AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG? HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG – I Tác giả 1 Tiểu sử, cuộc đời Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937, tại thành phố Huế, nhưng quê gốc lại ở làng Bích Khê, xã Triệu Long.
Trang 1AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?
- HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG –
I Tác giả
1 Tiểu sử, cuộc đời
- Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937, tại thành phố Huế, nhưng quê gốc lại ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị
- Thời niên thiếu ông sinh sống và học tập tại Huế Sau khi học hết bậc trung học, ông di chuyển vào
TP HCM để học tại trường Đại học Sư phạm Sài Gòn Năm 1960, ông tốt nghiệp khóa I ban Việt Hán trường Đại học Sư phạm Sài Gòn
- Sau đó ông quay trở lại Huế và tiếp tục sự nghiệp học hành của mình tại trường Đại học Văn khoa Huế Năm 1964, ông chính thức tốt nghiệp và nhận bằng Cử nhân triết tại ngôi trường này
- Trong khoảng thời gian từ năm 1960 – 1966,ông dạy tại trường Quốc Học Huế và tham gia rất tích cực vào các phong trào học sinh, sinh viên và giáo chức chống Mĩ – Ngụy đòi độc lập, thống nhất Tổ quốc
- Năm 1966 – 1975, Hoàng Phủ Ngọc Tường tình nguyện thoát ly gia đình và di chuyển lên các chiến khu để góp sức vào cuộc kháng chiến chống Mỹ bằng các hoạt động cách mạng trên mặt trận văn nghệ
- Ông viết văn và viết báo từ khi còn rất trẻ nhưng đến năm 1978 ông mới kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam
-> Hoàng Phủ Ngọc Tường rất am hiểu về thiên nhiên, lịch sử, văn hóa và con người nơi đây Bởi vậy, những trang viết của ông luôn gắn với vùng đất Huế ruột thịt và chứa đựng những giá trị thẩm
mỹ đặc biệt
“Bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường là một cuộc đi tìm cội nguồn, một sự phát hiện bề dày văn hoá
và lịch sử của các điều kiện đời sống… Văn anh giàu những tư liệu lấy từ sử sách tri thức khoa học
Trang 2và huyền thoại kí ức cá nhân loé lên những ánh sáng bất ngờ… Cái mới của Hoàng Phủ Ngọc Tường
là khám phá bình diện văn hoá với tư liệu lịch sử phong phú và một tâm hồn Huế nồng nàn” (Trần Đình Sử)
2 Sự nghiệp văn chương
- Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nhà văn vô cùng tài hoa, là nhà văn chuyên viết bút kí với phong cách nghệ thuật độc đáo
- Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lý, phong tục tập quán, … Tất cả được thể hiện qua lối liên tưởng phóng
khoáng, lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa
“Hoàng Phủ Ngọc Tường có một phong cách viết bút kí văn học của riêng mình Thế mạnh của ông
là tri thức văn học, triết học, lịch sử hay địa lý… sâu và rộng, gần như đụng đến vấn đề gì, ở thời điểm nào và ở đâu thì ông vẫn có thể tung hoành thoải mái ngòi bút được” “Dù là viết lịch sử đã xảy
ra cách nay hàng ngàn năm, từ thuở Âu Cơ và Lạc Long Quân, từ thời của các vua Hùng dựng nước
và mở cõi, hay viết về không gian đa chiều trong nghệ thuật tạo hình hiện đại của nghệ sĩ Lê Bá Đảng ở bên Pháp thì cái rốn của tư duy, cái trằn trọc trong tâm tưởng và tâm hồn nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường bao giờ cũng dồn vào tình yêu đất nước, tình yêu dân tộc” (Hoàng Cát)
- Những sáng tác của ông hấp dẫn người đọc ở lối hành văn hướng nội, súc tích và tấm lòng nhân văn sâu sắc, trí tuệ uyên bác cùng chất Huế quyến rũ
- Ngoài thể loại bút kí, Hoàng Phủ Ngọc Tường còn sáng tác thơ Thơ của ông cũng được rất nhiều yêu thích nhờ có nhiều nét đặc sắc trong sáng tác Các tập thơ của ông đều mang vẻ đẹp của nỗi buồn hoài niệm cùng những suy ngẫm về lẽ sống, cái chết, có ảnh hưởng rất sâu sắc đến tâm hồn người đọc
- Hoàng Phủ Ngọc Tường được biết đến như là một nhà văn của những dòng sông và sự nghiệp văn chương của ông cũng giống như là một dòng sông vậy, luôn chăm chỉ , miệt mài sáng tác không nghỉ ngơi để đóng góp cho đời những áng văn thơ hay
Trang 32 Tác phẩm
1 Xuất xứ
- “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là bài bút kí xuất sắc, viết tại Huế, ngày 4/1/1981, in trong tập sách cùng tên
- Bối cảnh ra đời: Sau ngày đại thắng mùa xuân 1975, văn học giai đoạn 1976 – 1986 phát triển trong
âm vang của một khí thế chống giặc hào hùng, rất sôi nổi, rộn rã, nó như còn đang hừng hực một bầu khí quyển trong lành của kỉ nguyên “độc lập, tự do” Đó là nguyên do để trong bút kí này HPNT phủ đầy yếu tố lịch sử cũng như tình yêu quê hương, đất nước tha thiết của ông về Huế
- Bài bút kí có ba phần:
