1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích đặc điểm tiếng việt bài tập vận dụng

33 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích đặc điểm tiếng việt bài tập vận dụng
Trường học Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm TP.HCM
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Bài tập cuối kỳ
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 2,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng ta phải giữ gìn nó, quýtrọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng”, vì thế dù có hội nhập văn hóa của cácnước bạn thì dân tộc ta phải biết cách để bảo vệ ngôn ngữ mẹ đẻ, đó là Ti

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HCM

KHOA DU LỊCH VÀ ẨM THỰC

BÀI TẬP CUỐI KỲ TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH

PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM TIẾNG VIỆT,

BÀI TẬP VẬN DỤNG

TP HỒ CHÍ MINH, 21 THÁNG 12 NĂM 2021

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TIẾNG VIỆT 4

1.1 Một số vấn đề về tiếng Việt và chính tả tiếng Việt 4

1.2 Chữ viết tiếng Việt 4

1.2.1 Chữ khoa đẩu 4

1.2.2 Chữ Hán và chữ Nôm 5

1.2.3 Chữ Quốc ngữ 5

1.3 Từ tiếng Việt 6

1.3.1 Một số vấn đề chung về từ 6

1.3.2 Các nguyên nhân dùng sai từ và cách khắc phục 8

1.4 Dấu câu 10

1.4.1 Các loại dấu câu 10

1.4.2 Cách dùng dấu câu 10

CHƯƠNG 2 CÂU VÀ ĐOẠN VĂN 15

2.1 Câu và bài tập vận dụng 15

2.1.1 Câu xét theo cấu trúc 15

2.1.2 Bài tập phân tích ngữ pháp vận dụng 22

2.2 Liên kết câu 22

2.2.1 Liên kết hình thức 22

2.2.2 Liên kết nội dung 24

2.3 Đoạn văn 25

2.3.1 Viết đoạn văn có sử dụng các loại câu xét theo cấu trúc và liên kết câu với các chủ đề 28

2.3.2 Chỉ ra các loại câu xét theo cấu trúc 29

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 30

CHƯƠNG 3 KẾT LUẬN 31

3

Trang 3

3.1 Kết luận chung 31

3.2 Bài học vận dụng 31

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 31

TÀI LIỆU THAM KHẢO 32

4

Trang 4

MỞ ĐẦU

Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc gìn giữ văn hóa và phát triển của một đấtnước, theo lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh (Nam, 1962) từng nói: “Tiếng nói là thứ củacải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc Chúng ta phải giữ gìn nó, quýtrọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng”, vì thế dù có hội nhập văn hóa của cácnước bạn thì dân tộc ta phải biết cách để bảo vệ ngôn ngữ mẹ đẻ, đó là Tiếng Việt.Tiếng Việt còn đại diện cho truyền thống thể hiện nhiều ý nghĩa văn hóa truyền đời lâunăm trong con người Việt Nam

Hiện nay, quá trình hội nhập từ các nước phát triển vào Việt Nam đang diễn ra mạnh

mẽ, tác động không nhỏ đến việc sử dụng thêm một ngôn ngữ thứ hai như Tiếng Anh,Pháp, Đức Bên cạnh những phát triển tích cực, tồn tại các yếu tố gây mất đi sự trongsáng của Tiếng Việt Đặc biệt là sinh viên trong ngành học về ngôn ngữ như tiếng Anh,tiếng Trung, cụ thể là sinh viên khoa ngoại ngữ của trường Đại học Công Nghiệp ThựcPhẩm Thành Phố Hồ Chí Minh Do đó, môn học Tiếng Việt Thực Hành rất quan trongtrọng, giúp cho sinh viên sửa đổi các cách dùng từ, câu và ngữ nghĩa Tiếng Việt để cácbạn sinh viên dễ dàng ứng dụng trong các công việc tương lai như biên dịch hoặcphiên dịch

