1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BC BIỆN PHÁP (22 23)

10 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Ngữ Văn Lớp 6
Trường học Trường Trung học Cơ sở Chu Văn An
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Báo cáo, đề tài
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 252,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP MÔN NGỮ VĂN LỚP 6 I THỰC TRẠNG 1 Thực trạng chung của việc học bộ môn Ngữ văn hiện nay Những năm gần đây, nhiều người quan tâm đến công tác giáo dục không.

Trang 1

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP

MÔN NGỮ VĂN LỚP 6

I THỰC TRẠNG

1 Thực trạng chung của việc học bộ môn Ngữ văn hiện nay

Những năm gần đây, nhiều người quan tâm đến công tác giáo dục không khỏi lo ngại trước một thực trạng, đó là tâm lý thờ ơ của nhiều em học sinh đối với việc học Ngữ văn Điều đáng buồn nhất cho các giáo viên dạy văn là nhiều học sinh có năng khiếu văn cũng không muốn tham gia đội tuyển Văn Các em còn phải dành thời gian học các môn khác Phần lớn CMHS khi đã định hướng cho con mình chỉ chủ yếu chú trọng các môn: Toán, Anh, Lý, Hóa,… thậm chí chọn hướng cho con thi khối A từ khi học tiểu học - một bậc học mà học sinh còn đang được rèn nói, viết, mới bắt đầu làm quen với những khái niệm về từ ngữ

2 Đối với học sinh lớp 6

- Đa phần học sinh đầu cấp chưa biết cách ghi chép, trình bày Một số ghi chép còn rất chậm, thụ động, đợi cô giáo viết lên bảng thì chép lại vào vở Nhiều

em trình bày thiếu khoa học, rập khuôn, máy móc dẫn đến khó khăn trong việc

tự học, tự đọc chính những kiến thức mình viết trong vở

- Học sinh mới lên lớp 6 chưa có thói quen tự học, tự nghiên cứu nên khi phải đọc và chuẩn bị những văn bản dài hoặc làm các bài TLV sáng tạo không

có văn bản mẫu thì đa số gặp khó khăn

- Phần lớn số học sinh khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự lọc ý để ghi chép, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình

- Đối với môn Ngữ văn, nhiều học sinh ngại học, không muốn học văn nên học một cách qua loa, chống đối cho xong Chính cả tâm lí phụ huynh học sinh cũng chưa đầu tư cho con nhiều thời gian vào học môn Ngữ Văn So với môn Toán hay môn Tiếng Anh thì số lượng học sinh yêu thích bộ môn Ngữ văn hạn chế hơn nhiều

Trang 2

II BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

Từ thực tiễn giảng dạy của bản thân và kết quả học tập của học sinh tôi xin đưa ra một số biện pháp mà bản thân mình đã thực hiện nhằm nâng cao chất lượng bộ môn Ngữ Văn đối với học sinh lớp 6 trường THCS Chu Văn An như sau:

1 Giáo viên tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân

- Giáo viên giảng dạy môn Ngữ Văn đều được đào tạo chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ nhưng cần tích cực, thường xuyên tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân

- Nên nắm vững kiến thức chung cho chương trình cấp học để có cái nhìn bao quát về nội dung yêu cầu cho từng khối lớp

- Soạn giảng theo đúng chương trình mà Bộ GD&ĐT đã quy định và tổ/nhóm chuyên môn đã xây dựng trong phân phối chương trình

- Khi giảng dạy cần chú ý đến từng nhóm đối tượng học sinh trong lớp học

để có phương pháp giảng dạy cho phù hợp Giáo viên cũng cần phân loại được học sinh trong lớp Dù là được thi chọn đầu vào nhưng mức độ tiếp thu, học tập của học sinh vẫn có sự khác nhau Từ đó phân loại đối tượng học sinh để có cách giao nhiệm vụ học tập phù hợp Đối với học sinh giỏi bồi dưỡng nâng cao kiến thức kĩ năng đã học để tạo hứng thú trong việc học tập bộ môn

- Sử dụng hợp lý sách giáo khoa, không đọc chép, hướng dẫn học sinh ghi theo ý chính và diễn đạt theo ý hiểu của mình, không để học sinh đọc theo sách giáo khoa (đặc biệt là phần Ghi nhớ) để trả lời câu hỏi

