Chủ tịch Hồ Chí Minh thường dạy: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”. Công việc thành hay bại là do cán bộ cán bộ mạnh hay yếu. Đối với quân đội, Người đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ: “Tướng là kẻ giúp nước. Tướng giỏi (đủ cả: trí, tín, nhân, dũng, liêm) thì nước mạnh. Tướng xoàng thì nước hèn”.(1) Người nêu 6 yêu cầu đối với người cán bộ quân sự là: “Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung”. Ngay từ khi cách mạng đang còn trong trứng nước, Người đã lựa chọn những thanh niên cách mạng ưu tú gửi sang học tại Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc) và các trường quân sự Liên Xô để tạo nguồn cán bộ quân sự sau này...
Trang 1Lời mở đầu
Chủ tịch Hồ Chí Minh thường dạy: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”.Công việc thành hay bại là do cán bộ cán bộ mạnh hay yếu Đối với quân đội,Người đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ: “Tướng là kẻgiúp nước Tướng giỏi (đủ cả: trí, tín, nhân, dũng, liêm) thì nước mạnh.Tướng xoàng thì nước hèn”.(1) Người nêu 6 yêu cầu đối với người cán bộ quân
sự là: “Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung” Ngay từ khi cách mạng đang còntrong trứng nước, Người đã lựa chọn những thanh niên cách mạng ưu tú gửisang học tại Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc) và các trường quân sựLiên Xô để tạo nguồn cán bộ quân sự sau này
Quán triệt quan điểm của Người, trong suốt quá trình lãnh đạo cáchmạng, Đảng ta rất chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quân
sự Hội nghị quân sự Bắc Kỳ do Ban Thường vụ trung ương Đảng triệu tập từ
ngày 15 đến ngày 20 tháng 4 năm 1945 đã quyết định thành lập Trường Quân chính kháng Nhật của Việt nam giải phóng quân, mở đầu trang sử vẻ vang
của hệ thông nhà trường quân đội nói riêng và hệ thống nhà trường đào tạocán bộ cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam nói chung
Trải qua 62 năm, từ một nhà trường, các nhà trường quân đội đã khôngngừng phát triển và lớn mạnh, trở thành một hệ thống nhà trường với hơn mộttrăm học viện, nhà trường, có vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển
sự nghiệp giáo dục- đào tạo trong quân đội và của cả nước
Hơn sáu mươi năm qua, hệ thống nhà trường quân đội đã đào tạo, bồidưỡng được hàng chục vạn cán bộ, nhân viên chuyên môn, kỹ thuật đáp ứngkịp thời nhiệm vụ xây dựng, chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũtrang ta; góp phần xứng đáng vào chiến thắng vẻ vang của dân tộc; tô thắmthêm truyền thống tốt đẹp của quân đội ta Có thể nói, hầu hết các vị tướnglĩnh, các sĩ quan, nhân viên chuyên môn kỹ thuật của quân đội đều đã qua cácnhà trường quân đội Chính họ là nòng cốt xây dựng quân đội vững mạnh,(1)(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập3, Nxb CTQG, H 1995, Tr 519
Trang 2cùng với toàn quân, toàn dân đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ cùng
bè lũ tay sai trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, bảo vệ vữngchắc Tổ quốc Việt Nam XHCN Nhiều cán bộ quân đội chuyển ngành rangoài đã trở thành những cán bộ chủ chốt tại các cơ quan Đảng, chính quyền ,doanh nghiệp và đoàn thể trong cả nước Các nhà trường quân đội cũng đãđào tạo hàng nghìn cán bộ cho bạn, góp phần đáng kể vào việc vun đắp tìnhhữu nghị với quân đội các nước anh em
