1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Người lái đò sông đà

50 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 443,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ NGUYỄN TUÂN – A Tác giả 1 Tiểu sử Nguyễn Tuân (1910 – 1987) sinh ra ở làng mộc, tại phố Hàng Bạc, Thanh Xuân, Hà Nội Mảnh đất Hà Nội đã đem đến cho con người và văn chương Nguyễn.

Trang 1

NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ

- Ông sinh ra trong một gia đình nhà Nho cuối thời, là con trai của cụ Nguyễn An Lan (tức ông

tú Hải Văn), một nhà Nho bất đắc chí nhưng hết mực tài hoa Từ nhỏ đã được tiếp xúc với Nho học Trong gia đình, Nguyễn Tuân ảnh hưởng rất mạnh từ người cha của mình

- Nguyễn Tuân là một trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc Lòng yêu nước của ông

có màu sắc riêng: gắn liền với những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc Ông yêu tha thiết tiếng mẹ đẻ, những kiệt tác văn chương của Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Tú Xương, Tản Đà những phong cảnh đẹp của quê hương đất nước, những thú chơi tao nhã như uống trà, nhắm rượu, chơi hoa, chơi chữ đẹp, đánh thơ, thả thơ những món ăn truyền thống thể hiện khẩu vị tinh tế của người Việt

- Ở Nguyễn Tuân, ý thức cá nhân phát triển rất cao Ông viết văn trước hết để khẳng định cá tính độc đáo của mình Ông ham du lịch, tự gán cho mình một chứng bệnh gọi là “chủ nghĩa xê dịch”

- Nguyễn Tuân là con người rất mực tài hoa Tuy chỉ viết văn nhưng ông còn am hiểu nhiều môn nghệ thuật khác: hội họa, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh Đồng thời Nguyễn Tuân còn là một diễn viên kịch nói có tài và là một diễn viên điện ảnh đầu tiên ở nước ta Ông thường vận dụng

Trang 2

con mắt của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau để tăng cường khả năng quan sát, diễn tả của nghệ thuật văn chương

- Nguyễn Tuân là một nhà văn biết quý trọng thật sự nghề nghiệp của mình Ngay từ trước Cách mạng tháng Tám, ông đã quan niệm nghề văn là một cái gì đối lập với tính vụ lợi kiểu con buôn,

và ở đâu có đồng tiền phàm tục thì ở đấy không thể có cái đẹp Đối với ông, nghệ thuật là một hình thái lao động nghiêm túc, thậm chí “khổ hạnh” và ông đã lấy chính cuộc đời cầm bút hơn

nửa thế kỉ của mình để chứng minh cho quan niệm ấy

– Trước 1945 : Một chuyến đi (1938), Vang bóng một thời (1939), Ngọn đèn dầu lạc (1939), Thiếu quê hương (1940), Tàn đèn dầu lạc (1941), Chiếc lư đồng mắt cua (1941), Tùy bút I (1941), Tùy bút II (1943), Tóc Chị Hoài (1943), Nguyễn (1945)

– Sau 1945 : Chùa Ðàn (1946), Ðường vui (1949), Tình chiến dịch (1950), Thắng càn (1963), Tùy bút kháng chiến và hòa bình (Tập I/1955, tập II/1956), Sông Ðà (1960), Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972),

Ký (1976), Hương vị và cảnh sắc đất nước (1978), Tuyển tập Nguyễn Tuân (1994)

b Sự nghiệp văn học của Nguyễn Tuân chia làm 2 giai đoạn:

Trang 3

+ Trước năm 1945: Tác phẩm của ông chủ yếu xoay quanh 3 đề tài:

• Mảng đề tài “Chủ nghĩa xê dịch”: Chủ nghĩa xê dịch vốn là một lí thuyết vay mượn của phương Tây, chủ trương đi không mục đích, chỉ luôn luôn thay đổi chỗ để tìm cảm giác mới lạ và thoát li mọi trách nhiệm với gia đình và xã hội Nguyễn Tuân đã tìm đến lí thuyết này trong tâm trạng bất mãn và bất lực trước thời cuộc Nhưng viết về chủ nghĩa xê dịch, Nguyễn Tuân lại có dịp bày

tỏ tấm lòng gắn bó tha thiết của ông đối với cảnh sắc và phong vị của đất nước mà ông đã ghi lại được bằng một ngòi bút đầy trìu mến và tài hoa (Một chuyến đi).Ông quan niệm một cách độc đáo là phải xê dịch để “thay đổi thực đơn cho các giác quan”

• Mảng đề tài “Vang bóng một thời”: Không tin tưởng ở hiện tại và tương lai, Nguyễn Tuân đi tìm

vẻ đẹp của quá khứ còn vang bóng một thời Ấy là thời phong kiến đã qua nhưng dư âm còn vang vọng lại Ông không viết về trật tự xã hội, về tư tưởng đạo đức cũ, mà phục sinh lại vẻ đẹp riêng của thời xưa với những phong tục đẹp, những thú tiêu dao hưởng lạc lành mạnh và tao nhã, những cách ứng xử giữa người với người đầy nghi lễ nhịp nhàng Ông đã âm thầm làm công việc khơi lại đống tro tàn để lưu giữ những vẻ đẹp chỉ còn vang bóng Đặt trong hoàn cảnh đất nước đang bị thực dân Pháp cai trị, mảng đề tài này thể hiện sự quay lưng với thực tại Tất cả được thể hiện thông qua những con người thuộc lớp người nhà nho tài hoa bất đắc chí, tuy đã thua cuộc nhưng không chịu làm lành với xã hội thực dân (trong số này cũng có những người có khí phách ngang tàng như Huấn Cao (Chữ người tử tù) chẳng hạn)

• Mảng đề tài về đời sống trụy lạc: Do mồ côi về mặt tư tưởng, có những lúc Nguyễn Tuân rơi vào chán nản, bế tắc Ở những tác phẩm này, người ta thường thấy có một nhân vật “tôi” hoang mang bế tắc, tìm cách thoát li trong đàn hát, trong rượu và thuốc phiện Trong tình trạng khủng hoảng tinh thần ấy, người ta thấy đôi khi vút lên từ cuộc đời nhem nhuốc, phàm tục niềm khao khát một thế giới tinh khiết, thanh cao, được nâng đỡ trên đôi cánh của nghệ thuật (Chiếc lư đồng mắt cua, Ngọn đèn dầu lạc,…)

+Sau năm 1945:

• Nguyễn Tuân đã được giác ngộ Cách mạng, ông không còn quay lưng với cuộc đời mà ông tìm thấy sự hòa hợp với cuộc sống mới và con người mới Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông

Trang 4

chân thành đem ngòi bút phục vụ cuộc chiến đấu của dân tộc, theo sát từng nhiệm vụ chính trị của đất nước Nhưng Nguyễn Tuân luôn luôn có ý thức phục vụ trên cương vị của một nhà văn, đồng thời vẫn muốn phát huy cá tính và phong cách độc đáo của mình Ông đã đóng góp cho nền văn học mới nhiều trang viết sắc sảo và đầy nghệ thuật ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi nhân dân lao động trong chiến đấu và sản xuất ( Tùy bút sông Đà, Hà Nội ta đánh giặc Mỹ giỏi,…)

3 Phong cách nghệ thuật

- Trước Cách mạng tháng Tám

+ Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân có thể thâu tóm trong một chữ “ngông” “Ngông” là thái

