CHUYÊN ĐỀ 9 KINH TẾ HỌC VĨ MÔ VỀ NỀN KINH TẾ MỞ Toàn cầu hóa và khu vực hóa đã trở thành một trong những xu thế phát triển chủ yếu của quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại, những tiến bộ nha
Trang 1CHUYÊN ĐỀ 9 KINH TẾ HỌC VĨ MÔ VỀ NỀN KINH TẾ MỞ Toàn cầu hóa và khu vực hóa đã trở thành một trong những xu thế phát triển chủ yếu
của quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại, những tiến bộ nhanh chóng về khoa học kỹ thuật cùng với vai trò ngày càng tăng của các công ty đa quốc gia đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyên môn hóa và hợp tác hóa của các quốc gia, làm cho lực lượng sản xuất được quốc tế hóa cao độ Tất cả các nước trên thế giới đều điều chỉnh chính sách kinh tế theo hướng mở cửa: giảm dần và tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, làm cho việc trao đổi hàng hóa luân chuyển các yếu tố sản xuất như vốn, lao động và kỷ thuật trên thế giới ngày càng thông thoáng hơn Để khỏi bị gạt ra ngoài lề của sự phát triển, các quốc gia đều phải nổ lực hội nhập vào các xu thế chung đó và tăng cường sức cạnh tranh kinh tế Trong bối cảnh đó, việc quản lý nền kinh tế của một nước không thể được quyết định một cách biệt lập và các mô hình kinh tế vĩ mô chỉ thực sự có ý nghĩa để mô tả các ngành kinh tế thực và cung cấp cơ sở cho việc hoạch định và đánh giá các chính sách kinh tế một khi có tính đến các khía cạnh quốc tế của một nền kinh tế Điều này hàm ý nền kinh tế cần được xem xét với tư cách là nền kinh tế mở, tức nền kinh tế có sự tương tác với các nền kinh tế khác trên thế giới
Mục đích chính của chương này là giới thiệu những khái niệm then chốt mà các nhà kinh tế vĩ mô thường sử dụng để nghiên cứu nền kinh tế mở Chúng ta sẽ đặc biệt nhấn mạnh tỷ giá hối đoái, một công cụ then chốt mà chính phủ có thể sử dụng để tác động đến hoạt động thương mại với thế giới bên ngoài và nhiều biến số kinh tế vĩ mô quan trọng khác của nền kinh tế
I Cán cân thanh toán
Phần này giới thiệu tổng quan về cán cân thanh toán quốc tế, một chỉ tiêu kinh tế quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách trong một nền kinh tế mở Trạng thái của cán cân thanh toán có ảnh hưởng quan trọng đến sự thay đổi của tỷ giá hối đoái Trong nhiều trường hợp, chính phủ buộc phải điều chỉnh chính sách kinh tế để đối phó với những mất cân bằng trong cán cân thanh toán đang đe dọa sự ổn định và phát triển của nền kinh tế
Cán cân thanh toán là một bảng cân đối ghi chép một cách hệ thống toàn bộ những
giao dịch kinh tế giữa trong nước với thế giới bên ngoài trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) Nó phản ánh giá trị hàng hóa và dịch vụ mà nền kinh tế đã xuất khẩu hoặc nhập khẩu cũng như các khoản tiền mà đất nước đã đi vay hoặc cho thế giới bên ngoài vay Ngoài ra sự can thiệp của ngân hàng trung ương vào thị trường ngoại hối thông qua việc thay đổi dự trữ ngoại tệ cũng được phản ánh trong cán cân thanh toán
Trang 2Cán cân thanh toán được ghi chép giống như một tài khoản Các giao dịch mang lại
ngoại tệ cho đất nước như xuất khẩu hay bán tài sản ra nước ngoài được ghi là khoản mục có (mang dấu +) Ngược lại, các giao dịch dẫn đến việc thanh toán ngoại tệ cho thế giới bên ngoài như nhập khẩu hàng hóa hay mua các tài sản nước ngoài được ghi là khoản mục nợ (mang dấu -).