Sự hình thành và phát triển của hệ thống nhà trường quân đội luôn gắnliền với sự ra đời, trưởng thành và chiến thắng vẻ vang của Quân đội nhândân Việt Nam anh hùng, với những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt nam.Mỗi bước đi lên, mỗi thành tích đạt được của các nhà trường quân đội đều bắtnguồn từ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quan tâmsăn sóc dạy bảo ân cần của chủ tịch Hồ Chí Minh, sự chỉ đạo của Đảng uỷQuân sự Trung ương( trước đây là Tổng Quân uỷ và Quân uỷ Trung ương),
Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, các tổng cục vàđảng uỷ, thủ trưởng các quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng; sựhướng dẫn giúp đỡ của các cơ quan nhà nước; sự đùm bọc của đảng bộ, chínhquyền, nhân dân các địa phương
Bằng sự phấn đấu không mệt mỏi, lớp lớp cán bộ, giảng viên, giáoviên, học viên, chiến sỹ, công nhân viên qua nhiều thế hệ kế tiếp đã cống hiếntrí tuệ, sức lực và cả xương máu của mình cho sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡngcán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật và hoàn thành mọi nhiệm vụ củaĐảng, nhân dân, quân đội giao phó, đưa hệ thống nhà trường quân đội khôngngừng trưởng thành và lớn mạnh; xây dựng nên truyền thống: “ Dạy tốt, họctốt, đoàn kết tốt, kỷ luật nghiêm, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ”
Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng,Đảng uỷ quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, quân đội ta đã quán triệt vàbám sát nhiệm vụ chính trị trọng tâm, triển khai toàn diện các mặt công tác,
Trang 3hoàn thành tốt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; cùng toàn dân bảo vệ vữngchắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, góp phần giữ vững an ninh chính trị và pháttriển kinh tế- xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, do điều kiện hoàn cảnh lịch sử chi phối do vậy, nhận thức
về vị trí, vai trò, nhiệm vụ của nhà trường quân đội có những giai đoạn chưathật quan tâm, đầu tư đúng mức; biểu hiện như :
- Mục tiêu đào tạo, chương trình, nội dung phương pháp huấn luyệnchưa phù hợp với yêu cầu phát triển của nhiệm vụ xây dựng quân đội nhưNghị quyết 93/ ĐUQSTU xác định
- Trình độ kiến thức của giáo viên, cán bộ chưa ngang tầm với yêu cầucủa nhiệm vụ đào tạo; phương pháp sư phạm quân sự chưa được nghiên cứu,đổi mới phù hợp; thực trạng đội ngũ giáo viên còn yếu, còn thiếu
- Giữa huấn luyện và nghiên cứu khoa học chưa gắn với nhau thànhmột thể thống nhất
- Công tác quản lý giáo dục, đào tạo chưa được quan tâm, chú trọngđúng mức
- Công tác đảm bảo cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học còn thiếu,chất lượng chưa cao, chưa cân đối với nhiệm vụ đào tạo
- Phương thức tạo nguồn, tuyển chọn tuy đã chuyển biến nhiều songchưa thành quy chế đồng bộ, nên chất lượng đầu vào chưa cao
Với ý nghĩa đó, tác giả chọn chủ đề: “Phát huy truyền thống vẻ vang của
nhà trường quân đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc” làm chủ đề tiểu luận với hi vọng sẽ góp phần nhỏ bé giúp ích cho
việc rút ra những bài học kinh nghiệm để chỉ đạo công tác đào tạo cán bộ,nhân viên chuyên môn, kỹ thuật xây dựng hệ thống nhà trường quân đội trongtình hình mới- thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trang 4I Nội dung: Sự phát triển Nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam- Thành tựu và bài học kinh nghiệm
A Nhà trường quân đội trong thời kỳ tiền khởi nghĩa và trong những năm đầu của chính quyền cách mạng
1 Nhà trường quân đội trong thời kỳ tiền khởi nghĩa
