NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ Nguyễn Tuân I Hình tượng sông Đà 1 Khái quát hình tượng sông Đà a Dòng sông địa lí Sông Đà (còn gọi là sông Bờ hay Đà giang) là phụ lưu lớn nhất của sông Hồng Sông dài 927 km (có.
Trang 1NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
Tè chạy dọc theo biên giới gặp phụ lưu Tiểu Hắc ở Mù Cả, Mường Tè Câu ca “Đường lên Mường
Lễ bao xa/ Trăm bảy cái thác, trăm ba cái ghềnh” có thể thấy: Sông Đà đầy hiểm trở và hung bạo, nhiều thác ghềnh dữ dội
b Dòng sông lịch sử
* Thời kỳ quân chủ
Nơi này đã ghi dấu chân vị vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) “Khắc lên vách đá bài thơ.Trong lần đi giữ cõi
bờ miền Tây ” Ý thơ cảm khái của Thái tổ Cao hoàng Lê Lợi trên đường chinh phạt Mường Lễ Sau khi giành thắng lợi trở về, vua dừng chân tại thác Bờ xưa trập trùng ghềnh thác Cảm hứng trước
thế núi, dáng sông, người anh hùng đã rút gươm, phạt đá, đề khắc một bài thơ bằng chữ Hán có
tên là "Chinh Đèo Cát Hãn, quá Long Thủy đê” (Đi đánh Đèo Cát Hãn trở về, qua đường đê Long Thủy)
* Thời kỳ Cách Mạng:
- Theo phần giản lược đoạn cuối: Chánh sứ sơn phòng Nguyễn Quang Bích “Lòng trung không nỡ
bỏ Tây Châu - Giữ lấy Thao, Đà dải thượng lưu” gắn với cuộc nổi dậy của năm trăm phu vận tải người Thái chở thóc kho cho thực dân Pháp đến phong trào đấu tranh trong lòng địch của đồng
bào các dân tộc Tây Bắc thời kháng chiến chín năm
- Những năm tháng cách mạng, chiến sĩ cách mạng cũng kể lại về những chuyến đi thuyền vượt thác trên sông Đà về với quần chúng cách mạng ở chiến khu Mường Diềm, Suối Rút, Chợ Bờ Con đường của người chiến sĩ cộng sản về với quần chúng cách mạng “nơi thủy phân cuối cùng” này cũng lắm nỗi gian lao, phải đánh bạn với “thủy quái” sông Đà lởm chởm đá sắc nhọn như nanh,
vuốt Những chiến sỹ cộng sản thống nhất treo lá cờ đỏ búa liềm trên dây điện giăng ngang qua sông Đà đã làm bọn thực dân và bè lũ tay sai một phen tức tối Ngay trên dòng nước hiền hòa,
lá cờ đỏ búa liềm đã hiên ngang bay phấp phới như một dấu son đánh dấu thắng lợi và sự trưởng thành của phong trào cách mạng trên địa bàn tỉnh thời kỳ đó
→ Bên dòng sông Đà, phong trào cách mạng đã bước lên một tầm cao mới
* Thời kì XD XHCN
- “Trị con sông Đà Chịt nó lại, buộc nó phải vọt tóe ra thành lửa cao thế, thành lò cừ làm ra của
cải cho sự sống con người Điều mơ lớn bao niên, nay đang là hiện thực…” - Nhà văn Nguyễn
Tuân đã háo hức mở đầu như vậy trong tùy bút “Sông Đà đỏ” khi ông từ miền xuôi ngược lên thị
xã Hòa Bình để tận mắt chứng kiến công cuộc trị thủy sông Đà
- Cung cấp nguồn điện, hỗ trợ đời sống sinh hoạt nhân dân và nền móng phát triển kinh tế của quốc gia Ở thời kỳ CNH - HĐH sông Đà đã mang một tầm vóc mới, một sứ mệnh lịch sử mới của một
“dòng sông ánh sáng”
Trang 21 “Mặt vàng đổi lấy mặt xanh
Hai tay hai gậy lạy anh sông Bờ”
• Nội dung: Sông Đà ngày trước nổi tiếng với căn bệnh sốt rét
2.“Ai qua núi Tản sông Đà
Ghé qua Tu Vũ mặn mà tình thương”
• Nội dung: Nơi hội tụ muôn vàn cảnh đẹp, tình thương
3.“Đường lên Mường Lễ bao xa
Bảy cái thác, trăm ba cái ghềnh”
• Nội dung: Sông Đà hung bạo, lắm thác nhiều ghềnh
→ Hình tượng sông đà từ lâu đã trở thành một hình tượng nghệ thuật đi vào văn hoá dân gian và mang đến cho văn học hình tượng nghệ thuật có xúc cảm đẹp đẽ
→ Khẳng định sự gắn bó mật thiết của sông Đà đối với đời sống tinh thần của nhân dân, cụ thể qua văn học dân gian
* Văn học hiện đại
- Sông Đà còn là nguồn cảm hứng lớn lao của nhiều văn nghệ sĩ, xuất hiện trong các bài thơ hiện đại như Đà giang (Vũ Hoàng Chương), Sông Đà (Trần Quang Quý), Với sông Đà (Ngô Quân Miện),
Nắng sông Đà (Yến Lan), Đêm trò chuyện với sông Đà (Thúc Hà), …
Lời tâm sự khắc đáy dòng sông của Tản Đà
“Sông Đà núi Tản đúc nên ai, Trần thế xưa nay được mấy người?
