ĐÔI NÉT VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) ĐÔI NÉT VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) Tổ chức thương mại thế giới WTO (World Trade Organization) được thành lập để điều chỉnh quan hệ thương mại the.
Trang 1ĐÔI NÉT VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)
Tổ chức thương mại thế giới - WTO (World Trade Organization) được thành lập để điều chỉnh quan hệ thương mại theo hướng mở rộng tự do giữa các quốc gia trong thương mại quốc tế WTO là tổ chức kế thừa và phát triển Hiệp định chung về Thuế quan và
thương mại - GATT (General Agreement on Tariffs and Trade) Tổ chức Thương mại thế
giới có chức năng tập hợp các quốc gia để đi tới một nền thương mại tự do có tính chất toàn cầu, nó điều chỉnh tất cả các khía cạnh hoạt động thương mại quốc tế như thương mại hàng hoá, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, nông nghiệp, dệt may, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn lao động, v.v WTO cũng tạo lập hệ thống giải quyết tranh chấp thương mại cho các nước thành viên và thiết lập một trật tự mới trong hệ thống thương mại đa phương.
1 Lịch sử thành lập WTO
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thành lập ngày 1/1/1995 kế tục và mở rộng phạm vi điều tiết thương mại quốc tế của GATT, đó là một trong những thành tựu của vòng đàm phán Urugoay năm 1994, GATT ra đời sau Đại chiến thế giới lần II trong trào lưu hình thành hàng loạt cơ chế đa biên, điều tiết các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế mà điển hình là Ngân hàng Quốc tế tái thiết và phát triển như Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) ngày nay Với ý tưởng hình thành những nguyên tắc, thể lệ, luật chơi cho thương mại quốc tế điều tiết các lĩnh vực về công ăn việc làm, về thương mại hàng hoá, khắc phục tình trạng hạn chế, ràng buộc các hoạt động này phát triển, 23 nước sáng lập GATT đã cùng một số nước khác tham gia Hội nghị về thương mại và việc làm và dự thảo Hiến chương LaHavana để thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế(ITO) với tư cách là một cơ quan chuyên môn của Liên Hiệp Quốc Đồng thời các nước này đã cùng nhau tiến hành các cuộc đàm phán về thuế quan và xử lý các biện pháp bảo hộ mậu dịch đang áp dụng tràn lan trong thương mại quốc tế từ đầu những năm 30, nhằm thực hiện mục tiêu tự do hoá mậu dịch, mở đường cho kinh tế và thương mại phát triển, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống cho nhân dân các nước thành viên Hiến
Trang 2chương thành lập ITO đã được thoả thuận tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về thương mại và việc làm ở Havana từ tháng 11/1947 đến tháng 3/1948, nhưng do một số quốc gia gặp khó khăn trong phê chuẩn, nên việc thành lập ITO đã không thực hiện được Mặc dù vậy, kiên trì mục tiêu
đã định và với kết quả đáng khích lệ đạt được ở vòng đàm phán thuế đầu tiên là 45.000 ưu đãi
về thuế áp dụng giữa các bên tham gia đàm phán, chiếm khoảng 1/5 tổng lượng mậu dịch thế giới, 23 nước sáng lập đã cùng nhau ký kết Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), chính thức có hiệu lực vào 1/1/1948.
Mục đích của GATT là thông qua các cuộc đàm phán để mở đường cho mậu dịch tự do, giảm tối thiểu những hạn chế, ràng buộc có tính chất bất công và bất hợp lý để tránh làm thiệt hại đến các quyền lợi của các quốc gia GATT ra đời là để cổ vũ cho nền thương mại quốc tế tự do Những nguyên tắc hoạt động của GATT là: Khuyến khích và phát triển quan hệ thương mại đa phương giữa các quốc gia trên nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử; Tiến hành các đàm phán để giảm bớt thuế quan; Loại bỏ các quota nhập khẩu; Loại bỏ những điều quy định
có tính chất giới hạn đồng thời hướng tới một nền thương mại quốc tế có tính chất tự do.