độ khinh đời, ngạo đời, dựa trên tài hoa, sự uyên bác và nhân cách hơn đời của mình “Nguyễn Tuân bước vào nghề văn như để “chơi ngông” với thiên hạ” Nhu cầu “chơi ngông” buộc Nguyễn Tuân phải đẩy mọi cái thông thường tới cực đoan, thậm chí tới kì thuyết, nghịch thuyết Chủ nghĩa độc đáo trong sinh hoạt tất dẫn đến lối sống lập dị, trong sáng tác tất dẫn đến bất chấp nội dung ý nghĩa nghiêm túc, tha hồ phóng bút để ném ra những gì kì lạ, oái oăm, cầu kì, rắc rối Cái “ngông” đó không phải do chủ nghĩa cá nhân bế tắc mà do “thiên lương” của một trí thức yêu nước, biết coi trọng nhân cách, muốn tách mình ra và “đặt mình lên trên những cái tầm thường của những kẻ thỏa mãn với thân phận nô lệ” (Nguyễn Đăng Mạnh) Ngày xưa, Nguyễn Công Trứ có câu thơ rất ngông:

“Trời đất cho ta một cái tài Giắt lưng dành để tháng ngày chơi” ( Cầm kì thi tửu bài 1)

+ Nguyễn Tuân là một người tài hoa uyên bác Sự thật đó được chứng minh ở các điểm sau:

o Sự tài hoa

Nhân vật: Các nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Tuân không được đánhgiá các tiêu chuẩn tốt xấu, đúng sai, thiện ác mà ông chỉ chú ý đến vẻ đẹp trong mỗi nhân vật Nhìn người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ, tạo nên những nhân vật tài hoa để đem đối lập với

Trang 5

những con người bình thường, phàm tục Con người trong văn Nguyễn Tuân bao giờ cũng đẹp với vẻ tài hoa nghệ sĩ trong nghề nghiệp của mình Với Nguyễn Tuân những người bình thường khi thực hiện những công việc bình thường trong phạm vi nghề nghiệp mà họ đang làm nếu đạt tới một trình độ tinh xảo, nhuần nhuyễn, khéo léo mà người khác khó lòng theo kịp thì được coi là một kẻ tài hoa: “mĩ thuật vốn không có bà con luận lí với thời đại, một thằng ăn cắp cũng trở lên đẹp đẽ khi nó cắt túi người ta rất gọn, rất nhanh” Nguyễn Tuân tiếp cận mọi sự vật ở mặt văn hóa thẩm mĩ để khám phá và khen chê Nguyễn Tuân luôn say mê truy tìm vẻ đẹp độc đáo của con người và cuộc sống Ông tô đậm cái phi thường, gây cảm giác mãnh liệt dữ dội Nguyễn Tuân thường miêu tả những cảnh đẹp tuyệt mĩ, tuyệt đích; cái đẹp ấy là sự hội tụ của cái đẹp thi vị trữ tình và vẻ đẹp hoành tráng dữ dội đến dữ dằn

Ngôn từ: Nguyễn Tuân được mệnh danh là bậc phù thủy ngôn từ trong văn học Việt Nam Các nhà phê bình đã từng ca ngợi: “Ngôn ngữ của Nguyễn Tuân như những khớp xương,

có sự co duỗi nhịp nhàng” Còn nhà văn Anh Đức so sánh: “Mỗi chữ Nguyễn Tuân giống như một cái triện ngọc”

o Sự uyên bác: Ngòi bút uyên bác của Nguyễn Tuân được tạo nên bởi kho tri thức vô cùng đồ

sộ về các ngành, khoa học và các bộ môn nghệ thuật Vận dụng trí thức của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật để quan sát hiện thực, sáng tạo hình tượng

o Sự phóng túng: Khi viết văn, Nguyễn Tuân đặt cá tính lên hàng đầu, không chịu khuôn mình theo bất kì một công thức, lối mòn nào Chính vì thế mà Nguyễn Tuân sinh ra để dành cho thể loại tùy bút - thể loại phóng túng nhất trong văn học Việt Nam

+ Nguyễn Tuân là một con người có nhân cách đạo đức hơn đời: chỗ dựa ở thái độ “ngông” của ông không chỉ ở sự tài hoa uyên bác mà còn ở tính cách “ngông” của ông Cái gốc của nhân cách đạo đức của Nguyễn Tuân là lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, niềm tha thiết với cái đẹp của văn nghệ, của phong tục tập quán, của thiên nhiên và những thú chơi tao nhã

+ Trước Cách mạng, Nguyễn Tuân quan niệm cái đẹp chỉ có ở trong quá khứ gọi là “Vang bóng một thời” và tài hoa người nghệ sỹ chỉ có ở những con người xuất chúng, thuộc thời trước còn vương sót lại như Huấn Cao trong “Chữ người tử tù”, Bát Lê trong “Bữa rượu máu”

Trang 6

=> Nguyễn Tuân là một cái tôi “ngông” vừa rất lạ, rất đặc biệt, vừa lấp lánh không gì sánh nổi trên bầu trời văn học Việt Nam Ông là một con tằm rong chơi qua ngàn dâu thắm, hóa kén mọng, nhả tơ vàng, dệt nên nhiều lụa óng, lắm “trang hoa”, góp phần làm vẻ vang thêm cho nền văn học sớm đã rộn ràng của nước nhà

- Sau Cách mạng tháng Tám

+ Sự vận động, đổi mới trong phong cách nghệ thuật tồn tại song song với tính thống nhất, ổn định của phong cách nghệ thuật Quy luật sáng tạo đòi hỏi người nghệ sĩ phải biết vượt lên chính mình và không được giẫm lên dấu chân người khác Phong cách Nguyễn Tuân cũng có sự vận động theo chiều hướng tích cực ấy Trước và sau Cách mạng là cả một sự thay đổi kì diệu trong văn ông Cách mạng đã giải thoát cho tâm hồn và nghệ thuật Nguyễn Tuân, hướng nhà văn tới cuộc sống và nhân dân

+ Sau Cách mạng, Nguyễn Tuân đi đầu trong cuộc “lột xác văn chương”, ông hòa cái tôi nghệ thuật của mình vào cái ta chung của cộng đồng, không còn nhấm nháp, say sưa chắt chiu cái đẹp trong những tiểu thế giới tù túng, chật hẹp nữa Nhà văn cảm nhận được cái khỏe đẹp, rộng rãi, bao la của đất trời đổi mới Cái nhìn của nhà văn với cuộc sống, con người trở nên đôn hậu hơn Quan niệm của ông về cái đẹp vì thế mà bớt đi sự phù phiếm, phiến diện, từng bước tiếp cận với cái đẹp chân chính và tiến bộ Ông đi tìm cái đẹp của chủ nghĩa anh hùng trong đời sống của những con người lao động bình thường mà rất phi thường ở công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa miền Bắc lúc bấy giờ như “thứ vàng mười” đã qua thử lửa mà ta bắt gặp đâu đó qua nhân vật Nhẫn (“Cỏ non” - Hồ Phương), anh thanh niên Long (“Lặng lẽ Sa Pa” - Nguyễn Thành Long), chị Đào (“Mùa lạc” - Nguyễn Khải) Ông lái đò sông Đà trong tuỳ bút Người lái đò sông

Đà cũng là một con người như thế Miêu tả tư thế vượt thác hiên ngang, anh dũng của ông lái

đò, Nguyễn Tuân ca ngợi phẩm chất của người lao động thời đại mới, chủ động trước thiên nhiên, dám tấn công vào những thế lực dữ dội nhất của thiên nhiên Đây là khám phá mới mẻ, độc đáo của Nguyễn về hình ảnh con người mới

=> Nếu như trước Cách mạng, Nguyễn Tuân có cái “ngông”, “khinh bạt”, “ngạo đời” với xung quanh thì nay ông dùng cái nhìn ấy để đả kích, tấn công kẻ thù Nhà văn để dành lối khinh bạt

