DANH SÁCH THU THẬP THÔNG TIN PHỤC VỤ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP TỈNH"Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị lịch sử - văn hóa của hệ thống đền thờ ở Thanh Hóa trong giai
Trang 1DANH SÁCH THU THẬP THÔNG TIN PHỤC VỤ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP TỈNH
"Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị lịch sử - văn hóa của hệ thống đền thờ ở Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay"
Thanh Hóa, 2016
Trang 2phát huy giá trị lịch sử - văn hóa của hệ thống đền thờ ở Thanh Hóa trong giai đoạnhiện nay";
Căn cứ Thuyết minh đề tài đã được duyệt
Các Nghiên cứu viên tài khoa học cấp tỉnh "Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn,phát huy giá trị lịch sử - văn hóa của hệ thống đền thờ ở Thanh Hóa trong giai đoạnhiện nay" đã tiến hành thu thập thông tin phục vụ thực hiện đề tài Kết quả như sau:
1 Thu thập tư liệu tại Sở Khoa học và Công nghệ Thanh Hóa, Thư viện tỉnh, Thư viện quốc gia, Phòng VH-TT các huyện, các trung tâm lưu trữ khác.
- Loại tư liệu: Báo cáo kết quả nghiên cứu các nhiệm vụ khoa học cấp tỉnh liênquan đến đề tài, Sách, tạp chí và các tư liệu khác
- Nội dung thu thập: kết quả nghiên cứu các nhiệm vụ khoa học cấp tỉnh liênquan đến đề tài, thông tin bổ sung về giá trị lịch sử - văn hóa của hệ thống đền thờ ởThanh Hóa
- Danh sách tư liệu thu thập được:
* Các đề tài khoa học cấp tỉnh: Tài liệu lưu trữ tại Sở Khoa học và Công nghệ
4 Lê Văn Trưởng (2009), Nghiên cứu xác định các loại hình, điểm, khu và tuyến
du lịch khu vực phía Tây đường Hồ Chí Minh tỉnh Thanh Hóa, Đề tài khoa
Trang 3thắng Thanh Hóa, 12 tập, Nxb Thanh Hóa, Thanh Hóa.
5 Ban Quản lý di tích và danh thắng Thanh Hóa (2009), Lễ hội xứ Thanh (tập 1), Nxb Thanh Hóa.
6 Ban quản lý di tích và danh thắng Thanh Hóa, Hồ sơ các di tích tỉnh Thanh Hóa
7 Trần Lâm Biền (1993), Hình tượng con người trong nghệ thuật tạo hình Việt,
Nhà xuất bản Mỹ thuật
8 Trần Lâm Biền (2000), Một con đường tiếp cận lịch sử, Nxb Văn hóa dân tộc,
Hà Nội
9 Trần Lâm Biền (2001), Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt,
Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc - Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật
10 Trần Lâm Biền (2005), Đồ thờ trong di tích của người Việt, Nxb Văn hóa
13 Các vị thần thờ ở xứ Thanh: Thanh Hóa chư thần lục, Nxb Văn học, 2008.
14 Charles Robequain (2012), Tỉnh Thanh Hóa, Nxb Thanh Hóa.
15 Nguyễn Du Chi (2000), Trên đường tìm về cái đẹp của cha ông, Viện Mỹ
thuật và Nxb Mỹ thuật, Hà Nội
16 Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, tập I, Nxb Giáo dục,
Hà Nội
17 Trần Huy Hùng Cường (2005), Đường đến các di sản thế giới Miền Trung,
Nxb Trẻ, Hà Nội
18 Quốc Chấn (2007), Những thắng tích của xứ Thanh, Nxb Thanh Hóa
19 Dauglas Hounsworth (2005): “Bảo tồn đa dạng văn hóa nhìn từ góc độ du lịch” (Tạp chí Du lịch Việt Nam số 11, tr 52 - 55).
20 Cao Xuân Dục (2010), Viêm Giao Trưng cổ ký (ghi chép sự tập di tích cổ nước
Nam), Nxb Tri Thức Thời đại
21 Dauglas Hounsworth (2005): “Bảo tồn đa dạng văn hóa nhìn từ góc độ du lịch” (Tạp chí Du lịch Việt Nam số 11, tr 52 - 55).
22 Nguyễn Đăng Duy, Trịnh Minh Đức (1993), Bảo tồn di tích lịch sử-văn hóa,
Nxb VHTT, Hà Nội
23 Thế Đạt (2005), Tài nguyên du lịch Việt Nam Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội
Trang 4hình tín ngưỡng, phong tục, lễ hội cổ truyền, Đề tài khoa học cấp tỉnh.
26 Mai Hồng Hải (2008), Vận dụng lý thuyết vùng văn hóa và phân vùng văn hóa nhằm quản lý, bảo tồn, phát huy sắc thái văn hóa tỉnh Thanh Hóa, đề tài khoa
-32 Léopold Cadière (2015), Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người
Việt, Nxb Thuận Hóa
33 Trần Thị Liên - Phạm Văn Đấu - Phạm Minh Trị (1988), Khảo sát văn hóa truyền thống Đông Sơn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
34 Trần Thị Liên - Phạm Văn Đấu - Phạm Minh Trị (2005), Khảo sát văn hóa truyền thống làng Cổ Bôn, Nxb Thanh Hóa
35 Trần Thị Liên (2010), Xứ Thanh - những sắc màu văn hóa, Nxb Thanh Hóa
36 Mike Robinson (1999), “Biện hộ cho du lịch văn hóa”, Ban biên tập dịch, Tạp chí Người đưa tin UNESCO, (19), tr 6 -7.
37 Phạm Trọng Nghĩa (2007), Nâng cao hiêu quả khai thác tính phí vật chất trong sản phẩm Du lịch, Tạp chí du lịch Việt Nam 11/2007.
38 Hoàng Anh Nhân (1996), Văn hóa làng và làng văn hóa xứ Thanh, Sở văn hóa
thông tin Thanh Hóa
39 Hoàng Anh Nhân, Lê Huy Trâm (2006), Lễ tục, lễ hội truyền thống xứ Thanh,
Nxb VHDT, Hà Nội
40 Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001), Luật di sản văn hóa Việt Nam.
41 Quốc hội nước cộng hoà XHCN Việt Nam (2006), Luật Du lịch Việt Nam
42 Quốc sử quán triều Nguyễn (1960), Đại Nam nhất thống chí - Tỉnh Thanh Hóa, tập Thượng, Nha Văn hóa, Bộ quốc gia giáo dục xuất bản.
43 Sở Văn hóa Thông tin Thanh Hóa (1990), Kỷ yếu hội thảo Văn hóa làng Thanh Hóa
Trang 5triển du lịch Thanh Hóa giai đoạn 2010 – 2020
46 Bùi Hoài Sơn (2009), Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt, Nxb Văn
hóa dân tộc
47 Quách Tấn (2004), Danh thắng miền Trung, Nxb Thanh niên, Hà Nội.
48 Lê Ngọc Tạo – Nguyễn Ngọc Khiếu, Di tích núi và đền Đồng Cổ, Nxb Thanh
Hóa, 2016
49 Lê Văn Tạo (2008), Một số đặc trưng của nghệ thuật chạm khắc đá truyền thống ở Thanh Hóa, NXB Thanh Hóa.
50 Lê Văn Tạo – Hà Đình Hùng Nghệ thuật kiến trúc, chạm khắc gỗ truyền thống
ở Thanh Hóa, NXB Thanh Hóa, năm 2008.
51 Lê Văn Tạo – Nguyễn Văn Hải (2008), Những bia ký điển hình ở Thanh Hóa,
Nxb Thanh Hóa
52 Thanh Hóa kỷ thắng, Tài liệu lưu trữ tại Thư viện tỉnh Thanh Hóa
53 Thanh Hóa quan phong, Tài liệu lưu trữ tại Thư viện tỉnh Thanh Hóa
54 Thanh Hoá tỉnh địa dư chí, Tài liệu lưu trữ tại Thư viện tỉnh Thanh Hóa
55 Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Huyên, Philippe Papin (2003), Đồng Khánh địa
dư chí, Tập II, Nxb Thế giới.
56 Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Huyên, Philippe Papin (2003), Đồng Khánh địa
dư chí, Tập III, Nxb Thế giới.
57 Nguyễn Thị Thúy (2009), Thành Tây Đô và vùng đất Vĩnh Lộc (Thanh Hóa)
từ cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XIX, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Đại học Sư
phạm Hà Nội
58 Trần Diễm Thúy (2010), Văn hóa du lịch, Nxb văn hóa thông tin.
59 Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Thanh Hóa (2001), Địa chí Thanh Hóa (lịch sử
65 Tổng cục Du lịch Việt Nam (2005), Non nước Việt Nam, Hà Nội.
66 Trịnh Quốc Tuấn (2010), Về quê Thanh (tiếp cận từ lịch sử - văn hóa xứ
Thanh), Nxb Thanh Hóa
Trang 6Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 3.
69 UBND tỉnh Thanh Hóa (2009), Thanh Hóa tiềm năng du lịch và hợp tác phát triển kinh tế – xã hội.
70 UBND tỉnh Thanh Hóa (2009), Thanh Hóa – thế và lực mới trong thế kỷ XXI.
71 UBND tỉnh Thanh Hóa (2013), Quyết định 2060/2013/QĐ-UBND ban hành quy định quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
1.2 Nhận xét về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.2.1.1 Các công trình nghiên cứu về đền thờ ở Việt Nam
Loại hình di tích đền thờ ở Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu tiếp cận ởnhiều phương diện khác nhau (sự hình thành và phát triển; những đặc điểm chung vềkiến trúc, điêu khắc; khái quát chung về các sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng và các hoạtđộng văn hóa khác tại đền thờ; giá trị lịch sử, văn hóa của những đền thờ nổi tiếng ở
Việt Nam) Có thể kể đến các công trình: Diễn biến kiến trúc truyền thống của người Việt, Đồ thờ trong di tích của người Việt của Trần Lâm Biền (Nxb Văn hóa Thông tin, 2002), Góp phần tìm hiểu bản sắc kiến trúc truyền thống Việt Nam của Nguyễn Đức Thiềm (Nxb Xây dựng, Hà Nội, 2000), Lý thuyết kiến trúc của Phùng Đức Tuấn,
Nguyễn Mạnh Thu (Nxb Xây dựng, Hà Nội, 2002)… Do đây là những công trìnhnghiên cứu mang tính chất công cụ, khái quát nên chỉ nhận diện một số hệ thống giá trị
và đặc điểm cơ bản của đền thờ ở Việt Nam chứ không đề cập đến đến hệ thống giá trị
và đặc trưng của đền thờ ở Thanh Hóa.Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của các côngtrình nêu trên là tài liệu tham khảo quan trọng, nhất là về phương pháp tiếp cận để vậndụng vào nghiên cứu hệ thống đền thờ ở Thanh Hóa
Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa Thăng Long – Hà Nội (Trần Lâm Biền
– Trịnh Sinh, Nxb Hà Nội, 2011) đã hệ thống hoá và đánh giá giá trị biểu tượng trongnghệ thuật tạo hình ở Hà Nội xưa, từ đó nhằm giải mã những giá trị trong di sản vănhóa của Thăng Long - Hà Nội Tuy đối tượng khảo sát là các di sản của Hà Nội xưanhưng các biểu tượng được phân tích lại mang tinh thần chung của tư duy thẩm mỹngười Việt, do đó, có thể coi công trình này là "công cụ" để nghiên cứu, giải mã nhiềubiểu tượng trong hệ thống đền thờ ở Thanh Hóa trên các phương diện: giá trị biểutượng trong kiến trúc; giá trị biểu tượng trong điêu khắc, tượng tròn, đồ thờ; giá trịbiểu tượng trong chạm khắc trang trí
Đồ thờ trong di tích của người Việt (Trần Lâm Biền, Nxb Văn hóa Thông tin,
2003) hướng đến nghiên cứu các hiện vật chính được bài trí dưới nhiều hình thức khácnhau, bằng nhiều chất liệu khác nhau ở di tích (chùa, đình, đền, quán, nhà thờ họ, lăng,mộ ) Tư liệu của công trình này chủ yếu thông qua kết quả của các cuộc điền dã thực
Trang 7Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về đền thờ ở Việt Nam khá phong phú,nhiều công trình mang tính chất khái quát, có thể coi là "công cụ" để tìm hiểu nhiềuvấn đề liên quan đến đền thờ ở Thanh Hóa
1.2.1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến hệ thống đền thờ ở Thanh Hóa
* Các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài
An Nam chí nguyên (hay An Nam chí kỉ lược) của Cao Hùng Trưng người Trung
Quốc sống vào cuối thế kỷ XVII biên soạn Là tác phẩm địa lý-lịch sử về Việt Nam,đứng trên lập trường quan điểm của kẻ thống trị Mặc dù có nhiều quan điểm còn tranhcãi nhưng về khách quan, cuốn sách đã giới thiệu hoàn cảnh địa lý, phân chia hànhchính, phong tục tập quán và đề cập đến một số nhân vật kiệt xuất của Việt Nam trong
đó có Thanh Hóa Ở mục tự quán đền miếu có nhắc đến một số đền thờ nổi tiếng ởThanh Hóa với mức độ khái quát
Đầu thế kỷ XX, người Pháp rất quan tâm đến nghiên cứu các vấn đề của thuộcđịa, trong đó có văn hóa và đã để lại một số công trình liên quan đến hệ thống đền thờThanh Hóa
H LeBreton trong cuốn Monuments et lieus histmtiques dans provinue de Thanh Hoa (Những đình chùa và những nơi lịch sử trong tỉnh Thanh Hóa, Xuân Lênh dịch từ
bản tiếng Pháp) viết ngày 21 tháng 2 năm 1920 đã ghi chép các di tích lịch sử nổitiếng, các đền chùa, bia đá ở tỉnh Thanh Hóa Trong một tác phẩm khác của mình,
cuốn Thanh Hóa đẹp tươi biên soạn bằng tiếng Pháp, xuất bản năm 1922, H LeBreton
đã lập ra các lộ trình tham quan du lịch ở Thanh Hóa cùng với các địa điểm nên thamquan ở mỗi phủ, huyện, trong đó có đề cập đến các đền thờ nổi tiếng: huyện CẩmThủy: đền Độc Cước; huyện Thạch Thành: đền Cá Thần, đền Phố Cát; phủ Hà Trung:đền Sòng Sơn, đền làng Thiện Tường, Ngọc Đài; phủ Quảng Hóa: đền thờ Trần KhátChân; huyện Hậu Lộc: đền thờ Lệ Hải Bà Vương; huyện Yên Định: đền Thanh -Nguyên; huyện Hoằng Hóa: đền thờ Lê Phụng Hiểu; huyện Nông Cống: đền các CôTiên; huyện Đông Sơn: đền Đế Thích, đền Thiều Thốn, đền thờ Mãn Quận Công Mặc
dù còn sơ lược, nhưng các công trình này chính là cơ sở tham khảo để xác định cácđền thờ có giá trị cao về mặt lịch sử, nghệ thuật ở Thanh Hóa trong suốt chiều dài lịch
sử
* Các công trình nghiên cứu của các học giả trong nước
Trước hết, các tác phẩm thuộc thể loại chí của các tác giả thời phong kiến như:
Dư địa chí (Nguyễn Trãi), Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú), Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễn), Đồng Khánh địa dư chí
Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú có thể coi là bộ bách toàn thư đầu tiên của Việt Nam Trong phần đầu tiên Dư địa chí nói về tình hình địa lý và lịch
sử của nước Việt Nam, làm rõ sự khác nhau về phong thổ của các đạo Tuy nhiên, về
Trang 8Hóa Trong đó cũng nêu số lượng điểm thờ vị thần được thờ phụng, ví dụ Miếu TôThái úy ở trong tỉnh có 57 xã, thôn dựng đền thờ; thần Tham Xung ở Biện Thượng,Cẩm Thủy có 54 nơi khác cùng thờ; Miếu Tứ vị Thánh Nương ở xã Y Bích, huyệnHậu Lộc có hơn 70 nơi khác cùng thờ Những thông tin đưa ra chỉ hết sức sơ lược,mang tính chất liệt kê.
