MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG I. TỔNG QUAN 2 1.1. Giới thiệu về cây chè 2 1.2. Thành phần hóa học của trà xanh 2 1.3. Các tác dụng dược lý của trà xanh 4 CHƯƠNG II. THỰC NGHIỆM 5 2.1. Đối tượng 5 2.2. Hóa chất và thiết bị 5 2.3. Phương pháp nghiên cứu 5 2.3.1. Phương pháp chiết xuất đun hồi lưu sử dụng cồn 5 2.3.2. Phương pháp phân tách catechin 5 2.3.3. Các phương pháp xác định cấu trúc 5 CHƯƠNG III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 7 3.1. Kết quả chiết xuất catechin tổng số 7 3.2. Phân lập và xác định cấu trúc các hợp chất catechin 8 3.3. Bán tổng hợp dẫn xuất ocetyl của các catechin chè xanh và đánh giá hoạt tính chống oxy hóa 12
Trang 1TIỂU LUẬN
MÔN CẤU TRÚC CÁC HỢP CHẤT HỮU CƠ
VÀ HOẠT TÍNH SINH HỌC
GIẢNG VIÊN: TS TRẦN HỒNG QUANG
HỌC VIÊN: ĐÀO THỊ MAI
LỚP: CHE2019B-1
Hà Nội - 2021
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN 2
1.1 Giới thiệu về cây chè 2
1.2 Thành phần hóa học của trà xanh 2
1.3 Các tác dụng dược lý của trà xanh 4
CHƯƠNG II THỰC NGHIỆM 5
2.1 Đối tượng 5
2.2 Hóa chất và thiết bị 5
2.3 Phương pháp nghiên cứu 5
2.3.1 Phương pháp chiết xuất đun hồi lưu sử dụng cồn 5
2.3.2 Phương pháp phân tách catechin 5
2.3.3 Các phương pháp xác định cấu trúc 5
CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 7
3.1 Kết quả chiết xuất catechin tổng số 7
3.2 Phân lập và xác định cấu trúc các hợp chất catechin 8
3.3 Bán tổng hợp dẫn xuất o-cetyl của các catechin chè xanh và đánh giá hoạt tính chống oxy hóa 12
KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 3MỞ ĐẦU
Chè được sử dụng như một loại đồ uống và phương thuốc trong y học phương đông từ hàng ngàn năm trước Công nguyên Tuy nhiên, việc đẩy mạnh các nghiên cứu cơ chế và tìm cách ứng dụng các hoạt chất phenolic trong chè xanh vào
y học hiện đại mới chỉ bắt đầu từ nửa sau thế kỷ 20 Cho đến nay, với hoạt tính chống ôxy hóa mạnh, các hợp chất catechin trong chè xanh (chiếm tới 30 % hàm lượng khô) đã được sử dụng trong mỹ phẩm và thực phẩm chức năng Trong Y học, các catechin đã được áp dụng trong điều trị nhiều loại bệnh tim mạch, viêm và ung thư Các hoạt chất này đặc biệt hiệu quả khi sử dụng phối hợp với các biệt dược xử lý các bệnh viêm, dị ứng, tim mạch như alzheimer, béo phì, tiểu đường không phụ thuộc Insulin, parkinson, HIV-1, ung thư da và một số loại ung thư khác
Năm 2006, Cục Quản lý Dược và Thực phẩm Hoa Kỳ đã công nhận cao chiết chè xanh, polyphenol chè xanh và các catechin là các loại Dược phẩm và thực phẩm chức năng được phép sử dụng tại Mỹ [1] Trong lá chè xanh, thành phần catechin chủ yếu Epigallocatechin gallat (EGCG, có hàm lượng > 50 % trong tổng catechin) cũng là chất có hoạt tính mạnh nhất Hiện nay các công ty Dược phẩm trên thế giới đã tách riêng EGCG, đăng ký và thương mại hóa thành một dược chất
có tác dụng như tác nhân đơn Tại thị trường Việt Nam, cũng đã xuất hiện nhiều sản phẩm mỹ phẩm, thực phẩm chức năng và dƣợc phẩm chứa polyphenol chè xanh và EGCG nguồn gốc nhập khẩu từ Trung Quốc (Nguồn: Cục Quản lý Dược
-Bộ Y tế 2008)
Trang 4CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu về cây chè
Trà là một trong những đồ uống phổ biến nhất được tiêu thụ trên toàn thế