+ Phần một nói về cảnh quan thiên nhiên của sông Hương
+ Phần 2 và 3 là phương diện lịch sử và văn hóa của sông Hương
- Đoạn trích này nằm ở phần một cộng với lời kết của tác phẩm
Trang 4- Tác giả “hoá thân” thành một nhân vật trong tác phẩm, giữ vai trò tự thuật, trò chuyện với các nhân vật khác, trình bày các sự kiện bằng việc sử dụng cảm quan nghệ thuật để quan sát, liên tưởng
và tưởng tượng, bộc lộ những ấn tượng, ý kiến, tình cảm của mình, dẫn người đọc tiếp cận đối tượng ghi chép theo một hướng nào đó, tạo ra sự thống nhất các phần trong bài kí “Kí là sự soi sáng cuộc sống bằng bó đuốc của những hiểu biết, tư tưởng, tình cảm của tác giả” và qua tác phẩm kí người đọc cảm nhận được cái tôi của tác giả
- Hoàng Phủ Ngọc Tường với kí: Trong những gương mặt viết kí tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại, HPNT nổi lên như một hiện tượng đáng chú ý với một phong cách viết vừa trữ tình, lãng mạn, vừa thâm trầm, triết lí đồng thời cũng rất độc đáo, tài hoa Ông đã được ghi nhận là một “cây kí” độc đáo của văn học Việt Nam hiện đại Trong sự nghiệp sáng tác của ông, mảng sáng tác thuộc thể loại
kí có vai trò quan trọng, có nhiều thành công đáng kể Sáng tác của ông mang đậm bản sắc riêng, thể hiện phong cách nghệ thuật khá đặc sắc… Chính vì thế, những trang kí phẩm HPNT thực sự đã khẳng định được giá trị của mình theo thời gian, gây được sự chú ý cho công chúng và những nhà phê bình, nghiên cứu văn học
3 Ý nghĩa nhan đề
- Mượn câu hỏi bâng khuâng của một nhà thơ từ Hà Nội vào: Ai đã đặt tên cho dòng sông?
-> Lưu ý người đọc về cội nguồn tên gọi của dòng sông: sông hương, sông thơm
-> Tâm thế một người luôn khao khát kiếm tìm cái đẹp dưới lớp trầm tích văn hóa lịch sử
-> Tâm hồn luôn biết xao xuyến trước cái đẹp của quê hương đất nước
- Cả bài tùy bút dường như là cuộc hành trình kiếm tìm câu trả lời cho câu hỏi đầy khắc khoải “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” Và cuộc tìm kiếm, lí giải cái tên của dòng sông đã trở thành cuộc kiếm tìm đầy hào hứng và say mê không chỉ vẻ đẹp diện mạo, hình hài mà còn là độ lắng sâu của tâm hồn và lớp trầm tích văn hóa
Trang 5- Con sôn xứ Huế hiện lên trong cuộc tìm kiếm của HPNT đã không chỉ là con sông địa lí mà là một sinh thể, một con người “sông Hương quả thực là Kiều, rất Kiều” vừa xinh đẹp, vừa tài hoa, vừa thăng trầm chìm nổi cùng lịch sử lại vừa đằm thắm lắng sâu với nền văn hóa riêng của nó
* Kí ức về “dòng sông” trong nhà văn
Nói đến Hoàng Phủ Ngọc Tường, ta nhớ ngay đến một nhà văn của những dòng sông Chính ông đã chia sẻ rằng “Những dòng sông luôn mang lại cảm xúc sáng tác cho tôi, đã nuôi dưỡng tâm hồn cho tôi, đã nuôi dưỡng tâm hồn văn học tối từ nhỏ cho đến bây giờ là mãi mãi sau này” Nhà văn kể lại tuổi thơ của mình: “Ngoài những giờ lên lớp, mỗi ngày tôi đều cùng với nhóm bạn học, ngày nào không ra sông lại thấy hụt hẫng như thiếu một điều gì đó” Ông khẳng định rằng, chính sông Hương
đã nuôi mạch văn chương trong con người ông, giúp những mạch máu ấy lan tỏa và sống mãi cho đến hôm nay: “Những kỷ niệm thời ấu thơ như những đêm nghe ca Huế dù đã cách nay hơn nửa thế
kỷ nhưng tôi vẫn không quên Ngày đó những đêm ca Huế không sân khấu đèn màu, không micro, người nghe ngồi bệt dưới nền đất để thưởng thức âm nhạc Những kỷ niệm dung dị đó đã ám ảnh suốt những năm tháng tôi xa sông Hương sau này, để bài ký đầu tiên trong cuộc đời sáng tác của tôi
là con sông quê hương” Chính vì lẽ đó, mà suốt những năm cuối đời, dù phải nằm trên giường bệnh những nhà văn vẫn ngóng xa xăm, rồi trầm tư: “Mười ba năm nay, nhờ có những dòng sông trong ký
ức, nên dù phải ngồi một chỗ nhưng tâm hồn tôi lúc nào cũng hướng ra bên ngoài, vui cùng cuộc sống Bảy cuốn bút ký viết trên giường bệnh của tôi có đóng góp lớn nhờ hoài niệm về những dòng sông Mỗi khi mệt mỏi chực gục ngã, tôi lại thúc mình phải vươn lên như những đợt sóng vỗ mãi không mỏi”
Yêu những dòng sông đến hơi thở cuối cùng, nên trong sự nghiệp cầm bút của mình, hầu hết mọi trang hoa thơm thảo của Hoàng Phủ Ngọc Tường để lại cho đời, luôn lấp lánh hình ảnh dòng sông Nhờ đi nhiều, chiêm nghiệm nhiều, nên ông đặc biệt quan tâm đến những dòng sông khắp mọi miền
Tổ quốc và cả những dòng sông nổi tiếng trên thế giới, để thấy quê mình vẫn là đẹp nhất Đó cũng là nguyên do để mở đầu bài ký, nhà văn khẳng định: “Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất” Điều đó có nghĩa là sông Hương đã gắn liền với không gian - địa lý, văn hóa, lịch sử của một thành phố duy nhất: đó chính là mảnh đất cố đô Huế thân yêu Nếu tách riêng sông Hương ra khỏi thành phố Huế thì nó chỉ còn là một dòng nước chảy giữa đôi bờ vô tri vô giác Và cũng trong lời mở đầu nồng nàn