Đại Nam nhất thống chí trong mục Miếu từ (đền miếu) đã đề cập đến gần 58 đền
miếu tiêu biểu ở Thanh Hóa Phần lớn đền miếu trong công trình này chỉ được liệt kêtên, địa điểm, niên đại, vị thần được thờ Một số ít được miêu tả sơ lược về kết cấukiến trúc, thần tích hoặc quá trình xây dựng Tuy nhiên các thông tin đưa ra nhìnchung còn sơ lược, các đền miếu được nhắc đến còn quá ít ỏi so với hệ thống đền thờphong phú và dày đặc ở xứ Thanh
Viêm Giao trưng cổ ký (Ghi chép sưu tập di tích cổ nước Nam) của Tổng tài
Quốc sử quán Cao Xuân Dục, hoàn thành năm 1900 tập hợp ghi chép về các di tích cổ
ở Kinh Đô và các tỉnh trong cả nước Di tích trong mỗi tỉnh được sắp xếp thống nhất
theo môn loại, thành các mục cổ tích, núi sông, lăng tẩm, đền miếu, chùa quán…Riêng
hệ thống đền miếu Xứ Thanh, sách đã kê lên đến trên 25 công trình, so với đền thờ ởcác tỉnh khác, dễ thấy tác giả đã rất xem trọng hệ thống đền thờ của xứ Thanh
Các tài liệu khác như Đại việt sử ký toàn thư, Khâm Định Đại Nam hội điển sự
lệ, Khâm định Việt sử thông giám cương mục biên soạn theo diễn trình lịch sử nước
ta hoặc cách thức tổ chức hoạt động của triều đình Tuy nhiên qua sự phong phú củacác loại hình sự kiện (chính trị, kinh tế, văn hóa) có thể nhận diện được các chỉ dẫn vềviệc xây dựng các đền thờ hoặc nhân vật được thờ phụng
Một số tài liệu tuy không trực tiếp nhắc đến hệ thống đền thờ ở Thanh Hóanhưng đã cung cấp cơ sở khoa học chung để tiếp cận các đặc điểm, giá trị của đền thờ
Thanh hóa như: Tác giả Trần Lâm Biền với Đồ thờ trong di tích của người Việt, Trang trí trong kiến trúc truyền thống của người Việt, Một con đường tiếp cận lịch sử, Biểu tượng trong di sản văn hóa Thăng Long – Hà Nội, Chu Quang Trứ với Kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam, Nghệ thuật chạm khắc cổ Việt Nam (qua các bản rập) Tài liệu về địa phương Thanh Hóa có thể kể đến Thanh Hóa tỉnh chí của Nhữ Bá
Sỹ, Thanh Hóa kỷ thắng của Vương Duy Trinh, Thanh Hóa chư thần lục Thanh Hóa tỉnh chí và Thanh Hóa quan phong là các bộ sách ghi chép, mô tả kỹ lưỡng và đầy
cảm xúc về những nét đẹp của quê hương Thanh hóa như thắng cảnh tự nhiên, phongtục tập quán, lịch sử và con người xứ Thanh Tuy nhiên chưa đề cập trực tiếp đến cácđền thờ ở Thanh Hóa
Cuốn Thanh Hóa chư thần lục công bố và năm Thành Thái thứ 15 (1903) Đây là
bộ sách tổng hợp các bản tấu trình do các quan của tỉnh Thanh Hóa và bộ Lễ vâng lệnhbiên soạn thần hiệu các vị dương thần (nam) và âm thần (nữ) mà nhiều nơi trong tỉnh
Trang 9thần, nhưng có những nơi thờ nhiều vị thần Có những vị thần được thờ thành tuyếndài Cuốn sách tuy tuy biên soạn các thần tích còn sơ lược song cũng là nguồn tài liệuquý, là những chỉ dẫn quan trọng khi nghiên cứu, tìm hiểu về hệ thống đền thờ ThanhHóa
Trong thời kỳ phong kiến còn có một hệ thống văn bia phong phú, trong đó cónhiều văn bia nói về việc triều đình trung ương, chính quyền địa phương hoặc nhândân trong các làng xã xây dựng các đền thờ thần Trong văn bia cũng đề cập đến quy
mô, cách thức xây dựng và giá trị tâm linh tín ngưỡng, giá trị nghệ thuật của đền,miếu Bên cạnh đó là hệ thống các sắc phong, thần phả, thần tích còn lưu giữ trong cácđền, miếu thờ hoặc gia đình các dòng họ liên quan đến những vị thần được thờ cúng.Các tài liệu này rải rác trong dân gian, nếu sưu tập đẩy đủ sẽ là nguồn tư liệu phongphú và quý giá khi nghiên cứu hệ thống đền thờ Thanh Hóa
Nhìn chung, các sử liệu thời phong kiến chưa phải là những công trình nghiêncứu trực tiếp về hệ thống đền thờ Thanh Hóa nhưng đã cung cấp những tư liệu quý giá
có liên quan đến nội dung đề tài
Sang thời hiện đại, nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử, văn hóa Thanh Hóa
đã được biên soạn Đề cập đến hệ thống đền thờ ở Thanh Hóa đáng chú ý có thể kểđến:
Cuốn Địa chí Thanh Hóa tập I - Địa lý và Lịch sử và Địa chí Thanh Hóa tập II – Văn hóa xã hội của Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa tổ
chức biên soạn, hệ thống địa chí các huyện, sách khảo sát văn hóa truyền thống các xã
đã cung cấp tư liệu về các vị thần được thờ ở Thanh Hóa, thống kê các đền thờ chính ởtừng địa phương và khái quát về thần tích, giá trị của một số đền thờ tiêu biểu Tuynhiên, trong khuôn khổ của thể loại chí đề cập đến nhiều nội dung nên vấn đề đền thờThanh Hóa hầu như mới chỉ dừng lại ở sự liệt kê và đưa ra thông tin tổng quan, chưa
đề cập sâu sắc đến các giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật của các đền thờ
Đáng lưu ý là công trình Lễ tục, lễ hội truyền thống xứ Thanh (2 tập) của các tác
giả Lê Huy Trâm, Hoàng Anh Nhân Mặc dù không đề cập trực tiếp đến hệ thống đềnthờ ở Thanh Hóa nhưng trong công trình này, các tác giả đã khảo cứu khá kỹ lưỡngphần đền, miếu liên quan đến các lễ hội Đồng thời thần tích, thần phả được đề cập kháchi tiết Đây là nguồn tư liệu quý được đúc kết từ sự khảo sát thực tế của các tác giả,tuy nhiên vẫn thiên về miêu tả mà chưa đề cập sâu sắc đến giá trị của các đền thờ
Bộ sách Di tích và Danh thắng tỉnh Thanh Hóa do Bảo tàng Tổng hợp tỉnh biên
soạn tập 1 - 2, Ban Quản lý Di tích và Danh thắng tỉnh Thanh Hóa biên soạn tập 3 –
12, đã tập hợp một số bài viết nghiên cứu về một số đền thờ tiêu biểu ở Thanh Hóa,nhiều bài viết khá sâu sắc và công phu Tuy nhiên, số lượng bài nghiên cứu chuyên sâucòn ít và phần lớn thiên về miêu tả tổng quan
Trang 10cứu liên quan đến đền thờ Thanh Hóa như: Nguyễn Văn Hảo, Lê Thị Vinh, Vũ NgọcKhánh, Hoàng Tuấn Phổ, Cao Sơn Hải, Phạm Văn Đấu, Trần Thị Liên, Đỗ Chung,Hoàng Khôi, Hoàng Minh Tường Các nội dung đề cập đến khá phong phú: tínngưỡng liên quan đến đền thờ, các nhân vật được thờ phụng, lễ tục, lễ hội ở đền thờ Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu của các tác giả này phần lớn đề cập đến các chủ
đề độc lập, chưa có sự khái quát và gắn kết với đặc điểm chung của hệ thống đền thờ
thờ của Thanh Hóa chưa được đề cập đến một cách trực tiếp và sâu sắc
Với mục tiêu nghiên cứu, đánh giá, xếp loại các di tích, Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch, Ban Quản lý di tích và Danh thắng, Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Thanh Hóa đã lập
hồ sơ 718 di tích được xếp hạng (3 di tích cấp quốc gia đặc biệt, trong đó có 1 di sảnvăn hóa thế giới, 141 di tích cấp quốc gia, 574 di tích cấp tỉnh) Trong hồ sơ di tích đãkhảo cứu khá kỹ lưỡng quy mô di tích cùng các hiện vật hiện còn Tuy nhiên đây làcác hồ sơ di tích riêng lẻ, phần nhận định về các giá trị độc đáo của di tích còn sơ lược.Nhìn chung, các công trình nghiên cứu liên quan đến hệ thống đền thờ ở ThanhHóa ở một phương diện nhất định mới dừng lại thống một số đền thờ tiêu biểu ở từngđịa phương và khái quát giá trị của chúng Đa số mới chỉ liệt kê, miêu tả, chưa phântích các giá trị độc đáo của đền thờ, việc miêu tả, phân tích sơ bộ cũng chỉ ở mức độ lẻ
tẻ, chưa có sự liên hệ, so sánh, gắn kết giữa các di tích để khái quát thành đặc trưngcủa hệ thống đền thờ Thanh Hóa
1.2.1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị của hệ thống đền thờ Thanh Hóa
Một số công trình nghiên cứu hiện nay đề cập đến vấn đề bảo tồn và phát huy giátrị của di sản văn hóa, làm cơ sở tham khảo cho việc bảo tồn và phát huy giá trị của hệthống đền thờ Thanh Hóa Có thể kể đến:
Thứ nhất, trong lĩnh vực bảo tồn di sản, các sách xuất bản thuộc lĩnh vực ngành
bảo tồn-bảo tàng như: “Sổ tay công tác bảo tàng” của Lâm Bình Tường, Đặng Văn Bài, Mai Khắc Ứng, Phạm Xanh năm 1980; “Sổ tay công tác bảo tồn” Lâm Bình Tường năm 1986; “Bảo tồn di tích lịch sử-văn hóa” của Nguyễn Đăng Duy, Trịnh Minh
Trang 11sản văn hóa Tuy không đề cập cụ thể về công tác bảo tồn di tích đền thờ xứ Thanh nhưngnhững công trình nghiên cứu này có thể được xem như là những tham khảo có giá trị khoahọc về mặt phương pháp và kỹ thuật
Thứ hai, trong lĩnh vực phát huy di sản văn hóa trong hoạt động du lịch:
GS Thế Đạt trong công trình Tài nguyên du lịch Việt Nam (Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 2005) đã giới thiệu các loại tài nguyên du lịch với bạn đọc, du kháchtrong nước và quốc tế Cuốn tài liệu được chia thành 6 chương, chương 1 bao quáttoàn bộ tình hình chung về tài nguyên du lịch của Việt Nam; các chương sau giới thiệutài nguyên du lịch theo địa hình (đồng bằng, núi - rừng, biển đảo, lễ hội ) Đây là mộtcông trình cho thấy rõ diện mạo và tính đặc trưng về tài nguyên du lịch Việt Nam theođịa hình, trong đó có các đền thờ nổi tiếng ở Thanh Hóa Tuy công trình không bàn sâuđến đền thờ ở Thanh Hóa, nhưng sự phân chia tiềm năng của các vùng cho phép cáccông trình nghiên cứu tiếp theo lựa chọn loại hình du lịch, sản phẩm du lịch phải mangtính đặc trưng của vùng, tạo ra nét khác biệt, hấp dẫn riêng
Sách Non nước Việt Nam (Tổng cục Du lịch Việt Nam, Hà Nội, 2005) Cuốn tài
liệu đánh giá Việt Nam là một đất nước giàu tiềm năng du lịch, Việt Nam có đủ điềukiện trở thành một quốc gia phát triển về du lịch Cuốn sách cung cấp hệ thống cácthông tin cơ bản về tiềm năng du lịch dưới dạng các loại sản phẩm đặc trưng của đấtnước đến mọi người dân cũng như bạn bè quốc tế thông qua việc giới thiệu đầy đủ cácsản phẩm du lịch của 64 tỉnh, thành trong cả nước, trong đó có một số đền thờ tiêubiểu ở Thanh Hóa
Cũng như cả nước, du lịch Thanh Hóa được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn,đến nay có thể kể đến những công trình nghiên cứu về phát triển du lịch ở Thanh Hóa
như sau: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Thanh Hóa giai đoạn 2010 - 2020; Báo cáo tổng hợp điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Thanh Hóa (giai đoạn đến năm 2020) do Sở Văn hóa – Thể thao & Du lịch Thanh Hóa phối hợp với Viện
Nghiên cứu Phát triển Du lịch Việt Nam phát hành; Một số bản Quy hoạch phát triểncác khu du lịch tiêu biểu ở Thanh Hóa như Quy hoạch phát triển du lịch ở khu HàmRồng, Lam Kinh, Thành Nhà Hồ, Suối cá thần Cẩm Lương Đây là những căn cứ trựctiếp đề đề xuất giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị của hệ thống đền thờ Thanh Hóa Ngoài ra, còn có một số sách chuyên khảo, đề tài nghiên cứu cấp tỉnh đã hoànthành có ý nghĩa tham khảo các quan điểm bảo tồn và phát huy giá trị hệ thống đền thờ
Trang 12miếu nhà Hậu Lê (TP Thanh Hóa), Đền thờ Lê Hoàn (Thọ Xuân), đền Đồng Cổ (YênĐịnh), đền Sòng Sơn (Bỉm Sơn), đền Phố Cát (Thạch Thành) và một số đền thờ khácnằm trong các khu du lịch Hàm Rồng, Sầm Sơn, Lam Kinh, Hồ Cửa Đạt, Lạch Bạng.Tuy nhiên, công trình này chỉ tập hợp những bài viết tản mạn, chưa nêu và đề xuấtđược các giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị một cách cụ thể.