Trang 7

ấy cho thực dân Pháp nhằm đả kích, mỉa mai chưa hề bao giờ tôi thấy dòng sông Đà đen như thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta ra đổ mực Tây vào mà gọi bằng một cái tên Tây lếu láo

mà cứ như thế mà phết vào bản đồ lai chữ (Người lái đò sông Đà) Sự thay đổi sắc sảo trong ngòi bút Nguyễn Tuân cũng là kết quả của quá trình “lột xác” đầy đau đớn của ông

=> Trước và sau Cách mạng có sự thay đổi lớn trong thể loại văn Nguyễn Tuân Nếu như trước Cách mạng, ở các tập truyện ngắn Nguyễn Tuân được coi là bậc thầy với những nét độc đáo, riêng biệt thì nét phong cách này được thể hiện rõ trong Chữ người tử tù – “một truyện ngắn gần đạt tới sự toàn mĩ” (Vũ Ngọc Phan) Sau Cách mạng, thể loại tuỳ bút phát triển mạnh mẽ hơn, Người lái đò sông Đà là một trong những thành công xuất sắc của tuỳ bút Nguyễn Tuân Có thể nói trong thể loại tuỳ bút trong làng văn Việt Nam đã xuất hiện Thạch Lam, Vũ Bằng… nhưng chưa ai theo kịp được “thể phách Nguyễn Tuân”

=> Nguyễn Tuân còn có đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của ngôn ngữ văn học Việt Nam Ông có một kho từ vựng phong phú và một khả năng tổ chức câu văn xuôi đầy giá trị tạo hình, lại có nhạc điệu trầm bổng, biết co duỗi nhịp nhàng Nhận xét về phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân, Anh Đức viết: “Không biết chừng nào mới lại có một nhà văn như thế, một nhà văn mà khi

ta gọi là một bậc thầy của ngôn từ ta không hề thấy ngại miệng, một nhà văn độc đáo, vô song

mà mỗi dòng, mỗi chữ tuôn ra đầu ngọn bút đều như có đóng một dấu triện riêng”

Với gần 50 năm hoạt động văn học liên tục, bằng ngòi bút đầy tài năng của mình, Nguyễn Tuân đã có những đóng góp tto lớn, một vị trí quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam: Thúc đẩy thể tùy bút, bút kí văn học đạt đến đỉnh cao, làm phong phú thêm ngôn ngữ dân tộc, đem đến cho nền văn xuôi hiện đại Việt Nam một phong cách tài hoa và độc đáo.Nguyễn Tuân đã thực sự “vang bóng một thời” và những trang văn tài hoa, độc đáo của ông cũng sẽ bất tử mãi tử mãi trong lòng bạn đọc

Nhà văn Nguyễn Tuân “đặc Việt Nam” (chữ dùng của Vũ Ngọc Phan) từ quan niệm cho tới thực tế sáng tác Chất văn hóa như sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là cái phần cơ bản nhất làm nên giá trị vĩnh hằng cho văn nghiệp của ông

Vẻ đẹp của trang viết Nguyễn Tuân là kết quả tất yếu từ một cách viết mang chiều sâu, bề rộng và tầm cao văn hóa Lòng yêu nước và tinh thần dân tộc, đặc biệt biểu hiện ở thái độ

Trang 8

thành kính trân trọng tiếng mẹ đẻ và các giá trị truyền thống chính là động lực bên trong, thôi thúc nhà văn không ngừng tìm tòi, khơi nguồn vốn cũ và sáng tạo nên giá trị mới Ông xứng đáng được mệnh danh là “chuyên viên cao cấp tiếng Việt”, là “người thợ kim hoàn của chữ” (Ý của Tố Hữu) Trong lâu đài văn chương nghệ thuật dân tộc Việt Nam ở thế kỷ 20, rất

dễ nhận ra phần chạm trổ tinh xảo của người nghệ sĩ ngôn từ Nguyễn Tuân

B Tác phẩm

1 Hoàn cảnh ra đời

- Tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” được in trong tập tuỳ bút “Sông Đà” (1960), gồm 15 bài tuỳ bút

và một bài thơ ở dạng phác thảo Tác phẩm được viết trong thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Đó là kết quả viên mãn của chuyến đi thực tế gian khổ mà hào hùng của nhà văn đến Tây Bắc trong kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958 Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân và đồng bào các dân tộc Ông được thỏa mãn thú phiêu lãng xê dịch của mình Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo

- Ngoài phong cảnh Tây Bắc uy nghiêm, hùng vĩ và tuyệt vời thơ mộng, Nguyễn Tuân còn phát hiện những điểm quý báu trong tâm hồn con người mà ông gọi là “thứ vàng mười đã được thử lửa, là chất vàng mười của tâm hồn Tây Bắc.”

- Qua tùy bút “Người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân với lòng tự hào của mình đã khắc hoạ những nét thơ mộng, hùng vĩ nhưng khắc nghiệt của thiên nhiên đất nước qua hình ảnh con sông Đà hung bạo và trữ tình Đồng thời, nhà văn cũng phát hiện và ca ngợi chất nghệ sĩ, sự tài ba trí dũng của con người lao động mới: chất vàng mười của đất nước trong xây dựng chủ nghĩa xã hội qua hình ảnh người lái đò sông Đà Từ đó nhà văn ca ngợi sông Đà, núi rừng Tây Bắc vừa hùng

vĩ vừa thơ mộng, đồng bào Tây Bắc cần cù, dũng cảm, rất tài tử, tài hoa

2 Ý nghĩa nhan đề

Trang 9

- Nhan đề “Người lái đò sông Đà” trước hết gợi cho người đọc về nhân vật trung tâm của tác phẩm đó là ông lái đò – một người lao động bình dị tại vùng sông nước Tây Bắc Ông lái đò vừa

có những vẻ đẹp của một người lao động bình thường, vừa có phẩm chất của một người nghệ sĩ tài hoa Đồng thời, nhan đề cũng nhấn mạnh đến một hình tượng không kém phần quan trọng của tác phẩm là con sông Đà Vẻ đẹp thiên nhiên của sông Đà hiện lên đầy hùng vĩ, hung bạo nhưng cũng không kém phần thơ mộng, trữ tình

- Qua nhan đề trên, Nguyễn Tuân muốn khẳng định vẻ đẹp kì thú độc đáo của thiên nhiên và con người lao động ở vùng núi Tây Bắc trong công cuộc chinh phục thiên nhiên để kiến thiết quê hương đất nước

3 Ý nghĩa lời đề từ

- Lời đề từ đầu tiên: Nguyễn Tuân đã lấy câu thơ của nhà cách mạng Ba Lan Wladyslaw

Broniewski: “Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông”

+ Tiếng hát trên dòng sông phải chăng là tiếng của những người chèo đò, vượt thác, kéo thuyền, tiếng hát cất lên từ những tâm hồn con người Tây Bác tha thiết với thiên nhiên, đất nước, lạc quan, yêu đời Người lái đò sông Đà là một trong hai hình tượng trung tâm của thiên tùy bút

+ Tiếng hát trên dòng sông là tiếng ca của những người lái đò trên sông nước Đà giang - những người anh hùng lao động sông nước, nghệ sĩ ba lê giữa muôn trùng thác đá Cuộc đời người lái đò

vô danh nơi ngọn thác khuất nẻo hoan vu là thiên anh hùng ca, là pho nghệ thuật tuyệt vời Sáng tạo nên nhân vật trung tâm của bản tráng ca ấy, Nguyễn đã cất lên tiếng hát say mê, phấn khích

và đầy ngưỡng mộ, thể hiện một quan niệm mới của Nguyễn về con người: Con người bất kể nơi đâu, bất kể địa vị và nghề nghiệp, sống trọn với bản tính tự nhiên của mình là đều đáng được ngưỡng mộ và tôn vinh