Nắm vững quy luật của cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ ngày đầu thành lập đã chú ý xây dựng lục lượng vũ trang nhân dân; đặc biệt là công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhân viên Trong Nghị quyết ra vào tháng10 năm 1930, Trung ương Đảng đã nhấn
mạnh: “ Làm cho đảng viên được quân sự huấn luyện” Ngay từ những năm hai mươi của thế kỷ XX, đồng chí Nguyễn Ai Quốc đã chú trọng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ quân sự Người đã chọn đồng chí: Lê Hồng phong, Lê Hồng Sơn, Lê Quốc Vọng (tức Lê Thiết Hùng), Vũ Nguyên Bác (tức Nguyễn Sơn), Phùng Chí Kiên, Hoàng Điền, Lương Văn Chi… sang học tại Trường quân sự Hoàng Phố Sau đó, đồng chí Lê Hồng Phong được cử sang học tiếp Học viện không quân của Liên Xô và trở thành sỹ quan không quân đầu tiên của Việt Nam
Năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ Để kịp thời chuyển hướng cách mạng nước ta sang giai đoạn mới, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ sáu của Đảng, tháng 1 năm 1939 đã đề ra chủ trương: “ Chuẩn bịnhững điều kiện bước tới cách mạng bạo lực giải phóng dân tộc” và “xây dựng Quốc dân cách mạng quân” Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ Tám của Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, tháng 5 năm 1941 đã
đề ra chủ trương: “Chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của Đảng ta và nhân dân ta trong giai đoạn hiện tại” Sau các Hội nghị Trung ương lần thứ Sáu, Bảy, Tám nhiều tổ chức vũ trang cách mạng đã hình thành và phát triển, đặt ra yêu cầu cấp bách về tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quân sự
Trang 5Ngay sau Hội nghị trung ương lần thứ Bảy của Đảng, lớp quân chính đầutiên của Đảng được tổ chức ở Đức Thắng (Bắc Giang) Đầu tháng 12 năm
1940, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đồng chí Hồ Chí Minh, lớp bồi dưỡngquân sự ngắn ngày cho 40 đồng chí được mở tại vùng biên giới Cao Bằng.Cũng trong thời gian này, liên tỉnh uỷ Cao- Bắc- Lạng cũng mở lớp đào tạoquân sự ngắn ngày
Ngày 22-12-1944, thực hiện chỉ thị của đồng chí Hồ Chí Minh, Đội ViệtNam tuyên truyền giải phóng quân (tiền thân của quân đội nhân dân Việt namngày nay) được thành lập
Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp nhằm độc chiếm Đông Dương, cáchmạng nước ta bước vào thời kỳ cao trào: tiến lên tổng khởi nghĩa giành chínhquyền Đến tháng 4-1945, hầu hết các châu (huyện), xã thuộc tỉnh Cao Bằng,Tuyên Quang, Hà Giang, Thái Nguyên, Lạnh Sơn, Bắc Cạn được giải phóng.Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân đã phát triểnthành nhiều đại đội Hội nghị quân sự Bắc Kỳ do Thường vụ Trung ươngĐảng triệu tập, họp từ 15 đến 20-4-1945 tại Hiệp Hoà (Bắc Giang) quyết địnhhợp nhất Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân cùng các
tổ chức vũ trang khác thành “Việt Nam giải phóng quân” Đặc biệt là, Hộinghị đã ra một quyết định quan trọng: “Mở Trường Quân chính kháng Nhật,chọn ngay trong bộ đội một số đội viên khá huấn luyện thành đội trưởng vàchính trị viên,…”
Chấp hành nghị quyết của Hội nghị quân sự Bắc Kỳ, Trường Quân chínhkháng Nhật (nay là Trường Sỹ quan Lục quân 1) được thành lập tại xómKhuổi Kịch, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Khoá 1 củatrường khai giảng ngày 25- 6- 1945 với 82 học viên Đây là nhà trường quânđội đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng Ngay khai mạc Hội nghị quân
sự Bắc Kỳ (15- 4- 1945) được chọn là ngày truyền thống của Trường Sỹ quanLục quân 1
Trang 6Trường Quân chính kháng Nhật ra đời mở đầu trang sử và truyền thống vẻvang của Hệ thống Nhà trường quân đội.