Một số đề tài khoa học cấp tỉnh tuy không trực tiếp đề cập đến các đền thờ ởThanh Hóa nhưng đã đưa ra được các quan điểm bảo tồn và phát huy giá trị của các di
sản văn hóa ở Thanh Hóa như: Sưu tầm, nghiên cứu, đề xuất các giải pháp bảo tồn, khôi phục và phát huy văn hóa phi vật thể của người Mường Thanh Hóa (Ngô Hoài Chung), Nghiên cứu xác định các loại hình du lịch khu và tuyến du lịch khu vực phía Tây đường Hồ Chí Minh tỉnh Thanh Hóa (TS Lê Văn Trưởng), Nghiên cứu bảo tồn
và phát huy giá trị dân ca xứ Thanh phục vụ phát triển kinh tế xã hội tỉnh Thanh Hoá” (ThS Nguyễn Trung Liên), Nghiên cứu tiềm năng sản phẩm văn hóa – du lịch Thanh Hóa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hóa (TS Lê Văn Tạo)
Đáng chú ý là đề tài Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa tiêu biểu tỉnh Thanh Hóa trong thời kỳ hội nhập và phát triển (2013 – 2020) (TS Đỗ Trọng Hưng) đã nghiên
cứu 20 điểm di sản văn hóa vật thể và 20 điểm văn hóa phi vật thể tiêu biểu của ThanhHóa, khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp bảo tồn các di sản văn hóatiêu biểu của tỉnh Thanh Hóa trong thời kỳ hội nhập và phát triển Tuy nhiên, do giớihạn phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài nên các đền thờ Thanh Hóa chưa được đềcập đến một cách toàn diện, sâu sắc
1.2.2 Nhận xét về tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề tiếp tục nghiên cứu, giải quyết
Từ việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu liên quan đến đền thờ nói chung, đềnthờ ở Thanh Hóa nói riêng và vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị của hệ thống đền thờ ởThanh Hóa, chúng tôi có một số nhận xét sau đây:
Nhìn chung, Thanh Hóa là một tỉnh lớn, có lịch sử lâu đời, lại ít bị chia tách, có
vị thế rất đáng kể trong tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam Đã có không ít côngtrình nghiên cứu về Thanh Hóa, văn hóa và di sản của xứ Thanh, trong đó có đền thờ ởThanh Hóa Kết quả nghiên cứu cho thấy diện mạo phong phú của di sản văn hóaThanh Hóa và đời sống tâm linh tín ngưỡng của người Thanh Hóa trong lịch sử Đây
là những nguồn chỉ dẫn quan trọng để thực hiện luận án
Mặc dù vậy, nhận thức về giá trị của hệ thống đền thờ ở Thanh Hóa hiện nay mớichỉ là bước đầu, chưa đáp ứng được đòi hỏi tìm hiểu về một lĩnh vực rất quan trọngcủa di sản văn hóa xứ Thanh và có liên quan mật thiết đến yêu cầu xây dựng đời sốngvăn hóa, phát triển kinh tế - xã hội hiện nay Cho đến nay vẫn chưa có một công trìnhnào nghiên cứu một cách tổng thể, chuyên sâu về hệ thống đền thờ Thanh Hóa và
Trang 13- Số lượng: 240 hồ sơ Ngoài ra có tham khảo thêm thông tin ở các hồ sơ xếphạng đền thờ khác để bổ sung thông tin khi nghiên cứu (366 hồ sơ).
- Địa bàn: các huyện/thị xã/thành phố: Thành phố Thanh Hóa, Thị xã Sầm Sơn,Thị xã Bỉm Sơn, huyện Đông Sơn, huyện Hoằng Hóa, huyện Quảng Xương, huyện HàTrung, huyện Nga Sơn, huyện Hậu Lộc, huyện Triệu Sơn, huyện Thọ Xuân, huyệnVĩnh Lộc, huyện Yên Định, huyện Thiệu Hóa, huyện Tĩnh Gia, huyện Thạch Thành,huyện Nông Cống, huyện Như Thanh, huyện Cẩm Thủy, huyện Ngọc Lặc, huyện BáThước, huyện Thường Xuân
- Danh sách hồ sơ và thông tin cơ bản thu thập được:
1. Đền An
Dương
Vương
HuyệnQuảngXương
X
QuảngChâu
An DươngVương (NamHải thượngđẳng thần )Công chúa MỵChâu
Hiện nay còn lưu giữ được 16/31 đạosắc, trong đó đời Lê có 10 đạo (từ đời
Lê Chân Tông (1643-1649) cho đến LêHiển Tông (1740-1786) Đời nhàNguyễn có 5 đạo sắc (từ vua Tự Đức(1847-1883) đến vua Khải Định (1916-1925)
Xã Nga
An Áp Lãng chânnhân La Viện
Thánh mẫuLiễu Hạnh
Đền thờ cũ không còn Ngày nay di tích
đã được nhân dân công đức xây dựngmới
Hiện nay tại Phủ Trèo còn lưu giữ lại rấtnhiều hiện vật thờ có giá trị như đèn gỗ,mâm bồng, giá chuông, khay mịch,khám thờ, khám chỉ và một số hộp đựngđạo sắc Hiện vật gốc còn lại được lưugiữ ở nơi đây là pho tượng La Viện đặttrong khám thờ
3 Đền bà
Mai Thị
Triều
HuyệnTĩnhGia
Xã NinhHải Mai Thị Triềuvà họ Mai Được xây dựng vào khoảng thế kỷXVIII (năm 1663 – 1666) thời nhà Lê
Hướng Nam, có địa thế phong thủy đẹp.Đền thờ gồ 2 khu vực:
- Lăng mộ, tương truyền xưa là "thượngsàng hạ mộ"
- Đền thờ cách mộ 100m: là ngôi nhà cổ
3 gian nhưng đã bị hư hỏng nên đượctháo dỡ để tôn tạo lại Có tấm bia niênđại 1666 ca ngợi bà Mai Thị TriềuBia đá được chạm trổ tinh xảo, 1 số đồthờ
4 Đền Bà Huyện X Triệu Bà Triệu Đền được xây dựng vào thế kỷ 6, do vua
Trang 14Triệu Hậu
Lộc Lộc Lý Nam Đế lập để tưởng nhớ vị nữ anhhùng có lòng yêu nước Sau nhiều lần bị
hủy hoại bởi những biến cố trong lịch
sử, tới thời vua Minh Mạng thì đền được
di chuyển về vị trí hiện tại Cuối thế kỷ
18, đền bắt đầu có diện mạo như ngàynay Tuy nhiên, từ đó đến nay đềnkhông ngừng được tu sửa để đáp ứngnhu cầu thăm viếng ngày càng tăng củanhân dân trong và ngoài tỉnh
Lễ hội đền Bà Triệu được tổ chứcthường niên (từ ngày 21 tháng 02 đến
24 tháng 02 âm lịch) mang đậm nét vănhóa truyền thống gắn liền với nhữngtruyền thuyết lịch sử về Bà Triệu Tại lễhội sẽ diễn ra các hoạt động như: tế lễ,rước kiệu, tế nữ quan, lễ Mộc dục, tếPhụng Nghinh Bên cạnh đó, còn cócác tiết mục văn nghệ dân gian như: trò
"Ngô-Triệu giao quân", hát chầu văn, thiđấu vật, leo dây, thổi cơm thi, đánh cờtướng,
5 Đền Bà
Triệu HuyệnNông
Cống
XãTrungThành(làngYênDân)
Bà Triệu Sau khi Bà mất, nhân dân nơi đây đã lập
đền thờ để tưởng nhớ công ơn Bà Trảiqua năm tháng, đền Bà Triệu đã bịxuống cấp Năm 2013,đền được trùng tulại, xây thêm một số hạng mục mới
6 Đền Bạch
y công
chúa
HuyệnNhưThanh
Xã PhúNhuận
Thờ Bạch YCông chúa -một biến thểkhác của đạoMẫu
Đền thờ đã bị huỷ hoại trong những nămkháng chiến chống Pháp, nhưng căn cứvào các đạo sắc phong cho thần Bạch YCông chúa sớm nhất còn lưu giữ ở đền
là đời vua Thành Thái thứ 17 (ngày12/5/1905) cho biết, đền được dựng vàokhoảng cuối thế kỷ XIX
Xã ĐôngThanh
Đăng QuậnCông NguyễnKhải
Trước có khuôn viên rộng lớn, có thànhnội, thành ngoại, cung thượng, cung hạ,nhà nghỉ, sân chơi, gian thờ Đến nay đã
bị thu hẹp, chỉ còn nền móng và một sốchân tảng kê cột
Đền hiện nay quay hướng Nam Hiệnnay có ngôi chính tẩm 3 gian và hai giandọc kiến trúc kiểu chữ Đinh làm nơi thờ.Kiến trúc chắp vá, sửa chữa qua nhiều
Trang 15lần khác nhau.