-> Dù hiểu theo cách nào, lời đề từ cũng thể hiện tình yêu thiết tha của Nguyễn Tuân với thiên nhiên và con người Tây Bắc

- Lời đề từ thứ hai: Nguyễn Tuân mượn hai câu thơ của Nguyễn Quang Bích để nói về sông Đà:

Trang 10

“Chúng thủy giai Đông tẩu

+ Lời đề từ làm toát lên vẻ đệp hoang sơ nhưng không kém phần độc đáo của sông Đà, đồng thời thể hiện sự mạnh mẽ của con sông khi chảy qua một vùng núi non hiểm trở Lời đề từ không phải của Nguyễn Tuân nhưng lại được sử dụng rất đắt giá trong vị trí lời đề từ của tùy bút Câu thơ ấy không chỉ bộc lộ vẻ đẹp độc đáo, dữ dội của sông Đà mà còn khẳng định phong cách “ngông” của Nguyễn Tuân, một con người luôn tìm tòi cái mới, sáng tạo những gì chưa có bằng tài năng uyên bác, cá tính con người của mình

=> Lời đề từ của thiên bút kí đặc sắc còn hé lộ khát vọng mãnh liệt của Nguyễn Tuân trên hành trình khám phá hiện tượng thiên nhiên kì thú, đó là thể hiện một dòng sông chữ, nghĩa là muốn thể hiện một phong cách nghệ thuật độc đáo để khẳng định cái tôi tài hoa, uyên bác, không lặp lại cũng như dòng chảy ngược hướng sông Đà khác với tất ca dòng sông khác Những trang văn

“Người lái đò sông Đà” chính là những trang hoa, những tờ hoa kết tinh bao cái đẹp: cái đẹp của thơ cơ, của hội họa và của những tác phẩm điêu khắc

=> Hai lời đề từ một bên ca ngợi con người, một bên khẳng định vẻ đẹp thiên nhiên nhưng đều hướng đến cái đẹp độc đáo của thiên nhiên con người Tây Bắc, thể hiện cảm hứng say mê tha thiết cùng phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân

Trang 11

4 Thể loại

- Tuỳ bút là một thể thuộc loại hình kí, rất gần với bút kí, kí sự mà đôi khi trong tiếng Việt vẫn thường gọi là tạp văn Nó vừa mang chất kí (ghi chép) lại vừa có chất thơ (trữ tình) lại vừa chứa những triết học sâu xa

- Nét nổi bật của tuỳ bút là qua việc ghi chép những con người và sự kiện cụ thể có thực, tác giả đặc biệt chú trọng đến việc bộc lộ cảm xúc, suy tư và nhận thức, đánh giá của mình về con người

và cuộc sống hiện tại

- So với các tiểu loại khác nhau của kí, tuỳ bút vẫn có không ít những yếu tố chính luận và chất suy tưởng triết lí trong một số trường hợp nhằm bộc lộ quan điểm, lý tưởng, cảm xúc của một người hoặc một lớp người trong xã hội

- Cấu trúc của tuỳ bút, nói chung, không bị ràng buộc, câu thúc bởi một cốt truyện cụ thể, song nội dung của nó vẫn được triển khai theo một cảm hứng chủ đạo, một tư tưởng chủ đề nhất định xuyên suốt tác phẩm Ngôn ngữ tuỳ bút giàu hình ảnh và chất thơ nhằm bộc lộ rõ những đặc điểm của sự vật sự việc được nói đến trong bài Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Tuân là nhà văn viết tuỳ bút nổi tiếng với tùy bút “Cô Tô”, “Sông Đà”,…

5 Chủ đề

- Qua hình tượng sông Đà và người lái đò, Nguyễn Tuân muốn thể hiện niềm yêu mến thiết tha với thiên nhiên đất nước và ngợi ca những con người lao động mới - chất “vàng mười” của cuộc sống

Đẹp vậy thay, tiếng hát trên dòng sông”

Władysław Broniewski

“Chúng thuỷ giai đông tẩu - Đà giang độc bắc lưu”

Trang 12

(Lượt đoạn đầu: Tác giả trình bày mục đích chuyến đi thực tế Tây Bắc và sông Đà của mình chủ yếu là để tìm hiểu những con người ở đây mà ông gọi “thứ vàng mười đã qua thử lửa của cách mạng là kháng chiến, hiện nay đang góp phần vào việc đến thiết Tây Bắc Tiếp đó, tác giả giới thiệu tài tứ tuyệt vời của những người lái đò sông Đà trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh và liệt

kê một loạt con thác sông Đà từ Vạn Yên về xuôi, trong đó có những con thác vô cùng độc dữ, nham hiểm” Đáng sợ nhất là những cái hút nước “xoáy tít đáy” giữa lòng sông từng dìm xuống

và xé tan tác những bè gỗ, những con thuyền vô ý bị nó lôi tuột xuống…)

- Giới thiệu chung:

o Nhưng dẫu sao, vẻ đẹp sông nước trong thơ xưa cũng chỉ là vẻ đẹp như của một bức tranh và sự dữ dội cũng là sự dữ dội ở thế tĩnh Còn với Nguyễn Tuân, ông bắt sự dữ dội kia phải nổi lên thành hình khối và phải gào thét trong muôn vạn âm thanh, phải náo động và sống động như một sinh thể Nguyễn Tuân đã khiến cho người ta khi đứng trước thiên nhiên ấy không hỉ chiêm ngưỡng mà còn khát khao chế ngự nó + Sông Đà

o Không phải chỉ mỗi Nguyễn Tuân viết về sông Đà mà trước đó trong ca dao cũng

đã ca ngợi con sông truyền thuyết ấy “Núi cao sông hãy còn dài/ Năm năm báo oán đời đời đánh ghen” Đến trung đại Nguyễn Quang Bích lại viết “Chúng thủy giai đông tẩu – Đà giang độc bắc lưu” Và cho đến hiện tại, trong “Quê nhà chơi mát cảm hứng”, sông Đà hiện lên dưới con mắt của Tản Đà “Nước rợn sông Đà con

cá nhẩy/ Mây trùm non Tản cái diều bay”

Trang 13

o Sông Đà đến với ngòi bút Nguyễn Tuân như một con người có đầy đủ những phẩm chất và cá tính cực kì mạnh mẽ Sông Đà hiện lên trong trang văn của ông là một con người vừa hùng bạo lại vừa trữ tình tuyệt đẹp Hai tính cách đối lập như một “cổ nhân” khó chiều, và lại lịch của loài thủy quái ấy cũng không kém phần đặc biệt:

"Sông Đà khai sinh ở huyện Cảnh Đông tỉnh Vân Nam, lấy tên là Ly Tiên (theo Dư địa chỉ của Nguyễn Trãi thì tên Trung Quốc của sông Đà lại là Bả Biên Giang) mà đi qua một vùng núi ác, rồi đến gần nửa đường thì xin nhập quốc tịch Việt Nam, trưởng thành mãi lên và đến ngã ba Trung Hà thi cham hoa vào công Hồng Từ biên giới Trung Việt tới ngã ba Trung Hoa là 500 cây số lượn rồng rắn, và tính toàn thân Sông