Cán cân thanh toán
Cán cân thanh toán là tổng hợp của cán cân tài khoản vãng lai và cán cân tài khoản vốn Nó biểu thị luồng tiền ròng từ thế giới bên ngoài chảy vào một quốc gia khi các cá nhân công ty và chính phủ tiến hành giao dịch trong một khoản thời gian nhất định Một quốc gia có thâm hụt cán cân thanh toán khi luồng tiền chảy ra lớn hơn luồng tiền chảy vào Ngược lại, khi luồng tiền chảy vào lớn hơn luồng tiền chảy ra, thì quốc gia đó có thặng dư cán cân thanh toán Cán cân thanh toán cân bằng khi luồng tiền chảy vào đúng bằng luồng tiền chảy ra
Các tài khoản của cán cân thanh toán
Cán cân thanh toán bao gồm hai tài khoản chủ yếu: tài khoản vãng lai và tài khoản vốn
Tài khoản vãng lai
Tài khoản vãng lai phản ánh các giao dịch về hàng hóa, dịch vụ, thu nhập và chuyển giao vãng lai Tài khoản vãng lai được chia thành ba khoản mục lớn: tài khoản thương mại, thu nhập nhân tố từ nước ngoài, và chuyển giao vãng lai
Thứ nhất, Tài khoản thương mại ghi chép thu nhập và thanh toán xuất hiện từ việc
xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ
Bảng 10-1 Cán cân thanh toán của Việt Nam, 2001- 2003
Đơn vị:triệu USD
Cán cân tài khoản vãng lai 670 -421 -1844
Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ 17837 19654 23258
Nhập khẩu hàng hóa và dich vụ 17782 21178 26545
Trang 3Nhận 160 167 125
Đầu tư trực tiếp ròng từ nước ngoài 1252 2045 1829
Vay trung và dài hạn (ròng) 623 526 1047
Thay đổi dự trữ (-phản ánh tăng) -194 -464 -2148
* : Ước tính
Nguồn: IMF Country Report No 05/148, Table 3
Như đã giới thiệu trong chương 2, xuất khẩu là những hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong nước được bán ra nước ngoài, còn nhập khẩu là hàng hóa và dịch vụ sản xuất ở nước ngoài được bán ở trong nước Xuất khẩu mang lại ngoại tệ cho đất nước và do đó được ghi là khoản mục có, còn nhập khẩu đòi hỏi phải chi ngoại tệ ra nước ngoài và do
đó được khi là khoản mục nợ Khi tổng công ty lương thực miền Nam bán gạo cho Xingapo, thì gạo xuất khẩu của Việt Nam và nhập khẩu của Xingapo Khi Boing, nhà sản xuất máy bay của Mỹ, chế tạo và bán 5 chiếc máy bay Boing 777 cho tổng công ty hàng không Việt Nam, thì số máy bay này là nhập khẩu của Việt Nam và là xuất khẩu của Mỹ
Xuất khẩu ròng của một nước chính là chênh lệch giữa kim ngạch xuất khẩu và kim
ngạch nhập khẩu Việc bán gạo ra nước ngoài làm cho xuất khẩu ròng của Việt Nam tăng lên, trong khi việc mua máy bay Boing làm cho xuất khẩu ròng của Việt Nam giảm xuống Do xuất khẩu ròng cho biết về tổng thể một nước là người mua hay bán ròng trên
thị trường hàng hóa và dịch vụ thế giới, nên xuất khẩu ròng còn được gọi là cán cân thương mại Nếu xuất khẩu ròng dương, tức xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu, thì nền kinh tế
bán hàng hóa ra thế giới bên ngoài nhiều hơn là mua vào Trong trường hợp này nền kinh
tế có thặng dư thương mại Nếu xuất khẩu ròng giảm, tức xuất khẩu nhỏ hơn nhập khẩu, thì nền kinh tế mua hàng hóa từ nước ngoài nhiều hơn là bán ra Trong trường hợp này,
Trang 4nền kinh tế có thâm hụt thương mại Nếu xuất khẩu ròng bằng không, tức xuất khẩu bằng
đúng nhập khẩu, nền kinh tế có cân bằng thương mại.