Hiện còn một số đồ thờ cũ như: 2 tượng
đá, 2 bậc thềm rồng đá, 20 tảng đá cũ,bia đá cổ, sắc phong
XãQuảngTân
Quận công LêBùi Vị (1693-1774), danhthần thời LêTrịnh, có nhiềucông lao vớidân làng
Đền thờ Quận công Lê Bùi Vị được xâydựng năm 1777 Ngôi đền nhìn vềhướng Nam Quy mô cấu trúc ngôi đềntheo kiểu: “Tiền Nhất – Hậu Đinh”(phía trước theo kiểu chữ “Nhất” (- ),phía sau kiểu chữ “Đinh” (J ), gồm cóTiền đường (5 gian), Trung đường (3gian), Hậu cung (2 gian ) mái vòm cuốn.Ngoài ra, còn có Bái đường (sân),nghinh môn, chung quanh đền có nhiềucây cổ thụ Các vì kèo làm bằng gỗ lim,tường nhà xây bằng gạch và vữa ximăng, mái nhà lợp ngói mũi Bờ nóctrang trí “Lưỡng Long chầu nhật” (Rồngchầu mặt trời) Ngôi mộ theo kiểu
"thượng sàng hạ mộ" Thời Tây Sơn,đền bị đốt cháy trụi Thời Nguyễn xâydựng lại Khoảng năm 1963-1964 lại bịphá hủy, bị chiếm đất
Năm 1995, con cháu trong họ chuộc lạiđất, xây đền mới như ngày nay vềhướng Tây, bố cục theo kiểu chữ
“Đinh”, gồm tiền đường (3 gian) vàchính tẩm (2 gian) Trong đền bài trí banthờ Lê Bùi Vị, hai bên là ban thờ cácbậc tiên liệt Chi 2
Hiện có ngai thờ bằng đá được chạm trổtinh xảo, bát hương bằng đá,đại tự,câuđối, sắc phong, bia ký
Xã ThiệuLong Dương TamKha là con
của DươngĐình Nghệ, là
em (có sách nói
là anh) củaDương hậu, vợNgô Quyền
Tiểu sử củaông còn nhiềuchỗ chưa rõ
Đền thờ và lăng miếu vừa được tu sửanăm 2015
Di tích có quy mô vừa phải, còn lại mộtvài di vật và đồ thờ có giá trị Đền thờ
và lăng miếu vừa được tu sửa năm 2015gồm 2 khu chính là khu Lăng Mộ và
khu Đền thờ, khuôn viên trên 1.500m2,
mảnh đất vuông vắn nhìn ra đường trục,thuận về phong thuỷ được thiết kế theolối kiến trúc cổ kính, khang trang, bề thế
uy nghiêm, mang đậm phong cách ÁĐông Các hạng mục bao gồm: Mộ
Trang 16được xây bao hình bát giác; Đền thờchính; Nhà Tả vu và Hữu vu; Gác
bia; Cổng kiểu tam quan tứ trụ.
Thượng ThưQuận Công BùiKhắc Nhất,người có uy tínhọc vấn, làmquan 44 nămphục vụ vươngtriều Lê TrungHưng, là đềnthờ với tư cách
“sinh từ” vàđược nhân dântôn vinh làthành hoàngcủa làng
Đền thờ được xây dựng từ đầu thế kỷXVII sau khi ông mất Trải qua thăngtrầm lịch sử, đến nay di tích đã nhiềuhạng mục xuống cấp nghiêm trọng Hiện còn đền thờ và lăng mộ
Không có hiện vật cổ
11 Đền Bùi
Sỹ Lâm
HuyệnQuảngXương
X
QuảngTân
Thái tể Bũi SỹLâm (1551 –1643), có côngtrong cuộctrung hưng nhà
Lê thế kỷ XVII
Ban đầu là Phủ do vua Lê, chúa Trịnhcho phép lập khi ông còn sống Trải quanăm tháng chiến tranh, sự tàn phá củathiên nhiên, thăng trầm của lịch sử vàthời gian, đến năm 1961 phủ thờ chỉ cònlại là một khu đất trống, 01 tấm bia đá
có niên đại 1628 Năm 1994, con cháudòng họ xây dựng nhà bia Năm 1995,tôn tạo chính tẩm, xây tường rào, xin lạikhu đất Năm 1997, tôn tạo Tiền đường.Năm 1998, xây nghi môn
Di tích gồm mộ và đền Phủ thờ được
bố trí theo kiểu nội Công ngoại Quốc,hậu cung có đặt bài vị, tượng bằng gỗtheo chân dung Bùi Sỹ Lâm Phía ngoài
là Tiền đường có đôi hạc cao hơn đầungười chầu hai bên, có đôi ngựa gỗgiống như ngựa thật Sau đền có mộ.Tương truyền trước kia mộ kích thướcbình thường, nay càng ngày càng phình
g Xuân
Xã VạnXuân
Cầm Bá Thước– một trongnhững ngườilãnh đạo phong
Đền được xây dựng cuối thế kỷ XIX,đến nay kiến trúc xưa không còn
Đây là một cụm di tích gồm đền thờCầm Bá Thước và Phủ Mẫu
Trang 17Tướng quân
(1848-1896)
Là một võtướng có công
phong trào CầnVương chốngPháp
2008, di tích được trùng tu, tôn tạo xâydựng lại trên nền miếu xưa với diện tích
165 m2 Ngày nay, các hạng mục công trình cònlại là: nghinh môn, bình phong, sân, đềnthờ chính và nhà sắp lễ
Không có hiện vật cổ
14 Đền Cao
Lỗ
HuyệnHoằngHóa
X
HoằngGiang
Tướng quânCao Lỗ mộttướng giỏi của
An DươngVương là người
có công chế tác
ra nỏ thần
Đây là ngôi đền duy nhất thờ Tướngquân Cao Lỗ trên đất Thanh Hóa Chưaxác định được thời gian xây dựng đền.Qua thời gian đã bị phá hủy Theo thầnphả hiện đang lữu giữ tại đền cho biết,vào năm Trùng Hưng thứ nhất (1285),đời Trần Nhân Tông, thần được sắcphong là “Khai quốc công thần, dực bảotrung hưng, thượng thượng đẳng thần”.Hiện nay đền nằm trên một khu đấtbằng phẳng, mặt hướng ra sông Mã, bênkia là thành Tư Phố Quần thể kiến trúcgồm: cổng – sân – tiền đường – hậucung Kiến trúc được bố cục kiểu chữ
"Đinh" Phong cách kiến trúc, chạmkhắc thời Nguyễn
Trong đền còn nhiều di vật như ngaithờ, bài vị cổ, đạo sắc Đặc biệt một số
di vật hiếm còn giữ được giữ gìn trong
P NamNgạn ây là nơi thờcúng vị thành
hoàng của làng
là Quan đốchọc liệt hầuĐồng bìnhchương sự ChuVăn Lương -người có cônglập làng NamNgạn vào thế
Trước kia đình nằm ở khu đất sát đêSông Mã, đến đời vua Tự Đức (1847 -1883) đền được rời về vị trí ngày nay
Từ đó đến nay cũng đã được nhiều lầntrùng tu, tôn tạo, lần gần nhất là vàonăm 2009
1 tấm bia khoán lệ
Trang 18kỷ XIII, đồngthời cũng lă địađiểm hội họpcủa dđn lăngthuở xưa
XêHoằngYến
Nguyễn Hữu
(1731-1821) đượcphong lă bậcphấn lực Đạitướng quđn,hiệu lă Lệnh tưtrâng sĩ trậtbâch hộ Độitrưởng đội ưubinh, theothống lĩnh củaquan Đại tư đồđoăn quận công
vă Tân lý quanđoăn NguyễnThục…, đânhdẹp đạo Nghệ
An, chĩm đượcđầu giặc, bắtsống bọn giặc,thu hồi đượccửa khẩu xungyếu có nhiềucông tích
Chưa có tư liệu về thời gian xđy dựnghay trùng tu tôn tạo Theo sắc phong, cóthể đền được xđy dựng văo thế kỷ XIX
Di tích có quy mô vừa phải, còn lại mộtvăi di vật vă đồ thờ có giâ trị Đền đượccông nhận di tích cấp Tỉnh năm 1992
Xê NinhHải
Hiển ứng Mẫnđạt tôn thần
Theo sắc phongĐại vương lẵng Đoan
Ban đầu được xđy dựng trín một gò đất,sau do chiến tranh bị hư hỏng nhiều.Gần đđy được tôn tạo khôi phục nhờ sựđóng góp của nhđn dđn vă khâch thậpphương
18 Đền Đặng
Quang TXBỉm
Sơn
XêQuangTrung
Tướng quđnĐặng Quang Chưa có tư liệu về thời gian xđy dựnghay trùng tu tôn tạo Theo phong câch
những hiện vật còn lại, có thể đền đượcxđy dựng văo thế kỷ XIX Kiến trúc cũkhông còn do biến thiín của lịch sử văthiín tai Hiện nay đền được xđy dựnglại đơn giản, nhỏ bĩ Hiện vật đều donhđn dđn cung tiến
19 Đền danh
y Lương Huyện Ngự y LươngKhắc Gia Chưa có tư liệu về thời gian xđy dựnghay trùng tu tôn tạo Theo phong câch
Trang 19Khắc Gia Nông
Cống
(1880-1938) những hiện vật còn lại, có thể đền được
xây dựng vào thế kỷ XIX Kiến trúc cũkhông còn do biến thiên của lịch sử vàthiên tai Hiện nay đền được xây dựnglại đơn giản, quy mô nhỏ bé Hiện vậtđều do nhân dân cung tiến
20 Đền Đào
Duy Từ
HuyệnTĩnhGia
X
NguyênBình
Danh nhân vănhóa Đào Duy
(1572-1634)
Sau khi ông qua đời chúa Nguyễn chođưa thi hài về mai táng và lập đền thờtại đây Kiến trúc hiện nay được xâydựng vào năm Tự Đức 12 (1859), đã trảiqua nhiều lần trùng tu
Đền thờ có Tam quan cao khoảng 6m,hai mái lợp ngói âm dương, trên có bốnchữ lớn “Quốc công từ môn” (cổng đềnthờ Quốc công) ghép bằng mảnh sứ, haibên đắp phù điêu hình hai con dơi cáchđiệu, đường nét khá sắc sảo, bốn trụ góc
có hình rồng uốn lượn Qua Tam Quan
có sân nhỏ hình chữ nhật, kích thước6,9m x 7,8m Tiếp đến là bình phongđắp hình long mã lưng có hà đồ nổi trênmặt nước, mặt sau đề bốn chữ “Bách thếbất di” (Trăm đời không thay đổi) Ởhai bên là đôi câu đối nhắc đến lai lịchĐào Duy Từ
Cách đều bình phong 2,6m về hai bên
có hai cột trụ cao 4m, trên đỉnh đắptượng hạc đứng chầu đối xứng, phía sau
là sân lớn hình chữ nhật với kích thước15,4m x 14m Qua sân lớn đến nhà thờđược thiết kế kiểu nhà mái lá, một kiểukiến trúc truyền thống ở Bình Định.Khám thờ bên trong có bài vị của Đào
Tá Hán, Nguyễn Thị Minh (thân phụ vàthân Mẫu của Đào Duy Từ), Đào Duy
Từ và vợ Trên bài vị Đào Duy Từ códòng chữ “Ô Thủy tổ khảo nội tán lộckhê hầu Đào Công, tặng khai quốc côngthần, đặc tiến Vinh lộc đại phu, Đôngcác đại học sỹ, Thái sư, nhưng thủyTrung Lương, phong Hoàng Quốc Côngthần chủ” Bài vị của vợ Đào Duy Từviết “Ô Thủy tổ tỉ nội tán Lộc khê hầuHoàng Quốc Công phu nhân, Trinh thục
Trang 20cao thị thần chủ” Trong nhà thờ còn cóđôi câu đối nhưng nay đã sứt mòn, mờkhông đọc được.