Trang 6ấy, nhà văn đã đặt vị trí của sông Hương ngang bằng với những dòng sông đẹp” khác trên thế giới - nhưng trên hết tác giả khẳng định điều đặc biệt chỉ có ở nàng Hương “là dòng sông thuộc về một thành phố duy nhất” Lời khẳng định ấy cũng chính là niềm tự hào của tác giả về dòng sông quê hương - dòng thi ca đất mẹ, và đây cũng chính là điểm nhìn nghệ thuật độc đáo của bài kí qua cái nhìn tinh tế của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Cảm hứng về dòng sông trong thi ca
Các dòng sông và đặc biệt là sông Hương đã trở thành niềm thương, nỗi nhớ trong lòng của không ít nhà văn, nhà thơ từ xưa đến nay:
“Đò trôi rời bến một chiều Sông Hương đau thắt tim yêu bao ngày Gió xào xạc khóc trên cây Cầu Tràng Tiền nghẹn vơi đầy nhớ thương”
(Nỗi buồn sông Hương)
“Sông Hương nước chảy lững lờ Đôi bờ rủ bóng mộng mơ ảo huyền Xuôi dòng ngắm cảnh du thuyền
Ta như lạc cõi thần tiên phiêu bồng”
(Hò thuyền sông Hương)
“Thủa nước non đến hồi non nước Sông Hương đành xuôi ngược đông tây […] Sông Hương hỡi, xuân vừa tơ liễu
Cả trăm hoa hàm tiếu nhởn nhơ”
(Đêm khuya tự tình với sông Hương – Hàn Mặc Tử)
=> Có thể thấy, Sông Hương không phải lần đầu tiên đi vào các trang thơ, trang văn thế nhưng với mỗi người nghệ sĩ, hình ảnh sông Hương lại được khám phá với những góc nhìn riêng, vẻ đẹp riêng
Trang 7[Góc độ địa lí]
(Thượng nguồn) [ ] Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng Nhưng chính rừng già nơi đây, với cấu trúc đặc biệt có thể lý giải được về mặt khoa học, đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng, sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở mọi cửa rừng và ném chìa khoá trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng
Trong tâm thức của mỗi người, dù có đi qua trăm núi, ngàn sông, thì dòng sông quê Hương vẫn luôn là dòng nhớ, dòng thương vô tận Với tình yêu sâu nặng dành cho con sông xứ sở, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nhìn dòng sông bằng cái nhìn đầy ưu ái, có chút "thiên vị" trong câu văn đầu tiên của bài bút kí Nhà văn chẳng ngại ngần khi xếp sông Hương ngang hàng cùng những dòng sông đẹp trên thế giới Không những vậy, sông Hương còn thuộc về duy nhất thành phố Huế Đó là điểm riêng biệt của dòng Hương: Tạo hóa sinh ra sông Hương là
để dành riêng cho thành phố Huế
- Nhận xét mang đậm tính chủ quan: Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi
thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất (Bình luận: Không phải ngẫu nhiên Hoàng Phủ Ngọc Tường trong suốt bài kí này đã nhất quán trong việc khắc họa con sông như đã đi cùng Huế bằng cả một mối tình trọn vẹn, nhìn sông Hương và Huế như một cặp tình nhân lí tưởng, gắn bó với nhau trong một tình yêu muôn thuở: “Nếu như chẳng có dòng Hương/ Câu thơ xứ Huế nửa đường đánh rơi” (Nếu như chẳng có sông Hương – Huy Tập))
-> Cảm giác sở hữu đầy thương mến dành cho dòng sông quê hương
-> Niềm tự hào sâu sắc khi mặc nhiên đặt sông Hương ngang hàng với những dòng sông đẹp trên thế giới
-> Niềm kiêu hãnh khi khẳng định sự độc đáo của dòng sông quê hương
(Liên hệ: Cũng giống như HPNT, Nguyễn Tuân – người nghệ sĩ luôn khát khao kiếm tìm cái đẹp độc đáo trên hành trình sáng tác nghệ thuật cũng đã khám phá ra nét riêng biệt chỉ riêng sông Đà mới có “Chúng thủy giai đông tẩu/ Đà giang độc bắc lưu”)
- Đặt dòng sông trong mối quan hệ với dãy Trường Sơn xa xôi
Trang 8-> Khao khát ngược dòng không gian, tìm về cội nguồn của rừng đại ngàn, khám phá những vẻ đẹp bí ẩn, những sức mạnh tiềm tàng được đóng kín trong “phần tâm hồn sâu thẳm” của dòng sông trước khi nó về tới Huế
-> Nhà văn đã thể hiện những cảm hứng khám phá, cắt nghĩa và lí giải trong cái nhìn sâu sắc về cội nguồn – và đó cũng là một cảm hứng quen thuộc của tình yêu
- Như bản trường ca của rừng già
(Bình luận: Để mang đến cái nhìn trọn vẹn hơn về dòng sông xứ sở, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã "lội" ngược dòng sông Hương để tìm về khúc thượng nguồn của nó, rồi đắm say,
mê mẩn, tạc nó vào trang văn như tạc một bức họa tuyệt mĩ Nếu con sông Đà của
Nguyễn Tuân hiện lên dữ dội qua những câu văn có kết cấu điệp trùng như “nước xô đá,
đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy” thì con sông Hương của HPNT lại hiện lên với những câu văn tạo ra âm hưởng hùng tráng rất riêng cho bản trường ca rầm rộ của rừng già.)