Trung hiếu vẹn tròn hai khối ngọc, Thanh cao phô trắng một nhành mai.”
(Phút giao thừa của nhà thi sĩ) Bài thơ “Với sông Đà” của Vũ Quần Phương:
“Tôi đi với sông Đà
Bao lần rồi vẫn lạ
Tôi thuộc ngầm thuộc đá
Tôi thuộc lũ, thuộc dòng”
d Sông Đà qua lời đề từ
* Chức năng lời đề từ trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà”
Chức năng cơ bản Chứng minh trong “Người lái đò sông Đà”
Trang 3- Làm rõ: nhân vật, hình tượng chủ đạo của tác phẩm là người lái đò (người lao động) và vẻ đẹp sông Đà
- Đề dẫn từ hai câu thơ đối lập mà cũng song hành:
+, Đối lập giữa vẻ đẹp thiết tha, thiên hướng chất thơ lãng mạn với nét ngông cuồng, hung bạo của dòng chảy sông Đà
+, Song hành bởi cùng tạo nên nguồn cảm chính, lăng kính uyên bác, thâm thuý của tác giả giữa hai nét đẹp đối lập
- Dự báo về hình tượng dòng sông và nét đẹp người lao động
• chất thơ +thể văn xuôi
• chủ nghĩa duy mĩ +chủ nghĩa xê dịch
• uyên bác tri thức + uyên thâm thi ca
* Nội dung lời đề từ:
+ c1 : Cảm hứng sáng tác Nguyễn Tuân gợi từ câu thơ của nhà thơ cách mạng Ba Lan:
“Đẹp vậy thay, tiếng hát trên dòng sông”
Đây là lời đề từ mà Nguyễn Tuân đã mượn để bộc lộ cảm xúc dâng trào trong lòng mình Câu thơ ấy nói đến những tiếng hát trên dòng sông và nó chính là tiếng hát của những người “chèo đò, kéo thuyền, vượt thác” Tiếng hát mang tới một tâm hồn lạc quan, một tình yêu thiên nhiên yêu đời tha thiết, một tình yêu cuộc sống lao động say mê Từ ý thơ với cấu trúc cảm thán đó thì Nguyễn Tuân
đã khơi mở được cảm hứng sáng tác của mình Hình tượng nghệ thuật của sông Đà được hé mở từ một hình tượng nghệ thuật khác Dưới con mắt và trái tim của tác giả thì sông Đà đã trở thành một hình tượng văn học có hồn có hình in được dấu ấn vào lòng người đọc, thể hiện cảm hứng chủ đạo là tình yêu đắm say tha thiết của nhà văn với thiên nhiên và con người trên thượng nguồn dòng sông
→ Từ đó trở thành nguồn cảm để Nguyễn Tuân thấu rõ 2 nét tính cách là hung bạo và trữ tình trong
“nhân vật văn học”-sông Đà xuyên suốt tác phẩm của mình 2 câu đề từ : nhà văn đã ngầm thông báo với bạn đọc về hai đặc điểm của con sông với nét tính cách đối nghịch: dữ dội, hiểm ác – trữ tình, thơ mộng Dưới con mắt của bậc du tử luôn khát tìm sự lạ hóa, thiên nhiên sông Đà như một bản thể có tâm tính phức tạp Mượn câu thơ xưa làm một lời đề từ , có lẽ nhà văn không chỉ muốn nhắc đến sự ngỗ ngược của dòng sông mà còn muốn khẳng định cá tính độc đáo của mình trong văn chương đó là văn phong đầy sáng tạo của một nhà văn có ý thức sau sắc về cái tôi cá nhân , về bản
ngã , về cá tính riêng trong sáng tạo nghệ thuật Dưới quyền năng sáng tạo của Nguyễn Tuân, sông
Đà đã lấp lánh 2 nét tính cách: hung bạo và trữ tình
- Sắc thái đối lập hiện rõ ở ngay 2 lời đề từ:
Trang 4- Hiền hoà: Không yên ả như sông Hồng với đôi bờ phù sa màu mỡ mà sông Đà hiện lên trước
mắt người đọc mang đầy sự hùng vĩ, dữ tợn nơi khúc thượng nguồn Tây Bắc cùng địa hình hiểm trở, khắp nơi đều là đá với những cấu tạo khác nhau
- Ngang tàng: Sông Đà cũng mang 1 vẻ đẹp trữ tình được hiện lên từ nhiều góc độ khác nhau
khi dòng sông Đà ở khúc hạ lưu chảy vẫn hiền hoà êm đềm như bao dòng sông khác, cảnh
vật thiên nhiên xung quanh yên ả trữ tình và thơ mộng
- So sánh lời đề từ: Trong thi phẩm nổi tiếng “Tràng giang”, Huy Cận có lời đề từ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài.”