Vậy điều gì quyết định cán cân thương mại của một quốc gia? Chúng ta có thể dễ dàng điểm ra các yếu tố có thể ảnh hưởng đến xuất khẩu, nhập khẩu và xuất khẩu ròng Những yếu tố chính bao gồm:
Thị hiếu của người tiêu dùng về hàng trong nước và hàng nước ngoài
Giá cả tương đối giữa hàng trong nước và hàng nước ngoài
Tỷ giá hối đoái mà tại đó mọi người có thể chuyển đổi giữa đồng nội tệ với tiền nước ngoài
Thu nhập của người tiêu dùng trong nước và người tiêu dùng nước ngoài
Chi phí bảo hiểm và vận chuyển hàng hóa từ nước này qua nước khác
Các chính sách của chính phủ đối với thương mại
Do tất cả các biến số này thay đổi theo thời gian, khối lượng thương mại cũng thường xuyên thay đổi
Thứ hai, số liệu trong khoản mục “Thu nhập nhân tố từ nước ngoài” chủ yếu là thu
nhập từ hoạt động đầu tư quốc tế như tiền lãi cổ tức và lợi nhuận Thu nhập nhân tố ròng chính là khoản chênh lệch giữa GNP và GDP của một quốc gia mà chúng ta đã giới thiệu trong chương hai
Thứ ba, chuyển khoản quốc tế ghi chép các giao dịch giữa các quốc gia mà không có
khoản đối ứng Đó là các giao dịch một chiều Giả sử như chính phủ Nhật viện trợ cho Việt Nam một số ôtô buýt dùng cho giao thông công cộng Để xử lý các giao dịch không
có luân chuyển tài chính đối ứng này, trong cán cân thanh toán cũng có khoản mục có tên gọi “chuyển khoản” Quy ước này cho phép các giao dịch một chiều được chuyển thành giao dịch 2 chiều chuẩn tắc Các ôtô buýt viện trợ cho hạch toán như một khoản nhập khẩu (ghi nợ) trong tài khoản của Việt Nam, được thanh toán bằng chuyển khoản (ghi có) Nhìn chung tất cả các khoản chuyển khoản có một giá trị kế toán mà không có khoản đối ứng Chuyển khoản vãng lai bao gồm chuyển tiền, quà tặng bằng hàng (thực phẩm, thuốc men), các khoản đóng góp cho các tổ chức quốc tế, và khoản tiền của những người lao động làm việc ở nước ngoài gởi về cho gia đình
Tài khoản vốn
Cho đến nay,chúng ta đã thảo luận việc cư dân của nền kinh tế mở tham gia vào thị trường hàng hóa và dịch vụ quốc tế như thế nào
Ngoài ra cư dân của nền kinh tế mở còn tham gia vào các thị trường tài chính quốc tế
Ví dụ, người Việt Nam có thể dùng 500 triệu đồng để mua một chiếc Ford, nhưng cũng
có thể dùng số tiền đó để chuyển sang đôla Mỹ và mua trái phiếu do chính phủ Mỹ phát
Trang 5hành Trong khi giao dịch thứ nhất tạo ra một luồng luân chuyển hàng hóa, thì loại giao dịch thứ hai tạo ra luồng luân chuyển vốn
Tài khoản vốn ghi chép các giao dịch liên quan đến việc di chuyển vốn giữa trong nước với thế giới bên ngoài Việc người Việt Nam bỏ tiền ra mua các tài sản nước ngoài được coi là nhập khẩu tài sản quốc tế và do đó được ghi là một khoản mục nợ trong tài khoản vốn của Việt Nam Ngược lại người nước ngoài mua tài sản của Việt Nam được coi là xuất khẩu tài sản ra nước ngoài và được ghi là khoản mục có
