2 BIỆN PHÁP MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 3 THEO CÁC DẠNG CƠ BẢN NHẰM GIÚP HỌC SINH TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP 1 MỞ ĐẦU Trong các môn học, môn Toán là một trong nh.
Trang 1SINH LỚP 3 THEO CÁC DẠNG CƠ BẢN NHẰM GIÚP HỌC SINH TÍCH
CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
1 MỞ ĐẦU
Trong các môn học, môn Toán là một trong những môn có vị trí rất quan trọng Các kiến thức, kỹ năng của môn Toán có nhiều ứng dụng trong đời sống, giúp học sinh nhận biết mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực nhờ đó mà học sinh có những phương pháp, kĩ năng nhận thức một
số mặt của thế giới xung quanh Môn Toán còn góp phần rèn luyện phương pháp suy luận, suy nghĩ đặt vấn đề và giải quyết vấn đó; góp phần phát triển óc thông minh, suy nghĩ độc lập, linh động, sáng tạo cho học sinh Mặt khác, các kiến thức,
kĩ năng môn Toán ở tiểu học còn có nhiều ứng dụng trong đời sống thực tế
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin đã làm cho khả năng nhận thức của trẻ cũng vượt trội Điều đó đã đòi hỏi những nhà nghiên cứu giáo dục luôn luôn phải điều chỉnh nội dung, phương pháp giảng dạy phù hợp với nhận thức của từng đối tượng học sinh nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện góp phần đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho quê hương, đất nước
Ở bậc Tiểu học môn Toán còn giúp giáo dục các em những kiến thức ban đầu về thế giới khách quan, đồng thời còn xây dựng một số tính cách, nhân cách của người học, tính cẩn thận, kiên nhẫn, vượt khó, trung thực, kỹ năng và thói quen làm việc có kế hoạch, ham tìm tòi học hỏi, môn Toán còn là một môn chính bắt buộc qua các kỳ thi định kỳ để tuyển chọn học sinh giỏi Từ những yêu cầu quy tắc nắm được và ghi nhớ ở các dạng Toán các em đã học rồi sử dụng trong cả các niên học sau này
Môn Toán còn đảm bảo cho học sinh cung cấp những kiến thức mới lạ cũng như các môn khác nó được đề cập một đối tượng gần gũi và gắn bó với cuộc sống hằng ngày với học sinh, vì thế môn Toán lớp 3 thực chất hình thành từ kỹ năng đến thói quen nhất định, từ đúng đến hay Thông qua đó đối với học sinh lớp
3 đều đạt được là lòng mong muốn của mọi người giáo viên chủ nhiệm
Đôi khi với học sinh lớp 3 có những vấn đề còn nan giải và có thể nói chất lượng học tập của học sinh nhiều phụ huynh còn nêu: “Con em tôi đã học qua lớp
2, xem ra thì có giải giải toán tạm được nhưng các phép tính cộng, trừ, nhân, chia
và các bài toán khác còn sai khá nhiều dẫn đến điểm kém” Như thế thì qua những câu hỏi cộng với sự thắc mắc trên tôi rất nhọc tâm suy nghĩ và tìm cách khắc phục Hơn nữa ở bộ môn này nó chính là nền tảng vững chắc nhất cho các em bước vào đời cho nên tôi quyết định đi sâu vào vấn đề để: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng môn toán cho học sinh lớp 3 theo các dạng cơ bản nhằm giúp học sinh tích cực hóa hoạt động học tập”
2 NỘI DUNG BIỆN PHÁP
2.1 Nội dung biện pháp
2.1.1 Mô tả nội dung biện pháp
Trang 2Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 3 có những nội dung như sau:
- Nội dung thứ nhất là giảng dạy kết hợp với các phương pháp sau:
+ Phương pháp đàm thoại, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp, với học sinh lớp 3A
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp điều tra
+ Phương pháp thực hành luyện tập
+ Phương pháp tổng kết
- Nội dung thứ hai đó là:
+ Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa Toán lớp 3
+ Nghiên cứu những nguyên nhân dẫn đến học sinh chưa hoàn thành môn Toán
+ Nghiên cứu những biện pháp, phương pháp giáo dục hay, phù hợp để khắc sâu kiến thức, hình thành thói quen, giúp học sinh nắm và để học tốt môn Toán
- Nội dung thứ ba là:
- Hướng dẫn học sinh học sinh thuộc bảng nhân, chia
- Hướng dẫn đọc, viết, so sánh các số tự nhiên
- Hướng dẫn cách đặt tính, thực hiện phép tính
- Hướng dẫn giải Toán có lời văn
- Hướng dẫn học sinh nắm, thuộc các quy tắc đã học
- Học sinh được luyện giải các bài Toán có lời văn một cách bài bản, có hệ thống
- Nội dung thứ tư là đặt ra các biện pháp để nâng cao chất lượng học sinh và thay vào đó áp dụng sao cho đồng bộ nhịp nhàng, cụ thể theo chương trình chuẩn kiến thức kỹ năng hiện hành trong năm học của lớp 3A Bên cạnh thực hiện đúng theo sự chỉ đạo của ngành giáo dục, trong đó có sự chấp hành của Ban giám hiệu
và chuyên môn
- Nội dung thứ năm là kiểm tra theo dõi thường xuyên theo định kỳ đối với từng học sinh trong lớp, từ đó có phương hướng sắp xếp điều tiết trong một tiết dạy hoặc một ngày trên lớp
- Cách thức thực hiện
Qua các nội dung tôi đã nêu ở trên, tôi đã thực hiện giảng dạy và rèn luyện trực tiếp đối với học sinh lớp 3A của tôi bằng các cách thứ như sau:
- Áp dụng các phương pháp đàm thoại, quan sát, điều tra, thực hành luyện tập, tổng kết vào từng bài tập để học sinh nắm và hiểu rõ yêu cầu bài toán và làm tốt các bài toán
Thông qua việc cứu các nội dung trong sách giáo khoa để từ đó giáo viên phân loại các bài tập phù hợp với từng đối tượng học sinh
Việc nghiên cứu những nguyên nhân dẫn đến học sinh chưa hoàn thành môn Toán là việc rất cần thiết Bởi vì nếu không tìm hiểu nguyên nhân thì tôi sẽ không biết được là học sinh đó đang gặp khó khăn về tính toán hay lúng túng chưa biết tìm cách trình bày bài toán
Trang 3Khi đã phân loại được từng học sinh theo các mức: Giỏi, Khá, trung bình, yếu thì tôi đã áp dụng các biện pháp, phương pháp giáo dục hay, phù hợp để khắc sâu kiến thức, hình thành thói quen, giúp học sinh nắm và để học tốt môn Toán
Quá trình thực hiện biện pháp của bản thân
- Thuận lợi: Bản thân tôi nhận được sự quan tâm của ban giám hiệu và của đồng nghiệp trong nhà trường
Qua thực tế giảng dạy ở các khối lớp tôi thấy: Phần nhiều học sinh chưa nắm vững chắc những kiến thức cơ bản về Toán như: Chưa thuộc bảng nhân, chia Chưa nắm vững cách đọc, viết và so sánh số tự nhiên (đến hàng nghìn, chục).Chưa biết đặt tính, thực hiện phép tính (cộng, trừ, nhân, chia cột dọc) Đặc biệt các em còn rất yếu trong việc giải Toán có lời văn Chưa thuộc các quy tắc đã học trong giải Toán
Qua quá trình dạy học nhiều năm ở tiểu học, được trực tiếp giảng dạy môn Toán cho học sinh nhất là học sinh lớp 3, tôi nhận thấy khi học toán đa phần các
em có những hạn chế sau:
+ Học sinh chưa thuộc bảng nhân, chia
Vì không biết cấu tạo của bảng nhân, bảng chia Với các chữ số khá lớn, nhiều học sinh cảm thấy gặp khó khăn ngay từ khi bắt đầu học thuộc lòng nó một cách máy móc Trong khi đó giáo viên chưa giúp các em nhận biết các dấu hiệu của từng bảng nhân, chia
+ Học sinh chưa nắm vững cách đọc, viết và so sánh số tự nhiên (đến hàng nghìn, chục)
+ Chưa nắm vững cách đọc, viết và so sánh số tự nhiên vì học sinh chưa nắm được cấu tạo các số tự nhiên
+ Học sinh chưa biết đặt tính, thực hiện phép tính (cộng, trừ, nhân, chia cột dọc)
+ Các em chưa biết đặt tính, thực hiện phép tính (cộng, trừ, nhân, chia cột dọc) vì học sinh chưa nắm được quy tắc đặt tính nên khi thực hiện phép tính chưa đúng
+ Đặc biệt các em giải toán có lời văn chưa đúng
Các em giải toán có lời văn chưa đúng vì các em đọc chưa thạo và chưa hiểu đề bài, các em chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra lối giải, chưa biết cách trình bày bài giải, diễn đạt vụng và thiếu logic
+ Học sinh chưa thuộc các quy tắc đã học trong giải toán
Với dạng toán : lập đề toán theo tóm tắt rồi giải bài toán đó:
Ví dụ: Tóm tắt (bài 3 trang 129)
4 xe: 8520 viên gạch
3 xe: viên gạch ?