-Điểm giống:
• Cả 2 lời đề từ đều cho thấy cảm xúc mãnh liệt, da diết trước con sông hùng vĩ
• Ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên bao la
-Điểm khác:
• Tràng giang tập trung thể hiện cảm xúc buồn mang mác, cô đơn , sự mơ mộng trước cảnh đất trời bát ngát khi đứng trên bờ sông Hồng
• Người lái đò sông Đà tập trung vào thể hiện tình yêu tha thiết với con sông và con người, miêu
tả vẻ đẹp đặc biệt của con sông Đà và người dân nơi đây qua sự trực tiếp trải nghiệm và gặp
gỡ
2 Tính cách hung bạo
a Cảnh đá bờ sông, dựng vách thành:
* Thị giác- Lăng kính quan sát và miêu tả trực tiếp
- Lăng kính dọc – độ cao, sâu
+mặt sông chỗ ấy chỉ đúng giờ ngọ mới có mặt trời: vách núi cao, thẳng đứng đầy trắc trở +”ngóng vọng lên” + so sánh “sông như hè phố, vách đá như nhà cao, khung cửa sổ tầng thứ mấy”:
• tăng thêm cảm giác về độ cao hun hút, thăm thẳm của vách đá
• mang thiên nhiên hùng vĩ lại gần hơn với cuộc sống con người
• thể hiện một cái nhìn tinh tế, đầy ấn tượng cho người đọc
- “…những cảnh đá bờ sông, dựng vách thành,…”: Sự hùng vĩ của Sông Đà không chỉ bởi
thác đá mà còn là những cảnh đá bờ sông nối liền nhau dựng thành vách cao Câu văn khiến người đọc hình dung vách đá hai bờ sông sừng sững như áp sát vào nhau, với những vách đá hẹp, sâu, dốc thẳng đứng như bức tường thành vững chãi Ngòi bút Nguyễn Tuân tỉ mĩ vẽ lại thiên nhiên trong hình hài kiến trúc: vách đá là thành cao, lòng sông là hào sâu
- Độ cao của vách đá được cụ thể hoá đồng thời sự trù phú, hùng vĩ của sông Đà cũng được hiện hữu dần Ngòi bút Nguyễn Tuân tỉ mĩ vẽ lại thiên nhiên trong hình hài kiến trúc: vách đá
là thành cao, lòng sông là hào sâu Vách đá ấy cao tới nỗi: “mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời” Cách miêu tả độ cao ấy còn gợi nên cái lạnh lẽo âm u của quãng sông
- Qua ngòi bút Nguyễn Tuân, cảnh vách đá sông Đà thật hùng vĩ, tráng lệ Nguyễn Tuân dùng
từ "vách thành" chứ không phải là "thành vách" như thói quen dùng từ thường lệ Thế mới
"lạ", mới chẳng giống ai Phải chăng, "vách thành" mới diễn tả trọn vẹn sự sừng sững, uy nghiêm, chứa đầy hiểm nguy của vách đá đôi bờ sông Đà? Vách đá ấy dựng đứng, cao vòi vọi, khiến ánh nắng mặt trời chỉ lúc đúng ngọ mới có thể chạm tới mặt sông Cái tài của Nguyễn Tuân là ông không dùng một chữ "cao", mà ta vẫn cảm nhận được độ cao hun hút của vách đá
- Lăng kính ngang – độ hẹp
Trang 5+vách đá chẹt lòng sông như một cái yết hầu
+vách đá ngút ngàn giới hạn hai bờ sông
+đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách, con hổ con nai đã có lần vọt từ bờ
này sang bờ kia
• Đo bằng con người: Hành động dùng ít lực, ném nhẹ tay đá sang bên sông kia cho thấy
quãng sông với hai bên bờ song song nhỏ hẹp
• Đo bằng thú vật: Bước nhảy của “con nai con hổ" “vọt" qua, nhanh qua từ bờ này sang bờ
kia càng bổ sung thêm cái nhỏ hẹp ở hai bên bờ sông Không chỉ khắc hoạ cái hẹp của dòng sông mà còn để lộ môi trường sống của sinh vật hết sức đa dạng và phong phú
• Vách đá thành được gợi tả bằng nghệ thuật so sánh: “ Có vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu.”