GATT đã chứng tỏ mình là công cụ hiệu quả nhất về tự do hoá thương mại thế giới và đóng vai trò quan trọng, chủ yếu trong việc mở rộng thương mại thế giới trong 50 năm sau của thế kỷ
XX Nguyên tắc quan trọng nhất của GATT là không phân biệt đối xử trong thương mại, theo đó thì mỗi quốc gia thành viên phải mở cửa thị trường của mình cho các nước một cách bình đẳng thể hiện trong những điều khoản tối huệ quốc vô điều kiện Điều này có nghĩa là khi một quốc gia đã đồng ý giảm thuế quan thì loại thuế đó phải được cắt giảm một cách tự động và mở rộng cho các quốc gia thành viên khác của GATT GATT có một thời biểu lâu dài cho sự nhượng bộ từng bước các loại thuế đặc biệt, thích ứng cho từng quốc gia ký kết với GATT, tương ứng với tỷ
lệ và tốc độ thuế mà mỗi quốc gia đã đồng ý và mở rộng cho các quốc gia khác Một nguyên tắc căn bản nữa là, bảo hộ thương mại phải thông qua thuế hơn là thông qua hạn ngạch nhập khẩu hoặc các hình thức khác nhằm hạn chế số lượng thương mại Do đó GATT nỗ lực tìm kiếm một
Trang 3hệ thống tự động nhằm xoá bỏ hạn ngạch nhập khẩu; đồng thời nêu ra quy tắc tổng quát khác
là điều chỉnh thuế xuất nhập khẩu sao cho tương đồng giữa các nước và yêu cầu các quốc gia thành viên tiến hành đàm phán nhằm cắt giảm thuế theo yêu cầu của các quốc gia thành viên khác Một điều khoản linh hoạt của GATT là cho phép các quốc gia thành viên sửa đổi hiệp định nếu những nhà sản xuất nội địa chịu đựng sự tổn thất quá giới hạn do có quá nhiều nhượng bộ trong thương mại.
Kể từ đó đến năm 1994, GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán chủ yếu về giảm biểu thuế quan Tuy nhiên từ thập kỷ 70 và đặc biệt là từ Hiệp định Uruguay (1986-1994) do thương mại quốc tế không ngừng phát triển nên GATT đã mở rộng diện hoạt động, đàm phán không chỉ về thuế quan mà còn tập trung xây dựng một bộ luật thương mại quốc tế đó là các Hiệp định hình thành các chuẩn mực, luật chơi điều tiết các vấn đề hàng rào phi thuế quan về thương mại dịch
vụ, quyền sở hữu trí tuệ các biện pháp đầu tư có liên quan đến thương mại, về thương mại hàng nông sản, hàng dệt may, về cơ chế giải quyết tranh chấp.
Hoạt động thường xuyên của GATT là những vòng đàm phán về những vấn đề thương mại có ảnh hưởng đến những chủng loại hàng hoá khác nhau Những hội nghị thương mại đa phương
có tính chất chuyên đề được tổ chức theo chu kỳ để cắt giảm thuế và thương lượng những vấn
đề liên quan khác GATT đã có 8 vòng đàm phán được tổ chức từ năm 1947 đến 1993 Vòng đàm phán đầu tiên được tổ chức ở Thuỵ Sĩ vào năm 1947 (nhất trí ký Hiệp định chung); ở Annecy, Pháp năm 1949; ở Torquay, Anh năm 1951 ; ở Thuỵ Sĩ vào năm 1956 và năm 1960 -1962.Vòng đàm phán quan trọng nhất được gọi là Vòng đàm phán họp tại Kennơdy vào năm
1964 - 1967, Vòng đàm phán Tokyo vào năm 1973 - 1979 và Vòng đàm phán Uruguay vào năm
1986 - 1994, các cuộc đàm phán đều tổ chức ở Thuỵ Sĩ Các Hiệp định đều thành công trong việc giảm mức thuế trung bình đối với các sản phẩm công nghiệp trên toàn thế giới từ 40% theo giá thị trường vào năm 1947 xuống còn 5% vào năm 1993 Vòng đàm phán Uruguay đạt được nhiều tham vọng nhất trong việc thiết lập những hiệp định tự do hoá thương mại trong lịch sử
Trang 4của GATT Hiệp định của vòng đàm này đã chấp nhận mục đích là cắt giảm thuế của những sản phẩm công nghiệp ở mức trung bình 40% xuống còn 5% để làm cho việc trợ giá nông sản bị giảm xuống Hiệp định của vòng đàm phán này cũng đặt nền tảng cho lĩnh vực kinh doanh dịch
vụ Hiệp định này cũng tạo ra một tổ chức toàn cầu mới và mạnh mẽ hơn, đó là WTO có chức năng giám sát và điều chỉnh nền thương mại toàn cầu GATT không còn hiện hữu qua sự kết thúc trang trọng tại vòng đàm phán Uruguay vào ngày 15/4/1994 Những nguyên tắc và nhiều hiệp định thương mại của nó đã được kế thừa bởi WTO.