21 Đền Đinh
Lễ
HuyệnThiệuHóa
X ThiệuHưng
Thờ nhân vậtlịch sử Đinh Lễ-công thần khaiquốc nhà Lê sơ
Đền có từ xa xưa nhưng kiến trúc cũkhông còn Năm 2010, bà con dòng họ
tu sửa lại đền thờ
Đền thờ Đinh Lễ là di tích liên quan đếndòng họ Lê Văn, ở Thị trấn Vạn Hà,huyện Thiệu Hóa Đền thờ chỉ gồm 3gian, xây gạch, quy mô khiêm tốn.Trong đền gian giữa có nhang án, ngaithờ và tượng Đinh Lễ cùng các đồ thờ
XãQuảngĐại
Đông Hải Đạivương NguyễnPhục
Đền thờ Nguyễn Phục được xây dựngvào khoảng đầu thế kỷ XVI Trải quanhững biến cố thăng trầm của lịch sử,đền thờ Đông Hải Đại vương bị xuốngcấp nghiêm trọng Một số đồ thờ cũng
bị hư hỏng và mất mát Đến năm 1982,ngôi đền thờ được trùng tu tôn tạo bằng
sự đóng góp tự nguyện của nhân dântrong vùng và kinh phí ngân sách địaphương Cuối năm 2008, đền lại đượcnhà nước hỗ trợ kinh phí để tu sửa, nângcấp khu nhà Hậu cung
X
HoằngTiến
Tô Hiến Thành(Tô Đại Liêutôn thần) – Mộtbậc đại thầndưới triều Lý(thế kỷ XII) cótài trị nước,quan tâm đếnphát triển vănhóa, Nho học
Ngôi đền hiện nay được xây dựng cuốithế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
Quần thể kiến trúc gồm Tiền đường, báiđường, ống muống và hậu cung liên kếtvới nhau trong một bố cục mặt bằngkiểu chữ công (I) Bên phải có mộtgiếng nước, bên trái là nhà Mẫu mớiđược xây dựng gần đây Nhìn chung,kiến trúc đền có nhiều nét cầu kỳ, lộnglẫy, có các mảng chạm khắc ở các vìkèo đa dạng, phong phú
Nhiều đồ thờ có giá trị, hiện còn hơn 70hiện vật cổ
24 Đền Đức
thánh Đờn HuyệnHoằng
Hóa
XãHoằngThịnh
Tướng quânNguyễn CôngĐàn, có côngtrong cuộckháng chiếnchống Nguyên
Di tích có quy mô vừa phải, còn lại mộtvài di vật và đồ thờ có giá trị
Trang 21PhườngLam Sơn Trần Hưng ĐạoPhạm Ngũ Lão Nghinh môn mới tôn tạo.Đền thờ là tòa nhà 4 gian theo lối tường
hồi bít đốc Dấu vết kiến trúc phía Tâycho biết tòa nhà này trước kia còn mộtgian nữa đến nay đã mất Đây là mộtphần kiến trúc đầu thế kỷ XX còn khánguyên ven Các hiện vật được bảo quảntương đối tốt gồm: 01 sắc phong niênhiệu Cảnh Hưng, chuông đồng, lưhương đồng, hạc đồng, bát bửu đồng, 2đôn gốm thời Nguyễn, bình gốm Thanh,
11 nậm rượu thời Nguyễn, 01 chóe gốmthế kỷ XIX, bát bửu gỗ
X ThiệuDương
Dương ĐìnhNghệ, thủy tổdòng họ Dương
ở đất Dương
Xá, có công lớntrong việc củng
cố nền độc lậpđất nước thế kỷX
Đền được xây dựng từ thế kỷ X, ngaysau khi Dương Đình Nghệ mất Thế kỷXVII, niên hiệu Vĩnh Trị được trùng tulại
Đền thờ Dương Đình Nghệ được xâydựng theo kiểu “Thượng sàng – hạ mộ”,với quy mô khá to lớn
Còn 5 tấm bia đá (1 tấm niên hiệu VĩnhTrị, 2 tấn niên hiệu Tự Đức, 2 tấm niênhiệu Thành Thái) Trong đền còn nhiềuhiện vật có giá trị nghệ thuật cao: phỗng
Xã ĐôngThanh Lê Khả TrùLê Khả Trinh
và các nhân vậtdòng họ LêKhả
Đền thờ được xây dựng vào thế kỷXVIII, các cấu kiện kiến trúc hiện cònmang phong cách thời Nguyễn Đềnđược cấu trúc theo kiểu chữ Nhất Kếtcấu kiến trúc các gian thờ được làm theokiểu đăng đối Phía trước có bẩy hiên,bên trong trốn cột cái phía sau, hai vìhồi trốn 2 cột quân Hệ thống rui, mèđược làm bằng gỗ lim, mái lợp ngóivẩy Các con rường được chạm trổ tinhxảo, các bức xuân hoa trước, sau chạmtrổ hoa lá và chim thú, đường nét uyểnchuyển
Đền thờ hiện còn bức Đại tự "Tiến sĩđường"; câu đối, 4 con nghê gỗ chạmtrổ cầu kỳ; 3 tấm bia đá cỡ lớn; 2 đạosắc phong
28 Đền Huyện X Quận công Được xây dựng vào những năm 1724 –
Trang 22Hoàng Bùi
Hoàn QuảngXương QuảngTrạch Hoàng BùiHoàn (1664-?),
có công trongviệc củng cốnội bộ triềuđình Lê-Trịnh,chăm lo sảnxuất của nhândân
1726 đời vua Lê Dụ Tông
Đền bố cục hình chữ Đinh gồm Tiềnđường 3 gian, Chính tẩm 2 gian, phíatrước có sân rộng, phía ngoài là bia đá,hai bên trục thần đạo có các tượng voi,ngựa, chó đá Di tích là nghệ thuật kếthợp hoàn hảo giữa đá và gỗ, đây là mộtcông trình kiến trúc thực sự có giá trị, đãđược trùng tu
Mộ đá cách đền thờ khoảng 300m cókích thước lớn
Bia đá, voi đá, ngựa đá, chó đá, sập đá,hương án đá, một số đồ thờ
29 Đền
Hoàng
Đình Ái
HuyệnVĩnhLộc
X VĩnhHùng Hoàng ĐìnhÁi, có công với
triều Lê Trịnh,chăm lo sản
nghiệp, chiêutập dân lưu tán,khuyến khíchcày cấy
Được xây dựng ngay sau khi ông mất.Trong chiến tranh bị phá hủy 1872được xây dựng lại 1880 được tu sửa vàdựng hai tấm bia đá
Hiện nay đền gồm 3 gian tiền đường, 2gian hậu cung
Tổ chức tế lễ vào ngày kỵ của thần
30 Đền
Hoàng
Đức Toàn
HuyệnHàTrung
Xã HàLai Thờ Đức thượng thần Đô
Thái Giám Đại Vương Hoàng Đức Toàn, là người có công đánh giặc chiếm thành ải vùng sông Kinh Bắc năm
1537, được nhàVua tin dùng phong cho ông Chấn Bắc Đại tướng quân, thưởng nhiều của cải và cử đituần thú, mở mang bờ cõi phủ dụ yên dân được nhân dân kính trọng,
Khi ông mất nhân dân tưởng nhớ cônglao to lớn của ông và xây dựng ngôiđền thờ gồm: nhà tiền đường, nhà trù,tường rào và các công trình phụ trợkhác
2013: Đền được trùng tu toàn bộĐền còn lưu giữ những hiện vật cổ như:hương án, đạo sắc phong , câu đối…
Trang 23X TânNinh
Lê Bật Tứ,người Cổ Định,
đỗ Nhị giápTiến sĩ khoaMậu Tuất năm
1598 và cáctiền nhân họHứa sau đổithày Lê Duy,sau nữa đổithành Lê Bật
Đền có từ xưa, chưa rõ thời gian xâydựng Qua thời gian và biến thiên lịch
sử đến nay không còn nguyên vẹn.Chính điện là ngôi nhà gỗ 3 gian, kiếntrúc theo kiểu chồng rường kẻ bẩy Ngôitiền đường 5 gian, do biến thiên lịch sử
đã bị tháo dỡ, hiện tại còn lại nền móng.Còn tấm bia cổ "Lê tướng công bi", nộidung đã bị mờ nhiều chỗ, ghi công đứccủa Lê Bật Tứ và quá trình xây dựng, tusửa đền thờ Ngoài ra còn một số đồ thờkhác
XãQuảngVinh
Hoàng Hiển,
Hoàng Minh
Tự Đại vươngthượng đẳng tốilinh thần – Mộtdanh tướng thờiTrần
Được xây dựng từ thời Trần Xưa kia,đền Hoàng Minh có quy mô bề thế, mặtbằng kiến trúc hình chữ Tam, gồm Tiềnđường, Trung đường và Hậu cung, xungquanh có tường bao Trải qua thời gian,nhà Hậu cung bị sạt lở, Trung đường vàTiền đường bị phá hủy Hiện tại, Đền đãđược nhân dân và chính quyền địaphương tôn tạo lại
Tương truyền, đền là nơi đặt mộ củathần Hiện vật cổ gồm có: 1 long ngai, 1thánh vị, 1 bát hương sứ, 1 đôi đèn, 1 đếnến, đại tự, hòm sắc 4 sắc phong
1 long ngai, 1 thánh vị, 1 bát hương sứ,
1 đôi đèn, 1 đôi cây nến, 1 đại tự, 1 hòmsắc, 4 sắc phong
P
TrườngSơn
người là ngườiTrung Quốclánh sang ViệtNam, thời trần
có công đốc
lương, đượcvua Trần phongtrước “MinhTự” Khi ôngmất triều đìnhsai dân lập đền
Đền Hoàng Minh Tự được xây dựngcách nay đã hơn 700 năm – Là nơi thờchính (Làng núi chính là phườngTrường Sơn, hiện nay) Lần trùng tu gầnđây nhất là vào năm Bảo Đại thứ ba(1928)
Kiến trúc ngôi đền khá đơn giản, kiểuchuôi vồ hay còn gọi là kiểu chữ Đinh.Trong đền hiện vật cũ không còn nhiều,chỉ còn 1 số hiện vật như: hương án,long ngai, đại tự, có 4 đạo sắc phong, 1
cỗ kiệu song loan, 1 bộ áo chầu Toàn
bộ kết cấu cột, xà dọc và vì kèo đượclàm bằng bê tông giả gỗ, soi gờ chỉ Các
Trang 24thờ ở ThanhHóa Có 6 nơithờ, đây là đềnthờ chính
bộ phận như kẻ, đấu, dường đố đều cótrang trí họa tiết hoa văn hình mây lá.Hai bức tượng Võ quan đắp bằng vôimật
34 Đền Lại
Thế Khanh HuyệnHà
Trung
Xã HàGiang
Lại Thế Khanh(?-1578) là đạithần có cônggiúp nhà LêTrung hưngthời chiến tranhLê-Mạc tronglịch sử ViệtNam
Tương truyền đền được xây dựng vàocuối thế kỷ XVI, sau khi Lại Thế Khanhmất Tuy nhiên, kiến trúc xưa khôngcòn Đền thờ hiện nay được dòng họ vànhân dân trong vùng quyên góp xâydựng, kiến trúc đơn giản Hiện còn sắcphong đời Lê và Nguyễn
XãHoằngThanh
Lê Công Trực,
có công lao đối
Nguyễn, dạydân nghề đánhbắt cá biển
Ban đầu được xây dựng vào thế kỷ XIX
ở xã Hoằng Trường Năm 1986, bịchính quyền tháo dỡ Năm 1990, đượcthiết kế xây dựng lại ở trung tâm làngQuang Trung, xã Hoằng Thanh
Còn 1 long ngai và một số hiện vật nhưbát hương, bình rượu, ấm tích, bát sứ,nậm rượu, khach mịch cổ
36 Đền Lê
Đăng Tiệm HuyệnQuảng
Xương
XãQuảngNhân
Quận công LêĐăng Tiệm,danh thần thời
Lê – Trịnh, cócông chốnggiặc phò vua
Đền được xây dựng vào khoảng thế kỷXVII, cận kề biển cả, lại không đượcbảo dưỡng thường xuyên, ảnh hưởngcủa chiến tranh, đặc biệt là sự xâm hạicủa bão gió nên đền bị hư hại nhiều.Gần đây nhân dân, dòng tộc đã bỏ côngsức, tiền của sửa sang lại ngôi đền nênphần nào đã mang những nét diện mạoxưa
Đền được xây dựng gồm Chính tẩm lànơi thờ tượng tướng quân và Tiềnđường, tất cả đều lợp ngói, phía trướcđền là sân, xung quanh xây tường rào Hiện nay trong đền còn lưu giữ một số
di vật cổ như ngai, bát hương, bài vị,bảng chúc văn, kiệu, hòm đựng sắc, tắctải, kiếm, tất cả đều chưa rõ niên đại
37 Đền Lê
Đình Châu HuyệnTĩnh
Gia
X NgọcLĩnh Lê Đình Châu,sống vào nửa
cuối thế kỷXVIII, là côngthần thời Lê –Trịnh
Được xây dựng sau khi Lê Đình Châumất
Hiện nay đã bị đổ nát, chỉ còn lại nhữnghiện vật bằng đá: bia, voi, ngựa, chó,tượng chầu, hương án
Trang 25Hiện vật bằng đá: bia, voi, ngựa, chó,tượng chầu, hương án.
