GIẢI PHÁP

Giải pháp 1: Các nguyên tắc tích hợp

- Đảm bảo tính mục tiêu: Việc lựa chọn và liên kết các kiến thức, kĩ năng phải nhằm tới mục tiêu giáo dục của lớp học, bài học mà mục tiêu trên hết đó là tạo nên con người có khả năng hành động trên một nền tảng kiến thức, kĩ năng vững chắc

- Đảm bảo tính khoa học: Các kiến thức phải khách quan, phản ánh đúng bản chất của sự vật, hiện tượng

- Có những nét tương đồng về nội dung, phương pháp của những môn học được được tích hợp để các kiến thức và kĩ năng hỗ trợ cho nhau, giúp người học có thuận lợi trong học tập và vận dụng vào cuộc sống

- Đảm bảo tính khả thi: Người học có thể tiếp thu và vận dụng được kiến thức, kĩ năng liên môn, người dạy có các điều kiện tổ chức, hướng dẫn việc học tập

- Tránh gò ép, ôm đồm, dàn trải: Phải chấp nhận việc coi các kiến thức của các môn học

có liên quan chỉ đóng vai trò công cụ cho nội dung chính Nội dung và các hoạt động phải được cấu trúc sao cho đáp ứng mục tiêu phát triển các năng lực của người học

Giải pháp 2: Tìm hiểu chương trình, SGK các môn học khác -> Chọn các nội dung có

liên quan đến bộ môn Lịch Sử và bài học này

Như đã trình bày ở phần II, trong chương trình, SGK các môn học khác có rất nhiều nội dung kiến thức có thể tích hợp trong môn Lịch Sử - nhất là môn Văn, Địa Lí, GDCD, Âm Nhạc,Mĩ Thuật Do vậy việc tìm hiểu chương trình, SGK các môn học khác để chọn các nội dung có liên quan đến bộ môn Lịch Sử là việc làm cần thiết không những phục vụ cho việc giảng dạy Lịch Sử của GV mà còn giúp HS liên tưởng, củng cố các kiến thức của các môn học khác

Học sinh biết sử dụng kiến thức của các môn học như Địa lý ( để giới thiệu một số địa điểm trên lược đồ và đặc điểm của địa hình nước ta), Vật lí (để biết được quá trình

Trang 5

nấu chảy quặng để lọc ra kim loại…), Ngữ văn (để thấy được vai trũ của lỳa gạo đối với cuộc sống của con người, qua cỏc cõu chuyện, ca dao, tục ngữ….), Âm nhạc (khắc sõu hỡnh ảnh hạt gạo và sự lao động cần cự, vất vả của người lao động) vào nội dung bài học

Giải phỏp 3: Cỏc biện phỏp thực hiện khi tớch hợp kiến thức liờn mụn trong bài học

Khi tiến hành tớch hợp kiến thức liờn mụn vào bài học giỏo viờn cần thực hiện cỏc bước sau:

a Khỏi quỏt bố cục của bài học

Bài học được chia làm 3 phần

Phần 1: Tỡm hiểu thụng tin sự kiện

Phần 2: Nội dung bài học: Chia làm 4 nội dung nhỏ:

- Nội dung thứ nhất: Cụng cụ sản xuất được cải tiến

- Nội dung thứ hai: Thuật luyện kim ra đời

- Nội dung thứ ba: Nghề trồng lỳa nước ra đời ở đõu và trong điều kiện nào?

- Nội dung thứ tư: Vẽ sơ đồ tư duy

Phần 3: Bài tập

b Xỏc định cỏc mụn cú nội dung kiến thức tớch hợp trong từng phần của bài học nước Âu Lạc

* Tớch hợp mụn Địa lớ

Trước khi vào bài mới, giỏo viờn giới thiệu về thực trạng cảnh quan nước ta: Thời

xa xưa, nước ta là một vựng rừng nỳi rậm rạp với nhiều hang động, nhiều sụng suối, cú vựng ven biển dài: khớ hậu hai mựa núng – lạnh rừ rệt, thuận lợi cho cuộc sống của cỏ cõy, muụng thỳ và con người Trong quỏ trỡnh sinh sống con người từng bước di cư, mở rộng vựng cư trỳ và đõy là thời điểm hỡnh thành những chuyển biến lớn về kinh tế

Cựng với liờn mụn Địa lớ, giỏo viờn giới thiệu những địa điểm phỏt hiện những cụng cụ được cải tiến vào thời kỡ này như: Phựng Nguyờn (Phỳ Thọ), Lung Leng (Kon Tum), hay những nơi phỏt hiện kim loại đầu tiờn đú là: Hoa Lộc (Thanh Húa), Phựng Nguyờn (Phỳ Thọ) Đồng thời giỏo viờn cũng chỉ rừ cho học sinh thấy được ở Đồng bằng, ven cỏc con sụng lớn - nơi cú điều kiện đất đai màu mỡ, đủ nước tưới thuận lợi cho nghề nụng trồng lỳa phỏt triển Và GV cũng cho HS thấy được để mở rộng vựng cư trỳ thỡ con người cần phải làm gỡ? Đú chớnh là sự cải tiến về cụng cụ lao động