giới Trà, từ cây Camellia sinensis , được tiêu thụ ở nhiều nơi khác nhau trên thế
giới dưới dạng trà xanh, đen hoặc trà Ô long Tuy nhiên, trong số tất cả những điều này, những tác động đáng kể nhất đối với sức khỏe con người đã được quan sát thấy khi uống trà xanh [2] Trà xanh đầu tiên được xuất khẩu từ Ấn Độ sang Nhật Bản vào thế kỷ 17 Người ta ước tính rằng khoảng 2,5 triệu tấn lá chè được sản xuất mỗi năm trên khắp thế giới, với 20% được sản xuất dưới dạng chè xanh, chủ yếu được tiêu thụ ở Châu Á, một số vùng của Bắc Phi, Hoa Kỳ và Châu Âu [3] Mối liên hệ giữa việc tiêu thụ chè, đặc biệt là chè xanh và sức khỏe con người từ lâu đã được đánh giá cao [4, 5] Trà xanh và trà đen được chế biến khác nhau trong quá trình sản xuất Để sản xuất trà xanh, lá tươi sau khi thu hoạch được hấp ngay lập tức để ngăn quá trình lên men, cho ra sản phẩm khô, ổn định Quá trình hấp này
sẽ phá hủy các enzym chịu trách nhiệm phá vỡ các sắc tố màu trong lá và cho phép trà giữ được màu xanh trong các quá trình cuốn và sấy tiếp theo Các quy trình này bảo tồn các polyphenol tự nhiên liên quan đến các đặc tính tăng cường sức khỏe Khi trà xanh được lên men thành Ô long và sau đó là trà đen, các hợp chất polyphenol (catechin) trong trà xanh được đime hóa để tạo thành nhiều loại theaflavins, do đó những loại trà này có thể có các hoạt tính sinh học khác nhau
Hình 1.1 Hình ảnh cây chè 1.2 Thành phần hóa học của trà xanh
Thành phần hóa học của trà xanh rất phức tạp: protein (15-20% trọng lượng khô), mà các enzym của chúng chiếm một phần quan trọng; axit amin (1-4% trọng
lượng khô) như theanine hoặc 5- N-ethylglutamine, axit glutamic, tryptophan,
glycine, serine, axit aspartic, tyrosine, valine, leucine, threonine, arginine và
Trang 5lysine; carbohydrate (5-7% trọng lượng khô) như cellulose, pectins, glucose, fructose và sucrose; khoáng chất và các nguyên tố vi lượng (5% trọng lượng khô) như canxi, magiê, crom, mangan, sắt, đồng, kẽm, molypden, selen, natri, phốt pho, coban, stronti, niken, kali, flo, và nhôm; và một lượng vi lượng của lipid (axit linoleic và α-linolenic), sterol (stigmasterol), vitamin (B, C, E), bazơ xanthic (caffein, theophylline), sắc tố (diệp lục, carotenoid) và các hợp chất dễ bay hơi (aldehyde, rượu , este, lacton, hiđrocacbon) Do tầm quan trọng to lớn của sự hiện diện của khoáng chất trong trà, nhiều nghiên cứu đã xác định hàm lượng của chúng trong lá trà [ 6] Lá tươi chứa trung bình 3-4% ancaloit được gọi là methylxanthines, chẳng hạn như caffein, theobromine và theophylline [7] Ngoài
ra, còn có các axit phenolic như axit gallic và axit amin đặc trưng như theanine [7]
Bảng 1.1 Thành phần (%) các hợp chất trong trà xanh [6]
Trà xanh có chứa polyphenol, bao gồm flavanol, flavandiols, flavonoid và axit phenolic; các hợp chất này có thể chiếm tới 30% khối lượng khô Hầu hết các polyphenol trong trà xanh (GTP) là flavonols, thường được gọi là catechin Các sản phẩm chiết xuất từ trà xanh chủ yếu là chiết xuất từ trà xanh ở dạng lỏng hoặc bột với tỷ lệ polyphenol khác nhau (45-90%) và hàm lượng caffein (0,4-10%) Các flavonoid chính của trà xanh là các catechin khác nhau, được tìm thấy với số lượng nhiều hơn trong trà xanh so với trà đen hoặc trà ô long [8] Có bốn loại catechin chủ yếu được tìm thấy trong trà xanh: epicatechin, epigallocatechin, epicatechin-3-gallate và EGCG [9] Các phương pháp chuẩn bị ảnh hưởng đến các catechin cả về mặt định lượng và chất lượng; lượng catechin cũng khác nhau trong lá chè ban đầu