5

Trang 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TIẾNG VIỆT

1.1 Một số vấn đề về tiếng Việt và chính tả tiếng Việt

Ngôn ngữ tiếng Việt và một số tiếng khác ở châu Á thuộc loại hình ngôn ngữ đơn tiết

và không thay đổi hình thức thể hiện trong bất kì trường hợp sử dụng nào Nói đơn tiết

vì mỗi từ chỉ phát thành một âm tiết Với từ nhiều tiếng(2) thì có bao nhiêu tiếng phátthành bấy nhiêu âm Đặc trưng này dẫn đến hệ quả tất yếu là không tồn tại các hiệntượng phát âm lướt, phát âm gió, phát âm nối… khi sử dụng từ để diễn đạt Mặt khác,chữ viết tiếng Việt (và cả tiếng Hán) luôn có cùng một hình thức thể hiện trong mọitrường hợp diễn đạt Vì đơn giản là tiếng Việt sử dụng hệ thống từ thay thế cho cáchbiến đổi hình thức của bản thân từ Chẳng hạn, tiếng Việt dùng hệ thống từ riêng đã,đang, sẽ để biểu đạt thời quá khứ, hiện tại, tương lai; dùng hệ thống từ riêng nhiều, ít,mấy, vài… để biểu đạt số nhiều, số ít của danh từ Tóm lại Tiếng Việt thuộc loại hìnhngôn ngữ đơn tiết, không biến hình

1.2 Chữ viết tiếng Việt

1.2.1 Chữ khoa đẩu

Cũng có những đoán định rằng người Việt Nam thời cổ vốn đã có chữ viết gọi là kiểuchữ khoa đẩu – một dạng kí tự ngoằn ngoèo Chẳng hạn sách Tiền Hán thư của TrungQuốc chép:

Đời Đào Đường có họ Việt Thường ở phương nam cử sứ bộ sang biếu con rùa thần,sống có khi đã nghìn năm, trên lưng lại có khắc chữ như con nòng nọc ghi việc trời đất

mở mang Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Qui Dịch

Theo nhiều nhà nghiên cứu thì Việt Thường là tên cổ nước ta thời Văn Lang Theo đó,nếu căn cứ vào ghi chép này thì có thể đoán định trong quá trình bang giao giữa VănLang với các nước phương Bắc, chữ cổ đã xuất hiện làm phương tiện giao dịch (thôngthường, loại “kí tự” hay chữ khắc lên mai rùa hoặc xương thú thời bình minh lịch sửcòn được gọi là chữ giáp cốt) Tất nhiên không thể xem những ghi chép trên đây là cứliệu chắc chắn, tin cậy để cho rằng người Việt cố có chữ viết riêng Vì ngay danh xưngvua Nghiêu cũng chỉ là ông “vua” của huyền thoại chứ không hẳn có thật trong lịch sử.Tuy nhiên có căn cứ để khẳng định người Việt cổ có chữ viết riêng chính là nhữnghình vẽ ngoằn ngoèo trên trống đồng, hình vẽ có dạng kí tự trên những tảng đá ở Sapa

6

Trang 6

hay các văn bản cổ hiếm hoi sưu tầm được ở Sơn La Về chữ cổ trên đá Sapa, một nhàchuyên nghiên cứu chữ cổ là GS Lê Trọng Khánh cho biết:

Trên 200 bản khắc trên đá cổ Sa Pa (190 tảng còn lại, gần 20 tảng bị phá), tôi thấy chủyếu là chữ viết đồ họa thuộc tiền văn tự, duy nhất chỉ một tảng ở Tả Van là có chữ.Đây là loại hình chữ “khoa đẩu”, các ký tự này đồng nhất với các ký tự trên đồ đồngĐông Sơn và đặc biệt giống chữ khắc trên rìu đồng Bắc Ninh, đồng nhất với chữ viếtcủa người Thái đen Tây Bắc Điều đó cho phép ta giải mã và hiểu được những ký tựtrên đá cổ Sa Pa Căn cứ vào ý kiến này và những Hội thảo gần đây về chữ Việt cổcũng có cơ sở để tin rằng người Việt cổ vốn từng tồn tại chữ viết có khi còn trước cảchữ Hán của người Hán Vậy là cùng với những phương tiện kinh tế, xã hội khác, chữviết cũng là một phương tiện trao đổi trong bộ lạc và giao lưu với các bộ lạc kháctrong khối Bách Việt từ rất sớm trong lịch sử phát triển tộc người