Hãy nhớ lại rằng đầu tư nước ngoài có hai dạng Việc VIFON xây dựng một nhà máy chế biến mì ăn liền ở Hungari là ví dụ về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài Ngược lại, việc một người Việt Nam mua cổ phiếu của một công ty Hungari là ví dụ về đầu tư gián tiếp
ra nước ngoài Trong trường hợp thứ nhất, nhà đầu tư Việt Nam trực tiếp điều hành hoạt động đầu tư Còn trong trường hợp thứ hai, nhà đầu tư Việt Nam đóng vai trò thụ động hơn Trong cả hai trường hợp, những người đang sống ở Việt Nam mua tài sản ở một nước khác và như vậy làm tăng dòng vốn của Việt Nam chảy ra nước ngoài
Dòng vốn luân chuyển giữa các quốc gia chịu sự chi phối của những biến số quan trọng sau đây:
Lãi suất thực tế trả cho tài sản nước ngoài
Lãi suất thực tế trả cho tài sản trong nước
Nhận thức về rủi ro kinh tế và chính trị của việc nắm giữ tài sản nước ngoài
Các chính sách của chính phủ ảnh hưởng tới việc người nước ngoài nắm giữ tài sản trong nước
Tài khoản tài trợ chính thức
Phần cuối cùng trong tài khoản cán cân thanh toán phản ánh những giao dịch về dự trữ quốc tế được ngân hàng trung ương của một nước giữ Đó là tài khoản tài trợ chính thức Các giao dịch này phản ánh việc tài trợ cho số dư của cán cân thanh toán Ngân hàng trung ương ở hầu hết các nước đều có dự trữ quốc tế để can thiệp vào thị trường ngoại hối nhằm hạn chế sự biến động bất lợi của tỷ giá hối đoái Dự trữ quốc tế có thể là vàng hoặc các ngoại tệ mạnh Khoản mục tài trợ chính thức luôn bằng về giá trị và có dấu ngược lại với cán cân thanh toán
Ngân hàng trung ương can thiệp vào thị trường ngoại hối nhằm tác động đến tỷ giá của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ Ví dụ, để giữ giá trị của đồng Việt Nam khỏi bị giảm giá trên thị trường ngoại hối, Ngân hàng nhà nước Việt Nam cần phải bán ngoại tệ hoặc vàng
để thu tiền đồng của Việt Nam từ lưu thông về Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam chỉ có
11 Hi n t i các công dân Vi t không đ ệ ạ ệ ượ c phép chuy n vôốn ra n ể ướ c ngoài đ đâầu t vào tài s n ể ư ả
n c ngoài Tuy nhiên, h có th mua ngo i t và g i têần têốt ki m tr c têốp bằầng ngo i t
Trang 6thể làm được điều đó nếu có dự trữ ngoại tệ và vàng Khi Ngân hàng nhà nước Việt Nam muốn ngăn cản đồng Việt Nam tăng giá, nó cần tung đồng Việt Nam ra để mua ngoại tệ Khi đó dự trữ của ngân hàng nhà nước Vệt Nam tăng lên Hoạt động này chỉ giới thiệu chi tiết khi đề cập đến các hệ thống tỷ giá hối đoái
Cán cân thanh toán, Để biết rõ hơn về hoạt động này thì chúng ta cần đề cập đến các
hệ thống tỷ giá hối đoái
II Tỷ giá hối đoái
1 Khái niệm và đo lường