do sự khác biệt về giống, nguồn gốc và điều kiện trồng trọt [10] Việc chuẩn bị trà xanh tươi không thể chiết xuất hoàn toàn catechin từ lá; do đó, nồng độ được tìm thấy khác với các giá trị tuyệt đối được xác định thông qua quá trình chiết xuất hoàn toàn của lá [11] Hơn nữa, catechin tương đối không ổn định và có thể được thay đổi về mặt định lượng và chất lượng trong khung thời gian của một thí
Trang 6nghiệm [12, 13] Do đó, không thể so sánh các liều uống trong các nghiên cứu trên động vật vì việc định lượng catechin trước khi dùng thường không được biết
1.3 Các tác dụng dược lý của trà xanh
Từ xa xưa (khoảng 2.700 năm trước đây), người dân phương Đông đã phát hiện cây trà và dùng chúng làm thuốc Sau thời gian dài nghiên cứu và ứng dụng người ta thấy rằng, dùng trà có những tác dụng như sau: tiêu viêm, kháng khuẩn, hưng phấn thần kinh, giảm xơ cứng động mạch, chống giảm bức xạ, chống ung thư, chống suy nhược, lợi tiểu, phòng ngừa sâu răng, giúp tiêu hóa, giảm đường, giảm huyết áp, giảm mỡ trong máu Trong một số tài liệu được các thầy thuốc y dược cổ truyền lưu trữ (Bản thảo cương mục Lý Thời Trân, đời Minh) cho rằng, hỏa là nguyên nhân hàng đầu gây ra hàng trăm thứ bệnh, uống trà sẽ giúp hạ hỏa Trong đó, Vĩnh Tây Thiền sư Nhật Bản cho rằng, trà là tiên dược của dưỡng sinh,
là diệu thuật của nâng cao tuổi thọ Thần nông bản thảo kinh của Tôn Hoàng Diễn, đời Thanh viết, trà có vị đắng, uống vào tỉnh táo, sáng suốt, ít ngủ, sáng mắt, nhẹ người,
Thực tế cho thấy, trà mang tác dụng ngăn ngừa sỏi thận, sỏi mật, cảm mạo, viêm khí quản, giải độc cho gan, giải rượu Trong trà còn có rất nhiều vitamin, vi lượng, chất khoáng cần thiết có thể phòng trị được nhiều chứng bệnh khác Tuy nhiên để có thể tận dụng được hết công năng của trà, bạn cần biết sử dụng chúng như thế nào là đúng
Trà mang lại tác dụng lớn đối với sức khỏe trong khi cách thực hiện vô cùng đơn giản, giúp tinh thần trở nên hưng phấn, giải trừ mệt nhọc, ngăn ngừa một số bệnh lý Tuy nhiên do tính chất gây hưng phấn nên có thể làm cho tim đập nhanh Theo đó những người suy nhược thần kinh, người có tiền sử tim đập nhanh, thần kinh, người tỳ vị hư nhược, phụ nữ có thai, người bệnh trĩ, táo bón, không nên sử dụng Để an toàn hơn với sức khỏe, bạn nên tham khảo ý kiến của các thầy thuốc YHCT hoặc những người có chuyên môn để sử dụng chúng hiệu quả
Trang 7CHƯƠNG II THỰC NGHIỆM 2.1 Đối tượng
Lá chè xanh - Camellia sinensis (L.) O.Kuntze được thu mua từ các hộ sản xuất kinh doanh chè tại huyện Đại Từ, Thái Nguyên, chè được thái nhỏ đem sấy ở nhiệt độ 110oC trong 15 phút để diệt men, sau đó sấy lại đồng nhất hóa đến độ ẩm trung bình 5 - 10 % sau đó xay mịn đến kích thước dưới rây 1,5 mm rồi đóng vào túi HDPE kín, hút chân không, bảo quản trong tối ở nhiệt độ < 25oC
2.2 Hóa chất và thiết bị
Methanol, ethanol, ethyl acetate, n-hexane, sodium sunfate khan, sunfuric acid đặc, pyridine, silica gel Merck 60 (15 - 40 µm), Sephadex LH 20, Diaion HP