Ngày 8- 8- 1945, Hồng quân Liên Xô đánh tan đạo quân Quan Đông củaNhật, báo hiệu sự thất bại hoàn toàn của phát xít Nhật Hội nghị toàn quốccủa Đảng họp ngày 13 và 14-8-1945 ở Tân Trào đã quyết định tổng khởinghĩa trong cả nước Để đáp ứng nhu cầu cán bộ quân sự trước tình hìnhmới, Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc quyết định rút ngắn thời gian đào tạocủa khoá 2 và 3 Ngày 16- 8- 1945, tất cả học viên, cán bộ nhà trườngđược lệnh lên đường nhận nhiệm vụ mới
Trong vòng 2 tháng, Trường Quân chính kháng Nhật đã mở 3 khoá, đào tạođược 234 cán bộ chỉ huy và chính trị viên
2 Nhà trường quân đội trong những năm đầu của chính quyền cách mạng (1945- 1946)
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công Ngày 2-9-1945, nướcViệt Nam dân chủ cộng hoà ra đời Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phảnđộng trong và ngoài nước không cam chịu thất bại Chúng dùng trăm phương,nghìn kế hòng tiêu diệt Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á Chỉ saukhi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập được ít ngày, ở phíaNam quân Pháp theo đuôi quân Anh dưới danh nghĩa quân Đồng minh kéovào; ở phía Bắc quân Việt cách, Việt quốc theo đuôi quân Tưởng tràn vào.Vận mệnh Tổ quốc nghìn cân treo sợi tóc Trước tình hình đó, Đảng ta và Chủtịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm xây dựng lực lượng vũ trang, trong đó cóviệc đào tạo đội ngũ cán bộ quân đội Các trường được củng cố và đẩy mạnhchiêu sinh vào đào tạo
1 Trường Quân chính kháng Nhật- Trường Quân chính Việt Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn
Trang 7Nam-Tháng 9-1945, Trường Quân chính kháng Nhật đổi tên thành TrườngQuân chính Việt Nam Ngày 17-4-1946, Bộ Quốc phòng ra Nghị định số 13
mở Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn trên cơ sở Trường Quân chính Việt Nam
2 Trường Quân chính Bắc Sơn
Được thành lập ngày 7- 4-1946, theo Chỉ thị của Thường vụ Trung ươngĐảng Cộng sản Đông Dương Nhiệm vụ của Trường là đào tạo cán bộ chỉhuy, lãnh đạo lực lượng vũ trang của Đảng ở cấp cơ sở
3 Trường Lục quân trung học Quảng Ngãi
Được thành lập và khai giảng khoá 1 ngày 1-6-1946 với hơn 500 học viên.Trường đóng quân tại thị xã Quảng Ngãi
4 Trường Quân chính Xứ uỷ Trung Kỳ
Trường được thành lập tại thành phố Huế, sau chuyển về Cẩm Xuyên ( HàTĩnh) trở thành Trường Quân chính Liên Khu 4
5 Trường Quân chính Nam Bộ
Được thành lập tại xã Khai Long, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau Khoá 1khai giảng ngày10-11-1945 Về sau Trường đổi tên thành Trường Quân chínhQuang Trung
6 Trường Quân chính Bạch Đằng- Chiến khu 3
Được thành lập tháng 3- 1946 tại thị xã Quảng Yên
7 Lớp đào tạo cán bộ chính trị viên đại đội đầu tiên của quân đội: đượckhai giảng vào đầu năm 1946 tại phố Yersin, Hà Nội, với 120 học viên
8 Lớp bổ túc cán bộ trung cấp ( tiền thân của Học viện Lục quân ngàynay); được thành lập theo chỉ thị của Thường Vụ Trung ương Đảng Trong 2năm 1946 và 1947, Nhà trường mở 2 khoá, tổng cộng 220 học viên
Ngoài các trường lớp được tổ chức chặt chẽ như trên còn có nhiều lớp bồdưỡng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ khác như: 2 lớp cán bộ tình báo quânsự; một lớp học kỹ thuật mật mã; một lớp chuyên môn thông tin; 1 lớp kế toánviên; 3 lớp y tá quân đội; 1 lớp thiếu niên nhạc binh…
Trang 8Đánh giá chung: Bước đầu đã hình thành hệ thống các nhà trường quânđội, tuy mỗi trường có đặc riêng song có những đặc điểm chung: nhiệm vụchung của các nhà trường đào tạo cán bộ cấp tốc cho lực lượng vũ trang nhândân; phương hướng tuyển chọn học viên lấy những người đã trải qua thực tiễnchiến đấu, công tác Nội dung, chương trình cả chính trị, quân sự; về phươngpháp tổ chức huấn luyện theo chương trình cấp tốc, thực hành là chính Bangiám hiệu, cán bộ khung là giảng viên.