Đà thi chiều dài là 883 nghìn thước mét chảy qua hai nước Việt Nam Trung Quốc xóm giềng" (Trích tùy bút Người Lái Đò Sông Đà) Sông Đà đã hiện lên như thế, như một đứa con mang hai dòng máu, mà lại thích gắn bó về một phía nên “nhập quốc tịch” về Việt Nam Dưới ngòi bút của “nhà ngôn ngữ học" Nguyễn Tuân, Sông Đà không phải là thiên nhiên vô tri vô giác, mà là một sinh thể sống động, có tính cách

và cảm xúc như một con người Bởi vì thế, “Sông Đà” cũng được viết hoa cả hai chữ cái đầu tiên như một danh từ tên riêng

o Viết về sông Đà, nghĩa là Nguyễn Tuân đã chấp nhận một thử thách bởi lẽ: Với người Việt Nam thì vốn dĩ dòng sông ấy đã là một huyền thoại Đó là huyền thoại về chủng Thủy Tinh với nỗi oán hờn không lấy được người mình yêu nên cử năm năm báo oán đời đời đánh ghen Điều đó chứng tỏ trí tưởng tượng của người Việt Nam hẳn là phải rất bay bổng còn tâm hồn người Việt Nam thì hẳn là rất lãng mạn thì mới có thể gắn cho dòng sông thác lũ ấy hình ảnh người tình sỉ và vì thế, khi mà viết về sông Đà, bản thân Nguyễn Tuân đã chấp nhận tìm đến một huyền thoại mới cho dòng sông này + Người lái đò

o Sự vận động trong quan niệm thẩm mĩ của Nguyễn Tuân

+ Trước 1945: Say mê vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ trong những con người đặc tuyển, xuất chúng của “một thời vang bóng”

Trang 14

-> Cái đẹp và người tài thường cô đơn, lạc lõng giữa cuộc đời, đem đến cho người đọc

sự ngưỡng mộ, ngậm ngùi, tiếc nuối

+ Sau 1945: Bất cứ người lao động nào khi đạt tới trình độ điêu luyện giỏi giang trong công việc của mình thì đều có thể coi là nghệ sĩ và xứng đáng được tôn vinh ở vẻ đẹp tài hoa, nghệ sĩ

o Lai lịch: Ông không có tên, chỉ biết là người Lai Châu, đã ngoài 70 tuổi, đã dành 1 phần lớn đời mình làm nghề lái đò dọc trên sông Đà Trên sông Đà, ông xuôi ngược hơn 100 lần, chín tay giữ lái độ 60 lần

o Sự am tường với công việc

- Trí nhớ của của ông đò rèn luyện cao độ bằng cách dùng mắt mà nhớ tỉ mỉ những

luồng nước của những con thác hiểm trở

- Ông đò nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá, biết rõ từng cửa tử, cửa sinh trên

thạch trận sông Đà

-> Ông đò là người lão luyện, thạo nghề, hiểu biết sâu sắc về hoàn cảnh lao động của mình, làm chủ môi trường lao động của mình Đây là điều kiện đầu tiên để ông đò chế ngự thứ “kẻ thù số một” của người Tây Bắc

o Ngoại hình mang dấu ấn nghề nghiệp: Bằng hệ thống ngôn ngữ miêu tả đầy cá tính, giàu chất tạo hình, bằng lối so sánh độc đáo gợi cảm, trước hết Nguyễn Tuân đã làm sống dậy trước mắt người đọc hình ảnh một ông lái đò có ngoại hình đặc biệt ấn tượng

Người ta nói rằng làm cái nghề lái đò trên sông hiểm ác lắm thác nhiều ghềnh này tổn thọ lắm Nhưng ông lái đò của Nguyễn Tuân đã cải chính một cách hùng hồn cái điều ấy bằng hình ảnh một con người đã gần bảy mươi tuổi, cái đầu bạc nhưng còn “quắc thước” lắm “đặt trên một thân hình cao to, gọn quánh như chất sừng, chất mun”, “ông giơ đôi tay còn trẻ tráng quá” làm cho nhiều người lầm tưởng là

“mình đang đứng trước một chàng trai”

“Tay ông lêu nghêu như cái sào Chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh như kẹp lấy một cuống lái tưởng tượng Giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông”

Trang 15

Cặp mắt tinh anh, nhãn lực nhìn xa vời vợi Trên ngực của ông nổi lên một số “củ nâu” thương tích trên “chiến trường Sông Đà” mà Nguyễn Tuân ngưỡng mộ gọi là

“thứ Huân chương lao động siêu hạng”

Ông lái đò sông Đà này có “tay lái ra hoa” đã từng vượt qua bao trùng vây thạch trận, giao phong sinh tử với “lũ đá nơi ải nước” Sau hơn mười năm chèo đò và chỉ huy một con thuyền có 6 mái chèo đã ngược xuôi sông Đà trăm chuyến, chở da trâu, xương hổ, chè, cánh kiến về xuôi, ông nắm vững từng con thác, cái ghềnh, nắm chắc binh pháp thần Sông, thần Đá

o Những dòng này được nhà văn viết ra không chỉ để giới thiệu ngoại hình một con người mà còn để ca ngợi sự gắn bó, yêu quý nghề ở chính người đó Nguyễn Tuân là nhà văn luôn nén câu văn của mình nhiều điều muốn nói “hàm lượng thông tin” ở đó không bao giờ chỉ ở một tầng hiển ngôn

[Vẻ đẹp hung bạo]

(Đá bờ sông) Hùng vĩ của Sông Đà không phải chỉ có thác đá Mà nó còn là những cảnh đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời Có vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện

- (Lời dẫn) Nguyễn Tuân đến với sông Đà như đến với “cố nhân”, đến với người bạn tương

phùng tương đắc Vẻ đẹp vừa dữ dội, mãnh liệt vừa thơ mộng tuyệt vời của sông Đà có sức hút với ông hết sức mạnh mẽ Ngòi bút của ông vì thế có cơ hội thăng hoa Ông đã được thỏa chí tung hoành trong trí tưởng tượng phong phú của chính mình và để lại trên trang viết những dòng văn đậm chất Nguyễn Tuân

- “Hùng vĩ của Sông Đà không phải chỉ có thác đá Mà nó còn là những cảnh đá bờ sông,

dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời” Qua ngòi bút Nguyễn Tuân, cảnh vách đá sông Đà thật hùng vĩ, tráng lệ

Trang 16

+ Nhà văn dùng từ “vách thành” chứ không phải “thành vách” như thói quen dùng từ

thường lệ Thế mới lạ, mới chảng giống ai Lê Đạt từng chia sẻ: “Tôi tôn trọng những nhà văn sinh sự với văn chương để tạo ra sự sinh của ngôn ngữ” Nguyễn Tuân chính là người như thế

+ Bên cạnh đó, nghệ thuật so sánh hình ảnh “vách thành” đã phần nào thể hiện sự vững chãi, thâm nghiêm và những sức mạnh bí ẩn đầy đe dọa của sông Đà với vách đá như thành cao, vực thẳm như hào sâu

-> (Nâng cao vấn đề) Cái tài của NT là ông không dùng một chữ “cao” nào mà ta vẫn cảm nhận được độ cao hun hút của vách đá Hơn thế nữa, nét độc đáo để những trang văn của Nguyễn Tuân tồn tại và được người đọc ưu tiên nhắc đến nhiều như vậy, là bởi lẽ ông có cái nhìn hết sức tinh vi và đặc sắc về mọi sự vật, từ những cái nhỏ bé nhất như cát nơi sông Đà “nó đục thủng gan bàn chân lỗ rỗ như những vết hà đục thủng đáy thuyền gỗ…”, cho đến những cái to lớn như những khối đá bờ sông “dựng vách thành” đầy hiểm trở

- Hai bờ sừng sững như áp sát nhau, vách hẹp, sâu, dốc, thẳng đứng được đặc tả bằng một loạt các liên tưởng, so sánh cụ thể, độc đáo “vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu” làm cho “mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời”, hay “Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia”