Trước tiên giáo viên cho học sinh liên hệ đến kiến thức bài cũ có liên quan với dạng: bài toán giải bằng 2 phép tính có liên quan rút về đơn vị
Giáo viên cho học sinh thầm để nghĩ cách áp dụng vào tóm tắt nhằm đưa
ra cách đặt đề toán (như dạng toán sơ đồ trên đã học) và cho 1,2 học sinh nêu to đề toán trước lớp, GV kết hợp vẽ sơ đồ đoạn thẳng trên bảng lớp
Chẳng hạn :
8520 viên gạch
Trang 4? viên gạch
Hỏi :
+ Bài toán cho biết gì ? (4 xe chở được 8520 viên gạch)
+ Bài toán hỏi gì ? (3 xe chở được bao nhiêu viên gạch)
+ Muốn biết 3 xe chở được ta cần phải biết gì ? (1 xe chở được bao nhiêu viên gạch)
Như vậy căn cứ dựa vào sơ đồ và những câu hỏi trên
Hỏi :
+ Hỏi làm thế nào tính được 1 xe chở được bao nhiêu viên gạch ? (lấy
8520 chia cho 4 được 2130 viên)
+ Bây giờ làm thế nào để tính 3 xe chở bao nhiêu viên gạch: (lấy 2130 nhân 3 được 6390 viên) đáp số: 6390 viên gạch
- GV cho lớp giải vào vở, 1 học sinh lên bảng, kết hợp chấm chữa bài, một
số học sinh nhận xét lời văn và phép tính cách giải, đồng thời khen ngợi, tuyên dương giáo viên sữa chữa cụ thể
Giải
Số viên gạch trong mỗi xe là:
8520 : 4 = 2130 (viên)
Số viên gạch trong 3 xe là:
2130 x 3 = 6390 (viên) Đáp số: 6390 (viên gạch) Sau khi tiến hành kiểm tra trước thực nghiệm, tôi thu được kết quả sau:
Đọc, viết và so sánh số tự nhiên 10/22=45,5% 12/22=54,5% Đặt tính, thực hiện phép tính 9/22=40,9% 15/22=59,1%
Các quy tắc đã học trong giải toán 6/22 =27,3% 16/22=72,7%
Chính vì những lí do trên và vì có khá nhiều học sinh chưa nắm chắc các nội dung kiến thức để học môn Toán lớp 3 Ngoài các biện pháp nêu trên và dựa vào điều kiện thực tế tôi còn đưa ra các biện pháp sau:
Biện pháp thứ nhất: Giáo viên tìm hiểu, nắm chắc nội dung, chương trình, mục tiêu, yêu cầu của môn Toán đối với cấp tiểu học và đối với lớp mình dạy nói riêng
Biện pháp thứ hai: Giáo viên nắm vững quy trình giải bài Toán có lời văn Biện pháp thứ ba: Ôn tập, hệ thống lại kiến thức giải Toán có lời văn đã học
Biện pháp thứ tư: Phát hiện lỗi sai của học sinh để đưa ra biện pháp sửa phù hợp
Trang 5Biện pháp thứ năm: Hướng dẫn học sinh giải các bài Toán có lời văn lớp 3 theo bài bản để khắc phục những lỗi sai; trên cơ sở hướng dẫn học sinh, giáo viên đưa ra những lưu ý cần thiết giúp học sinh lưu ý khi giải Toán
Biện pháp thứ sáu: Rèn kĩ năng tính Toán chính xác khi giải Toán
Biện pháp thứ bảy: Rèn tư duy sáng tạo cho học sinh năng khiếu khi giải Toán
Rà soát số học sinh yếu kém môn Toán trao đổi với giáo viên dạy bộ môn Hướng dẫn học sinh học sinh thuộc bảng nhân, chia
Đã nhiều năm giảng dạy lớp 3, theo tôi nghĩ, học sinh học tốt môn toán thì không thể không luyện cho học sinh học thuộc bảng nhân, bảng chia Bởi lẽ học sinh có thuộc bảng nhân, bảng chia mới vận dụng giải các bài tập có liên quan Đặc biệt là các phép chia có số bị chia 3, 4 chữ số và giải toán hợp
Hàng ngày, đầu giờ học môn toán, thay vì cho học sinh vui, để khởi động, tôi thay vào đó là cả lớp cùng đọc một bảng nhân hoặc chia và cứ thế lần lượt từ bảng nhân 2, bảng chia 2 đến bảng nhân, chia hiện học
Cuối mỗi tiết học toán tôi thường kiểm tra những học sinh chưa thuộc bảng nhân, chia từ 2 đến 4 em
Tôi thường xuyên kiểm tra học sinh bảng nhân, chia bằng cách in bảng nhân, chia trên giấy A4, nhưng không in kết quả và bỏ trống một số thành phần của phép nhân, chia trong bảng Vào cuối tuần dành thời gian khoảng 10 phút cho các