Kết quả, trong thời kỳ này các nhà trường quân đội đã đào tạo, bồidưỡng được gàn 4.000 cán bộ, nhân viên
B Hệ thống nhà trường quân đội trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp ( 1946- 1954)
1 Hệ thống nhà trường quân đội trong những năm1946- 1950
Tháng 12- 1946, trước âm mưu xâm chiếm nước ta một lần nữa của thực dânPháp, toàn quân, toàn dân ta bước vào cuộc kháng chiến chống thực dânPháp Hội nghị bất thường Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở rộng họpngày 17 và 18 tháng 12 năm 1946 quyết định “ phát động cả nước chiếntranh” Đêm 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toànquốc kháng chiến- kháng chiến toàn quốc bùng nổ Sáng 20- 12- 1946,Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị: “Toàn dân kháng chiến”, “Trường kỳkháng chiến”, “ Toàn diện kháng chiến” Để đáp ứng yêu cầu xây dựng lựclượng vũ trang cho cuộc kháng chiến của dân tộc, nhiệm vụ của các nhàtrường quân đội trở nên hết sức nặng nề Tuy nhiên, được sự lãnh đạo củaĐảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, các nhà trường quân đội đã cùng toàn quân,toàn dân vượt qua muôn vàn khó khăn, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ củamình
Trang 9Hội nghị cán bộ mở rộng của Trung ương Đảng tháng 1- 1948 đã chỉra: “ Phải nâng cao trình độ kỹ thuật quân sự và nghệ thuật tác chiến cho bộđội”, phải “đào tạo cán bộ trong bộ đội một cách thận trọng, chu đáo, cán bộphải là con đẻ trung thành của nhân dân” Hội nghị cán bộ Trung ương Đảnglần thứ 6, tháng 1- 1949 đã chỉ ra cụ thể hơn: “Phải coi trọng công tác đào tạo
và huấn luyện cán bộ, chú trọng huấn luyện cho họ năng lực chỉ huy bộ đội,đánh tập trung và đánh vận động Trong kế hoạch huấn luyện cán bộ cần chútrọng nâng cao trình độ vận dụng chiến thuật và tổ chức chỉ huy chiến đấu”
Thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng và Tổng Quân
uỷ, Bộ Tổng Tham mưu phối hợp với Cục chính trị ( nay là Tổng cục Chínhtrị) xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong quân đội với mục tiêu:
“ cung cấp nhu cầu xây dựng và chiến đấu” của quân đội
Được sự uỷ nhiệm của Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưukhẩn trương mở rộng các trường, lớp để thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồidưỡng cán bộ cho lực lượng vũ trang Hệ thống nhà trường quân đội hìnhthành, phát triển, bao gồm các khối trường:
Các trường đào tạo, bổ túc cán bộ trực thuộc Bộ:
1 Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn
2 Phân hiệu Võ bị Trần Quốc Tuấn Bắc Bộ
3 Phân hiệu Lục quân Trần Quốc Tuấn Nam Bộ
4 Phân hiệu Lục quân Trần Quốc Tuấn Trung Bộ
5 Trường huấn luyện cán bộ dân quân tự vệ
6 Trường bổ túc chỉ huy đại đội
7 Trường huấn luyện cán bộ chính trị- Trường Chính trị viên
8 Trường bổ túc quân chính trung cấp
Các trường quân chính khu
1 Trường Quân chính Chiến khu 1
2 Trường Quân chính Chiến khu 3
Trang 103 Trường Quân chính Chiến khu 4
4 Trường Quân chính Nam Bộ
Các trường, lớp bồ dưỡng văn hoá cho cán bộ và Trường Thiếu sinhquân
1 Trường văn hoá Lý Thường Kiệt
2 Trường trung học bình dân quân sự
3 Trường Thiếu sinh quân Việt Nam
Các trường, lớp chuyên môn nghiệp vụ
1 Trường Quân y sĩ Việt Nam
2 Cùng thời gian này Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu và các cơquan Bộ đã mở nhiều lớp bồi dưỡng cán bộ chuyên môn nghiệp vụ: 1lớp chuyên môn vô tuyến điện, 1 lớp bồi dưỡng cán bộ hành chính, 2lớp bội dưỡng sỹ quan tham mưu, 6 lớp bồi dưỡng cán bộ công binh, 5lớp hội hoạ đồ bản, 1 lớp huấn luyện thuỷ quân, 1 lớp huấn luyện phicông và một số lớp bồi dưỡng cán bộ địch vận…
Kết quả, trong khoảng thời gian từ 1946- 1950, các trường, lớp trong quânđội đã đào tạo , bổ túc, bồi dưỡng được gần 10 000 cấn bộ, nhân viên
Qua nghiên cứu các nhà trường quân đội ta thấy, hệ thống giáo dục, đào tạotrong nhà trường quân đội trong kháng chiến chống Pháp đã có sự phát triểnvượt bậc Về tổ chức, chúng ta đã hình thành nhiều lớp, nhiều trường, nhiềucấp, ngành học…; mục tiêu chung: đào tạo cán bộ đáp ứng cho yêu cầu chiếnđấu, xây dựng và chuẩn bị lực lượng dự trữ khi thời cơ đến Đối tượng đàotạo được tuyển chọn tương đối kỹ lưỡng đặc biệt là phẩm chất chính trị Nộidung đào tạo mang tính toàn diện, thiết thực và có sự phát triển một cách linhhoạt phù hợp với đặc điểm đào tạo trong thời chiến: ngắn ngày, dài ngày, 3tháng, 6 tháng… Phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục đào tạo phongphú, linh động, chú trộng huấn luyện thực hành thực tế Mặc dù, trong thờiđầu thành lập, công tác giáo dục, quản lý dần dần ổn định đi vào nề nếp, thục
Trang 11sự trở thành những nhân tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáodục đào tạo Đây là những kinh nghiệm, bài học hết sức quý báu tạo tiền đềcho công tác giáo dục đào tạo cho thời kỳ sau này.