+ Bản hùng ca tráng lệ
o Giữa đại ngàn, sông Hương hiện lên như một "bản trường ca của rừng già"
"Trường ca" là định danh chỉ áng thơ hay bản nhạc có dung lượng lớn và mang âm hưởng hùng tráng Khi được dùng để so sánh với sông Hương, câu văn đã mang đến những liên tưởng thú vị, tạo ấn tượng về dòng sông Hương khúc thượng nguồn với vẻ đẹp kì vĩ, tráng lệ Nó hiện lên với chiều dài chiều rộng hùng vĩ và dòng chảy cuộn trào mãnh liệt Không những vậy, khi chảy giữa "rừng già" bí ẩn, dòng sông còn mang trên mình vẻ đẹp của sự hoang dại, nguyên sơ
-> Sông Hương hiện ra với cả chiều dài rộng hùng vĩ và dòng chảy mạnh liệt trong
sự ngưỡng mộ và niềm say mê của nhà văn
o Dòng sông chảy qua dãy Trường Sơn đã nhận vào dòng chảy của nó tất cả những sắc thái phong phú, đa dạng của rừng già khi "rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn", khi
"mãnh liệt qua những ghềnh thác", khi "cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực
bí ẩn",
-> Câu văn dài với nhiều vế ngắt liên tiếp đã gợi dậy cái dư vang của trường ca, cái âm thầm của rừng già
-> Các danh từ cho thấy sự hoang sơ, bí ẩn, phép điệp cấu trúc cùng những động
từ, tính từ rất giàu sắc thái biểu cảm như tái hiện âm hưởng hung tráng, mạnh mẽ của con sông giữa những cánh rừng đại ngàn
➢ Dòng sông chảy qua dãy Trường Sơn đã nhận vào dòng chảy nó tất cả những sắc thái phong phú đa dạng của rừng già
➢ Dòng sông với những lớp sóng hung hãn cuộn trào bởi sự tiếp sức của thác ghềnh sóng gió, những xoáy hút dữ dội tiềm ẩn nỗi kinh hoàng của vực sâu – trạng thái dữ dội như Đà giang, nhưng không khiến người ta thấy gai ghê
+ Bản tình ca say đắm: khi lại "dịu dàng say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng"…
Trang 9-> Mang trong mình những miên man da diết của cỏ cây hoa lá nơi rừng đại ngàn
➢ Cách miêu tả uyển chuyển tài hoa thông qua những hình ảnh đối lập giúp nhà văn làm hiện lên hình ảnh dòng sông Hương nơi thượng nguồn với đồng thời cả sức mạnh
và vẻ đẹp; vừa tràn đầy sức mạnh hoang sơ, man dại, vừa khơi gợi những bí ẩn say mê, vừa ngời sáng vẻ đẹp rực rỡ, kiêu sa
- Phép nhân hóa
+ Như một cô gái Di – gan “phóng khoáng và man dại", "bản lĩnh gan dạ", "tâm hồn tự do
và trong sáng", cái mạnh mẽ phóng khoáng của một bộ tộc yêu thích cuộc sống tự do lang thang nay đây mai đó được gắn cho dòng chảy hoang dã khiến sông Hương nơi thượng nguồn càng trở nên quyến rũ đắm say
+ Mang sắc đẹp dịu dàng, trí tuệ của người mẹ phù sa; đã đóng kín lại một phần tâm hồn sâu thẳm, mãnh liệt (ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phượng) -> Nhà văn lý giải sự tương phản của sông Hương ở hai khúc thượng lưu và hạ lưu, không phải bằng những kiến thức địa lý thông thường Trong cái nhìn suy tư của nhà văn, sông Hương như một người con gái vốn mang sức mạnh hoang dã của rừng già nay đã được chế ngự để nhanh chóng tạo cho mình một "sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ" khi về đến Huế Trong cảm nhận của nhà văn, sông Hương khi về tới Huế đã hoàn toàn trở thành người
mẹ phù sa của "một vùng văn hóa xứ sở" - những thét gào man dại, những phóng túng tự
do nay đằm lắng trong sự bồi đắp dịu dàng, thương mến của đồng bằng châu thổ Những hình ảnh phong phú, ấn tượng, những liên tưởng tài hoa và thủ pháp nhân hóa đặc sắc đã làm hiện lên dòng sông Hương khúc thượng nguồn với vẻ đẹp của một sức sống mãnh liệt đầy cá tính, qua đó cho thấy cách cảm nhận suy tư có bề sâu trí tuệ của nhà văn