em ghi đầy đủ và hoàn chỉnh bảng nhân, chia như yêu cầu Tôi và học sinh cùng nhau nhận xét, khen ngợi học sinh làm bài tốt, nhắc nhở các em làm bài chưa tốt
Tôi cũng thường xuyên cho học sinh chép bảng nhân nào mà các em chưa thuộc vào tập riêng Ngay sau trình bày và đọc cho tổ trưởng nghe vào đầu giờ, sau
đó tổ trưởng báo cáo cho giáo viên
Để khắc sâu kiến thức, tôi còn cho học sinh chơi trò chơi Hướng dẫn đọc, viết, so sánh các số tự nhiên Hướng dẫn đọc, viết các số tự nhiên Hướng dẫn so sánh các số tự nhiên Hướng dẫn cách đặt tính, thực hiện phép tính
Theo tôi, đặt tính cũng là một việc hết sức quan trọng trong quá trình làm tính Nếu học sinh không biết cách đặt tính hoặc tính sai sẽ dẫn đến kết quả sai Vì thế theo tôi nghĩ, để học sinh căn bản khi thực hiện phép tính phải nắm vững cách đặt tính, các thành phần cũng như sự liên quan trong khi tính cộng trừ, nhân chia
Bằng các biện pháp cụ thể trên, biện pháp đã có giá trị thiết thực trong việc giảng dạy của giáo viên và học sinh, làm chất lượng môn Toán của học sinh được tốt hơn Phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Làm cho giờ học diễn ra nhẹ nhàng, hiệu quả
2.2 Đánh giá kết quả thu được
2.2.1 Cách thức thu thập dữ liệu
Thông qua việc kiểm tra khảo sát môn Toán đầu năm học 2021 – 2022 tôi
đã phân loại học sinh theo từng mức: Tốt, khá, trung bình, yếu Cùng với sự theo dõi và kiểm tra hàng ngày, kiểm tra định kì qua các bài tập mà học sinh làm được
và không làm được Từ đó tôi sẽ vận dụng các phương pháp giảng dạy và rèn luyện phù hợp với từng học sinh
Để học sinh có một kết quả tốt về môn Toán tôi đã nỗ lực rèn luyện học sinh hết mình bằng việc đến sớm hơn 15 phút đầu giờ và cuối buổi chiều tôi dành 30
Trang 6phút để rèn luyện những học sinh yếu kém môn Toán và bồi dưỡng học sinh giỏi Toán
Đồng thời bản thân tôi luôn tìm tòi, học hỏi đồng nghiệp, tiếp thu lĩnh hội những kiến thức mới để vận dụng rèn luyện học sinh từ đầu năm học
- Cách thức phân tích, đánh giá kết quả
Các phương pháp và hình thức kiểm tra:
Đối với việc học tập trên lớp, mỗi ngày giáo viên có sự kiểm tra lại kiến thức, giúp các em thấy được sự tự giác và cách thức của người học Thông qua đó giáo viên nhận xét các em có làm bài, học bài, nắm được nội dung cần truyền đạt hay không
từ đó có cơ sở chia học sinh làm hai loại trình độ
Học sinh giỏi và học sinh khá học sinh năng khiếu
Ở dạng học sinh giỏi và khá (năng khiếu) chỉ cần bồi dưỡng thêm về toán
có hình thức các nội dung cao hơn (vượt chuẩn) nhưng có sự kiểm tra lại của giáo viên
- Học sinh trung bình yếu:
Đây là những đối tượng học sinh cần quan tâm nhất và đáng yêu thương nhất Vì thế giáo viên có sự kết hợp với cán bộ lớp, nên tổ chức sắp xếp thành những nhóm tổ học tập ở lớp, ở nhà
Thời gian ở lớp: giáo viên chia thành 3 nhóm, theo 3 tổ Trong đó có 1 lớp trưởng, 1 lớp phó, 1 phó văn nghệ - lao động, chấp hành theo sự phân công của giáo viên Khi trước vào học giờ giấc theo quy định, truy bài đầu giờ 10 phút, về những nội dung đã học, cần học Bên cạnh việc phải bố trí chỗ ngồi học, xen kẽ nhóm thảo luận cặp, 1 học sinh giỏi có 1 học sinh yếu Điều trọng tâm ở đây giáo viên thường xuyên giúp đỡ, quan tâm nhiều trong mỗi tiết học đối với những học sinh yếu Trước hết là làm sao cho các em nắm được chủ định hoàn toàn những nội dung, kiến thức toán theo chuẩn kiến thức kỹ năng, từ đó dần dần phát triển thêm Tuy nhiên cũng cần dạy – học môn toán cho học sinh phải giáo dục liên tục, đủ số tiết mới có hiệu quả
* Phương thức kiểm tra:
- Kiểm tra định kỳ:
Theo dõi những em trung bình yếu này, nắm được thiết yếu nhằm đề ra kế hoạch kiểm tra từng phần theo nội dung chương trình toán 3
- Kiểm tra cuối kỳ I, xem qua học lực để xác định hướng bồi dưỡng phát triển cao hơn
Kiểm tra viết thực hành có thể là đưa ra những nội dung đã học, kiểm tra một vài tiết trên giấy trắng Từ đó xem xét lại từng tháng so sánh với từng đối tượng học sinh, đề ra kế hoạch, phương án kịp thời nâng cao chất lượng học sinh yếu lên trung bình, trung bình lên khá, khá phát triển giỏi
* Xoay quanh vấn đề trên tôi quyết tâm tìm thêm một số biện pháp khác lồng ghép vào chất lượng học tập của các em
Các bậc phụ huynh học sinh:
Với những bậc phụ huynh, đây là một lực lượng có tầm quan trọng, trong việc phát triển trí tuệ, ngôn ngữ, nhân cách cho con em học sinh, vì nguyên do thời gian tiếp xúc ở nhà thì nhiều, tiếp cận trên lớp thì ít cho nên ngay từ đầu năm học tôi có kế hoạch kết hợp chặt chẽ, liên hệ thăm hỏi, thông tin với một số gia đình có
Trang 7hoàn cảnh khó khăn, báo cáo về học tập, thực trạng của từng đối tượng cho mỗi phụ huynh nắm rõ Rồi tổ chức các cuộc họp phụ huynh theo kế hoạch của nhà trường Mục đích báo cáo học tập, giáo dục vấn đề đặc biệt là đi sâu vào mộ số học sinh yếu, trung bình cho phụ huynh hiểu, để tạo điều kiện tốt cho các em đi học đều hơn, có góc học tập thích hợp
* Qua thời gian nghiên cứu và tìm hiểu các giải pháp, phương pháp để nâng cao chất lượng giáo dục thực hiện giờ học Toán lớp 3 Tôi tin rằng sẽ đạt những hiệu quả tốt đẹp, như người giáo viên chủ nhiệm đã mơ ước cho học sinh chính mình và tạo tiền đề cho nền giáo dục chung
- Biện pháp được áp dụng có sự tiến bộ về chất lượng, có so sánh, đối chiếu kết quả những năm trước
Bằng các giải pháp cụ thể trên, biện pháp đã có giá trị thiết thực trong việc giảng dạy của giáo viên và học sinh, làm chất lượng môn Toán của học sinh được tốt hơn Kết quả thực nghiệm như vậy cho ta thấy bằng những biện pháp mà tôi đã triển khai thực hiện đã đem lại kết quả rất đáng khích lệ Việc học Toán của học sinh có nhiều tiến bộ so với trước đây Học sinh đã biết xác định đề bài, xác định dạng toán, xác định đường lối giải bài toán một cách chính xác hơn, các em đã biết đặt phép tính, viết câu trả lời cho từng phép tính cụ thể chính xác, linh hoạt, không dập khuôn máy móc, biết trình bày bài giải một cách khoa học, thẩm mỹ hơn Đặc biệt là học sinh năng khiếu, các em đã phát huy được tính sáng tạo của mình qua từng bài giải Qua đó giúp học sinh từng bước phát triển tư duy, rèn luyện phương pháp suy nghĩ và kỹ năng suy luận logic, khêu gợi và tập dượt khả năng phỏng đoán tìm tòi Học sinh biết vận dụng các kiến thức Toán học vào cuộc sống
Phương pháp giảng dạy của tôi có những điểm mới so với phương pháp cũ là:
- Học sinh được luyện giải các bài Toán có lời văn một cách bài bản, có hệ thống
- Phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
- Làm cho giờ học diễn ra nhẹ nhàng, hiệu quả
Trải qua quá trình giảng dạy, tìm hiểu những biện pháp áp dụng vào bộ môn toán thực tiễn cho thấy sau mấy tháng học sinh lớp 3A năm học 2021-2022 đã đạt được kết quả khả quan, so với khảo sát đầu năm
Môn Mức đạt được
Khảo sát đầu năm học
2021-2022
Cuối năm học 2021-2022
Toán
Bằng sự thay đổi các phương pháp dạy học và cùng với sự rèn luyện nhiệt tình của tôi thì trong năm học 2021-2022 lớp 3A có 02 học sinh tham gia CLB Toán cấp huyện đạt 01 giải nhất và 01 giải ba.