2 Hệ thống nhà trường quân đội trong những năm 1950- 1954
Bước sang năm 1950, sau chiến dịch biên giới thắng lợi, tình có nhiều chuyểnbiến quan trọng Cách mạng Trung Quốc thắng lợi, nước Cộng hoà nhân dânTrung Hoa ra đời Hàng loạt nước XHCN công nhận và đặt quan hệ ngoạigiao chính thức với Chính Phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà Lực lượng tiến
bộ trên thế giới ủng hộ mạnh mẽ cuộc kháng chiến của nhân dân ta
Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta có bước phát triển mới, hếtgiai đoạn cầm cự, chuyển sang giai đoạn phản công Nghị quyết Trung ương
Đảng ra tháng 4-1952 nhấn mạnh: “ Yêu cầu chiến trường đòi hỏi phải có
những binh đoàn lớn, có binh chủng kỹ thuật bảo đảm, phải có một đội ngũ cán bộ to lớn được huấn luyện chu đáo về chính trị và kỹ thuật, chiến thuật; yêu cầu mới đòi hỏi chúng ta phải có hàng vạn cán bộ”; như vậy,
nhu cầu cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật bổ sung cho các cơ quan, đơn
vị, địa phương trong cả nước tăng lên nhanh chóng đòi hỏi hệ thống nhàtrường quân đội phải được củng cố, kiện toàn và mở rộng Hệ thống nhàtrường quân đội giai đoạn này gồm:
1.Trường Lục quân Việt Nam
Tháng 4 năm 1950, Bộ Quốc phòng- Tổng Tư lệnh quyết định hợp nhấtTrường Bổ túc quân chính trung cấp, Trường Huấn luyện cán bộ dân quân LêBình, Trường Bổ túc chỉ huy đại đội, Trường Thiếu sinh quân, các lớp huấnluyện thông tin … vào Trường Lục quân Trung học Trần Quốc Tuấn, lấy tênmới là Trường Lục quân Việt Nam, sơ tán sang đóng quân tại Vân Nam,Trung Quốc
Trang 122 Phân hiệu Lục quân Trung Bộ: Ngay sau khi chuyển về vùng tự doThọ Xuân, Thanh hoá, tiếp tục khai giảng khoá 13 (2.000 học viên) Sau khikhoá 13 bế giảng (tháng 11 năm 1951), Bộ Quốc phòng- Tổng Tư lệnh quyếtđịnh kết thúc nhiệm vụ đào tạo của phân hiệu và chuyển giao nhiệm vụ nàycho Trường Lục quân Việt Nam.