38 Đền Lê
Đình
Khiêm
HuyệnQuảngXương
XãQuảngKhê
Châu NgoạnNương sống ởthời Lý, hiểnlinh nhiều lầngiúp vua đánhgiặc, đượcphong là "Tốilinh công chúa– phúc thần"
Phối thờ Hùng
Vũ Đại Vương
Lê Đình Khiêm(tức Khiêm),còn gọi là LêĐình Thiện, làbậc tướng tàithời Lê – Trịnh
Và
Tương truyền được dựng từ thời Lý Đền quay hướng Nam, Kiến trúc theokiểu chữ Đinh, gồm 3 gian Tiền đường
và hai gian Hậu cung Phía trước có aođền
Hiện chỉ còn 1 bản thần phả, 4 bản giaphả 4 long ngai và một số đồ thờ khác
39 Đền Lê
Hiểm - Lê
Hiêu
HuyệnNôngCống
X TânPhúc Lê Hiểm, LêHiêu, công thần
khởi nghĩa LamSơn
Đền được xây dựng từ năm 1554
Hiện đền nằm trong một khuôn viên nhỏhẹp, gồm 1 ngôi nhà 5 gian Còn lưu lạimột phần kiến trúc cổ, chạm khắc phongcách Nguyễn
23 đạo sắc phong cho thần, một chiếcKiệu (thời Lê, thế kỷ XV), 2 bát hươngthời nhà Mạc, 1 bát hương thời Nguyễn,
3 cuốn sổ ghi gia phả và rất nhiều hiệnvật khác có niên đại hơn 500 năm vẫnđược bảo quản nguyên vẹn
40 Đền Lê
Hoằng
Công
HuyệnHoằngHóa
XãHoằngHợp
Lê Hoằng Công Chưa có tư liệu về thời gian xây dựng
hay trùng tu tôn tạo Theo phong cáchnhững hiện vật còn lại, có thể xác địnhđền được xây dựng vào thế kỷ XIX.Kiến trúc cũ không còn do biến thiêncủa lịch sử và thiên tai Hiện nay đềnđược xây dựng lại đơn giản, nhỏ bé.Hiện vật đều do nhân dân cung tiến
41 Đền Lê
Khắc Tháo HuyệnThiệu
Hóa
Xã ThiệuGiao LêTháo (1859Khắc-
1887),hiệu: TăngTrai; là một
Đền xây từ thế kỷ XIX nhưng nay đã bị
hư hỏng nặng Năm 2008, tu bổ lại một
số hạng mục xuống cấp
Di tích có quy mô vừa phải, còn lại mộtvài di vật và đồ thờ có giá trị Đền được
Trang 2642 Đền Lê
Liễu HuyệnHoằng
Hóa
XãHoằngSơn
Lê Liễu - vịkhai quốc côngthần Triều Lê,
có nhiều cônglao trong cuộcKhởi nghĩaLam Sơn chốnglại ách đô hộnhà Minh do
Lê Lợi tổ chức
và lãnh đạo vàođầu thế kỷ XV
Căn cứ vào gia phả chữ Hán “ Họ LêCông Thần” tại làng Bản Định được lậpvào năm 1883
Di tích được kết cấu theo kiểu chuôi vồgồm Tiền đường, Hậu cung, sân đền vàvườn trông cây lưu niệm
X XuânLam
Thờ Vua LêThái Tổ, vàNguyễn Trãi,Trung TúcVương Lê Lai,Thần Bạch YCông Chúa, cáctướng lĩnh khaiquốc công thầntriều Lê Sơ
Đền được xây dựng lần đầu tiên là năm
1933, do điện Lam Kinh bị hủy hoại,không còn nơi thờ các vua, hoàng hậu
và tổ tiên của Lê Lợi nên nhân dân đãquyên góp để xây dựng Ban đầu đượclàm bằng tranh tre nứa lá Đến năm
1934, được xây dựng theo hình chữĐinh (J) trên nền móng cũ bằng gạch vồtrát hồ vữa bên ngoài gồm Tiền đường,
và Hậu cung Tiền đường là nhà ngang
có 2 gian, hậu cung xây hình cuốn vòm.Năm 1996, tôn tạo lại bằng gỗ lim, theokiểu chữ Công, gồm có: nhà Cầu (nhàống muống) Trung đường và Hậu cung.Trong đền còn có tượng đồng vua LêThái Tổ 2014, tu sửa nhà Mẫu
44 Đền Lê
Lộng HuyệnTriệu
Sơn
Xã ThọVực
Lê Lộng, côngthần khởi nghĩaLam Sơn vàcác phu nhâncùng con cháuông qua cácđời
Hiện chưa xác định được chính xác thờigian xây dựng đền Đền được trùng tulại năm Tự Đức thứ 2 (1849) Kiến trúcđền theo kiểu chữ Nhị, gồm có ba gianTiền đường và ba gian Hậu cung Kếtcấu kiến trúc vì kèo nhà Hậu cung đượclàm theo kiểu chồng rường kẻ bẩy Đềtài chạm khắc trên các cấu kiện gỗ gồm
Tứ linh và Tứ quý là chủ đạo
Đồ thờ hiện còn khá phong phú như:Đại Tự, câu đối, nhang án, long ngai,giao ỷ, thần vị, bát hương, lư hương,bảng chúc văn, hạc đồng, bát bảo, chân
Trang 27đèn, chân nến, hòm sắc… và đặc biệt là
08 đạo sắc phong có niên đại từ CảnhHưng năm thứ 22 (1761) đến Duy Tânthứ 3 (1909)
45 Đền Lê
Ngọc HuyệnĐông
Sơn
Xã ĐôngNinh Lê Ngọc, cócông chống lại
nhà Đường thế
kỷ VII
Đền xưa không còn
Đền thờ hiện nay mới được chính quyền
và nhân dân địa phương tôn tạo lại năm
2009, kiến trúc theo kiểu chữ Nhất, với
ba gian, kết cấu kiến trúc bằng bê tônggiả gỗ, mái lợp ngói mũi hài
46 Đền Lê
Phụng
Hiểu
HuyệnHàTrung
Xã HàLâm Lê Phụng Hiểu,danh tướng thời
Trần
Không rõ năm xây dựng đền Kiến trúcxưa hiện nay không còn Quy mô đềnhiện thời nhỏ bé, sơ sài, không có hiệnvật cổ
47 Đền Lê
Phụng
Hiểu
HuyệnHoằngHóa
X
HoằngSơn
thượng tướngquân Lê PhụngHiểu, nhân vậtlịch sử triều Lý
Việc thờ ônggắn liền vớihuyền thoại
điền” nổi tiếngtrong lịch sử vàđất thác đaođược xác định
là vùng BăngSơn, HoằngHóa ngày nay
Căn cứ vào các đạo sắc phong hiện còn,
có thể xác định lịch sử đền thờ có từ thế
kỷ XVIII, không gian kiến trúc cónghinh môn, bình phong Về cơ bảndiện mạo kiến trúc gốc đã bị hủy hoại.Năm 2010, tôn tạo lại nhà Tiền đường.Hiện đền có 05 gian Tiền đường mớiđược khôi phục lại và nhà Hậu cung cóniên đại thế kỷ XVIII, kết cấu vì kèotheo kiểu giá chiêng-chồng rường Hiện vật quý giá gồm các đạo sắc phongthời Cảnh Hưng thế kỷ XVIII đến thờiKhải Định
X ĐôngCương Lê Thành (?-1426), công
Chưa rõ năm xây dựng Năm 2013, mởrộng khuôn viên di tích và xây mới cáchạng mục: nhà Tiền Đường, nhà dải vũ,nhà khách - nhà quản lý, chỉnh trangkhuôn viên sân vườn tạo cảnh quan vàxây dựng lại tường rào bao quanh ditích
Kiến trúc cổ không còn Các hạng mụckiến trúc hiện nay đều được xây mới.Hiện nay trong đền thờ Lê Thành cònlưu giữ 13 bản sắc phong, 8 bản của ông
và 5 bản của hai người vợ ông Trong 8sắc phong của ông thì 6 sắc còn nguyên
Trang 28ấn của nhà vua, còn hai bản không cònnguyên mà chỉ chép lại bằng chữ Hán(bản chép còn), 5 bản của hai bà cònnguyên, sắc phong của nhà vua ban códấu ấn.
X ThọPhú Thờ Lê ThìHiến, công thần
thời Lê Trịnh
và các danhnhân họ Lê Thì
Di tích được xây dựng dưới thời vua LêThần Tông để tưởng nhớ công lao củadanh tướng Lê Thì Hiến - người đã cónhiều chiến công hiển hách trong quátrình xây dựng và bảo vệ đất nước thờibấy giờ
Quần thể di tích Lê Thì Hiến rộng gần10ha, tọa lạc ở một vị trí khá đẹp ở thônPhú Hào, xã Phú, huyện Triệu Sơn(Thanh Hoá) Phía Đông, phía Namđược bao bọc bởi dòng sông nhà Lê,phía Bắc là cánh đồng lúa mênh mông,trong khuôn viên có nhiều cây cổ thụ tocao, tạo cho không gian di tích như một
ốc đảo nhỏ, linh thiêng trong một khônggian tĩnh lặng
Trong khu di tích hiện có 2 tấm bia lớn.Tấm thứ nhất mái vòm Chiều cao là2,12,- rộng 1,3m và dày 0,95m Trước
và sau bia thụt vào 0,25m để tránh mưanắng không làm mòn mặt bia Trán biakhắc lưỡng long chầu nguyệt Tấm biathứ 2 ghi chép công lao của nhữngtướng sĩ cùng thời với ông Bia đượcghép từ 6 tấm bia khác, có chiều dàitổng thể là 6m, chiều cao 1,8m cả mái
50 Đền Lê
Thị Hoa HuyệnNga
Sơn
Xã NgaThiện Bà Lê Thị Hoa– nữ tướng thời
Hai Bà Trưng
Chưa có tư liệu về thời gian xây dựnghay trùng tu tôn tạo Theo phong cáchnhững hiện vật còn lại, có thể đền đượcxây dựng vào thế kỷ XIX Kiến trúc cũkhông còn do biến thiên của lịch sử vàthiên tai Hiện nay đền được xây dựnglại đơn giản, nhỏ bé Hiện vật đều donhân dân cung tiến
51 Đền Lê
Trung
Giang
HuyệnHoằngHóa
XãHoằngNgọc
Tướng công LêTrung Giangnhân vật lịch sửthời Lê TrungHưng
Đền thờ có lịch sử từ thời Lê TrungHưng nhưng đã xuống cấp, hư hại Đềnđược khởi công xây dựng lại đến nayvừa tròn 10 năm, tọa lạc trên diện tíchgần 10.000m2 và có tên gọi đầy đủ là
Trang 29khu “Quần thể văn hóa và di tích lịch sửTướng công Đại vương Lê TrungGiang”.
Đền thờ chính có hàng trăm pho tượngsơn son thếp vàng, tọa lạc trên các bệthờ trang nghiêm Nổi bật hơn cả là các
vị nhân thần Lê Phụng Hiểu (đời Lý),Trần Hưng Đạo (đời Trần) và Lê TrungGiang (đời Lê) Phía tả, hữu có điệnthờ Vua Lê Thái Tổ, điện thờ Trần NhânTông với nhiều cổ vật giá trị và hàngngàn tài liệu, sách vở quý hiếm phục vụkhách tham quan, phục vụ thế hệ trẻ tìmhiểu về các triều Vua Phía đối diện đềnthờ được xây dựng tháp Bảo MinhQuang Thắng, 11 tầng Đường lên thápđược tạo bởi toàn thân một con rồng cóđường kính gần 2m Trong quần thể khu
di tích lịch sử còn có ngôi Tam Bảo, nhà
cổ vật, nhà văn hóa, nhà bảo tàng, hồbán nguyệt, các tiểu lồng, khu vui chơi
và có các động Sơn Trang, động Sơnthần, động Diêm Vương, mô tả, bài trínhiều cảnh vật sinh động
Xã HảiHoà
Lê Trương Lôi,
Lê TrươngChiến, côngthần khởi nghĩaLam Sơn, cóthể tham giahội thề LũngNhai
Được con cháu họ Lê Trương xây dựngvào khoảng thế kỷ XV – sau khi 2 ôngmất Đến năm 1759, dịch chuyển vị trísửa chữa ngôi tiền đường Năm 1957sửa lại nhà Hậu cung
Đền nhìn hướng Đông Nam, gồm mộtngôi nhà 3 gian, 5 hàng cột (trốn hiêntrước cho mái nhà cao lên) Kiến trúc vìkèo theo kiểu kẻ sau, bẩy trước, dưới kẻ,bẩy trên, vì kèo kép gỗ báu lá Đặc biệt,
P HàmRồng Tham Xung táquốc tôn thần
(con trai út của
Lê Ngọc, thế
kỷ VII)
Chưa rõ năm xây dựng, trải qua nhiềulần trùng tu Cấu trúc hiện tại mangphong cách thời Nguyễn
Đền gồm: tòa thiêu hương, tiền đường,hậu cung Thiêu hương có mặt bằnghình vuông, 2 tầng mái, kết cấu gỗ Cáccấu kiện gỗ đã bắt đầu suống cấp: cột gỗ
Trang 30Trong đền có có ngai thờ phong cáchthế kỷ XVII, 22 sắc phong từ thời LêTrung Hưng đến Nguyễn, voi đá, bia manhai sau đền, nhiều đồ thờ có giá trị.