- Sử dụng có hiệu quả thiết bị dạy học, phương tiện trực quan, phương tiện nghe nhìn; ứng dụng hợp lý công nghệ thông tin, thực hiện đầy đủ các dạng câu hỏi, các dạng bài tập từ dễ đến khó

2 Hướng dẫn học sinh cách ghi chép bài, cách học (trên lớp và ở nhà)

2.1 Khi tiếp nhận lớp, GV bộ môn cần quy định số lượng vở; hướng dẫn học sinh cách ghi chép sao cho đúng, đủ, khoa học, dễ học

- Số lượng vở: 2 quyển (1 quyển ghi chép bài trên lớp, 1 quyển làm bài ở

Trang 3

- Về cách ghi chép:

+ Một số học sinh thường để lề rất ít hoặc không để lề, vì vậy giáo viên phải kiểm tra nhắc nhở để học sinh phải để lề đủ lớn dễ theo dõi bài học Nếu cần bổ sung thì ghi vào lề cho tiện

+ Ngược lại, một số lại để lề quá lớn nên không còn đủ chỗ để ghi bài + Phần số tiết, tên bài, các đề mục cũng cần phải ghi làm sao cho nổi bật dễ nhận thấy

+ Sau mỗi tiết học cần có thói quen kẻ hết bài để dễ học, dễ kiểm tra

2.2 Yêu cầu cụ thể đối với các phân môn

GV cần hướng dẫn học sinh một cách chi tiết, cẩn thận các yêu cầu cụ thể đối với từng phân môn ở ngay tiết học đầu tiên của bộ môn

* Với phân môn Văn bản

- Về chuẩn bị bài ở nhà:

+ Đọc văn bản ít nhất 2 đến 3 lần Suy nghĩ và trả lời các câu hỏi phần Đọc

- hiểu văn bản vào vở bài tập

+ Phân tích cho học sinh thấy được cái ưu, nhược điểm của việc chép các

quyển sách Để học tốt Ngữ văn

Ưu: không phải suy nghĩ

Nhược: Rất dài, chiếm nhiều thời gian Chép mà không hiểu nội dung

- Ở trên lớp:

+ Chú ý nghe giảng để nắm được bài ngay trên lớp Đối với văn bản là tác phẩm thơ nên học thuộc, là truyện phải tóm tắt dược nội dung, nhớ được dẫn chứng

+ Với những tác phẩm có tác giả cần nắm nhớ được về tiểu sử tác giả (Năm sinh năm mất nếu có tên khai sinh, bút danh, quê quán), sự nghiệp văn chương của tác giả đó, hiểu được hoàn cảnh sáng tác tác phẩm

+ Hiểu được giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm

+ Phân tích, cảm thụ một số chi tiết đặc sắc

* Đối với phân môn Tiếng Việt

Trang 4

+ Học thuộc các khái niệm, vận dụng làm tốt các bài tập từ nhận biết đến vận dụng cao

+ Với các biện pháp tu từ: biết phát hiện đúng, nêu được tác dụng của phép

tu từ đó trong hoàn cảnh sử dụng

+ Biết viết câu, viết đoạn với nhiều chủ đề và yêu cầu khác nhau

* Đối với phần Làm văn

+ Nhớ được đặc trưng các thể loại: Miêu tả, Tự sự, Biểu cảm, Nghị luận, thuyết minh, hành chính công vụ

+ Sau khi đọc đề bài, phải biết tìm hiểu đề, tìm ý; biết cách lập dàn ý; biết viết các đoạn để hoàn chỉnh bài viết

3 Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học

Thay bằng cách ghi chép truyền thống theo từng mục lớn, nhỏ ở tất cả các tiết học, GV sử dụng sơ đồ ở một số tiết phù hợp sẽ giúp HS tốn ít thời gian trong việc ghi chép, dễ ghi nhớ và tổng hợp kiến thức