+ Động từ “chẹt” cho thấy độ cao của vách đá, độ hẹp của dòng sông Nguyễn Tuân đã mở

ra một cuộc phiêu lưu từ không gian đến thời gian, từ thời gian đến cảm giác để người đọc

có thể cảm nhận trọn vẹn sự hung bạo của sông Đà

-> (Nâng cao vấn đề) Nhà văn đã dẫn dắt chúng ta đến một cuộc trải nghiệm để mở mang tầm mắt, trí tưởng tượng bằng những so sánh đặc biệt phong phú và mới lạ của mình Thế mới nói, Nguyễn Tuân là nhà văn không bao giờ chịu trùng mình xuống để lặp lại những gì quá quen thuộc Đọc văn Nguyễn Tuân, chúng ta không thể ngồi yên để cảm từng câu chữ

mà chúng ta phải đi theo những so sánh, liên tưởng mà Nguyễn Tuân đã vạch ra Như thế, chúng ta mới cảm nhận được trọn vẹn từng câu từng chữ, cái thứ ánh sáng, cái vầng hào

Trang 17

quang phát ra từ ngôn từ của nhà văn Những hình ảnh so sánh độc đáo về đá bờ sông như chỉ có thể bắt gặp trong văn Nguyễn Tuân Và chính chủ nghĩa xê dịch của bản thân đã hình thành cho ông những liên tưởng độc đáo như thế này, những cảm giác về hình ảnh phong phú như thế để ông có thể huy động vào Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở hình ảnh mà không có bậc thầy về ngôn ngữ, không có thợ hoàn kim của câu chữ thì Nguyễn Tuân sẽ không thể nào có thể miêu tả, so sánh được trọn vẹn cái thác sông Đà như vậy

- Nhà văn Nguyễn Tuân đã xê dịch đến nhiều vùng đất mới và Hà Nội và những thành phố lớn là nơi mà tác giả đã đặt chân đến và khám phá nó Điều đó đã cho Nguyễn Tuân hiểu

rõ được cảm giác “đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện.”

+ Ông đã lấy hè phố để tả mặt sông, lấy nhà cao để gợi ra vách đá, lấy đèn điện để tả ánh sáng trên khúc sông Phải chăng ông thấy lạnh bởi khí đá sắc như dao, hay vì dưới chân toàn là nước, hơi nước bị cầm tù ngàn năm dưới núi đá mà sinh âm u?

+ Có thể thấy, đọc văn Nguyễn Tuân, từ thành phố đến nông thôn, từ người thành thị đến nông dân đều có thể cảm nhận được hết những so sánh mà nhà văn đã đặt ra trong văn của mình

-> (Nâng cao vấn đề) Qua những hình ảnh liên tưởng đầy thú vị ấy ta thấy được một

Nguyễn Tuân không ngừng đổi mới, luôn luôn tỉ mẩn, cần mẫn trong việc xây đắp, vun xới cho những trang văn của mình Và đó cũng chính là thiên chức của người nghệ sĩ chân chính Một người nghệ sĩ chân chính chưa bao giờ và không bao giờ bằng lòng với những gì mình đang có, họ luôn luôn phải tạo ra một sự sáng tạo, những người nghệ sĩ khi tìm đến văn học thì phải có phong cách riêng Người sáng tạo là nhà văn và người tạo nên số phận cho tác phẩm là độc giả nhưng độc giả sẽ đào thải những tác phẩm văn học có sự trùng lặp

và quá quen thuộc Một tác phẩm văn học muốn khơi gợi, ngưng trị, lôi cuốn người đọc phải có sự khác lạ và người cầm bút lao động chân chính sẽ không bao giờ dừng làm mới cho những trang văn của mình Đó là lí do tại sao Nguyễn Tuân là một định nghĩa về người nghệ sĩ thực thụ

Trang 18

(Mặt ghềnh Hát Loóng) Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió Cuốn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò sông Đà nào tóm được qua đấy Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra

- (Lời dẫn) Chưa dừng lại ở đó, nhà văn còn khiến người đọc bất ngờ khi miêu tả tính cách

hung bạo ở cái dữ dằn của “nước – đá – sóng và gió” Nếu ai đã từng thả mình trong nhịp điệu du dương của tiếng sóng xô bờ như nhịp đập của trái tim người phụ nữ thổn thức yêu đương trong “Sóng” của Xuân Quỳnh thì khi đến với tiếng sóng sông Đà của Nguyễn Tuân

sẽ hình thành cho mình thứ cảm xúc hoàn toàn khác, bởi nước, đá, sóng, gió nơi đây đã hợp lại thành một mặt ghềnh dữ dội cứ nối tiếp “hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió Cuốn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái

đò sông Đà nào tóm được qua đấy” Bản giao hưởng này khiến cho ta nhớ tới sử thi “Ô – đi – xê” của Hermero Trong bản sử thi đó, tiếng hát mê hồn của những nàng tiên cá Si – men cũng là tiếng hát của thần chết Bởi lẽ tất cả các thủy thủ khi nghe tiếng hát này đều nhảy xuống biển

+ Động từ “xô” được ngăn cách bởi nhiều dấu phẩy liên tiếp tạo nên sự trùng điệp, làm cho dòng sông đã hung bạo lại càng dữ tợn hơn

+ Các động từ, tính từ mạnh “xô, cuồn cuộn” cho thấy sự chuyển động dữ dội, sức mạnh khủng khiếp của ghềnh thác, cảm giác cả ghềnh sông như sôi lên cuộn chảy dữ dằn như một lũ cuồng quân

+ Từ láy “gùn ghè” và hình ảnh so sánh mang đậm sắc thái nhân hóa về việc sóng gió trên mặt ghềnh Hát Loóng “lúc nào cũng đòi nợ xuýt” bất cứ người lái đò nào đi ngang qua quãng ấy đã thể hiện sinh động sự hung hãn, lì lợm và cuồng bạo của dòng sông ngày đêm hăm dọa, uy hiếp con người Nó như một kẻ bất chấp tất cả để lấy đi tính mạng của những

ai đi qua đây bởi “Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra” -> Đọc câu văn của Nguyễn Tuân miêu tả về sông Đà, bất chợt khiến ta nhớ đến dòng sông Hương vùng thượng nguồn trong trang kí Hoàng Phủ Ngọc Tường – dòng sông như “một

Trang 19

bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn” Những ngòi bút tài hoa đã tạo nên trang viết “nở hoa” – trang viết có khả năng khơi dậy trong trí tưởng tượng của người đọc

về hai dòng sông hùng vĩ, dữ dội cuồn cuộn trôi đi giữa cơ thể đất nước

(Cái hút nước) Lại như quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La Trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc Trên mặt cái hút xoáy tít đáy; cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn Không thuyền nào dám men gần những cái hút nước ấy, thuyền nào qua cũng chèo nhanh để lướt quãng sông, y như là ô tô sang số ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực Chèo nhanh và tay lái cho vững mà phóng qua cái giếng sâu, những cái giếng sâu nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào Nhiều bè gỗ rừng đi nghênh ngang vô ý là những cái giếng hút ấy nó lôi tuột xuống Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới Tôi sợ hãi mà nghĩ đến một anh bạn quay phim táo tợn nào muốn truyền cảm giác lạ cho khán giả, đã dũng cảm dám ngồi vào một cái thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền cả mình cả máy quay xuống đáy cái hút Sông Đà - từ đáy cái hút nhìn ngược lên vách thành hút mặt sông chênh nhau tới một cột nước cao đến vài sải Thế rồi thu ảnh Cái thuyền xoay tít, những thước phim màu cũng quay tít, cái máy lia ngược contre-plongée lên một cái mặt giếng mà thành giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thuỷ tinh khối đúc dày, khối pha

lê xanh như sắp vỡ tan ụp vào cả máy cả người quay phim cả người đang xem Cái phim ảnh thu được trong lòng giếng xoáy tít đáy, truyền cảm lại cho người xem phim ký sự thấy mình đang lấy gân ngồi giữ chặt ghế như ghì lấy mép một chiếc lá rừng bị vứt vào một cái cốc pha lê nước khổng

lồ vừa rút lên cái gậy đánh phèn

- (Lời dẫn) Sau khi đã đi qua quãng đá bờ sông "dựng vách thành chẹt lòng sông Đà như một

cái yết hầu", quãng mặt ghềnh Hát Loóng "cuồn cuộn luồng gió, gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt", thì đến khúc sông quãng Tà MV, những cái hút nước như "cái bẫy" nối nhau giăng mắc trên sông Đà sẵn sàng nhấn chìm mọi thuyền bè đi ngang qua đó

Trang 20

- Trước hết, hút nước sông Đà được miêu tả qua hình ảnh so sánh: "Trên sông bỗng có

những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu."