Do diện điều tiết của hệ thống thương mại đa biên ngày càng được mở rộng nên Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) với tư cách là một sự thoả thuận có nhiều nội dung
ký kết chỉ mang tính chất khuyến nghị với các nước tỏ ra không còn thích hợp nữa Do đó, ngày 15/4/1994 tại Marrakesh (Ma rốc), kết thúc Hiệp định Uruguay, các thành viên của GATT đã
cùng nhau ký Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) nhằm kế tục và phát
triển sự nghiệp của GATT Theo đó WTO chính thức được thành lập độc lập với hệ thống Liên Hiệp Quốc và đi vào hoạt động từ 1/1/1995, lúc đó có 125 quốc gia đã ký vào Hiệp định này Đến nay, đã có 148 quốc gia tham gia vào WTO và 25 quốc gia khác đang đàm phán để gia nhập (tính đến 5/2005), chiếm 97% giá trị mậu dịch thế giới WTO đưa hệ thống chính sách kinh tế thương mại của các nước thành viên vào một thể hài hoà thống nhất, nâng cao tính minh bạch, rõ ràng và hiểu biết lẫn nhau trong môi trường mậu dịch toàn cầu WTO phối hợp chặt chẽ với Liên Hiệp Quốc, Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) gắn kết các vấn đề thương mại với tài chính, tiền tệ quốc tế, tạo điều kiện cho việc phát triển toàn diện quan
hệ kinh tế quốc tế Mục đích của WTO là tạo điều kiện cạnh tranh thuận lợi và bình đẳng cho thương mại giữa các nước bằng cách khuyến khích các nước tham gia vào các cuộc thương lượng về cắt giảm thuế quan, dỡ bỏ các hàng rào thương mại và áp dụng các quy định chung (có văn bản pháp lý) về thương mại, hàng hoá và dịch vụ.
2 Cơ cấu tố chức WTO
Trang 5WTO là tổ chức quốc tế duy nhất quản lý luật lệ giữa các quốc gia trong thương mại quốc tế.
Đó là những hiệp định đã (và đang tiếp tục) được đàm phán và ký kết giữa các quốc gia hoặc lãnh thổ thành viên.
Cơ quan quyền lực cao nhất của WTO là Hội nghị bộ trưởng- nhóm họp ít nhất hai năm một lần Hội nghị bộ trưởng đầu tiên được tổ chức tại Singapore tháng 12/1996 Hội nghị bộ trưởng lần hai tổ chức tại Giơnevơ (Thuỵ Sĩ) tháng 5/1998; Hội nghị bộ trưởng lần ba tổ chức tại Seattle (Mỹ) cuối năm 1999 Hội nghị lần tư tổ chức tại Doha (Quata) tháng 11/2001
Giữa hai kỳ Hội nghị, Đại Hội đồng (bao gồm đại diện có thẩm quyền của tất cả các thành viên) có chức năng thường trực và báo lên Hội nghị Bộ trường Đại Hội đồng đồng thời đóng vai trò là “một cơ quan giải quết tranh chấp” và “cơ quan rà soát chính sách” của WTO Dưới
Đại Hội đồng là Hội đồng về thương mại hàng hoá, Hội đồng về thương mại dịch vụ và Hội
đồng về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ Các Hội đồng trên chịu trách nhiệm điều hành việc thực thi Hiệp định WTO về từng lĩnh vực thương mại tương
ứng Tham gia các Hội đồng là đại diện của các thành viên.
- Hội đồng hàng hoá điều hành công việc của 11 ủy ban và cơ quan giám sát hàng dệt.
- Hội đồng dịch vụ gồm các uỷ ban về dịch vụ tài chính và uỷ ban về các cam kết cụ thể Ngoài ra còn có các nhóm công tác chuyên trách một số lĩnh vực
Phần lớn các quyết định của WTO đều được thông qua trên cơ sở đồng thuận Trong một số trường hợp nhất định, khi không đạt được sự đồng thuận, các thành viên có thể tiến hành bỏ phiếu Khác với nhiều tổ chức khác, mỗi thành viên WTO chỉ có quyền bỏ một phiếu và các phiếu bầu của các thành viên có giá trị ngang nhau.