20, v.v Hóa chất được dùng trong quá trình thực nghiệm là những hóa chất tinh khiết pA của các hãng Merck, Sigma Aldrich, và hóa chất kỹ thuật của Việt Nam, Trung Quốc và Singapore
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp chiết xuất đun hồi lưu sử dụng cồn
Đây là phương pháp chiết phân tích polyphenol chè xanh chung được áp dụng ở Trung Quốc và trên thế giới, phương pháp này được tóm tắt như sau: Chè vụn được nghiền nhỏ và chiết đun hồi lưu trên hệ thống chiết Soxhlet 20 lít với ethanol trong thời gian thích hợp Dịch chiết được làm nguội, lọc sạch và cô kiệt loại ethanol ở áp suất thấp thu cao chè Tiếp đó, cao chè được chiết phân bố loại tạp ít phân cực (defat) bằng n-hexane Phần dịch nước được chiết phân bố với ethyl acetate để thu nhận các Catechin Caffeine được tách loại khỏi Polyphenol tổng số bằng cách đun hồi lưu với chloroform trong thời gian thích hợp Bột cao chiết sau khi loại hết caffeine còn lại được gọi là Catechin tổng số
2.3.2 Phương pháp phân tách catechin
Các catechin và EGCG được nghiên cứu phân tách trên hệ thống sắc ký lỏng cao áp điều chế bán công nghiệp với hệ thống cột tách gồm cột Diaion HP 20 kết nối trực tuyến với cột Sephadex LH 20
2.3.3 Các phương pháp xác định cấu trúc
Sắc kí lớp mỏng (TLC)
Sắc ký lớp mỏng được thực hiện trên lớp mỏng Silica gel với các hệ dung môi Chloroform/Methanol/Axít citric 0,5 % - 3:2:0,2 (v/v);Chỉ thị bằng UV/Vis
360 nm; Thuốc hiện: Von’s (Ce/NH4/MoO4)
Sắc ký lỏng hiệu năng cao kết nối phổ khối lượng
Trang 8Các sản phẩm catechin phân lập từ chè xanh Việt Nam được phân tích định tính và định lượng bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao kết nối khối phổ (HPLC-MS) trên hệ thiết bị LC/MSD-Trap-SL Agilen 1100
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân
EGCG và các sản phẩm khác từ chè xanh là EC, EGC, Caffeine và các dẫn xuất đƣợc khẳng định cấu trúc bằng phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H và 13C NMR trên máy NMR Brucke AVAN 500 MHz
Trang 9CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Kết quả chiết xuất catechin tổng số
Tiến hành lấy 100kg chè vụn được nghiền nhỏ đến dưới rây 1,5 mm sau đó nạp vào thiết bị trộn, khuấy trộn với 500 lít nước có pha 50 gam citric acid thành khối nguyên liệu nhão Nguyên liệu này được nạp vào phễu nạp của máy chiết và tiến hành chiết với tốc độ nạp liệu ~ 125 kg/giờ
Dung môi chiết (dung dịch citric acid 0.05 ) được bơm bằng bơm định lượng vào đường nạp dung môi của máy chiết với tốc độ ~ 150 lít/giờ theo đường cấp dịch ngược chiều dịch chuyển nguyên liệu Tổng cộng sau 5 h hoàn thành việc chiết 600 kg bột chè nhão Bã chiết (độ ẩm từ 40 - 50 %) được vắt khô kiệt bằng máy vắt ly tâm 1400 vòng/phút rồi đem ép trên máy ép thủy lực với áp suất 75 kg/cm2 thành bánh có độ ẩm cuối cùng còn < 10 % Các dịch chiết, dịch lọc vắt và dịch ép được gộp lại tổng cộng ~ 1000 lít rồi bơm vào thiết bị phản ứng hồi lưu có khuấy và gia nhiệt Bổ sung chlohydric acid 1N đến pH ~ 2 - 3; gia nhiệt đến 85°C
và khuấy liên tục trong 4 giờ ở nhiệt độ này Sau khi phản ứng kết thúc, dịch chiết được làm nguội xuống nhiệt độ phòng, toàn bộ phần dịch chè và bã được lọc sạch bằng máy lọc ép thu lại dịch thủy phân