+ Từ "bỗng" gợi tả một sự đột ngột, bất ngờ, nó làm cho người ta không khỏi hoang mang Dòng nước đương xuôi êm đềm bỗng dưng không thấy một vật nào nổi trên mặt mà dòng nước tới đó cứ xoáy tít thành những vòng tròn hút tới tận đáy

+ Tả độ sâu của hút nước, Nguyễn Tuân so sánh như cái "giếng bê tông thả xuống để chuẩn

bị làm móng cầu" Qua sự so sánh này, ta thấy cái hút nước lớn, khổng lồ, nhìn vào trong chỉ thấy đen ngòm, sâu hoắm, tối tăm, giống như miệng con thủy quái đang há hốc để chực nuốt chửng bất cứ vật gì qua quãng này

- Ấn tượng hút nước sông Đà khúc thượng nguồn còn nằm ở những âm thanh sống động:

“Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc Trên mặt cái hút xoáy tít đáy; cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn Không thuyền nào dám men gần những cái hút nước ấy, thuyền nào qua cũng chèo nhanh để lướt quãng sông, y như là ô tô sang số ấn ga cho

nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực Chèo nhanh và tay lái cho vững mà phóng qua cái giếng sâu, những cái giếng sâu nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”

+ Tự bản thân những chữ "thở", "kêu" cùng từ láy tượng hình "lừ lừ", láy tượng thanh tăng nghĩa "ặc ặc" cùng những chi tiết so sánh mang sắc thái nhân hóa đã nói lên cường lực ghê gớm của những cái hút nước

-> Dòng nước thở hồng hộc, thanh âm thống thiết, thét gào giữa núi rừng Tây Bắc điệp trùng Dòng sông đà vì thế mà trở nên hùng dũng, uy lực hơn rất nhiều Nó hiện ra như cái vòi một con quái vật khổng lồ tàn ác đang giân dữ đến ghê người, chỉ chực hút tất cả

những thuyền bè sơ ý nghênh ngang qua đó Đến đây, ta dường như nghe trong cái âm vang của Đà giang dưới ngòi bút Nguyễn Tuân một chút hội ngộ với Homero trong cuốn sử thi “Ô đi xê” bất hủ, khi viết về cái hung bạo của chốn eo biển xa xôi nào đó thời cổ đại:

"Biển khơi chuyển động, sôi lên như nước trong cái chảo đặt trên một bếp lửa hồng"

Trang 21

- Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã từng nhận định: "Nguyễn Tuân là nhà văn của những cảm giác mạnh" Thật vậy, để hình dung trọn vẹn về hút nước Sông Đà, Nguyễn Tuân đã đưa người đọc đến tận cùng cảm giác

+ Đó trước hết là cảnh thuyền qua quãng sông ấy: "Thuyền nào qua cũng chèo nhanh để lướt quãng sông, y như là ô tô sang số ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực."

+ Giữa chốn núi rừng hoang sơ, nhà văn đã thổi vào không khí của phố thị khi so sánh chiếc thuyền với ô tô Tác giả ví con thuyền phải qua vùng nước xoáy thật nhanh giống như ô tô sang số, nhấn ga cho nhanh để "vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực"

+ Từ đó khẳng định những cái hút nước này chính là mối đe dọa mà bất cứ ai cũng phải khiếp sợ Muốn đi ngang qua đây phải thật điêu luyện, thật bình tĩnh nhưng cũng phải thật nhanh chóng mới có thể "thoát chết"

- Nhưng trong khi người điều khiển ô tô còn có thể đạp phanh, nhấn ga thì con thuyền qua

quãng này chỉ có thể dựa vào tài nghệ của ông lái đò mà thôi Hút nước còn gây nguy hiểm cho thuyền bè: "Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan tác ở khuỷnh sông dưới"

+ Câu văn không chỉ cho thấy ở Nguyễn Tuân một trí tưởng tượng độc đáo hay sự sáng tạo

mà đó còn là vốn sống vô cùng phong phú Đó là những hình ảnh chỉ có trong tưởng tượng nhưng lại đưa đến một ấn tượng thật sâu đậm về sức mạnh khủng khiếp của hút nước sông

Đà Trước những cái hút nước ấy, sự sống và cái chết của con người bỗng trở nên mong manh, đi qua đó luôn có nguy cơ bị cướp đi sinh mạng

+ Cách miêu tả ấy gợi ra cho người đọc con sông Đà như một loài thủy quái hung hăng còn con thuyền như một vật hiến tế hiền lành đến tội nghiệp đem tấm thân nhỏ bé để cống nạp cho tử thần

Trang 22

- Dừng lại ở đó thôi thì chưa đủ, nhà văn còn mang đến một giả tưởng li kì mà để có được nó,

Nguyễn Tuân ắt phải có vốn kiến thức về kĩ thuật điện ảnh: "Một anh bạn quay phim táo tợn nào muốn truyền cảm giác lạ cho khán giả, đã dũng cảm dám ngồi vào một cái thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền cả mình cả máy quay xuống đáy cái hút Sông Đà…" + Từ dưới đáy sâu của hút ước, anh phóng viên lia ngược ống kính lên một cách sống động, truyền cảm từ hình khối của "một thành giếng xây toàn bằng nước" cho đến màu sắc của dòng sông "nước xanh ve" như một khối thủy tinh khổng lồ, đặc biệt, khối thủy tinh ấy đổ

ụp xuống cả người, cả máy quay và cả bạn đọc đang theo dõi

+ Chỉ bằng một vài câu văn, Nguyễn Tuân đã dẫn dụ người đọc vào trò chơi cảm giác, kéo

họ xuống tận đáy hút nước xoát tít, sâu hoắm cùng anh bạn quay phim táo tợn, dũng cảm ngồi vào cái thuyền thúng mà thả mình vào xoáy nước, để cho xoát nước hút xuống tận đáy sông Đà

+ Những thước phim đó khi chiếu lên, người xem có cảm giác hãi hùng, phải "lấy gân ngồi giữ chặt ghế", thậm chí cảm giác sợ hãi chân thực của con người khi đứng trong lòng một khối "pha lê xanh như sắp vỡ tan" và bất cứ lúc nào cũng có thể đổ ụp vào người

-> (Nâng cao vấn đề) Có thể thấy, khi gặp hiện tượng thiên nhiên kì thú, những cảnh tượng

dữ dội, phi thường, ngòi bút Nguyễn Tuân cũng muốn ganh đua với tạo hóa, dốc hết kho chữ nghĩa phong phú của mình ra làm sống dậy tính cách độc đáo, phi thường của đối tượng Những cái hút nước sông Đà quả là rùng rợn, hiểm nguy, buộc người đọc phải huy động tất cả các giác quan để cảm nhận đến cùng vẻ đẹp hùng vĩ của nó Sông Đà hiện lên như một loài thủy quái đáng sợ, hung bạo khiến các giác quan của người đọc cũng đẩy lên cao trào Để có được tất cả những áng văn có thể xem như "thước phim" ấy, Nguyễn Tuân