Hầu hết các thành viên hiện tại của WTO đều là thành viên trước đây của GATT Các quốc gia và lãnh thổ tự chủ về chính sách thương mại cũng có thể gia nhập WTO với điều kiện thông thường là được tất cả các thành viên chấp thuận Khi không thể đạt được đồng thuận, việc kết
Trang 6nạp có thể chỉ cần 2/3 số phiếu bầu Quá trình gia nhập được dựa trên cơ sở xem xét các chính sách kinh tế, thương mại của các nước đang xin gia nhập và các cuộc đàm phán song phương
về mở cửa thị trường Việc gia nhập của một nước được chính thức hoá bằng việc ký vào Nghị định thư gia nhập và có hiệu lực 30 ngày sau khi nộp văn bản thông báo việc cơ quan có thẩm quyền đã thông qua hay phê chuẩn Nghị định thư gia nhập.
Ban thư ký của WTO làm việc tại Giơnevơ (Thuỵ Sĩ) - trụ sở chính của WTO, ngân sách của ban điều hành WTO khoảng 162 triệu francs Thuỵ Sĩ (năm 2004) dựa vào sự đóng góp của các thành viên, có khoảng 550 nhân viên đang làm tại đây và được điều hành bởi tổng giám đốc (nhiệm kỳ 4 năm) hiện là ông Pascal Lamy (người Pháp, cựu cao ủy thương mại EU) được bổ nhiệm ngày 26/5/2005.
3 Những nguyên tắc cơ bản của WTO
Toàn bộ hoạt động của WTO dựa trên một loạt các văn bản pháp lý chặt chẽ đề cập tới rất nhiều lĩnh vực thương mại liên quan đến hàng hoá, dịch vụ và sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, các văn bản pháp lý này chỉ dựa trên một số nguyên tắc rất đơn giản.
* Nguyên tắc thứ nhất: Không phân biệt đối xử Mỗi thành viên sẽ dành cho sản phẩm
của một thành viên khác đối xử không kém ưu đãi hơn đối xử mà thành viên đó dành cho sản phẩm của một nước thứ ba (đãi ngộ tối huệ quốc - MFN) Mỗi thành viên sẽ không dành cho sản phẩm của công dân nước mình đối xử ưu đãi hơn so với sản phẩm của người nước ngoài (đãi ngộ quốc gia - NT).
* Nguyên tắc thứ hai: Thương mại phải ngày càng được tự do hơn thông qua đàm
phán Các rào cản thương mại dần dần được loại bỏ, cho phép các nhà sản xuất hoạch định
chiến lược kinh doanh dài hạn có thời gian điều chỉnh, nâng cao sức cạnh tranh hoặc chuyển đổi cơ cấu Mức độ cắt giảm các hàng rào bảo hộ được thoả thuận thông qua các cuộc đàm phán song phương và đa phương.
Trang 7* Nguyên tắc thứ ba: Dễ dự đoán.
Các nhà đầu tư cũng như chính phủ nước ngoài tin chắc rằng các hàng rào thương mại (thuế quan và các hàng rào phi thuế quan khác) sẽ không bị tăng một cách tuỳ tiện Cam kết về thuế quan và các biện pháp khác bị “ràng buộc” về mặt pháp lý.
* Nguyên tắc thứ tư: Tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng Hạn chế tác
động tiêu cực của các biện pháp cạnh tranh không bình đẳng như bán phá giá, trợ cấp hay dành các đặc quyền cho một số doanh nghiệp nhất định.
* Nguyên tắc thứ năm: Dành cho các thành viên đang phát triển một số ưu đãi Các ưu
đãi này được thể hiện thông qua việc cho phép các thành viên đang phát triển có một số quyền
và không phải thực hiện một số nghĩa vụ, hay có thời gian quá độ dài hơn để điều chỉnh chính sách Do đó có thể duy trì chính sách bảo hộ cho các ngành sản xuất non trẻ có tiềm năng trong tương lai trong một thời gian xác định.
4 Chức năng của WTO
WTO có các chức năng:
* Giám sát các hiệp định về thương mại quốc tế.
* Giám sát các chính sách thương mại.
* Cung cấp diễn đàn cho các vòng đàm phán thương mại.
* Giải quyết tranh chấp thương mại.
* Trợ giúp về kỹ thuật và đào tạo cho các quốc gia đang phát triển.
* Hợp tác với các tổ chức quốc tế khác.