1.1 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ lệ trao đổi giữa tiền của các quốc gia Ví dụ như khi đến ngân hàng, bạn sẽ thấy người ta niêm yết 15.900đồng/1đôla Mỹ Nếu bạn đưa ngân hàng 1 đôla Mỹ thì ngân hàng sẽ đưa lại cho bạn 15.900 đồng; hoặc ngược lại nếu bạn đưa ngân hàng 15.900 đồng, thì bạn sẽ nhận được 1 đôla Mỹ Nhưng Trong thực tế ngân hàng sẽ niêm yết giá bán đôla cao hơn giá mua đôla Sự chênh lệch này là một trong những nguồn thu nhập của ngân hàng Để đơn giản cho việc phân tích, chúng ta sẽ bỏ qua
sự chênh lệch này
Tỷ giá hối đoái có thể niêm yết dưới 2 dạng Nếu tỷ giá hối đoái là 15.900 đồng ăn 1 đôla Mỹ thì nó cũng là 1/15.900 (0,000063) đôla Mỹ ăn 1 đồng Trong chương này tỷ giá hối đoái danh nghĩa được hiểu là số đơn vị nội tệ đổi lấy một đơn vị ngoại tệ và ký hiệu là E Với tình huống trên chúng ta sẽ viết như sau :
EVNĐ/USD = 15.900 ++++Và khi tỷ giá hối đoái thay đổi tức là Nếu tỷ giá hối đoái thay đổi sao cho một đô la có thể đổi được nhiều tiền đồng hơn thì chúng ta gọi đó là sự giảm giá của tiền đồng Việt Nam Ngược lại nếu một đôla mua được
ít đồng hơn thì chúng ta gọi đó là sự lên giá của tiền đồng Việt Nam
+++ Ví dụ như khi tỷ giá hối đoái tăng từ 15.900 ăn một đôla lên 16000 đồng ăn 1 đôla, thì tiền đồng Việt Nam được coi là giảm giá và đồng đôla được coi là lên giá
Đôi khi chúng ta thấy các phương tiện truyền thông nói rằng tiền đồng Việt Nam mạnh hay yếu Mô tả này thường chỉ đề cập đến sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái danh nghĩa Khi một đồng tiền lên giá, người ta gọi đồng tiền đó mạnh hơn vì nó có thể mua đựơc nhiều ngoại tệ hơn Ngược lại khi một đồng tiền giảm giá, người ta gọi đồng tiền đó yếu đi
1.2 Tỷ giá hối đoái thực tế
Trang 7Như chúng ta đã biết, tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ lệ mà các đồng tiền trao đổi với nhau Do vậy, sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái danh nghĩa có thể làm thay đổi giá hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu khi tính bằng đồng nội tệ, và do đó có ảnh hưởng đến sự lựa chọn của người tiêu dùng mua hàng Việt Nam và hàng hóa của nước khác
Tuy vậy, hành vi xuất nhập khẩu lại không chỉ phụ thuộc vào tỷ giá hối đoái danh nghĩa Hành vi này còn phụ thuộc vào so sánh giá cả giữa trong nước và ở nước ngoài tính theo đồng nội tệ Vậy Tỷ giá hối đoái danh nghĩa được điều chỉnh theo lạm phát tương đối giữa trong nước và ở nước ngoài được gọi là tỷ giá hối đoái thực tế Chúng ta
có thể tính tỷ giá hối đoái thực tế ( )theo công thức sau:
Cũng như tỷ giá hối đoái danh nghĩa được biểu thị bằng lượng nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ, tỷ giá hối đoái thực tế được biểu thị bằng lượng hàng hóa trong nước trên một đơn vị hàng hóa nước ngoài Ví dụ, một chiếc áo jacket giá 800.000 đồng ở Việt Nam và
100 đôla tại Mỹ, và ta có tỷ giá hối đoái danh nghĩa là 16.000 đồng ăn một đô la, thì tỷ giá hối đoái thực tế của áo jacket Việt Nam so với jacket Mỹ là:
= (1.600.000 đ/1 áo Jacket Mỹ) / (800.000 đ/1 áo jacket VN)