3 Phân hiệu Lục quân Nam Bộ: tiếp tục khai giảng khoá 2 vào tháng 3 năm
1951, với 331 học viên Sau khi khoá 2 bế giảng (tháng 3 năm 1952), BộQuốc phòng- Tổng Tư lệnh quyết định kết thúc nhiệm vụ đào tạo của phânhiệu
4 Trường Bổ túc quân chính trung cấp ở trong nước
Tháng 4 năm 1954, Tổng Quân uỷ quyết định chuyển Trường Bổ túc sơ cấpthành Trường Bổ túc quân chính trung cấp với nhiệm vụ: “ Bồi dưỡng chocán bộ trung, cao cấp có được trình độ quân sự, chính trị nhất định đáp ứngkịp thời yêu cầu của chiến trường”
5.Trường Chính trị trung cấp: được thành lập tháng 7 năm 1951 theoquyết định của Tổng Quân uỷ
6 Trường Thông tin: trường được thành lập ngày 11 tháng11 năm 1951theo Quyết định số 132/QĐ của Bộ Quốc phòng (tiền thân của Trường Sĩquan chỉ huy- kỹ thuật Thông tin ngày nay), trên cơ sở sát nhập TrườngThông tin liên khu 3 với các lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nhân viênthông tin của Cục Thông tin liên lạc
7 Trường huấn luyện kỹ thuật mật mã- Bộ Tổng Tham mưu: đựoc thành lậpngày 14 tháng 5 năm 1951
8 Trường Hậu cần: được thành lập tháng 7 năm 1953 theo quyết định củaTổng cục cung cấp
9 Trường Quân y sỹ Việt Nam
Trang 1310 Trường du kích chiến tranh: được thành lập ngày 15 tháng 8 năm 1952theo quyết định của Bộ Tổng Tư lệnh Tháng 9 năm 1953, bộ quyết định giaoTrường Du kích chiến tranh cho Liên khu Việt Bắc quản lý.
Kết quả, trong giai đoạn từ năm 1950- 1954, các nhà trường quân đội đã đàotạo, bổ túc, bồi dưỡng được 17.000 cấn bộ, nhân viên các loại
Như vậy, trong những năm tháng gay go ác liệt của cuộc kháng chiến chốngPháp, các nhà trường quân đội vừa xây dựng vừa trưởng thành, từng bướcvươn lên hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; đào tạo, bổ túc, bồi dưỡngđựoc 27.000 cán bộ, nhân viên chuyên môn, kỹ thuật bổ sung kịp thời cho cácchiến trường trong cả nước, góp phần quan trọng vào chiến thắng vẻ vang củadân tộc Các nhà trường quân đội đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang củamình và chuyển sang một giai đoạn phát triển mới
C Hệ thống nhà trường quân đội trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954- 1975)
1 Hệ thống nhà trường quân đội trong những năm 1954- 1964
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ mở ramột giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam Miền Bắc hoàn giảiphóng; Miền Nam còn nằm dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ taysai Trước tình hình đó, Đảng ta chủ trương xây dựng chủ nghĩa xã hội ởMiền Bắc; tiếp tục tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ ở Miền Nam; tiến tớithống nhất Tổ quốc
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp ngày 5- 9- 1954, xác địnhnhiệm vụ của quân đội “ là trụ cột bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hoà bình” Nghịquyết của Bộ Chính trị họp 9- 1954 nhấn mạnh: “ Cần phải xây dựng quân độihiện đại và sẵn sàng chiến đấu… trong đó công tác quan trọng bậc nhất và
Trang 14thường xuyên nhất là huấn luyện bộ đội, đặc biệt là huấn luyện cán bộ” Đểđáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội chính quy, từng bước lên hiện đại, gồmnhiều quân chủng, binh chủng, Tổng Quân uỷ và Bộ Quốc phòng quyết định
mở rộng và phát triển thêm các trường, lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhânviên chuyên môn, kỹ thuật
Từ năm 1954, sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp các nhà trườngquân đội bước vào một giai đoạn pháp triển mới; tổ chức và nhiệm vụ cáctrường có bước phát triển cao hơn; nổi bật là sự ra đời của các trường sỹ quanquân chủng, binh chủng
1 Trường Sỹ quan Lục quân Việt Nam (Trường Lục quân Việt Nam)
2 Trường Sỹ quan Pháo binh Việt Nam
3 Trường Sỹ quan Thông tin (Trường Thông tin)
4 Trường Sỹ quan Công binh
5 Trường sỹ quan Cao xạ
6 Trường Không quân tổng hợp
7 Trường Hải quân Việt Nam
8 Trường Cơ yếu