54 Đền Lê
Văn An HuyệnThọ
Xuân
Xã ThọLâm
Khắc Quốccông Lê Văn
(1384-1437) là khaiquốc công thầnnhà Hậu Lê
Ông sinh ra vàlớn lên ở sách
huyện Cổ Lôi,trấn Thanh Hoá(nay là xã XuânBái, huyện ThọXuân, ThanhHóa) Đền thờ
Lê Văn Anđược xây dựng
ở thôn DiênHào, xã ThọLâm, huyệnThọ Xuân, tỉnhThanh Hoá
Đền thờ chưa rõ thời gian xây dựng 1597: Khởi dựng đền thờ
Thời Nguyễn: Tu sửa lại2008: Dòng họ tu sửa lạiĐền thờ được xây dựng bao gồm cóTiền đường và Hậu cung Tiền đường làmột ngôi nhà gỗ 4 gian, 3 vì kèo theo lốitruyền thống Hậu cung có diện tích19,8m2 được bố trí làm hai cung: cungngoài thờ hội đồng tổ tiên, cung trongthờ Khắc Quốc Công Lê Văn An
Đền thờ hiện còn lưu giữ được nhiềuhiện vật vô cùng quý giá như: Ngai thờbằng đá, thánh vị bằng đá ghi thánh tổ
Lê Văn An, hai cây đèn đá, ba đài thờ
đá, đôi nến, mâm bồng đá cùng vớinhiều đồ thờ bằng gỗ quý như: Ngai thờ
tổ Nguyễn Thọ, Bài vị, Mâm bồng vànhiều bản gia phả bằng chữ Hán đượcviết dưới thời vua Tự Đức, ba đạo sắcphong của Vua Lê Hiển tông và vuaDuy Tân (Triều Nguyễn) Đây đều lànhững hiện vật có nhiều giá trị trênnhiều lĩnh vực của lịch sử dân tộc
55 Đền Lê
Văn Hưu
HuyệnThiệuHóa
X ThiệuTrung
Thờ Lê VănHưu, sử gia và
là nhân vật lịch
sử thời Trần
Ông là ngườikhởi soạn bộĐại Việt Sử kýtoàn thư nổi
Trước kia, đền thờ có quy mô rộng lớn,phía trước có gác chuông Có 9 gian hậucung và 5 gian tiền đường Nhưng theothời gian, ngôi đền bị chiến tranh vàthời gian tàn phá Năm 1990, nhân dânđóng góp, trùng tu một gian hậu cung và
ba gian tiền đường, tất cả đều lợp ngói Hiện nay, kiến trúc mới được khôi phục
Trang 31tiếng gồm tiền đường 5 gian và hậu cung 3
gian có quy mô vừa phải
Hiện còn sót lại là gia phả và bia ký thờiNguyễn là các di vật gốc của di tích
56 Đền Lê
Văn Linh HuyệnThọ
Xuân
Xã ThọHải
Lê Văn Linh là
Công thần và lànguyên lão đạithần của batriều (Lê Thái
Tổ, Lê TháiTông và LêNhân Tông)
Đền thờ có quy mô 3 gian lợp ngói, quy
mô nhỏ hẹp, bên trong còn một số đồthờ như ngai thờ, bài vị, đồ tế khí, bátbửu, lọng tán, chúc thư Quần thể di tíchcòn bao gồm: mộ Lê Văn Linh ở cánhđồng xã Thọ Hải
57 Đền Lê
Văn Viện HuyệnHoằng
Hóa
XãHoằngThành
Thờ ông tổdòng họ LêĐình là ông LêViện Ông là
những danhtướng đã thamgia cuộc khởinghĩa Lam Sơnchống giặc
TKXV
Tương truyền đền được xây dựng thế kỷ
XV, tuy nhiên kiến trúc xưa không còn.Gần đây bà con địa phương quyên gópxây dựng lại đền
58 Đền Lê
Văn
Xuyên
HuyệnTĩnhGia
Xã HảiHoà Lê Văn Xuyên(1796-1842)
Là một vịtướng thờiNguyễn, hàmNgũ phẩm,chánh thủy cơbốn đội, đốccông phụ tráchxây dựng kinh
đô Huế
Là công trình kiến trúc thế kỷ XIX, thờiThiệu Trị, với một ngôi nhà hình chữNhất gồm 5 gian Đến thời Bảo Đại, tusửa lại còn 3 gian và xây dựng thêmphần chuôi vồ ra phía sau tạo thành hìnhchữ Đinh Hiện nay, đền có kiến trúcchữ Nhất, với 5 gian Gian giữa vàchính tẩm thờ vị tiền tổ Lê Văn Xuyên,hai bên có câu đối
59 Đền Liễu
Hạnh (Phủ
Mẫu)
HuyệnHàTrung
Xã HàThái
Mẫu Liễu Hạnh Đền thờ mới được xây dựng, nằm trong
hệ thống thờ Mẫu ở Thanh Hóa
60 Đền Lý
Nhật
Quang
HuyệnHoằngHóa
XãHoằngMinh
Lý Nhật Quang-là Hoàng tửthứ 8 của Thái
tổ Cao Hoàng
đế Lý Công
Chưa xác định được thời gian xây dựng.Ngày nay địa thế hết sức thoáng đãng.Chỉ có phần hậu cung chuôi vồ theokiểu tường hồi bít đốc, có lá lật bốn góc
và có hai con kìm ở bờ nóc Mặt trước
Trang 32Uẩn theo ThầnPhả: Lý NhậtQuang đemquân đánh giặcChiêm Thành
có đóng quântại làng Nội Týsau khi LýNhật Quang vềkinh thànhhương dân Nội
Tý tưởng nhớcông ơn củaông lập đền thờcúng
hậu cung đắp nổi hình hổ phù
Hiện vật còn lại: hương án thờ, 1 tượng
Lý Nhật Quang, 1 long ngai, 1 bàn thế
kỷ XVIII, 1 hộp sắc phong, 1 tượng thầnphả, văn tế chép năm Bảo Đại 13(1937)
Hàng năm tế lễ vào ngày Kỵ của thần
X HàNgọc Lý ThườngKiệt Được xây dựng từ năm 1138.Nhà tiền đường được trùng tu năm
1815 Nhà Hậu cung được tu sửa năm
1976
Qua thời gian các kiến trúc từ thời Lýkhông còn, chỉ còn lại kiến trúc mangphong cách Lê, Nguyễn
Kiến trúc cổ còn lại: 5 gian Tiền đường,một nhà Hậu cung, nghinh môn, 4 bia
đá, toàn bộ khuôn viên, tường rào, cây
Mai An Tiêm –nhân vật thờiHùng Vương,
có công tạo ragiống dưa hấu,phát triểnthương mại
Được dân lập đền thờ từ đời HùngVương thứ 6 Năm Duy Tân thứ nhất,vua sắc phong cho thôn Ngoại thờphụng Năm Khải Định thứ 9, vua sắcphong cho thôn Ngoại tiếp tục thờphụng
Kiến trúc của ngôi đền khá đơn giảntheo hình chữ Đinh gồm: 5 gian TiềnBái và 4 gian Hậu cung được mô phỏngtheo kiến trúc truền thống của ngườiViệt và có cổng Tam quan Nội thấttrong đền được bố trí trang nghiêm, gọngàng
Các hiện vật đều mới được đưa vào gầnđây
63 Đền – mộ
Phạm
Khánh
HuyệnHoằngHóa
XãHoằngYến
Phạm KhánhNgọc đượcphong Tướng
Tương truyền đền được xây dựng từ xaxưa, đến thế kỷ XIX được tôn tạo lại vàxây dựng thêm nhiều hạng mục Tuy
Trang 33Ngọc thời Tiền Lê nhiên kiến trúc xưa không còn Gần đây
bà con địa phương quyên góp xây dựnglại đền
XãHoằngQuỳ
Lưu Đình Chấtngười làngĐông Khê sống
ở thời Lê sơ
Chưa có tư liệu về thời gian xây dựnghay trùng tu tôn tạo Theo phong cáchnhững hiện vật còn lại, có thể đền đượcxây dựng vào thế kỷ XIX Kiến trúc cũkhông còn do biến thiên của lịch sử vàthiên tai Hiện nay đền được xây dựnglại đơn giản, nhỏ bé Hiện vật đều donhân dân cung tiến
65 Đền Nàng
Bình
Khương
HuyệnVĩnhLộc
Xã VĩnhLong Nàng BìnhKhương, vợ
Cống sinh, đãchết khi xâydựng ThànhNhà Hồ
Được xây dựng năm 1903 bởi Tổng ĐốcVương Duy Trinh Trong đền còn tấmbia đá do Tổng đốc Vương Duy Trinhcho khắc, nội dung là bài thờ nói vềchuyện kể nàng Bình Khương – CốngSinh
X
QuảngTường
Đền thờ Tướngcông Đề Lĩnh
Có tên là
“Đường CôngQuang Lộc” đãkhai hoang mởđất dẹp yênloạn đảng,luyện binh, lậptrại ngày đêmrèn luyện võvật cho nhândân Ông trởthành ông tổnghề võ vậtLàng LươngTrung
Năm 2004: Trùng tu lại toàn bộ đền thờ.Ngôi Đền nằm trên một gò đất cao,tương truyền là nơi an táng của ông vàhai cô con gái
Hiện nay ngoài ngôi mộ trong đền cònlưu giữ 8 sắc phong, có 7 đạo sắc thời
Lê và nguyễn Trong đó 1 đạo sắc thời
Lê Chiêu Thống nguyên niên (1787)Đời vua Tự Đức 3 Đồng Khánh 2 đạo
và 1 đạo thời Duy Tân (1909) là tài sảnphi vật thể quý giá đang được nhân dângìn giữ cẩn thận Ngoài ra còn có bia ký,khánh đá, đôi rồng thời Lê bằng đá vẫncòn lưu giữ trong đền
67 Đền –
Nghè
Diêm Phố
HuyệnHậuLộc
Xã NgưLộc Thờ Cá Ông. Được xây dựng từ khi mới thành lập đếnnay đã qua 4 lần xây dựng lại, xây dựng
gần đây nhất là vào năm 1946
68 Đền –
Nghè Yên
Vực
HuyệnHoằngHóa
XãHoằngXuân
Giang
Theo các bậc cao niên trong vùng, banđầu nhà vua cho dựng tạm ngôi đềnbằng tranh tre, về sau xây dựng lại bằng
gỗ với quy mô bề thế, trang trọng gồm 2dãy nhà Tiền Đường và Hậu Cung nốivới nhau thành hình chữ Đinh Trước
Trang 34đền là sân Rồng, sau sân Rồng là sông
Mã, thuận tiện cho các vua chúa theođường thuỷ lên vãn cảnh Năm 1998 tôntạo lại đền
Khu di tích đền nghè Yên Vực nằm trênbãi đất bồi bằng phẳng ven sông Mã,nay thuộc làng Yên Vực, thị trấn TàoXuyên (Hoằng Hoá - Thanh Hoá), xungquanh có sông nước, núi non, mây trờihùng vĩ, có cánh đồng lúa xanh ngát mộtmàu
Hiện trong đền còn nhiều hiện vật quýnhư: bàn thờ đá, bệ đá, bát hương đá,các bài chế vua ban cho anh em dòng họNguyễn Huy, bia công đức, bia hậu Phật
bi ký (từ thời vua Lê Dụ Tông)
XãTrườngGiang
Quỳnh, có côngtrong cuộc khởi
Vương
Kiến trúc hình chữ Nhất, hướng Namgồm 1 ngôi nhà 3 gian, kết cấu kiến trúctheo kiểu "giá chiêng kẻ chuyền"
Các hiện vật đều do nhân dân cung tiếnmới đây
70 Đền Ngọc
Lan (Chiêu
Anh Quán)
HuyệnThọXuân
Thị trấnLam Sơn
Thờ 7 vị khaiquốc công thầnthời Lê đó là:
Nguyễn Xí,Nguyễn NhữLãm (Lê NhữLãm), Nguyễn
Thận), Lê Văn
An, Lê Bổng,
Lê Phần, LêĐạt và nhữngngười có côngtrong việc pháthiện địch,những kẻ gianlàm phản, thunạp hào kiệt,che dấu, bảo vệnghĩa quântrong khởinghĩa Lam Sơn
Đền Ngọc Lan ban đầu có tên gọi làChiêu Anh Quán Theo truyền thuyết,đây là nơi Lê Lợi sai lập ra và cử một sốngười trong đó có cả những cô gái nhằmmục đích qua trò chuyện, tiếp xúc dò xétnhững người qua lại ghé nghỉ chân đểbiết được ai là gian tế, giặc hay ngườimuốn gia nhập nghĩa quân Lam Sơn.Nếu là giặc hay gian tế thì báo chongười của nghĩa quân bắt giết, nếu làngười muốn gia nhập nghĩa quân thật thìđưa vào gặp chủ tướng Lê Lợi Do trướcđây, nơi này có một cây Ngọc Lan cổthụ nên nhân dân thường gọi là ĐềnNgọc Lan Ban đầu, đền chỉ là là mộtngôi nhà nhỏ bằng tranh tre, nứa lá dựngtrên một gò đất cao đằng sau có rừngLim Đến thời Nguyễn, được xây dựngvới quy mô lớn hơn Năm 2008, đềnNgọc Lan đã được trùng tu, tôn tạo lạitrên nền móng cũ và có mở rộng thêm rahai bên với diện tích khoảng 200mm,xung quanh được bao tường khép kín để
Trang 35Lê Đạt, Lê Phần, Lê Bổng, Nguyễn Xí.Bát hương ở giữa là thờ hội đồng cácquan, hạ ban là nơi thờ Ngũ Hổ NamDinh Trong đền có các tượng: Tượngphật Tổ, tượng phật Bà Quan âm, tượng
Bồ Tát và tượng Nguyễn Xí (được làmvào khoảng những năm 1990 - 1991).Bên phía tay phải tính từ ngoài đền divào gọi là Lầu Cô: có một bát hương thờ