= (1.600.000 đ/1 áo Jacket Mỹ) x (1 áo jacket VN/800.000 đ)
= 2 áo jacket Việt Nam / 1 áo Jacket Mỹ
Như vậy, tỷ giá hối đoái thực tế phản ánh thực tế phản ánh tỷ lệ trao đổi giữa hàng hóa của các quốc gia khác nhau
Vì các nhà kinh tế vĩ mô quan tâm đến nền kinh tế với tư cách một tổng thể, nên họ chú ý đến mức giá chung, chứ không xem xét từng loại giá riêng biệt Do vậy thay vì dùng giá áo jacket để tính tỷ giá hối đoái thực tế, các nhà kinh tế vĩ mô sử dụng chỉ số giá của mỗi nước: ta có thể tóm gọn bằng công thức với các kí hiệu
E là tỷ giá hối đoái danh nghĩa, là chỉ số giá trong nước, P* là chỉ số giá ở nước P
ngoài
Công thức trên cho thấy tỷ giá hối đoái thực tế cho biết giá tương đối giữa giỏ hàng hoá và dịch vụ ở nước ngoài so với giỏ hàng hoá trong nước và dịch vụ trong nước tính theo một đơn vị tiền chung (ở đây là tính theo đồng nội tệ) Khi tăng, đồng nội tệ được
Trang 8coi là giảm giá thực tế so với đồng tiền nước ngoài Khi giảm, đồng nội tệ được coi là tăng giá thực tế so với đồng tiền ở nước ngoài
Tại sao tỷ giá hối đoái thực tế lại quan trọng? Tỷ giá hối đoái thực tế là nhân tố quyết định một nước sẽ xuất khẩu và nhập khẩu mặt hàng nào và với số lượng là bao nhiêu Ví
dụ như, khi các nhà nhập khẩu nước ngoài quyết định xem nên mua gạo của Việt Nam hay của Thái Lan họ sẽ quan tâm xem gạo của nước nào rẻ hơn Tỷ giá hối đoái thực tế giúp họ có câu trả lời chính xác Trong một ví dụ khác, bạn đang cân nhắc nên đi nghỉ mát ở Nha Trang hay Pattaya (Thái Lan) Bạn có thể hỏi giá khách sạn ở Nha Trang (bằng đồng) và giá khách sạn ở Pattaya (bằng đồng bạt) và tỷ giá giữa Bạt và đồng Nếu bạn quyết định sẽ đi nghỉ mát ở đâu bằng cách so sánh chi phí, thì thực ra bạn đã dựa vào
tỷ giá hối đoái thực tế rồi đấy Đối với tổng thể nền kinh tế thì việc đồng Việt Nam giảm giá thực tế hàm ý rằng hàng Việt Nam trở nên rẻ hơn một cách tương đối so với hàng ngoại Khi đó cả người tiêu dùng trong nước và nước ngoài đều có xu hướng thay thế hàng của các nước ngoài khác bằng hàng Việt Nam làm cho xuất khẩu ròng của Việt Nam tăng lên Ngược lại, khi đồng Việt Nam tăng giá thực tế, thì hàng ngoại trở nên rẻ hơn một cách tương đối so với hàng hoá Việt nam, làm cho xuất khẩu ròng của Việt Nam giảm xuống
1.3 Tỷ giá hối đoái bình quân
Cho tới thời điểm này, chúng ta đã nói tới tỷ giá hối đoái như là chỉ có một tỷ giá hối đoái duy nhất Giờ đây, chúng ta cần hiểu khái niệm này một cách chính xác hơn Trước hết, chúng ta thấy rằng bất cứ một nước nào cũng có nhiều tỷ giá hối đoái song phương giữa đồng nội tệ với đồng ngoại tệ khác nhau Đồng Việt Nam (VND) có thể được dùng