1.2.2 Chữ Hán và chữ Nôm

Khi người Hán xâm lấn Đại Việt thì đồng thời với việc khai thác kinh tế họ cũng phổbiến chữ Hán để tiến hành giao dịch Từ đó trở đi, người Việt sử dụng chữ Hán thànhchữ viết thống nhất kéo dài mãi đến gần đây Tuy nhiên vào khoảng thế kỉ XI, ngườiViệt đã sáng tạo ra chữ Nôm trên cơ sở chữ Hán Nói khác, chữ Nôm là thứ chữ Việthóa chữ Hán Tình hình này cũng tương tự như người Nhật, người Triều Tiên mượnchữ Hán để tạo ra thứ chữ của riêng họ Nhưng tiếc thay chữ Nôm vì nhiều lí do khácnhau đã không được chính quyền phong kiến ủng hộ nên không phổ biến để trở thànhthứ chữ chính thống của đất nước Vào thế kỉ XVIII, chữ Nôm lại có bước phát triểnmới khi nhiều nhà thơ sử dụng để sáng tác Đáng kể nhất và cũng phát triển rực rỡ nhấtcủa chữ Nôm là những sáng tác của đại thi hào Nguyễn Du mà tiêu biểu là truyện thơĐoạn trường tân thanh (thường gọi tắt là Truyện Kiều) Nhưng ngay sau đó chữ Nômcũng lại nhanh chóng bị lu mờ nếu không nói là rơi vào quên lãng

1.2.3 Chữ Quốc ngữ

Khoảng thế kỉ XVI, các giáo sĩ người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha sang Việt Namtruyền giáo đã dùng chữ cái La Tinh ghi âm tiếng Việt nhằm mục đích làm cho việctruyền giáo thuận lợi hơn Sau đó ít lâu, giáo sĩ người Pháp là Alexandre de Rhodes đãtập hợp, biên khảo và bổ sung rất nhiều để in thành cuốn Dictionarium AnnamiticumLusitanum et Latinum (từ điển Việt-Bồ-La) vào năm 1651 Từ đó thứ chữ này đượcgọi là chữ Quốc ngữ Nhưng phải sau gần ba thế kỉ, chữ Quốc ngữ mới được sử dụng

7

Trang 7

một cách phổ biến Ban đầu chữ Quốc ngữ cũng còn tồn tại nhiều phụ âm lạ cùng cácphụ âm w, f và cách ghép âm khác ngày nay.

Cũng cần biết rằng chữ viết tiếng Việt là thứ chữ ghi âm, nói sao viết vậy nên không

có sự đồng nhất tuyệt đối và còn tồn tại một số bất hợp lí (cùng một tiếng, một con chữnhưng phát âm không giống nhau): gà/gì ; giặt gịa/giạ lúa Tuy vậy, chữ viết góp phầnphản ánh trình độ học vấn, văn hoá nên cần hướng đến chuẩn mực của quy địnhchung

1.3 Từ tiếng Việt

1.3.1 Một số vấn đề chung về từ

1.3.1.1 Phân biệt tiếng, từ

Việc phân biệt tiếng và từ cho đến nay vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau Do đó ởđây không đưa ra quan điểm phân biệt mà xem như một cách quy ước trình bày để đốitượng tiếp nhận (người đọc, người học) có cơ sở hiểu về từ một cách dễ dàng Các âmtiết đứng độc lập thì chúng không có nghĩa biểu vật hay biểu cảm gì Để dễ phân biệtnhững âm tiết như thế với các âm tiết khác, ở đây quy ước gọi là tiếng Như vậy tiếngđược hiểu như một khái niệm nhằm chỉ những âm tiết không có nghĩa từ vựng vànghĩa ngữ pháp (tức là không có nghĩa tự thân hay một biểu hiện nghĩa nào khác) Vìkhông mang nghĩa từ vựng nên tiếng phải kết hợp với tiếng hay từ khác để tạo thành

từ Theo đó, tiếng trong tiếng Việt có số lượng không nhiều bằng từ Còn từ được địnhnghĩa như sau

1.3.1.2 Định nghĩa

Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ độc lập về ý nghĩa và hình thức biểu hiện Địnhnghĩa này đã có từ lâu và được các nhà ngôn ngữ học thuộc các thế hệ khác nhau chấpnhận Ở đây cũng không giải thích gì thêm vì định nghĩa đã rõ ràng và dễ hiểu đối vớimọi người Nếu có gì cần lưu ý thì có thể hiểu cụm “độc lập về ý nghĩa” là từ có khảnăng đứng riêng nhưng cũng có thể kết hợp với từ khác để tạo thành từ mới Chẳnghạn trong ngữ cố định Anh em như thể tay chân, những từ anh, em, tay, chân vốn đãđộc lập về ý nghĩa nhưng khi kết hợp lại thì nghĩa riêng của mỗi từ (nghĩa vốn có haynghĩa tự thân) đã mờ đi rất nhiều để trở thành từ mang nghĩa khái quát hơn nhiều