-> Vẻ đẹp dịu dàng như bến đỗ bình yên sau những thác ghềnh bão táp; sự bản lĩnh, trí tuệ của người từng trải muốn giấu kín gian truân sóng gió trong vẻ êm đềm bình, bình lặng; vẻ đẹp kín đáo bí ẩn của cô gái muốn giấu kín một phần đời riêng tư giữa đại ngàn trước khi đi tìm người tình mong đợi, đi gặp thành phố tương lai của mình
Tiểu kết
+ Với những hình ảnh phong phú, ấn tượng, những liên tưởng tài hoa và thủ pháp nhân hóa đặc sắc, HPNT đã trao cho sông Hương tâm hồn, tính cách, vẻ đẹp của một người con gái cá tính, hoang dại mà vẫn tiềm ẩn sự dịu dàng, sâu lắng, trí tuệ
+ Cái tôi tác giả: say mê, khám phá, cảm nhận lãng mạn và bề sâu trí tuệ Là nhà văn nặng lòng với Huế, gắn bó với dòng sông từ thuở còn thơ, hơn ai hết, Hoàng Phủ Ngọc Tường hiểu từng ngóc ngách của dòng sông, ông không muốn người đọc hay bất kì ai tò
mò về sông Hương, mà nhìn nhận nó ở một góc độ nên ông đã trực tiếp đưa quan điểm của mình vào để thức tỉnh người đọc: “Nếu chỉ mải mê ngắm nhìn khuôn mặt kinh thành, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã trải qua”
(Ngoại vi) Phải nhiều thế kỉ qua đi, người tình mong đợi mới đến đánh thức người gái đẹp nằm ngủ
mơ màng giữa đồng Châu Hoá đầy hoa dại Nhưng ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương
Trang 10đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó Từ ngã ba Tuần, sông Hương theo hướng nam bắc qua điện Hòn Chén; vấp Ngọc Trản, nó chuyển hướng sang tây bắc, vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía đông bắc, ôm lấy chân đồi thiên Mụ, xuôi dần về Huế Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ đó, người ta luôn luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé vừa bằng con thoi Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố, “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” như người Huế thường miêu tả Giữa đám quần sơn lô xô ấy, là giấc ngủ nghìn năm của những vua chúa được phong kín trong lòng những rừng thông u tịch và niềm kiêu hãnh âm
u của những lăng tẩm đồ sộ toả lan khắp cả một vùng thượng lưu “Bốn bề núi phủ mây phong - Mảnh trăng thiên cổ bóng tùng Vạn Niên” Đó là vẻ đẹp trầm mặc nhất của sông Hương, như triết
lí, như cổ thi, kéo dài mãi đến lúc mặt nước phẳng lặng của nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, giữa những sớm làng trung du bát ngát tiếng gà
Đây là chặng đường rất đáng nhớ, chuẩn bị tiền đề cho một thay đổi lớn: sông Hương từ “cô gái Di – gan phóng khoáng và man dại” trở thành “người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở”
- Vẻ đẹp của dòng chảy uyển chuyển, sống động, gợi cảm
+ So sánh + Nhân hóa: sông Hương như “người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa đồng Châu Hoá đầy hoa dại” chờ “người tình mong đợi” đến đánh thức
-> Vẻ đẹp duyên dáng, yêu kiều, dịu dàng, e ấp của một cô gái đẹp mong chờ một tình yêu lãng mãn, cổ tích
+ Bắt đầu chuyển dòng một cách liên tục: Nam bắc – tây bắc – đông bắc, rồi xuôi dần về Huế
(Bình luận: Vậy vì sao mà con sông phải chuyển dòng liên tục, có phải chăng HPNT muốn nói rằng cuộc tìm kiếm một người tình trong mộng là không hề dễ dàng, có thể đôi bàn chân phải bôn ba trên khắp các nẻo đường như dân gian đã từng viết :
“Anh đến tìm hoa Thì hoa đã nở Anh đến tìm đò Thì đò đã sang sông Anh đến tìm em thì em đã lấy chồng”
Và sông Hương trong cuộc hành trình tìm kiếm người yêu đích thực của mình cũng vậy
Nó phải Chuyển dòng một cách liên tục, vòng những khúc quanh đột ngột thì mới gặp được Huế.)