để mua đôla Mỹ (USD ), Yên Nhật (JPY), Bảng Anh (GBP), nhân dân tệ Trung Quốc (CNY), vv… Khi nghiên cứu những thay đổi trong tỷ giá hối đoái, các nhà kinh tế thường sử dụng các chỉ số mang thông tin trung bình về các tỷ giá này Cũng giống như chỉ số giá tiêu dùng chuyển nhiều loại giá trong nền kinh tế về một loại giá, một chỉ số tỷ giá hối đoái chuyển các tỷ giá hối đoái khác nhau thành một thước đo duy nhất về giá trị quốc tế của đồng nội tệ Trong hầu hết các trường hợp, tỷ giá hối đoái bình quân (effective exchange rate) được hiểu là số bình quân gia quyền của hầu hết các tỷ giá song phương quan trọng với mức gia quyền được xác định bởi tỷ trọng của mỗi loại ngoại tệ trong tổng kim ngạch ngoại thương của nước đó Công thức tính tỷ giá hối đoái bình quân có thể được biểu diễn như sau:
EER = ER x W i i
Với EER là tỷ giá bình quân, ER i là tỷ giá hối đoái song phương với nước , và là tỷi W i
trọng thương mại của nước trong tổng giá trị thương mại của nước đang xét.i
Trang 92 Thị trường ngoại hối
Chúng ta xét mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Mỹ và xem điều gì quyết định tỷ lệ trao đổi giữa tiền đồng của Việt Nam và đô la Mỹ Ví dụ về hai nước làm cho việc phân tích trở nên đơn giản hơn, song những nguyên lý chung được áp dụng cho mọi giao dịch với nước ngoài Theo nghĩa đó, đôla Mỹ được coi là ngoại tệ nói chung, và số đồng Việt Nam ăn một đôla Mỹ được coi là tỷ giá hối đoái nói chung
Vì tiền của một nước được trao đổi bởi tiền của nước khác trên thị trường ngoại hối,
do đó cầu về đô la Mỹ chính là cung về đồng Việt Nam, trong khi cung về đôla Mỹ chính
là cầu về đồng Việt Nam Vì lý do này một lý thuyết về tỷ giá hối đoái giữa đô la Mỹ và đồng Việt Nam có thể xem xét hoặc là cầu và cung về đôla Mỹ để trao đổi với đồng Việt Nam hoặc là cầu và cung về đồng Việt Nam để trao đổi với đô la Mỹ Tuy nhiên, để tiện cho việc phân tích chúng ta sẽ xem xét cầu và cung về đôla Mỹ để trao đổi với đồng Việt Nam và tỷ giá được tính bằng số đồng Việt Nam ăn một đôla Mỹ (EVND/USD)
2.1 Cung về đôla Mỹ
Cung về đôla Mỹ bắt nguồn từ tất cả các giao dịch quốc tế của Việt Nam tạo ra thu nhập về đôla Mỹ Một nguồn quan trọng của cung về đôla Mỹ trên thị trường ngoại hối là người nước ngoài hiện tại không có tiền Việt Nam nhưng muốn mua hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam Một công ty Mỹ cần nhập hàng thuỷ sản của Việt Nam Đó là một nguồn cung về đôla phát sinh từ thương mại quốc tế Mỗi người mua nước ngoài cần bán tiền nước họ và mua tiền đồng để thanh toán cho hàng hoá và dịch vụ ở Việt Nam Ngoài ra, người nước ngoài cũng có thể mua cổ phiếu, trái phiếu, và bất động sản ở Việt nam Điều này đòi hỏi họ phải chuyển ngoại tệ thành đồng Việt Nam Như vậy cung về đôla Mỹ đơn giản biểu thị những giao dịch trong các tài khoản vãng lai và tài khoản vốn tạo ra thu nhập về ngoại tệ (các khoản mục có)
Hình 10.1 biểu diễn thị trường trao đổi giữa tiền đồng Việt Nam và đôla Mỹ Trong đó