8

Trang 8

1.3.1.3 Vai trò và phân loại từ

Xét về số lượng, từ có thể chỉ một âm tiết (nhà, núi, học, hoa…) và cũng có thể nhiều

âm tiết (suy nghĩ, hợp tác xã, phương pháp luận, chủ nghĩa xã hội…) Khi các từ kếthợp lại với nhau theo phương thức nhất định thì tạo thành một tổ hợp từ hay còn gọi làcụm từ hoặc ngữ Mỗi một cụm từ gồm từ trung tâm và các thực từ hay hư từ đi kèmlàm nhiệm vụ bổ sung nghĩa cho từ trung tâm

Ví dụ: Hoa Hoa hồng Năm chiếc hoa hồng

Dễ thấy rằng so với từ ban đầu (chỉ mọi loại hoa) thì cụm từ thứ hai đã cụ thể bước 1 (chỉ riêng hoa hồng) từ ban đầu và cụm từ thứ ba lại cụ thể hóa thêm một bước nữa (sốlượng cụ thể chứ không đề cập đến hoa hồng chung chung) Như vậy có thể kết luận khi mở rộng từ ban đầu thành cụm từ thì nghĩa của cụm từ cụ thể hơn rất nhiều từ ban đầu

Xét về mặt biểu thị ý nghĩa, kho từ tiếng Việt được chia ra thực từ và hư từ Có kẻ lấyviệc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích Có kẻ chăm lo vườn ruộng đểcung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ Có kẻ tính đườngsản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân Có kẻ thíchrượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gàtrống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lượcnhà binh Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con bận khôngích gì cho việc quân quốc Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuyhay không đuổi được quân thù Chén rượu ngon không làm giặc say chết; giọng hátréo rắt không làm giặc điếc tai Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta đều bị bắt, đau xót biếtchừng nào!

Đây là một đoạn trích trong bài Hịch tướng sĩ văn nổi tiếng của danh tướng Trần HưngĐạo Trong đoạn này, loạt từ để, mà, nếu, thì, của, tuy… không có nghĩa từ vựng nêngọi là hư từ Nhưng không có chúng bên cạnh những từ khác thì không thể hiểu đượcvăn bản hoặc câu không chứa những từ đó sẽ trở nên câu vô nghĩa, tối nghĩa Có hiệntương đó vì loạt từ này mang nghĩa ngữ pháp bổ sung nghĩa tình thái (mà, thì…),nghĩa điều kiện (nếu, hễ, giá, miễn…), nghĩa sở hữu (của, cho…) v.v làm cho sự diễnđạt trở nên chính xác, trong sáng và dễ hiểu

9

Trang 9

Tóm lại, thực từ là loạt từ có nghĩa từ vựng và chiếm số lượng cực lớn trong kho từkhông riêng trong tiếng Việt mà cả các ngôn ngữ khác cũng thế Còn hư từ chỉ mangnghĩa ngữ pháp bổ sung nghĩa cho từ hoặc câu có số lượng rất hạn chế trong mọi kho

từ nói chung Xét về mặt từ loại của thực từ, cũng tương tự như các ngôn ngữ Ấn Âu,

từ tiếng Việt được chia thành các loại danh từ, đại từ, số từ, động từ, tính từ… Mỗi loại

có chức năng khác nhau và khả năng đảm nhiệm vai trò nhất định trong câu tiếng Việt

Ví dụ: Lá thu rơi xào xạc (Lưu Trọng Lư) C - V Phân tích: Lá thu là cụm danh từ đảmnhiệm vai trò chủ ngữ (C), rơi xào xạc là cụm động từ làm vị ngữ (V) Trong cụmđộng từ có tính từ xào xạc bổ nghĩa cho động từ rơi, toàn bộ cụm động từ bổ nghĩa chocụm danh từ lá thu Một cách khái quát có thể thấy thông thường động từ có chức năng

bổ sung nghĩa cho danh từ, đại từ; tính từ bổ sung nghĩa cho động từ hoặc bổ sungnghĩa trực tiếp cho danh từ, đại từ Xem ví dụ sau Tính từ bổ nghĩa cho danh từ: Cănphòng đó rất rộng Tính từ bổ nghĩa cho đại từ xưng hô: Cô ấy khá đẹp

từ (cả trường hợp viết lẫn nói) có nguyên nhân từ thói quen phát âm, quan niệm Cóngười sai do tuổi tác, kinh nghiệm, học vấn… Xét trên bình diện ngôn ngữ, việc dùngsai từ thường từ hai nguyên nhân sau: thiếu vốn từ, không hiểu (hoặc hiểu mơ hồ) vềnghĩa của từ Hán Việt, không phân biệt được từ đa nghĩa, từ phái sinh