-> Trong cái nhìn tình tứ và lãng mạn của nhà văn, dòng chảy miên man của nhà văn, dòng chảy miên man của sông Hương từ thượng nguồn về tới Huế giống như một “cuộc
Trang 11tìm kiếm có ý thức” người tình đích thực của cô gái đẹp trong một câu chuyện cổ tích về tình yêu Trong thủy trình gian truân ấy, người con gái sông Hương có cơ hội khoe tất cả những vẻ đẹp của mình, từ đường cong tuyệt mĩ trên thân hình kiều diễm đến những khao khát, đắm say trong tâm hồn
+ Dáng sông: “Chuyển dòng một cách liên tục, vòng những khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm, rồi đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía đông – bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ”; “vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách”
o Những câu văn dài nối tiếp nhau làm nên dòng chảy miên man vừa mạnh mẽ với
“những dư vang của Trường Sơn” như còn phảng phất, vừa duyên dáng đầy nữ tính trong những khúc lượn vòng mềm mại Hành trình tìm kiếm của dòng sông
để đến với vẻ đẹp bình lặng “dịu dàng, trí tuệ” đã cho thấy sự mạnh mẽ của niềm khát khao, của bản lĩnh kiên cường, giấu mình trong vẻ dịu dàng, duyên dáng của người con gái bừng thức sức sống trẻ trung
o Liên hệ: Đọc đoạn văn này, người yêu văn lại liên tưởng đến Nguyễn Tuân khi miêu tả con sông Đà ở hạ lưu với những câu văn đẹp: “con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân” hay dòng sông Đuống “Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì” (Hoàng Cầm) Sông Hương của HPNT mang trong mình vẻ đẹp mềm mại, trữ tình, đài các, sang trọng của con sông mang khuôn mặt kinh thành, con sông của riêng đất trời xứ Huế
- Vẻ đẹp mềm mại, thướt tha đầy biến ảo - Màu nước: “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” + Sớm xanh: trời quang mây tạnh, mặt sông phẳng lặng như gương, sắc trời lồng sắc nước + Trưa vàng: lộng lẫy sắc nắng miền Trung
+ Chiều tím: Sắc tím ấy phải chăng là sắc tím của những bông hoa lạ giữa dòng trong thơ Thanh Hải
“Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc”
Hay đó là màu của hoa lục bình trong thơ của Lê Anh Xuân:
“Con sông nhỏ tuổi thơ ta tắm Vẫn còn đây nước chẳng đổi dòng Hoa lục bình tím cả bờ sông”
Có lẽ màu “tím” trong chữ “chiều tím” của Hoàng Phủ Ngọc Tường là tím Huế, sắc màu đặc trưng của không gian Huế “mà chẳng nơi nào có được” – sắc của sương của khói -> Nếu sông Hương đổi sắc màu theo ngày thì sông Đà của Nguyễn Tuân lại đổi sắc màu theo tháng trong năm Mùa xuân nước sông Đà xanh màu “xanh ngọc bích” chứ không
“xanh màu canh hến của sông Gâm sông Lô” Mỗi độ xuân về, nước sông lại “lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa”
Trang 12-> Dòng sông như được phản chiếu những vẻ đẹp phong phú của cảnh sắc đôi bờ sông: sông Hương đã góp nhặt sắc núi Ngọc Trản để đem đến cho mình màu “xanh thẳm”; sông Hương hiền dịu lượn quanh những Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo để trở nên “mềm như một tấm lụa”’ lấy ánh phản quang của những ngọn đồi “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”
- Vẻ đẹp cổ kính hài hòa với cuộc sống hằng thường
+ Khi đi qua những rừng thông u tịch, những lăng tẩm kiêu hãnh, âm u, sông Hương thấm vào lòng mình vẻ đẹp “ u tịch” của rừng thông, vẻ đẹp “trầm mặc” và niềm kiêu hãnh âm
u tỏa ra từ “giấc ngủ nghìn năm” của những vua chúa trong khu lăng tẩm Vạn Niên đồ sộ -> Hàng loạt ấn tượng về “đám quần sơn”, về “những lăng tẩm đồ sộ”, “những rừng thông
u tịch” cùng “núi phủ, mây phong, mảnh trăng thiên cổ” - “Bốn bề núi phủ mây phong/ Mảnh trăng thiên cổ, bóng tùng Vạn Niên” quyện vào nhau Từ ngữ chỉ đặc điểm của đối tượng này cũng đồng thời ám gợi đặc điểm của đối tượng khác, tạo nên một vùng cảm giác phức hợp soi chiếu vào nhau
-> Đây là một kiểu biểu đạt rất thơ: trùng điệp, luyến láy và biến hóa; vừa tô đậm, xoáy sâu, vừa tạo ra những vùng nhòe, mờ, mở rộng không gian và khả năng liên tưởng cho người đọc
-> Cái đẹp nhìn dưới góc độ văn hóa sâu thẳm
(Liên hệ: Nếu so sánh sông Hương như một bản trường ca thì có lẽ, sông Hương khi chảy qua quãng này chính là những nốt trầm sâu lắng nhất của bản trường ca kia Phải chăng, chính vẻ trầm mặc đó của sông Hương, của xứ Huế đã khơi nguồn cảm xúc để những giai điệu da diết ngân lên trong nhạc phẩm "Huế tình yêu của tôi":
“Đã đôi lần đến với Huế mộng mơ
Tôi ôm ấp một tình yêu dịu ngọt
Vẻ đẹp Huế chẳng nơi nào có được
Nét dịu dàng pha lẫn trầm tư.”
Cái tài của Hoàng Phủ Ngọc Tường thể hiện ở chỗ, từ một con sông chảy giữa tự nhiên, giữa đời thường ông đã nhìn thấy thần thái của nó, rồi nảy một vài từ "trầm mặc nhất của sông Hương, như triết lý, như cổ thi" – chính xác đến vô cùng để người đọc có thể hình dung rõ ràng vẻ đẹp tinh tế ấy của dòng sông.)
+ Mang hơi thở cuộc sống với những thanh âm hằng thường: Dòng sông đã như bừng sáng tươi tắn khi gặp mênh mang “tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia”, giữa những “xóm làng trung du bát ngát tiếng gà” Cái hư vô tịch mịch của tiếng chuông chùa hòa quyện với chất thơ ấm áp của tiếng gà nơi thôn quê đã đưa dòng sông trôi đi giữa mộng và thực, giữa đạo và đời, như thực như mơ…
-> Cái đẹp trẻ trung gần gũi của hiện tại
Trang 13(Liên hệ: Đặt trong văn cảnh cả bài kí, ta có thể lý giải vẻ trầm mặc của dòng sông như một chút lo lắng, bồn chồn của người con gái trước khi đối diện với người tình mong đợi Dòng sông – người con gái như băn khoăn trong lòng: Liệu đã tìm đúng đường về? Vậy nên, vẻ trầm mặc ấy "kéo dài mãi đến lúc mặt nước phẳng lặng của nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà " mới tiếp chuyển sang một trạng thái khác.)