Trang 82.2.4 Những yếu tố cần thiết đối với việc áp dụng biện pháp để đảm bảo tính hiệu quả.
- Đối với học sinh khi học môn toán phải cảm nhận có ý thức, nhanh, hệ thống lôgic, nhưng phải đúng theo nội dung chuẩn kiến thức kỹ năng đôi khi có thể vận dụng thêm những nội dung vượt chuẩn nhưng phải dành cho các em khá, giỏi
- Nắm và biết giải được các loại Toán lớp 3 theo bố cục phân phối chương trình, tích hợp các mối quan hệ, tình tiết giữa nội dung này với nội dung khác, sao cho mối quan hệ kiến thức chặt chẽ, các kiến thức kỹ năng chủ yếu bằng thực hành luyện tập, ôn tập củng cố thường xuyên Tuy nhiên còn phải biết gọi tên của các phép tính theo phạm vi đã được giới hạn
- Từ đó đúc kết và đánh giá được những điều đã tham hiểu cho chính mình biết dựa trên hệ thống từng phần yêu cầu Thể hiện bước đầu khả năng chủ động, sáng tạo, tư duy, ứng dụng trong thực tiễn
Trang 93 KẾT LUẬN
3.1 Kết luận
Từ những kết quả trên là một trong những quá trình suy nghĩ tôi rút ra được khi giảng dạy bộ môn Toán lớp 3: Trước hết là người giáo viên phải là người “ Vì tương lai cho con em chúng ta”; và là người nhà giáo phải gương mẫu, yêu nghề, mến trẻ
Phải luôn luôn và không ngừng học hỏi để rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn Trong công tác giảng dạy nên đề cập áp dụng phương pháp mới lấy học sinh làm trung tâm, động viên các em chủ động trong học tập
Tìm xem những học sinh yếu để sửa chữa kịp thời, phát huy cao trình độ, năng lực của các em, khuyến khích khen ngợi những em có cách giải những bài Toán khó hay
Giáo dục cho học sinh chỉ mang tính chú trọng ngay từ đầu, có sự hoạt động dạy và học đồng bộ, kiên trì, bền bỉ, đem lại niềm vui cho các em
Nghiên cứu soạn giảng tiết dạy cho phù hợp từng đối tượng học sinh cụ thể, khai thác đồ dùng dạy học hợp lí tình tiết, tình huống phù hợp
Tổ chức học sinh khá, giỏi kèm cặp học sinh yếu một cách thường xuyên, phát huy cách học tập theo nhóm, tổ, đầu giờ kiểm tra chéo với nhau, kết hợp các hoạt động vui chơi ngoài giờ
Giáo viên chủ nhiệm phải hiểu rõ tâm sinh lý của từng đối tượng học sinh,
có như thế mới đề ra những kế hoạch theo thời gian như: tuần, tháng, học kì, các kì kiểm tra thành lập các cuộc họp phụ huynh đầu năm
Giáo viên tạo sự quan hệ tốt với phụ huynh, xã hội, phải chặt chẽ nhằm giúp các em xây dựng tốt hơn trong việc học tập và thông hiểu một cách sát thực, từ đó
sẽ mang lại hiệu quả cao nhất như mong muốn
Nắm bắt kịp thời những thông tin hai chiều của ngành cũng như thông tin của BGH để thực tiễn vận dụng cho lớp mình phụ trách trong cả năm
3.2 Kiến nghị (không có)
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP
TÁC GIẢ
Hoàng Thị Thịnh