9 Trường Bổ túc cán bộ quân sự trung, cao cấp- Học viện Quân chính10.Trường Lý luận chính trị- Trường Chính trị trung, cao cấp quân đội11.Trường Hậu cần- Trường cán bộ hậu cần- Trường Sỹ quan Hậu cần12.Trường Quân y sĩ- Trường Sỹ quan Quân y- Viện Nghiên cứu Y họcquân sự
13.Trường Sỹ quan kỹ thuật
14.Trương Quân chính Liên khu Việt Bắc
15.Trường Quân chính Quân khu Tả Ngạn
16.Trường Quân chính Quân khu 4 (Trường Quân chính Liên khu 4)
17.Trường Quân chính Quân khu 5
18.Trường Quân chính Quân khu 9
Trang 1519.Trường Quân chính sơ cấp Miền (tiền thân của Trường Sỹ quan Lụcquân 2)
20.Trường Hậu cần Miền
21.Các trường quân sự địa phương tỉnh, thành phố
Cũng trong thời gian này hàng loạt các trường quân sự địa phương tỉnh, thànhphố được thành lập như: Trường Quân sự tỉnh Minh Hải (1959); TrườngQuân sự tỉnh Bến Tre; Cần Thơ; Gia Lai; Kon Tum; Buôn Ma Thuật; KiênGiang (1960); Trường Quân sự tỉnh Sóc Trăng; Đắc Lắc (1960); An Giang(1962); Quảng Ngãi (1963)
Hoạt động của hệ thống nhà trường quân đội trong giai đoạn này được mởrộng, phát triển tập trung cho nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Phươnghướng, nhiệm vụ đào tạo biểu hiện qua 2 giai đoạn:
- 1954- 1960: Vừa làm nhiệm vụ bổ túc, vừa đào tạo cán bộ nhưnglấy nhiệm vụ bổ túc là chủ yếu, nhằm đồng đều hoá và nâng caotrình độ đội ngũ cán bộ lên một bước
- 1960- 1964: Các nhà trường quân đội lấy nhiệm vụ đào tạo theochương trình cơ bản, toàn diện, hệ thống là chính với thời gianđào tạo 3 năm
Phương châm đào tạo: các nhà trường quân đội đều nêu cao tư tưởng kết hợp
lý luận với thực tiễn; huấn luyện sát với thực tế chiến đấu và yêu cầu nhiệm
vụ của quân đội Chương trình, nội dung đào tạo đào tạo đã rà soát và đổi mớichương trình nội dung huấn luyện cho phù hợp với yêu càu nhiệm vụ mới củaquân đội; khắc phục tình trạng giáo điều máy móc Tổ chức, phương pháp đàotạo: các nhà trường đặc biệt coi trọng huấn luyện thực hành để nâng cao nănglực thực hành, rèn luyện cho huấn luyện, vận dụng các hình thức huấn luyệnhuấn luyện tổng hợp Ngoài ra các học viện nhà trường còn cho học viên thựctập và đi thực tế ở đơn vị cơ sở
Trang 16Kết quả, trong thời gian từ năm 1954 đến năm 1964 các nhà trường quân đội
đã đào tạo, bổ túc, bồi dưỡng được hơn 60.000 cán bộ, nhân viên chuyênmôn, kỹ thuật
2 Hệ thống nhà trường quân đội trong những năm 1965- 1975
Bước sang năm 1965, trước nguy cơ thất bại hoàn toàn của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ đã ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ và chư hầuvào Miền Nam nước ta, tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân ramiền Bắc Quân và dân cả nước ta bước vào cuộc chiến đấu toàn diện với đếquốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng nhằm bảo vệ miền Bắc, giải phóng MiềnNam, tiến tới thống nhất Tổ quốc
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 của Đảng họp tháng 3 năm 1965 quyết định;
“Động viên quân và dân cả nước phát triển thế chủ động tiến công địch.Nhanh chóng mở rộng bộ đội thường trực, tăng cường sức mạnh quốcphòng” Ngày 20- 7- 1965, Chủ Tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào vàchiến sỹ cả nước: “ Dù phải chiến đấu chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặclâu hơn nữa, chúng ta cũng quyết chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng”
Để đáp ứng tình hình nhiệm vụ mới, lực lượng vũ trang phát triển nhảy vọt.Nhu cầu cán bộ để đáp ứng nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng lực lượng rấtlớn, nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trong các nhà trường quânđội trở nên hết sức nặng nề, khẩn trương Trước tình tình đó, tháng 3- 1965,Quân uỷ Trung ương xác định: “Chuyển hướng mạnh mẽ nội dung, phươngpháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo kiểu thời chiến, lấy bồi dưỡng ngắnngày, tập huấn kèm cặp trong thực tế chiến đấu và công tác là chủ yếu…Phương châm bồi dưỡng là phải kết hợp học và làm, bồi dưỡng tại trường và