1.3.2.2 Cách khắc phục

Thiếu vốn từ:

Vì nhiều lí do khác nhau như hạn chế về tuổi tác, thói quen đọc, trình độ học vấn, tínhchất nghề nghiệp, cơ hội giao tiếp… mà có người tích lũy được khối lượng từ phongphú và ngược lại Biểu hiện của việc thiếu vốn từ trong giao tiếp là hiện tượng lúng

10

Trang 10

túng khi tìm từ hay khái niệm chính xác để diễn đạt một ý, một chủ đề nào đó Thậmchí không tìm ra được từ hay khái niệm chính xác mà phải thay bằng một từ, một kháiniệm có nghĩa gần gũi mà thôi Trong văn bản viết, hiện tượng này thể hiện càng cụthể hơn.

Từ tương lai khác với cụm từ ngày mai nhưng về nghĩa chúng có sự bao hàm lẫn nhau

Từ tương lai vốn có nghĩa khái quát hơn cụm từ ngày mai nhưng ai cũng hiểu rằngtương lai đã bao hàm ngày mai rồi Ngược lại, nói ngày mai cũng đồng thời biểu thịhàm ý tương lai

Không hiểu (hoặc hiểu mơ hồ) về từ Hán Việt:

Bất cứ ngôn ngữ của quốc gia, dân tộc nào cũng có hiện tượng vay mượn hay xâmnhập lẫn nhau để làm phong phú thêm kho từ vốn có Tiếng Việt cũng thế Trong mộtthời gian rất dài của lịch sử, tiếng Hán đã xâm nhập vào kho từ tiếng Việt đến hơn60% Có điều vốn từ này tuy có nguồn gốc Hán nhưng đã được Việt hóa từ lâu nênthường gọi ghép là từ Hán Việt Cũng cần lưu ý rằng trong số đó nghĩa gốc (nghĩatiếng Hán) của rất nhiều từ không còn nữa hoặc đã bị mờ đi rất nhiều(1) Để khắc phụcđược hiện tượng sử dụng từ không đúng do không hiểu hay hiểu mơ hồ từ Hán Việt,người sử dụng chỉ có cách là nắm vững một số đặc điểm và khả năng sử dụng củachúng trong những trường hợp khác nhau

Không phân biệt được từ đa nghĩa, từ phái sinh:

Bất cứ ngôn ngữ nào cũng có hiện tượng viết và phát âm giống nhau giữa các từ nhưngnghĩa của chúng lại hoàn toàn khác nhau Đó là loạt từ đa nghĩa (cũng tồn tại kháiniệm từ đồng âm, từ trùng âm) Hiện tượng này xảy ra khá nhiều trong tiếng Việt(không tính đến nhóm từ địa phương) Dễ dàng nêu ra hàng loạt hiện tượng này nhưthuốc (thuốc hút, thuốc trị bệnh), bò (thịt bò, kiến bò), khểnh (nằm khểnh, răngkhểnh), máy (máy tuốt lúa, máy mắt), bạc (tiền bạc, tóc bạc), đậu (chim đậu, đậu đen)

… Tức là viết và phát âm giống nhau nhưng chúng lại khác nhau về từ loại (kéo theonghĩa cũng khác nhau), về nghĩa biểu thị… Một thống kê chưa đầy đủ cho biết từ ăn

có mười hai nghĩa, từ mũi có tám nghĩa… Cũng cần lưu ý rằng tuy tồn tại hiện tượngnày nhưng người bản ngữ hiếm khi sử dụng sai Vấn đề đáng nói ở chỗ gần gũi vớihiện tượng này là hiện tượng nghĩa phái sinh của một từ

Ví dụ 1: Bác Dương thôi đã thôi rồi! Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta (NguyễnKhuyến)

11

Trang 11

Ví dụ 2: Bác đã đi rồi sao Bác ơi! Mùa thu đang đẹp nắng xanh trời (Tố Hữu)

Có lẽ bất cứ người Việt nào cũng hiểu từ thôi thứ hai trong ví dụ 1 và từ đi trong ví dụ