Cụng cụ lỳc đầu của người nguyờn thủy là những cụng cụ đỏ cũn thụ sơ, chưa cú hỡnh thự

rừ ràng, nhưng nhờ quỏ trỡnh lao động con người ngày càng cải tiến hơn nữa trong kĩ thuật chế tỏc cụng cụ: Tiến tới việc mài nhẵn, sắc ở phần lưỡi và cú hỡnh dỏng cõn xứng

GV cho HS quan sỏt một số cụng cụ: Rỡu đỏ Phựng Nguyờn, Hoa Lộc và Lung Leng và

so sỏnh với cỏc cụng cụ trước đú để thấy được sự tiến bộ trong việc chế tỏc cụng cụ của con người thời đú Và ở thời kỡ này đồ gốm cũng được phỏt triển thể hiện ở cỏch trang trớ

Trang 6

hoa văn với hình dáng cân xứng Ở nội dung này giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm và đưa ra nhận xét

Học sinh cũng chỉ ra được: Những công cụ được mài nhẵn, có hình dáng cân xứng, những mảnh gốm có in hoa văn độc đáo

-> Kỹ thuật chế tác công cụ lao động: đạt trình độ cao (mài nhẵn, hình dáng cân đối, sắc bén, dễ làm)

- Kĩ thuật làm gốm: đồ gốm ngày càng tiến bộ, hoa văn độc đáo Từ đó, GV cho HS biết được từ kĩ thuật làm gốm con người đã phát minh ra

thuật luyện kim

* Tích hợp môn Vật lí để giải thích

Để học sinh hiểu rõ điều này, giáo viên giới thiệu cho học sinh một quy trình làm

đồ gốm Từ việc tìm ra đất sét, nặn thành các hình và đồ dùng cần thiết sau đó xếp vào lò nung ở nhiệt độ cao để cho ra những sản phẩm theo ý muốn của con người

GVGT: Trong tự nhiên kim loại tồn tại dưới hình thức quặng, nghĩa là không có kim loại

nguyên chất, phải nấu chảy quặng mới lọc ra được kim loại, mà muốn nấu chảy quặng phải có độ nóng cao và điều này đã làm được khi người ta đốt lò nung đồ gốm Sau đó, muốn làm được những công cụ, đồ dùng theo ý mình người ta không thể ghè đẽo kim loại như ghè đẽo đá mà phải làm khuôn đúc bằng đất sét, sau đó nấu chảy kim loại rồi rót vào khuôn để tạo ra các kim lọai hay đồ dùng cần thiết (Nghề làm gốm đã giúp con người làm được các khuôn đúc đó.) Vì vậy, có thể nói, nghề làm gốm phát triển đã tạo điều kiện phát minh

ra thuật luyện kim GV cho HS thấy được ý nghĩa của việc phát minh ra thuật luyện kim: Thuật luyện kim đã mở ra một thời đại mới trong lĩnh vực chế tạo công cụ của loài người (công cụ bằng kim loại thay thế dần công cụ bằng đá) Làm thay đổi sức sản xuất Đây là một phát minh to lớn không chỉ đối với người thời đó mà đối với cả thời đại sau và xã hội ngày càng phát triển, máy móc cũng được phát triển cùng với sự phát triển của KHKT

Sau đó GV giới thiệu một phát minh tiếp theo của con người, đó là nghề nông trồng lúa nước Và cũng cho HS biết được đặc điểm môi trường và quá trình phát triển của cây lúa nước: được trồng chủ yếu ở vùng Đồng bằng, ven sông, ven biển, nơi có đất phù sa màu mỡ, đủ nước tưới cho cây trồng

HS cũng thấy được ý nghĩa to lớn của cây lúa: Lúa là cây lương thực chính của con người Từ đây con người có thể định cư lâu dài ở những vùng ven sông, ven biển

Trang 7

Ngày nay nhân dân ta phát huy truyền thống cần cù lao động, hăng hái tăng ra sản xuất, lúa không những đủ ăn mà con dư thừa để xuất khẩu Nước ta xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới sau Thái Lan

GVGT một số vựa lúa lớn của nước ta: Đồng bằng Sông Hồng, Đồng bằng Sông

Cửu Long, Thái Bình, Hưng Yên

* Tích hợp môn Ngữ văn

GVGT: Để nói tới tầm quan trọng của nghề nông trồng lúa và vai trò của hạt gạo, truyền thuyết bánh chưng, bánh giầy có đoạn viết:

“Trong trời đất, không gì quý bằng hạt gạo Chỉ có gạo mới nuôi sống con người và ăn không bao giờ chán Các thứ khác tuy ngon, nhưng hiếm, mà người không làm ra được Còn lúa gạo thì mình trồng lấy, trồng nhiều được nhiều Hãy lấy gạo làm bánh mà lễ Tiên Vương”