Tiểu kết
+ Đoạn văn thể hiện sự tài hoa và am tường kiến thức địa lí cú HPNT qua bút pháp kể và tả được kết hợp nhuần nhuyễn, cách sử dụng một loạt động từ diễn tả dòng chảy sống động qua những địa danh khác nhau của Huế, phối cảnh hài hòa với thiên nhiên xứ Huế Vẻ đẹp của sông Hương chính là sự hắt bóng kì diệu vẻ đẹp của quần thể thiên nhiên mơ mộng xứ Huế + Câu văn mang âm hưởng thơ, có sức luyến láy (nhờ những điệp từ, từ láy, so sánh, trùng điệp) vừa gợi được dòng chảy miên man của dòng sông đoạn ở ngoại vi thành phố vừa gợi lên cái hồn thẳm sâu của cảnh sắc và con người xứ Huế
+ HPNT đã dõi theo hành trình của con sông với tất cả sự đam mê để khám phá vẻ đẹp phong phú của nó: vừa mơ màng, vừa mạnh mẽ, khi bừng bừng sức trẻ lúc lại cổ kính, trầm mặc (Trong lòng thành phố) Từ đây, như đã tìm đúng đường về, sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của những vùng ngoại ô Kim Long, kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tân nam - đông bắc, phía đó, nơi cuối đường, nó đã nhìn thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non Giáp mặt thành phố ở Cồn Giã Viên, sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến; đường cong ấy làm cho dòng sông mềm hẳn
đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu Và như vậy, giống như sông Xen của Pa-ri, sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét; sông Hương nằm ngay giữa lòng thành phố yêu quý của mình; Huế trong tổng thể vẫn giữ nguyên dạng một đô thị cổ, trải dọc hai bờ sông Đầu và cuối ngõ thành phố, những nhánh sông đào mang nước sông Hương toả đi khắp phố thị, với những cây đa, cây cừa cổ thụ toả vầng lá u sầm xuống những xóm thuyền xúm xít; từ những nơi ấy, vẫn lập loè trong đêm những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ mà không một thành phố hiện đại nào còn nhìn thấy được Những chi lưu ấy, cùng với hai hòn đảo nhỏ trên sông đã làm giảm hẳn lưu tốc của dòng nước, khiến cho sông Hương khi qua thành phố đã trôi đi chậm, thực chậm, cơ đồ chỉ là một mặt hồ yên tĩnh Tôi đã đến Lê-nin-grát, có lúc đứng nhìn sông Nê-va cuốn trôi những đám băng lô xô, nhấp nháy trăm màu dưới ánh sáng của mặt trời mùa xuân; mỗi phiến băng chở một con hải âu nghịch ngợm đứng co lên một chân, thích thú với chiếc thuyền xinh đẹp của chúng; và đoàn tàu tốc hành lạ lùng ấy với những hành khách tí hon của nó băng băng lướt qua trước cung điện Pê-téc-bua cũ để ra
bể Ban-tích Tôi vừa từ trong khói lửa miền Nam đến đây, lâu năm xa Huế, và chính Lê-nin-grát đã đánh thức trong tâm hồn tôi giấc mơ lộng lẫy của tuổi dại; ôi, tôi muốn hoá làm một con chim như đứng co một chân trên con tàu thuỷ tinh để đi ra biển Tôi cuống quýt vỗ tay, nhưng sông Nê-va đã chảy nhanh quá, không kịp cho lũ hải âu nói một điều gì với người bạn của chúng đang ngẩn ngơ trông theo Hai nghìn năm trước, có một người Hi Lạp tên là Hê-ra-clít, đã khóc suốt đời vì những dòng sông trôi đi quá nhanh, thế vậy! Lúc ấy, tôi nhớ lại con sông Hương của tôi, chợt thấy quý điệu
Trang 14chảy lặng lờ của nó khi ngang qua thành phố Đấy là điệu slow tình cảm dành riêng cho huế, có thể cảm nhận được bằng thị giác trăm qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng Bảy từ điện Hòn Chén trôi về, qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng
Sông Hương khi chảy vào thành phố được tác giả miêu tả bằng một lối văn trữ tình, hướng nội, độc đáo và tài hoa Với cái nhìn tinh tế, đầy cảm xúc và đầy sáng tạo của nhà văn, dòng sông Hương khi chảy vào thành phố Huế hiện lên với những đặc trưng riêng của nó mà không có dòng sông nào có được
- Tín hiệu gặp gỡ của sông Hương và Huế: Chiếc cầu trắng như vành trăng non
-> Một tín hiệu nên thơ, thân thuộc của riêng Huế như đang vẫy gọi, đang chờ đợi dòng sông Nếu nhà thơ Nguyễn Bính so sánh cầu Tràng Tiền như chiếc lược ngà “Cầu cong như chiếc lược ngà/ Sông dài mái tóc cung Nga buông hờ” thì Hoàng Phủ Ngọc Tường lại
so sánh với vành trăng non – một hình ảnh so sánh độc đáo gợi ra vấn đề tinh khôi, duyên dáng của cầu Tràng Tiền
- Dáng sông