5 Các vấn đề chính của WTO
Trang 8* Thuế quan (thuế nhập khẩu) là công cụ bảo hộ hợp pháp duy nhất để bảo hộ các ngành
sản xuất trong nước Các hàng rào bảo hộ phi thuế quan phải được bãi bỏ Hệ thống thuế quan trở nên minh bạch rõ ràng hơn v.v
* Phi thuế: Các thành viên có thể sử dụng các biện pháp phi thuế để hạn chế nhập khẩu
trong những trường hợp cần thiết nhằm đảm bảo an ninh quốc gia văn hoá truyền thống, môi trường, sức khoẻ, con người v.v
* Đầu tư: Cho đến vòng đàm phán Uruguay thì vấn đề đầu tư mới được đề cập đến như một
vấn đề riêng trong WTO Hiệp định các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMS) là một bước tiến lớn, mặc dù có nhiều ý kiến cho rằng Hiệp định này chưa giải quyết thoả đáng lợi ích của tất cả các nước, kể cả các nước phát triển hay đang phát triển.
* Bãi bỏ hạn ngạch đối với hàng dệt may: tại Vòng đàm phán Uruguay, các nước đang
phát triển đấu tranh giành thắng lợi trong việc thiết lập Hiệp định Dệt may (ATC) dẫn tới loại
bỏ hạn ngạch cũng như tất cả các biện pháp hạn chế nhập khẩu đối với hàng dệt may Lịch trình được thực hiện theo 4 giai đoạn cụ thể từ 1995 đến 12/2004 Như vậy, từ ngày 1/1/2005 hàng dệt may không còn bị các nước áp đặt hạn ngạch nữa.
* Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS): Các loại dịch vụ được chia thành 12
ngành và 155 phân ngành Các nước dành ưu đãi đối với mọi lĩnh vực dịch vụ theo Đãi ngộ Tối huệ quốc và Đãi ngộ quốc gia (Dịch vụ tài chính, Dịch vụ viễn thông, Dịch vụ vận tải hàng không v v )
* Đối với nông nghiệp: Các nước đang phát triển ngày càng có vai trò và ảnh hưởng to lớn
hơn trên các diễn đàn đàm phán và ngày càng thành công trong việc bảo vệ quyền lợi của mình Ngày 1/8/2004, 147 nước thành viên WTO họp ở Giơneva (Thuỵ Sĩ) đã đồng thuận thông qua một kế hoạch cắt giảm trợ cấp nông sản và thuế xuất nhập khẩu - “một thời khắc lịch sử đối với
tổ chức này” - theo đánh giá đầy phấn khích của cựu Tổng giám đốc WTO Supachai
Trang 9Panitchpakdi Các nước đang phát triển đã thắng lợi trong việc đòi các nước phát triển giảm trợ giá cho các sản phẩm nông nghiệp nước họ (cam kết cắt giảm 20% trợ cấp nông sản (khoảng 19 tỉ USD); Mỹ giảm trợ giá bông vải, v.v )
* Hiệp định về những quyền liên quan đến thương mại của Quyền Sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS) bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/1995 Đây là hiệp định về sở hữu trí tuệ bao gồm:
Bản quyền và các quyền có liên quan; Thương hiệu hàng hoá; Chỉ dẫn địa lý; Kiểu dáng công nghiệp; Sáng chế; Thiết kế bố trí mạch tích hợp; Bảo hộ thông tin bí mật; hạn chế các hoạt động chống cạnh tranh trong các hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng Nguyên tắc của hiệp định TRIPs là Đãi ngộ Tối huệ quốc và Đãi ngộ quốc gia:
* Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được xây dựng trên 4 nguyên tắc: công bằng,
nhanh chóng, hiệu quả và chấp nhận phù hợp với mục tiêu bảo toàn các quyền và nghĩa vụ và các hiệp định thương mại có liên quan WTO cũng tiếp tục cách giải quyết tranh chấp của GATT Cơ quan giải quyết tranh chấp DSB (Dispute Settlement Body) có quyền quyết định thành lập và thông qua báo cáo của nhóm chuyên gia và nhóm phúc thẩm; giám sát việc thực hiện các quyết định về giải quyết tranh chấp, cho phép tạm đình chỉ áp dụng các hiệp định thương mại với một nước thành viên, cho phép áp dụng các biện pháp trừng phạt
Việt Nam đang tiến rất gần đến việc gia nhập WTO, đó thật sự là thời cơ vận hội lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước Cựu tổng giám đốc WTO Mike Moore từng nói: “Con đường chắc chắn nhất để giúp đỡ người nghèo được nhiều hơn là tiếp tục mở cửa thị trường”, tức là coi thương mại như một trong các nhân tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế Hy vọng nước ta
sẽ vượt qua thách thức, nắm bắt thời cơ hội nhập cho phát triển kinh tế đất nước.
Thông tin tư liệu chuyên đề WTO - Hội nhập và phát triển Số 2 (6/2005)