3.1 Đối với những kiến thức mới và ghi bảng của GV: hầu hết các GV đều

có chung quan niệm xem sơ đồ tư duy là công cụ, phương tiện, là một thứ “bảng phụ” hỗ trợ, minh họa cho tiết dạy mà thôi Qua một quá trình thử nghiệm chúng trong một số tiết dạy, tôi nhận thấy rõ ràng cách làm này ta hoàn toàn có thể làm được Không những thế, việc kết hợp sử dụng sơ đồ tư duy trong việc tổ chức dạy học bài mới với việc sử dụng nó để cô đọng kiến thức thay cho việc ghi bảng lại tiết kiệm được rất nhiều thời gian trên lớp, lại vừa có tác dụng hình thành cho học sinh có thói quen ghi chép bằng sơ đồ tư duy Đây cũng là việc làm rất cần thiết góp phần rèn luyện kĩ năng vẽ sơ đồ tư duy cho các em, nhất là những bài học nhằm giới thiệu, cung cấp kiến thức

Giáo viên đưa ra một từ khoá để nêu kiến thức của bài mới rồi hướng dẫn học sinh khai thác, ghi chép nội dung bài bằng sơ đồ tư duy thông qua các câu hỏi, gợi ý cho các em để các em tìm ra các từ liên quan đến từ khoá đó và hoàn thiện sơ đồ tư duy Qua sơ đồ tư duy đó học sinh sẽ nắm được kiến thức bài học một cách dễ dàng

Trang 5

- Ví dụ : Với văn bản Thầy bói xem voi (Môn Ngữ văn lớp 6), sau phần

Đọc và tìm hiểu chung, giáo viên có thể vẽ mô hình sơ đồ tư duy lên bảng Sơ

đồ tư duy gồm 5 nhánh chính, ở mỗi nhánh có thể phân thành nhiều nhánh nhỏ tuỳ thuộc vào nội dung bài học

Để có thể hoàn thiện được mô hình sơ đồ tư duy của bài học, giáo viên sử dụng hệ thồng câu hỏi định hướng để khai thác kiến thức:

+ Bố cục của văn bản: học sinh sẽ dựa vào văn bản để xác định các ý chính (Hoàn cảnh các thầy bói xem voi, cách xem voi, nhận xét về con voi, hậu quả) + Tiếp tục hoàn thành các nhánh của BĐTD bằng hệ thống câu hỏi nhỏ có tính gợi mở (Các thầy xem voi trong hoàn cảnh nào? Cách xem voi của các thầy

ra sao?, )

Sơ đồ tư duy văn bản: Thầy bói xem voi - Ngữ văn 6

Trang 6

3.2 Đối với những kiến thức HS đã được làm quen trước đó: Đầu giờ, giáo viên cho từ khoá rồi yêu cầu các nhóm học sinh vẽ sơ đồ tư duy bằng cách đặt câu hỏi gợi ý cho các em để các em có thể vẽ tiếp các nhánh con và bổ sung dần các ý nhỏ (nhánh con cấp 2, cấp 3)

- Ví dụ : Khi học bài Nhân hóa (Môn Ngữ văn lớp 6), đây là kiến thức các

em đã được làm quen ở Tiểu học nên GV sẽ hướng dẫn để các em tự chiếm lĩnh kiến thức Đầu giờ, giáo viên cho từ khoá “Nhân hóa”, chia HS thành các nhóm, giao nhiệm vụ cụ thể cho các nhóm, quy định thời gian sau đó quan sát HS thực hiện nhiệm vụ học tập Sau khi các nhóm HS vẽ xong, gọi một số nhóm lên trình bày trước lớp Các nhóm học sinh khác bổ sung ý Giáo viên kết luận Qua đó giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả, đồng thời kích thích hứng thú học tập của học sinh

Sơ đồ tư duy bài: Nhân hóa - Ngữ Văn 6

3.3 Sau mỗi tiết học và đối với các bài ôn tập: Dùng sơ đồ tư duy để củng

cố kiến thức sau mỗi tiết học và hệ thống kiến thức sau mỗi chương, phần Sau

Trang 7

tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ sơ đồ tư duy Mỗi bài học được

vẽ kiến thức trên một trang giấy rời rồi kẹp lại thành tập Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh chóng, dễ dàng