2 mang nghĩa biểu đạt khác hoàn toàn nghĩa vốn có của chúng Tương tự, Nguyễn Duviết Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang thì từ trăng trong câu thơ này cũng kháchoàn toàn từ trăng trong câu Vầng trăng ai sẻ làm đôi Nói khác, những trường hợpnày tác giả đã tạm thời cung cấp “nghĩa nghệ thuật” cho chúng nên chúng chỉ đượchiểu theo nghĩa mới này trong trường hợp cụ thể của văn cảnh đó mà thôi Khi táchchúng ra khỏi văn cảnh cụ thể thì chúng không còn mang giá trị nghệ thuật như đãbiểu thị Đây là hiện tượng từ tạm thời mang nghĩa phái sinh trong những trường hợpnhất định, cụ thể nào đó

1.4 Dấu câu

Bất kì ngôn ngữ nào khi viết cũng phải dùng dấu câu, khi nói phải ngừng nghỉ đúngchỗ Không thực hiện điều này, người nghe, người đọc sẽ khó lĩnh hội trọn vẹn, chínhxác nội dung văn bản Mặt khác, văn bản viết thường gồm nhiều đoạn Mỗi đoạn lạichứa nhiều ý Mỗi ý cũng có nhiều ý nhỏ, ý chi tiết Nếu không sử dụng dấu câu thìnội dung văn bản không mạch lạc, trong sáng, thậm chí người đọc không hiểu đượcnội dung Do đó, dấu câu là một công cụ ngữ pháp, một dấu hiệu hình thức trong vănbản viết để diễn đạt chính xác, rõ ràng nội dung thông báo

1.4.1 Các loại dấu câu

Có thể các ngôn ngữ khác có ít dấu câu nhưng phổ biến trong ngôn ngữ tiếng Việt làcác dấu chấm, phẩy, cảm, hỏi, hai chấm, ngoặc đơn, ngoặc kép, chấm phẩy, chấmlửng, gạch ngang Trong số đó, các dấu bắt buộc đặt ở cuối câu để phân ranh giới câugồm dấu chấm, dấu hỏi, dấu cảm, chấm lửng Các dấu còn lại đặt ở giữa câu để phânranh giới thành phần câu hoặc để đánh dấu thành phần (từ, cụm từ, câu, đoạn văn) đặcbiệt nào đó (dấu ngoặc đơn, ngoặc kép)

1.4.2 Cách dùng dấu câu

Thực tế cho thấy không phải ai cũng sử dụng thành thạo dấu câu trong văn bản viết.Không hiếm trường hợp viết một đoạn văn dài mấy mươi dòng mà không hề có dấuchấm câu nào Lại cũng rất nhiều trường hợp lúng túng sử dụng dấu câu nên lạm dụngtràn lan dấu chấm phẩy trong cả một văn bản hoặc một đoạn văn dài Sử dụng dấu câutrong văn bản viết là yêu cầu cần thiết có tính bắt buộc Nhưng không sử dụng làkhông thể chấp nhận hoặc sử dụng không đúng sẽ gây ra sự khó chịu cho người đọc

12

Trang 12

Sau đây sẽ trình bày ngắn gọn có tính liệt kê để người đọc dễ nhớ cách sử dụng dấucâu

1.4.2.1 Dấu chấm:

Dấu chấm là dấu thông dụng và bắt buộc trong bất kì ngôn ngữ nào để chấm dứt mộtý(1) Chức năng chính của dấu chấm là kết thúc câu tường thuật Vàng hay bạc tự nóchưa có nghĩa lí gì Cần phải có đôi tay vàng của người thợ nữa -Đặt ở cuối câu cầukhiến mà nghĩa đã giảm nhẹ Tức là yêu cầu và mức độ cầu khiến không trở thành bắtbuộc hoặc không gây ra sự sự chú ý đặc biệt nào Anh tắt hộ tôi cái đèn -Đặt ở cuốicâu nghi vấn hàm ý bác bỏ, phủ nhận Nội dung câu không phải hỏi để cần được trả lời

mà là sự phủ định một vấn đề nào đó Việc ấy có gì mà phức tạp -Với câu chứa nộidung là một điều hiển nhiên, dễ hiểu, dễ thừa nhận đối với mọi người có thể đặt dấuchấm thay cho dấu hỏi

Vd: Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?

Đâu những chiều mưa chuyển bốn phương ngàn,

Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?

Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,

Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng? (Thế Lữ)

Dấu hỏi trong ngoặc (?) đặt ở cạnh một từ hoặc cuối câu nhằm thể hiện sự hoài nghi, không tin tưởng của tác giả về chính nội dung mà từ hay câu biểu thị Cách dùng này thường gặp trong văn bản nghệ thuật và báo chí nhưng không sử dụng trong văn bản khoa học và hành chính

Trang 13

Dấu cảm trong ngoặc (!) đặt cạnh một từ hay cuối câu nhằm thể hiện sự phê phán, mỉa mai của tác giả về chính nội dung mà từ hay câu biểu thị Cách dùng này thường gặp trong văn bản nghệ thuật và báo chí nhưng không sử dụng trong văn bản khoa học và hành chính Ông ta hứa hẹn thế à (!) Nói thế thì cậu có thể dạy(!) học sinh được đấy

1.4.2.4 Dấu chấm lửng

Đặt ở giữa hoặc cuối câu để thể hiện điều chưa nói hoặc không cần thiết phải nói hay viết đầy đủ

Ví dụ: Ai về với quê hương ta tha thiết

Sông Hương, Bến Hải, Cửa Tùng (Tố Hữu)

Khi trích dẫn một đoạn văn dài, trường hợp có những câu trong đoạn không cần phải trích đầy đủ cũng sử dụng dấu chấm lửng thể hiện sự lược bỏ Trong văn bản viết, dấu chấm lửng còn được sử dụng để thay thế những từ hay kết cấu có nội dung tế nhị, nhạycảm hay dung tục

1.4.2.5 Dấu phẩy

Bắt buộc sử dụng để phân cách thành phần phụ (trạng ngữ, phần cần thiết nhấn mạnh)

có kết cấu phức hợp với nòng cốt câu

Ví dụ: Chỉ với câu thơ dầu tiên, Lý Bạch đã thể hiện được sự quan tâm và tình cảm đặc biệt dành cho Mạnh Hạo Nhiên

Sử dụng để phân cách các thành phần đồng đẳng hoặc các ý nhỏ khác nhau:

Ví dụ: Ai về với quê hương ta tha thiết

Sông Hương, Bến Hải, Cửa Tùng

Ví dụ: Người ta nói: “Lời nói là cơn mưa: mưa lần đầu là điều may mắn lớn, mưa lần thứ hai cũng tốt, mưa đến lần thứ ba còn chịu được, mưa tới lần thứ tư là một tai hoạ” (Raxun Gamjatop)

Ví dụ 2 (trích dẫn): Đương thời vị “thi thánh” Đỗ Phủ vẫn ca ngợi tài thơ của Lý Bạch hết lời: “Bạch dã, thi vô địch” (Lý Bạch là vô địch về thơ) Cần lưu ý sau dấu hai chấm

14

Trang 14

cần viết hoa chữ đầu tiên khi sang hàng nhưng không viết hoa khi phần liệt kê, chứng minh, trích dẫn là một cụm từ

1.4.2.7 Dấu chấm phẩy

Có thực tế nhiều người không quen hoặc không thích sử dụng dấu chấm phẩy trong mọi văn bản viết Ngược lại cũng không ít trường hợp viết một đoạn văn dài nhưng lúng túng trong việc sử dụng dấu câu nên dùng dấu chấm phẩy một cách tùy tiện So với dấu chấm và dấu phẩy, dấu chấm phẩy thường ít được sử dụng Nhưng dấu câu nàyrất cần thiết để phân cách các kết cấu đồng đẳng trong câu mở rộng Xem các ví dụ sau

Ông bà, cha mẹ, vợ con, cháu chắt; nhà cửa, xe cộ, tiền bạc anh ta đều có đủ Câu chữ dễ hiểu, dễ thuộc mà ý tưởng sâu xa; hình ảnh thân quen, gần gũi mà cảm xúcđộc đáo

1.4.1.8 Dấu ngoặc đơn:

Sử dụng trong trường hợp cần chú thích, giải thích ngay một từ, một ý đứng trước hoặc bị chú thêm quan điểm của tác giả về một vấn đề có liên quan đến nội dung đang

đề cập

Ví dụ: Tiếc rằng còn có chỗ khiếm khuyết như từ cuối trang 12 đến đầu trang 13 chỉ có

4 câu (hơn 60 tiếng) mà phải lặp lại bốn lần từ “ghi nhận”

Chú thích thêm tên tác giả, tác phẩm, không gian, thời gian có liên quan đến phần đứng trước

Ví dụ: Nguyễn Khuyến (1835-1909) là nhà thơ có ba bài thơ nôm vịnh mùa thu (Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm) thuộc loại hay nhất trong thơ Việt Nam trung đại

1.4.2.9 Dấu ngoặc kép:

Trích dẫn, thuật lại nguyên văn một từ, một ý kiến khác Sinh thời Bác từng căn dặn:

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do” Đó là một chân lí Sử dụng dấu câu như một công cụ hình thức làm thay đổi nghĩa gốc của từ nhằm thể hiện sự mỉa mai, châm biếm

Ví dụ: Vậy mà lúc nào cô ta cũng khoe khoang có “phẩm hạnh” cao đẹp

Trang 15

Sử dụng giữa các từ có chức năng liên kết, phối hợp

Ví dụ: Liên Bộ Tài Chính-Giáo dục

Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội

Khoa Toán-Tin

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Qua chương 1 chúng ta có thể thấy được chữ viết của Việt Nam ở thời cổ được biết là các nét chữ ngoằn ngoèo ( gọi là chữ Khoa đẩu) Nhưng đa phần các chữ viết của Việt Nam được công nhận là có nguồn gốc vay mượn từ tiếng Hán Từ sau khi nước ta bị người Hán đô hộ 1000 năm, dân ta sử dụng chữ Hán (chữ Nho) để viết, sau đó được biến tấu thành chữ Nôm Cuối cùng là ngày nay tiếng Việt dùng bảng chữ cái Latinh, gọi là chữ Quốc ngữ, viết kèm cùng các dấu thanh

Dựa vào các kiến thức của chương 1 về cấu tạo từ, câu và dấu câu giúp cho các bạn sinh viên học qua môn Tiếng việt thực hành biết được cách vận dụng ngôn ngữ một cách chính xác Đặc biệt là khi dùng dấu câu thích hợp, giúp người đọc dễ hiểu và hiểunhanh hơn ý nghĩa người viết muốn truyền đạt, tránh sự hiểu lầm không đáng có Ví

dụ như các bài luận văn của sinh viên sẽ trở nên rành mạch, câu văn hay hơn khi biết vận dụng kiến thức học ở chương 1

16

Trang 16

CHƯƠNG 2 CÂU VÀ ĐOẠN VĂN

2.1 Câu và bài tập vận dụng

Định nghĩa: Câu là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất trọn vẹn về nghĩa và hoàn chỉnh về thông báo đảm bảo thực hiện chức năng giao tiếp

Xét về dung lượng, câu có thể dài hoặc ngắn, nhiều từ hoặc chỉ có một từ

Ngôn ngữ còn vậy huống hồ là ngôn ngữ văn học Mà thẩm mĩ sẽ giúp chúng ta hiểu thêm ngôn ngữ văn học, hiểu thêm sự liên hệ máu thịt giữa những cái gì con người nhất, cuộc sống nhất với một tác phẩm.(Hoàng Trinh)

Xét về mặt cấu tạo, câu có thể đầy đủ hoặc không đầy đủ thành phần ngữ pháp Tức là câu có thể gồm thành phần phụ và thành phần chính với đầy đủ chủ ngữ, vị ngữ Nhưng cũng không hiếm những câu đặc biệt không xác định được chủ ngữ, vị ngữ và những câu tĩnh lược, rút gọn chỉ có một thành phần cú pháp nào đó

Thông thường mỗi câu diễn đạt một ý (một thông báo) trọn vẹn Nói khác, câu là hình thức thể hiện một ý hoàn chỉnh Tuỳ vào mục đích giao tiếp và cấu tạo, câu có hai loại

2.1.1 Câu xét theo cấu trúc

Câu xét theo cấu trúc gồm hai loại là câu đơn và câu ghép Mỗi loại lại chia thành nhiều tiểu loại khác nhau Sau đây sẽ đề cập đến từng loại và tiểu loại của chúng

2.1.1.1 Câu đơn

Câu đơn bình thường:

Câu đơn bình thường tuy có thể dài ngắn khác nhau nhưng đều chung đặc điểm là cả câu chỉ gói gọn trong một cụm chủ ngữ (C) và vị ngữ (V) Thông thường, kết cấu của câu đơn bình thường có chủ ngữ đứng trước vị ngữ

Ví dụ 1: Chim hót.

C - V

Ví dụ 2: Những chú chim vàng anh trong lồng này đang hót líu lo

C - VCâu đơn bình thường cũng có trường hợp vị ngữ đứng trước chủ ngữ, nhất là trong thơ

và văn xuôi nghệ thuật Hiện tượng này có thể coi là đảo ngữ và không phổ biến

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lát đát bên sông rợ mấy nhà

(Bà huyện Thanh Quan)

17

Ngày đăng: 26/10/2022, 17:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w