Dịch thủy phân được đưa vào hệ thống chiết phân bố tuần hoàn cùng với chloroform theo tỷ lệ 2 : 1 về thể tích (dịch chiết/chloroform) và tiến hành chiết -bơm khuấy trộn bằng -bơm ly tâm cao tốc (200 lít/phút) - trong 15 phút, để phân lớp tách thu riêng phần dịch nước và phần dịch chloroform Sau cùng, dịch nước được chiết lại 3 lần với ethyl acetate trên hệ thống chiết phân bố tuần hoàn Dịch chiết ethyl acetate được gộp lại, làm khan bằng Na2SO4 khan rồi cô cất chân không
để thu nhận “Catechin tổng số” và thu hồi ethyl acetate Phần dịch chloroform được cô kiệt ở 50°C, 350 mbar thu nhận cao diệp lục màu xanh đen tối chứa chủ yếu caffeine và chlorophyll
Đây là nguyên liệu thô để tách tinh chế caffeine và chlorophyll (sản phẩm phụ cho nghiên cứu tiếp theo) Quá trình thu nhận catechin tổng số từ dịch thủy phân được thể hiện như trên hình 3.1
Trang 10Hình 3.1 Sơ đồ quy trình thu nhận catechin tổng số từ dịch thủy phân
3.2 Phân lập và xác định cấu trúc các hợp chất catechin
Hình 3.2 Sơ đồ phân tách catechin chè xanh: EC; EGC; EGCG
Kết quả từ 25g Catechin tổng số đã thu được 8 phân đoạn trong đó các phân đoạn III, V, VI và VII chứa các catechin chủ yếu của chè xanh Các phân đoạn chứa EC, EGC và EGCG được loại kiệt dung môi ở nhiệt độ 55oC, áp suất 80 mbar; các chất này đã được tinh chế bằng cách kết tinh lại trong dung môi thích hợp
Trang 11Đánh giá phân đoạn III
Từ các kết quả phân tích dữ liệu phổ (bảng 3.1), kết hợp với phân tích phổ HSQC và HMBC, ta có thể dự đoán hợp chất trong phân đoạn III thuộc về nhóm chất flavan Kết hợp với so sánh các tài liệu tham khảo, có thể khẳng định, hợp chất này có cấu trúc hoàn toàn phù hợp với cấu trúc (2R,3R)-2-(3,4-dihydroxy-phenyl)chroman3,5,7-triol (EC)
Trang 12Hình 3.3 Cấu trúc hóa học của epi-catechin Bảng 3.1 Độ dịch chuyển hóa học của epi-Catechin
Trang 13Hình 3.4 Phổ 1H-NMR của epi-catechin
Hình 3.5 Phổ 13C-NMR của epi-catechin
Hình 3.6 Phổ DEPT của epi-catechin
Đánh giá phân đoạn V
Từ độ chuyển dịch hóa học của epi-Gallocatechin so sánh các dữ liệu phổ trên với hợp chất EC cho thấy có sự tương đồng, vì vậy có thể dự đoán hợp chất
Trang 14trong phân đoạn V cũng thuộc nhóm flavan Kết hợp với tư liệu phổ tham khảo, có thể khẳng định, hợp chất này có cấu trúc hoàn toàn phù hợp với cấu trúc (2R,3R)-2-(3,4- trihydroxy-phenyl)chroman-3,5,7-triol (EGC) Kết quả phân tích phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1D và 2D NMR cho thấy cấu trúc phù hợp với (2R,3R)-2-(3,4,5- trihydroxyphenyl)chroman-3,5,7-triol (EGC)
Hình 3.7 Cấu trúc hóa học của epi- Gallocatechin
Đánh giá phân đoạn VI, VII
Từ phân tích dữ liệu phổ cũng như so sánh với các phổ của hợp chất III, V
và tư liệu tham khảo, có thể khẳng định hợp chất trên có cấu trúc phù hợp với (2R,3R)-2-(3,4,5-trihydroxyphenyl)chroman-3,5,7-triol (EGCG)
Hình 3.8 Cấu trúc hóa học của epi- Gallocatechin gallate 3.3 Bán tổng hợp dẫn xuất o-cetyl của các catechin chè xanh và đánh giá hoạt tính chống oxy hóa
Hoạt tính dọn các gốc tự do của các catechin chè xanh cao hơn hẳn các chất chống ôxi hóa vitamin C, vitamin E, resveratrol… [14] Tuy nhiên các catechin này rất dễ bị phân hủy bởi nhiệt độ và ánh sáng, làm cho khả năng ứng dụng của chúng
bị giới hạn rất nhiều Những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng các dẫn xuất của