cô bé Ngọc Lan và tượng cô chủđiện.Ngoài sân đền còn có 2 bát hương:một bát hương thờ Mẫu Cửu ThượngThiên và một bát hương thờ thần kimquy (thần rùa do cô Lan ở xã Thọ Diênvớt được rùa dưới sông Nông Giangmang về nhà thờ cúng được 3 năm dânglên đền)
Hiện đền chỉ còn lại duy nhất một báthương bằng đá khoảng thế kỷ 15: Báthương đã bị sứt 2 quai , nhưng kiến trúcchạm khắc trên bát hương rất rõ nét.Mặt trước bát hương khắc mặt hổ phù,xung quanh 4 bên có hình hoa sen vàrồng chầu mặt nguyệt rất đẹp
71 Đền
Nguyễn Bá
Thiệu
HuyệnNôngCống
XãTrườngSơn
Nguyễn BáThiệu – Người
có công trongviệc giữ thành
Hà Nội và thamgia phong tràochống Pháp ởNam NôngCống
Trước kia được xây dựng rộng lớn, gồmtiền đường 5 gian và hậu cung 3 gian.Sau này bị bão đánh sập, dòng tộc, dânlàng dựng lại một khu nhà hậu cungkiến trúc gỗ lim, thiết kế theo chiều dọc.Hậu cung có kết cấu kiến trúc theo kiểu
"chồng rường kẻ bẩy, xà đi, xà kép, haigian, ba vì, làm bằng gỗ lim, bên trênlợp ngói liệt, bên ngoài lợp ngói mũi.Còn nhiều di vật gỗ thời Nguyễn như:hương án, 6 bộ long ngai, sắc phong
72 Đền
Nguyễn HuyệnĐông X ĐôngNinh Nguyễn Chíchtức Lê Công Mộ đắp sau khi ông mất 1958 con cháuxây bao phong Đền thờ được tu sửa
Trang 36Chích Sơn Chích (Hiến
Quốc Công) –công thần khởinghĩa Lam Sơn
nhiều lần, trùng tu lớn năm 1919 Trướckia đền có quy mô to lớn, đồ thờ phongphú, nay quy mô đã thu hẹp
Còn nhiều đồ thờ: sập, hương án, bátbửu, đai phi, mâm dài, bát hương đá
73 Đền
Nguyễn
Đình Giản
HuyệnHoằngHóa
X
HoằngQuang
Thượng thưNguyễn ĐìnhGiản (1734 -1788) Ông làngười nổi tiếngcương trực,khảng khái,trung nghĩathời hậu Lê,dốc lòng phò
Lê chống lạinhà Tây Sơn
Di tích có quy mô vừa phải, còn lại mộtvài di vật và đồ thờ có giá trị Theo nhưnội dung văn bia đền được khởi côngxây dựng mới vào năm Tự Đức thứ 9(1856) trên nền cũ
Kiến trúc đền thờ đơn giản, không cóchạm khắc
Hiện đền vẫn còn bảo lưu nhiều giá trịkiến trúc đặc sắc thời Nguyễn Bức đại
tự treo ở gian giữa ghi 3 chữ lớn “Trungnghĩa từ” (nghĩa là Đền thờ bậc trungnghĩa)
Xã ĐôngTân
Thờ Thái bảo
Nguyễn ĐìnhThuần
Xây sau khi ông mất Trước kia, nhàchính tẩm dùng ván nong xung quanh.Đến năm 1973, tu sửa lại mới xây tườnghồi, tường hậu, phía trước có cửa bứcbàn
Đền đặt ở khoảng đất bằng phẳng củalàng, có địa thế phong thủy đẹp Gồm 2ngôi: tiền đường (5 gian) và hậu cung (3gian)
Các hiện vật tiêu biểu còn lại như: Kiệu,lọng, tán, quạt, biển bài, 13 đạo sắcphong
75 Đền
Nguyễn
Hiệu
HuyệnTriệuSơn
X NôngTrường Thờ Tể tướngThái bảo Đại
vương NguyễnHiệu, Tiến sĩNguyễn Hoàn,
Được xây dựng ngay sau khi NguyễnHiệu mất (1635) Trải qua biến cố lịch
sử, di tích đã cso nhiều thay đổi
Đền hiện nay quay hướng Nam Kiếntrúc kiểu chữ "Đinh", gồm một ngôi tiền
Trang 37Nguyễn Tài, làcác vị đại khoa
Nguyễn sốngthời Lê Trunghưng
đường 3 gian, một ngôi chính tẩm haigian dọc Kết cấu kiến trúc đơn giản
Đồ thờ có các hiện vật đáng lưu ý: bìnhhương đá cổ, long ngai, đại tự chép bàithơ của vua Lê Hiển Tông tặng NguyễnHiệu; bình hương gốm cổ Gần đền có
mộ của Nguyễn Hiệu, Nguyễn Hoàn
XãQuảngNhân
Nguyễn HữuHuân, thời Lê-Trịnh, có côngphò vua giúpnước
Xưa kia, đền thờ Nguyễn Hữu Huânđược xây dựng khá đẹp và khang tranggồm: một hậu cung, 2 giải vũ Trước 2giải vũ là bể cảnh có hòn non bộ, tiềnđường 5 gian, sân đền, bình phong vàmột cổng đền (gọi là Nghinh môn) Dobiến thiên lịch sử đền đã bị hư hỏng.Ngày nay con cháu và địa phương đã tusửa lại
Hàng năm có lễ hội trong tết Nguyênđán, tết cổ truyền 12 tháng Giêng), hộihuý kỵ 14 - 2 của ngài Nguyễn HữuHuân, hội 15 tháng 3 và tháng 5, ngàytết Vu lan 15 tháng 7 và hội ăn cơm mớithường vào tháng 9 hàng năm Trongcác ngày hội thì thường vào 3 ngày: TếtNguyên đán và lễ hội 14tháng 2, địaphương hân hoan tổ chức các hoạt độngvăn hóa dân gian như: hát bội, hát chèo,hát ghẹo, hát ống, hát nhà trò, đánh vật,chơi bài điếm, đánh cờ trống bỏi, chơiđu Riêng hát nhà trò thường vui suốtđêm
77 Đền
Nguyễn
Mỹ Nương
HuyệnYênĐịnh
Xã ĐịnhHưng
Thờ Nguyễn
Mỹ Nương, vợvua ChiêmThành, sốngvào thời Trần
có công khaihoang lập ấp,được coi nhưThành Hoànglàng (Thần CẩnThiết, ĐoanThục liệt nữquý nương tônthần)
Tương truyền đền được lập sau khi bàmất
Đền hiện nay được xây dựng trên nềnđất cũ, gồm một ngôi tiền đường 3 gian
và hậu cung 2 gian
Trang 3878 Đền
Nguyễn
Nhữ Lãm
HuyệnThọXuân
X ThọDiên Khai quốc côngthần triều Lê
Sơ NguyễnNhữ Lãm và
Phạm Thị NgọcTrần
Đền được xây dựng thời Lê sơ nhưng bịphá hủy nhiều do thời gian và biến thiênlịch sử Vị trí ngày nay của đền là đượcdịch chuyển sau này (giữa thế kỷ XX)
Đáng chú ý là hệ thống cột đá, chó đá,tượng chầu đá và tượng Nguyễn NhữLãm, các tượng mẫu và đồ thờ còn lạikhá nguyên vẹn
X ĐôngYên Nguyễn NhữSoạn (1391 –
1448)
Đền được xây dựng ngay sau khiNguyễn Nhữ Soạn mất Lần trùng tu gầnđây nhất là vào năm 1787
Hiện nay các kiến trúc nhà tiền đường,hậu cung còn khá nguyên vẹn mangđậm phong cách kiến trúc thế kỷ XVIII Trong nhà thờ còn lưu giữ bộ long ngaibài vị cổ và 22 đạo sắc phong của cáctriều đại, câu đối ca ngợi công đức củaNguyễn Nhữ Soạn cùng gia phả dòng họNguyễn Nhữ
80 Đền
Nguyễn
Phục
HuyệnQuảngXương
XãQuảngHải
Đông Hải Đạivương NguyễnPhục
Đền được xây dựng từ xưa, trải qua baothăng trầm biến đổi của lịch sử, ngôiđền bị phá hủy Hiện nay đã xây dựnglại ngôi đền trên nền đất cũ
Đền được xây dựng trên một khu đấthẹp nhưng bằng phẳng, thuộc thôn Bào,
xã Quảng Hải, trước mặt ngôi đền theohướng Tây Nam là cánh đồng KhuaChương, mặt trái cửa đền nhìn ra đườngliên thôn chạy xuống tận bờ biển, cáchngôi đền khoảng chừng 60 m
Câu đối, sắc phong
81 Đền
Nguyễn HuyệnYên
Xã ĐịnhTiến
Thành hoàngĐông Hải Đại
Được xây dựng trên một gò đất cao ởđầu làng Cấu trúc kiểu chữ Đinh, gồm
Trang 39Phục Định Vương Nguyễn
Phục
tiền đường 5 gian ngang, hậu điện 3gian dọc Các kẻ trước sau đều đượcchạm trổ khá tinh xảo, đề tài tứ linh, tứquý
Đông Hải ĐạiVương NguyễnPhục
Chưa có tư liệu về thời gian xây dựnghay trùng tu tôn tạo Theo phong cáchnhững hiện vật còn lại, có thể đền đượcxây dựng vào thế kỷ XIX Kiến trúc cũkhông còn do biến thiên của lịch sử vàthiên tai Hiện nay đền được xây dựnglại đơn giản, nhỏ bé Hiện vật đều donhân dân cung tiến
Lễ kỳ phúc vào khoảng rằm thángGiêng hàng năm
83 Đền
Nguyễn
Quán Nho
HuyệnThiệuHóa
X ThiệuHưng Đền thờ tiến sĩNguyễn Quán
Nho (thế kỷ 17)
là một trongbốn danh sĩ củađất Vạn Hà
huyện ThiệuHóa (ThanhHóa) Ông đãlàm quan đếnchức Tể tướngthời Hậu Lê,công trạngnhiều và là tấmgương sángthanh liêm chohậu thế
Khi ông mất được nhân dân quê hươnglập đền thờ để tưởng niệm Năm 1993,đền thờ và lăng mộ Tể tướng NguyễnQuán Nho được công nhận là di tích lịch
sử - văn hóa cấp quốc gia 2015: Tu bổlại một số hạng mục xuống cấp
XãQuảngTiến
Thờ vị thần là
Đô đốc Nguyễn
Sỹ Dũng, mộttrong Thất hổtướng thời TâySơn - NguyễnHuệ, thế kỷXVIII
2007, 2014: Trùng tu lại đền thờ và sửachữa một số hạng mục xuống cấp
Kiến trúc ngôi đền khá đơn giản Đềnthờ chỉ có một số đồ thờ và hiện vậtkhông quá nhiều Đền được khôi phụclại sau thời gian bị phá vỡ nên khôngcòn hiện vật xót lại cũng như các tácphẩm điểu khắc hay kiến trúc vào cònlại
Trang 40Thái bảo Đông
Nguyễn Thiện– công thầnkhởi nghĩa LamSơn
Trước đây đền thờ tướng quân NguyễnTuấn Thiện là một công trình kiến trúc
cổ, nhưng đến nay trải qua mưa nắng vàthời gian nên đã bị hủy hoại Hiện đền làmột ngôi nhà ngói được thay thế trênnền đất cũ xưa Phía Tây đền thờ là dãynúi Trường, phía Nam trước mặt nhàthờ có con hón nhỏ từ núi Trường chảy
ra sông tạo thành thế bao quanh nhà thờ
86 Đền
Nguyễn
Trừng
HuyệnĐôngSơn
Xã ĐôngThanh
Nguyễn Trừng,
đỗ Tiến sĩ vàlàm quan triềuLê
Đền thờ được xây dựng thế kỷ XVIInhưng kiến trúc cũ nay không còn Đềnthờ hiện thời mới được dòng họ tôn tạo;hiện còn long ngai, giao ỷ, thần vị vàcác đồ thờ cũ
Xã ĐôngYên Nguyễn TrungNghĩa là công
thần triều Lê,tham gia khởinghĩa Lam Sơn,
có công khaihoang lập làngTrung BìnhĐông
Xưa có diện tích rộng Nay chỉ còn ngôinhà trung đường 3 gian, 4 vì, hai vì hồi
1 hòm sắc phong, 1 long ngai, 1 đôi đếđèn gỗ, 3 đài gỗ, kiệu môi rùa, mũ vuaban và một tấm bia đá
X ĐôngThanh Nguyễn VănNghi Theo văn bia, đền thờ được xây dựngnăm 1617 Đến năm 1628, con trai ông
là Nguyễn Khải mở rộng quy mô nhàthờ Năm 1631, cháu ngoại ông là LêKhắc Tuy cùng nhân dân tu bổ hoànchỉnh thêm
Đền thờ là một quần thể kiến trúc bốcục theo kiểu "nội công ngoại quốc", cóhai vòng tường bao Bên trong thành nội
là các cụm kiến trúc gỗ Hiện chỉ còn lạinhà Hậu cung Vòng thành ngoại cónhóm tượng chầu và 2 bia đá được chạmkhắc tinh xảo
Xã HàChâu Nguyệt NgaCông chúa, con
gái vua Hùng
Hiện nay là một đền thờ lộ thiên (đànthờ) Nhân dân đến tế lễ vào ngày sóc,ngày vọng và các ngày lễ tiết trong năm
90 Đền Phạm
Cuống –
Phạm Vấn
HuyệnHoằngHóa
XãHoằngTrường
Phạm Cuống,Phạm Vấn-2 vịkhai quốc công
Chưa có tư liệu về thời gian xây dựnghay trùng tu tôn tạo Theo sắc phong, cóthể đền được xây dựng cuối thế kỷ XV