- Ví dụ: Giáo viên tổ chức cho học sinh vẽ sơ đồ tư duy sau mỗi bài học để mỗi em có một tập sơ đồ tư duy về các từ loại tiếng Việt: danh từ, động từ, tính

từ, số từ, đại từ, lượng từ, chỉ từ

Sơ đồ tư duy bài: Động từ - Ngữ Văn 6

Tóm lại, việc vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học sẽ dần hình thành cho

HS tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học Sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác như vấn đáp, gợi mở, thuyết trình,… có tính khả thi cao góp phần đổi mới PPDH, đặc biệt là đối với các lớp ở cấp THCS

4 Đa dạng hoá các hình thức kiểm tra, đánh giá

Với việc kiểm tra thường xuyên, giáo viên cần đa dạng hoá để học sinh phải tự giác học tập

Trang 8

- Kiểm tra vở ghi: Kiểm tra chữ viết, kiểm tra nội dung ghi chép có đầy đủ không (nhắc nhở về cách ghi chép)

- Kiểm tra sách giáo khoa, vở nháp của học sinh Học sinh nào chưa có, chưa đúng yêu cầu nhắc nhở để kiểm tra lại Nên giới thiệu một số sách tham khảo cho học sinh sưu tầm để học tập

- Kiểm tra đầu giờ:

+ Kiểm tra miệng

+ Kiểm tra viết: có thể yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ tư duy cho nội dung kiến thức lý thuyết sau đó lấy ví dụ minh họa

Ví dụ: Với bài Từ và cấu tạo của từ tiếng Việt, GV yêu cầu HS vẽ sơ đồ tư

duy phân loại từ theo cấu tạo Mỗi loại lấy ví dụ minh họa

+ Kiểm tra việc làm bài tập của học sinh

- Không chỉ gọi những HS giơ tay, tránh việc các em lười học và yên tâm rằng mình không giơ tay thì cô giáo không gọi

- Khuyến khích ghi điểm đối với học sinh trả lời tốt những câu hỏi thông hiểu và vận dụng trong quá trình dạy bài mới

5 Phối hợp chặt chẽ với nhà trường, với giáo viên chủ nhiệm

Thông báo cho Ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm về tình hình học tập chung của học sinh, nhất là những học sinh chưa chịu khó, chưa tích cực

III KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1 Đối với giáo viên

Qua nhiều năm rút kinh nghiệm và thay đổi, áp dụng những biện pháp nêu trên tôi nhận thấy chất lượng dạy và học được nâng cao rõ rệt Ở phương diện là một giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy, tôi thấy mình vững vàng hơn trong giảng dạy, tự tin say mê hơn với sự nghiệp trồng người

2 Đối với học sinh

Các em bước đầu đã ý thức được tầm quan trọng của môn Văn, biết bộc lộ cảm xúc của mình đúng cách, đúng nơi, đúng lúc Học sinh nhanh chóng bắt nhịp được với phương pháp học tập mới, chủ động, dễ dàng hơn trong việc ghi

Trang 9

tổng hợp và ghi nhớ kiến thức một cách chủ động Số lượng học sinh có kĩ năng trình bày, làm văn tốt và ham thích học môn tăng rõ rệt

* Kết quả học tập

Bài kiểm tra 15 phút số 1

Tổng số

HS: 80

Bài kiểm tra 15 phút số 2

Tổng số

HS: 80

* Mức độ ưa thích

Khi HS mới vào học

Câu hỏi

Tổng số HS: 80

Trả lời

Em có thích học môn

Ngữ văn không?

Thích Bình thường Không thích

15 18,8 % 45 56,3% 20 24,9%

Sau khi GV thực hiện đồng bộ các biện pháp

Câu hỏi Tổng số

HS: 80

Trả lời

Trang 10

Ngữ văn không? 35 43,8% 40 50 % 5 6,2 %

Trên đây là một số biện pháp tôi đã thực hiện nhằm nâng cao chất lượng trong dạy học bộ môn Ngữ văn đối với học sinh lớp đầu cấp Tuy nhiên đó cũng chỉ là những ý kiến cá nhân Trong thực tế còn có rất nhiều các kinh nghiệm từ các đồng nghiệp Rất mong sự đóng góp của các thầy cô

Ngày đăng: 24/10/2022, 14:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w