+ Nhân hóa: Sông Hương “vui tươi hẳn lên”, “kéo một nét thẳng thực yên tâm”
-> Cảm giác hạnh phúc bình yên của dòng sông khi tìm thấy chính mình, tìm thấy tình yêu của mình khi về với thành phố mà thành phố ấy hình như chỉ dành riêng cho nó, tồn tại vì nó, một thành phố luôn đợi chờ, luôn tin vào dòng sông thân yêu từ miền thăm thẳm đại ngàn xa xôi
-> Tác giả dùng cả tiếng nói tình tứ, thủy chung của một trái tim yêu để cảm nhận sự gắn
bó của dòng sông giống như người con gái mãi nặng lòng với Huế
+ So sánh: “uốn một cánh cung rất nhẹ” sang đến Cồn Hến, đường cong này làm cho dòng sông “mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu”, gợi nhớ đến cái lắc đầu đầy nữ tính của người phụ nữ khi yêu trong thơ Xuân Quỳnh
“Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu
Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau”
Dòng sông lúc này như đã trở thành người tình nhân vừa biết phô khoe vẻ đẹp hình thể của một dòng chảy nhiều uốn lượn như đường cong đầy nữ tính của người phụ nữ Đồng thời, qua đó cũng cho thấy vẻ đẹp dịu dàng,e lệ kín đáo của dòng Hương
-> Phép so sánh thật ngọt ngào làm cho dòng sông giống như một cô gái dịu dàng, e ấp
mà vẫn lãng mạn, đắm say
-> Kín đáo, ý nhị, trẻ trung
- Màu sắc: Màu sắc của dòng sông là màu “xanh thẳm” của chính nó, màu rực rỡ của trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh trong đêm hội trên sông, lung linh sắc màu phong phú của cảnh vật bến bờ: từ những mảng phản quang nhiều màu sắc của núi đồi “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” đến những “biền bãi xanh biếc của ngoại ô Kim Long”; từ màu
Trang 15thanh khiết nõn nà của “chiếc cầu trắng in ngần trên nền trời”, nhỏ nhắn như những vầng trăng non đến sắc “u trầm” của những vầng cổ thụ, ánh “lập lòe” của lửa thuyền chài, rồi lại là màu xanh biếc của tre trúc, của cau thôn Vĩ Dạ cùng sắc “mơ màng sương khói” của Cồn Hến…
-> Sông Hương đã hiện ra như một bức tranh tuyệt đẹp trong thành Huế với những nét vẽ huyền ảo, những sắc màu thơ mộng
-> Khung cảnh bên sông vừa gần gũi đời thường, vừa xa xăm miên viễn như cổ thi
“Những cây đa, cay cừa cổ thụ tỏa vầng lá u sầm xuống những xóm thuyền xúm xít” Hình ảnh này khiến sông Hương vừa gần gũi với cuộc đời thường vừa có cái xa xăm của Đường thi, gợi nhớ đến thơ Trương Kế: Giang phong ngư hỏa đối sầu miên (Cây phong bên sông cùng ngọn lửa thuyền chài nhìn nhau trong giấc ngủ buồn)
-> Sông Hương với Huế như hòa vào làm một, mọi hình ảnh, sắc màu trên dòng sông đều
là sự phản chiếu của Huế
- Điệu chảy
+ Âm hưởng, nhịp điệu của ngôn từ: nhịp điệu dòng chảy của sông Hương
o Những câu văn dài nối tiếp, với rất ít dấu ngắt và rất nhiều thanh bằng,
o Sự giãn cách trong nhịp trầm tư sâu lắng của những suy ngẫm, những liên tưởng mênh mang trong không gian, thăm thẳm trong thời gian
o Từ nhịp ngắt, các yếu tố điệp cho đến so sánh đều góp phần làm đậm thêm nhịp chảy chậm rãi, yên ả của dòng sông
-> Phép điệp ngữ "chậm", "thực chậm" cùng với hình ảnh so sánh giàu sức gợi "mặt
hồ yên tĩnh" đã khắc họa một trong những vẻ đẹp riêng biệt của sông Hương là dòng chảy yên bình, lặng lẽ
(Bình luận: Không giống với sông Hương vùng thượng nguồn, lúc "rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn", lúc "mãnh liệt vượt qua ghềnh thác", khi "cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn", sông Hương khi chảy qua thành phố Huế mang diện mạo hoàn toàn khác Điều đặc biệt là Hoàng phủ Ngọc Tường không lí giải quá sâu đặc điểm này của sông Hương về mặt khoa học, mà qua cách thể hiện của mình, ông đã mang đến cho người đọc một liên tưởng thú vị Sở dĩ, dòng sông "dùng dằng", "không chảy" bởi nó dành riêng cho Huế một tình cảm lắng sâu, đằm thắm
Nó muốn neo lại thật lâu bên người tình mong đợi, người tình mà phải trải qua cả một hành trình gian truân mới có thể tìm gặp, làm sao nỡ vội rời xa?)
o So sánh tương đồng: Điệu Slow tình cảm dành riêng cho Huế
o So sánh tương phản: So sánh điệu chảy “băng băng” của sông Nê – va lúc xuân về
>< “điệu chảy lặng tờ” của dòng sông xứ Huế