đã dụng công miêu tả bằng trải nghiệm khác nhau trong vị thế của người quay phim và cả

vị thế của người xem phim để dùng ngòi bút mà thách thức mọi sự hùng vĩ của đất trời cũng như làm choáng ngợp những con mắt thưởng ngoạn của độc giả Có thể thấy cả 2 góc nhìn đều mang đến cho độc giả những cảm nhận khác lạ Mỗi một góc nhìn đều mang đến những trải nghiệm mới lạ và nói như nhà văn Nguyễn Minh Châu “Cuộc đời có nhiều góc nhìn và buộc chúng ta phải sống bằng những cái nhìn đa chiều” Đến với văn Nguyễn

Trang 23

Tuân, ta cũng phần nào tiếp cận với những góc nhìn nhiều chiều và điều đó đã giúp chúng

ta nhận thấy rằng khi nhìn bất kì sự vật nào cũng đừng nên cho lăng kính của mình một góc nhìn mà phải nhìn sự vật theo nhiều góc khác nhau để có thể nhìn cho rõ được sự vật Hơn thế nữa, nhà văn đã sử dụng những hình ảnh liên tưởng thú vị, rợn ngợp đến cảm giác muốn khám phá tận cùng nơi đáy sâu của những cái hút nước

Cuộc sống của người lái đò Sông Đà quả là một cuộc chiến đấu hằng ngày với thiên nhiên, một thứ thiên nhiên Tây Bắc có nhiều lúc trọng nó thành ra diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một Nhìn cái thiên nhiên ấy, có những lúc thấy nó không “thơ đời Đường” nhàn hạ, mà thấy nó chính là một cuộc đấu tranh với thiên nhiên để giành sự sống từ tay nó về tay mình Tôi xin ghi ở đoạn này cái hình ảnh chiến đấu gian lao của người lái đò trên chiến trường Sông Đà, trên một quãng thuỷ chiến ở mặt trận Sông Đà

(Thác nước) [Âm thanh] …Còn xa lắm mới đến cái thác dưới Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại réo to mãi lên Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng

- Sông Đà không chỉ hùng vĩ, dữ dội ở cảnh “đá bờ sông dựng vách thành”, cảnh mặt ghềnh

Hát Loóng “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm”, cảnh những cáu hút nước “xoáy tít đáy” mà còn nguy hiểm ở trùng trùng điệp điệp những thác nước sông Đà

“Đường lên Mường Lễ bao xa Trăm bảy cái thác, trăm ba cái ghềnh.”

- Say mê khám phá con sông, NT dõi theo dòng thác hung vĩ của SĐ ngay từ khi nó chưa

xuất hiện Nguyễn Tuân đã miêu tả âm thanh của tiếng nước thác bằng một hệ thống từ ngữ phong phú, truyền cảm

Trang 24

- Cùng với nghệ thuật nhân hóa được sử dựng một cách đắc địa, nhà văn đã truyền hồn sống

cho dòng sông, biến thác nước sông Đà thực sự trở thành một loại thủy quái đang giận dữ, gầm gào, đe dọa con người ngay cả khi nó chưa xuất hiện

- Khi thì nhà văn nghe thấy nó như “oán trách gì”, rồi lại như là “van xin”, khi lại thấy nó

đang “khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo” Nhà văn đã tung ra hàng loạt những ngôn từ sống động để miêu tả âm thanh thác nước theo những cung bậc tăng dần của cảm xúc giận

dữ Đó vừa là cách nhà văn nói đến khoảng cách rút ngắn dần khi tiếp cận con sông, vừa là cách tạo ấn tượng về sự dữ dội của sông Đà và tăng dần cảm giác hồi hộp, sợ hãi trong tâm trí người đọc

- Sông Đà đã trở thành một sinh thể có tâm trạng phức tạp, tính cách dữ dội khôn lường Âm

thanh nước thác tăng dần về âm lượng, dữ dội quyết liệt về mức độ, phong phú về sắc thái cũng giống bản nhạc có trường độ, cường độ, cao độ

- Đặc sắc nhất là những phép so sánh kì thú trong một câu văn dài đầy ắp những hình ảnh

dữ dội “Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”

- Âm thanh thác nước bất ngờ được phóng to hết cỡ “rống lến” và được so sánh với âm thanh

của tiếng hàng ngàn con trâu mộng gợi ấn tượng về khúc nhạc hùng tráng của thiên nhiên đang ở đỉnh điểm của sự phấn khích man dại và cuồng loạn Thật là một cảnh trí có sức hấp dẫn kì lạ đối với người thưởng văn bởi cả nỗi sợ hãi và niềm say mê, khao khát chiêm ngưỡng

- Là một kẻ thích chơi ngông, nhà văn đã thể hiện sự tài hoa độc đáo của mình khi lấy hình

ảnh gợi tả âm thanh, lấy lửa tả nước, lấy rừng tả sông, đặt những hình ảnh tương phản vốn rất “kị” nhau trong một trường liên tưởng độc đáo, thú vị

- Vậy mà hiệu quả của nó thật bất ngờ, nhà văn đã khiến âm thanh của thác nước không chỉ

được cảm nhận bằng thính giác, không chỉ được hình dung qua trí tưởng tượng mà còn hiện ra trong những ấn tượng đặc biệt sống động của xúc giác, thị giác Nguyễn Tuân phải

Trang 25

chăng đã lục lọi đến tận cùng kho cảm giác và liên tưởng phong phú, bộn bề, nhằm tìm ra những chữ nghĩa chính xác nhất, có khả năng động người đọc nhiều nhất?

[Trực diện] Tới cái thác rồi Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời

đá Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông

là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này Mặt sông rung rít lên như tuyếc-bin thuỷ điện nơi đáy hầm đập Mặt sông trắng xóa càng làm bật rõ lên những hòn những tảng mới trông tưởng như nó đứng nó ngồi nó nằm tùy theo sở thích tự động của đá to đá bé Nhưng hình như Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn

- Khi thác hiện ra, sau câu văn ngắn giống như tiếng reo ngỡ ngàng, thích thú “Tới cái thác

rồi”, nhà văn đã đồng thời tả cả đá và nước thác trong hình ảnh “sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá”

- Tính từ “trắng xóa” lặp lại nhiều lần gây ấn tượng về sóng, về gió, về bọt nước trào sôi

mãnh liệt, gợi tả làn hơi nước như mờ đi trên mặt sông, trên một diện rộng mênh mông của mặt sôn, cùng với hình ảnh “chân trời đá”, câu văn miêu tả của Nguyễn Tuân đã làm hiện ra sự hùng vĩ tới choáng ngợp của thác đá sông Đà ngay trong những ấn tượng đầu tiên khi vừa gặp mặt

- Đá sông Đà cùng với nước, với sóng và gió kết hợp với nhau cùng lúc tấn công uy hiếp con

người đã được nhà văn miêu tả qua một hình ảnh nhân hóa đặc sắc “Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng

ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền”

- Sử dụng thuật ngữ của quân sự, trên cơ sở những quan sát thực tế, Nguyễn Tuân đã gợi

dậy cái bí ẩn hiểm ác của đá sông Đà trong sự vĩnh hằng của thiên nhiên khi “ngàn năm mai phục”, khi dữ dằn đột ngột hiện ra sau cái dập dềnh của sóng để “nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền”

Ngày đăng: 23/10/2022, 11:56

w