(Trích truyền thuyết Bánh Chưng – Bánh Giầy)

Từ xưa, người Việt ta đã làm ra hạt gạo và biết quý trọng hạt gạo, bời vì hạt gạo đã nuôi sống con người Qua đó, thấy được thái độ đề cao lao động, đề cao nghề nông và đồng thời cũng thể hiện sự tôn kính tổ tiên

* Tích hợp với môn Âm nhạc

Âm nhạc là một nguồn suối dồi dào làm giàu thêm đời sống tinh thần cho con người Chính vì vậy khi kết hợp dạy bài: Những chuyển biến trong đời sống kinh tế với

Âm nhạc, vừa giúp tiết học đỡ căng thẳng hơn, vừa khiến học sinh khắc ghi hình ảnh hạt gạo

GV đặt câu hỏi: Em nào thuộc bài thơ: “Hạt gạo làng ta” của nhà thơ Trần Đăng Khoa Nhiều em HS sẽ thuộc bài thơ này và một HS đọc cho cả lớp nghe

GVGT: Nhân dân ta vẫn phát huy truyền thống cần cù lao động, các bác nông dân không quản khó nhọc, một nắng hai sương để làm nên những hạt lúa vàng

Bài thơ: “Hạt gạo làng ta” của Trần Đăng Khoa đã nói lên điều đó

Giáo viên trích một đoạn trong bài thơ:

Hạt gạo làng ta

Có vị phù sa Của sông Kinh thầy

Trang 8

Có hương sen thơm Trong hồ nước đầy

Có lời mẹ hát Ngọt bùi đắng cay

Hạt gạo làng ta

Có bão tháng bảy

Có mưa tháng ba Giọt mồ hôi sa những trưa tháng sáu

Nước như ai nấu Chết cả cá cờ Cua ngoi lên bờ

Mẹ em xuống cấy

Sau đó, GV cho HS cả lớp nghe bài hát “Hạt gạo làng ta”( nhạc sĩ Trần Viết Bình phổ thơ Trần Đăng Khoa)

GV bật video bài hát: “Hạt gạo làng ta”, để các em nghe (HS cả lớp có thể hát theo) Khi nghe bài hát, các em sẽ cảm nhận sâu sắc hơn về sự lao động vất vả của người lao động làm nên những hạt lúa vàng

*GV tích hợp giáo dục kĩ năng sống

Kĩ năng sống là khả năng điều chỉnh và lựa chọn thái độ và hành vi đúng đắn, có khả năng điều chỉnh nhu cầu của bản thân một cách hợp lý và ứng phó trước những thách thức trong cuộc sống Ở đây giáo dục cho HS biết nhận xét, đánh giá sự biết ơn đối với người khác

Học sinh bày tỏ thái độ biết ơn, yêu quý những người lao động, quý trọng

hạt gạo: sử dụng tiết kiệm, nấu vừa ăn, không lãng phí

* Tích hợp môn Ngữ văn

GVGT: Hãy nâng niu hạt gạo như cha ông xưa đã làm, đã coi đó là vật quý báu nhất của muôn đời, rất linh thiêng và được trân trọng

Ca dao có nói: Ai ơi bưng bát cơm đầy

Trang 9

Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần

-> Đó là lời tâm tình và cũng là lời nhắn nhủ của người làm ra lúa gạo với

người dùng nó

IV Kết luận và kiến nghị

1 Kết luận

Dạy học liên môn là sự vận dụng những nội dung và phương pháp các lĩnh vực, các môn học có liên quan để nhằm tăng hiệu quả dạy học Lịch sử và làm sáng tỏ những kiến thức mà học sinh được học trong mỗi bộ môn Việc dạy học liên môn làm cho các em nhận thức sự phát triển của xã hội một cách liên tục, thống nhất, mối liên hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội, hiểu được tính toàn diện của xã hội Điều này khắc phục được tính tản mạn trong kiến thức của học sinh

Qua việc áp dụng phương pháp dạy học liên môn vào một chủ đề nhất định, tôi nhận thấy học sinh đã phát huy được tính tích cực, chủ động, hiểu bài và hứng thú hơn với bộ môn Lịch sử Nếu các giờ dạy học môn Lịch sử đều áp dụng được phương pháp liên môn, tôi tin rằng giờ học sẽ không còn khô khan và sẽ tạo được niềm yêu thích bộ môn đối với học trò

2 Kiến nghị

* Đối với nhà trường:

- Các phương tiện kĩ thuật hỗ trợ việc dạy học như máy chiếu, máy tính cần được sử dụng rộng rãi hơn nữa

- Cần trang bị các phòng học bộ môn để giáo viên được thường xuyên sử dụng ứng dụng trong dạy học

* Đối với phòng giáo dục

- Cần tăng cường các buổi chuyên đề, ngoại khóa để giáo viên có cơ hội học hỏi, rút kinh nghiệm

Nam Hải, ngày 27 tháng 9 năm 2022

Người viết

Vũ Thị Thu

Ngày đăng: 26/10/2022, 22:43

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w