tỷ giá hối đoái tính bằng số đồng Việt Nam ăn một đô la Mỹ biểu diễn trên trục tung và số đồng đô la Mỹ đưa ra thị trường để trao đổi với đồng Việt Nam được biểu diễn trên trục hoành Khi di chuyển dọc xuống phía dưới theo trục tung, đồng đôla Mỹ giảm giá trị so với tiền đồng của Việt Nam hay tiền đồng của Việt Nam lên giá so với đôla Mỹ Trong trường hợp ngược lại, chúng ta nói đồng Việt Nam giảm giá
Đường cung về đô la Mỹ biểu thị số đôla Mỹ cần chuyển đổi sang đồng Việt Nam tại mỗi mức tỷ giá hối đoái Nó là đường dốc lên phản ánh khi đồng đô la Mỹ so với đồng Việt Nam, sẽ có nhiều đô la Mỹ được cung ứng để chuyển đổi sang đồng Việt Nam Sở dĩ như vậy là vì khi đồng đô la Mỹ tăng giá, giá hàng và tài sản của Việt Nam tính bằng đôla
Mỹ giảm Điều này sẽ hấp dẫn người nước ngoài hơn và họ sẽ mua nhiều hàng và tài sản
Trang 10của Việt Nam hơn và do vậy sẽ phải chuyển đổi nhiều ngoại tệ sang đồng Việt Nam để phục vụ cho mục đích này
2.2 Cầu về đôla Mỹ
Cầu về đôla Mỹ trên thị trường trao đổi giữa đồng Việt Nam và đôla Mỹ đơn giản bắt nguồn từ các giao dịch quốc tế theo chiều ngược lại so với cung về đô la Mỹ Nó biểu thị những giao dịch trong tài khoản vãng lai và vốn liên quan đến việc thanh toán ngoại tệ cho các đối tác nước ngoài (các khoản mục nợ trong cán cân thanh toán) Vậy ai có nhu cầu về đôla Mỹ? các công dân và công ty Việt Nam có nhu cầu mua hàng hay tài sản của nước ngoài sẽ phải cung ứng đồng Việt Nam để chuyển sang đôla Mỹ
Đường cầu đôla Mỹ là một đường dốc xuống bởi vì khi đôla Mỹ lên giá so với đồng Việt Nam, thì hàng ngoại và tài sản ngoại trở nên đắt hơn và ít hấp dẫn hơn đối với Việt Nam chúng ta sẽ mua ít hàng hoá và tài sản ngoại hơn và do vậy sẽ cần ít đồng đôla Mỹ hơn
2.3 Xác định tỷ giá hối đoái trong hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi
Trong phần này, chúng ta xét một hệ thống trong đó tỷ giá được xác định hoàn toàn bởi quan hệ cung cầu trên thị trường tự do cạnh tranh và không có bất kỳ sự can thiệp nào của ngân hàng trung ương Giống như bất kỳ một loại giá cạnh tranh nào khác, tỷ giá hối đoái sẽ dao động theo những điều kiện của cầu và cung
Hình10-1 Xác định tỷ giá hối đoái
Giả sử mức giá đô la hiện tại là quá thấp (ví dụ trong hình 10-1 ) Khi đó lượng cầuE 1
về đô la vượt quá lượng cung Do đôla khan hiếm, một số công ty cần đôla để thanh toán các hợp đồng nhập khẩu không mua được đôla, và họ sẽ sẵn sàng trả giá cao hơn để mua được đủ số đôla cần thiết Những hành động như vậy sẽ đẩy giá đôla tăng đến mức E 0
Ngược lại, nếu hiện tại giá đôla quá cao, chẳng hạn như Khi đó lượng đô la nhu cầuE 2
thấp hơn lượng đô la cung ứng Nhiều người cần bán đôla sẽ không bán được và họ sẽ sẵn sàng hạ giá để bán được số đôla cần thiết Chỉ tại mức tỷ giá E 0 thì quá trình điều chỉnh mới dừng lại Khi đó, lượng cầu về đôla đúng bằng lượng đô la cung ứng E được0 gọi là tỷ giá hối đoái cân bằng