+, “chẹt" hay nôm na ý hiểu là chặn ngang Vách đá ấy chặn ngang, tạo ra một cửa chắn giữa lòng sông Đà
+,”yết hầu" Tất cả những gì Nguyễn Tuân sáng tạo đều độc đáo và mang hơi thở hoang dại như thế
→ Độ hẹp và tối của dòng sông được nhà văn xoay ngắm đủ các góc độ, Nguyễn Tuân chẳng những
đã giúp người đọc có thêm góc độ cảm nhận đa chiều về 1 khúc sông hiểm trở trên Đà Giang mà còn làm cho sự vật được miêu tả hiện lên một cách thực sự ấn tượng Nó hẹp và tối bởi vì quãng này có những vách đá chắn dựng đứng, chỉ khi nào mặt trời đúng lúc ngọ - nghĩa là phải khi ánh dương từ mặt trời lên tới đỉnh điểm nhất, chiếu sáng mạnh nhất thẳng đứng xuống mặt sông thì ta mới thấy mặt trời sáng hiện hữu trên con sông Đà
* Xúc giác- cảm nhận gián tiếp giàu liên tưởng
- Miêu tả về cảm giác đầy chân thực càng được đẩy cao hơn nữa cái đáng sợ nơi dòng sông sâu, lạnh lẽo này Những liên tưởng tương phản về xúc giác:“Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa
hè mà cũng thấy lạnh”, do dòng sông nằm lọt giữa 2 vách đá cao dựng đứng làm cho không một
chút ánh nắng nào có thể chạm tới, có thể cảm nhận hơi lạnh của đá, nước, của độ cao hun hút vách
đá đôi bờ
- Không chỉ gây trở ngại cho con người bằng địa hình hiểm trở, sông Đà còn là một nơi khắc nghiệt,
là thử thách cho những người đi qua đây Sự đối nghịch trong cảm giác: “cảm thấy mình như đứng ở
hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn
điện” Sự liên tưởng phong phú, đang nói đến một địa hình hoang vu chợt quay nét bút về nơi phố thị, như cảm giác hụt hẫng của một kẻ si tình ngóng vọng, chờ đợi người thương
- Phép so sánh cùng với trùng điệp những kiểu ngôn từ không xác định “nào”, “mấy”, đã vẽ lên cái nhìn chới với, vô phương, rợn ngợp của thuyền vừa trôi vào khúc sông ấy Một sức hút bình thường làm sao có nổi sự so sánh vừa chính xác, vừa tinh tế vừa phong phú, vừa bất ngờ và lạ lùng đến thế Nguyễn Tuân luôn lục lọi đến kiệt cùng cái kho ngôn ngữ muôn màu sắc để đem đến cho người đọc không chỉ cảm nhận bằng thị giác, cảm giác mà cả những tưởng tượng thú vị
➔ Ng Tuân tận dụng nh giác quan, Nguyễn Tuân vừa đặt mình vào vị trí của người dân miền núi, lại vừa có thể giúp cho bất kì độc giả thành thị nào cũng dễ dàng hình dung về sự hung bạo đến từ cảnh
đá bờ sông dựng vách thành của sống Đà ở thượng nguồn Nguyễn Tuân ưa một lối viết liên tưởng mang tính chất tạo hình, ông viết không chỉ bằng ngòi bút của một nhà văn mà dường như còn viết bằng nhãn quan, bằng ngòi bút của một họa sĩ, của một nhà điêu khắc, một nhiếp ảnh gia nên văn của ông rất giàu màu sắc, rất giàu hình khối, rất giàu chất điện ảnh
*NT
- Bút pháp tả thực
Trang 6- So sánh liên tưởng đầy mới mẻ độc đáo :
+ so sánh vách đá với yết hầu: gợi hình ảnh vách đá chèn dọc sông Đà
+ so sánh nhìn lên vách đá mà ngỡ như đang đứng ở hè 1 cái ngõ…→ Gợi hình gợi cảm, nhấn mạnh
sự hung bạo, thể hiện tài quan sát tỉ mỉ của tác giả , giúp người đọc dễ hình dung, tưởng tượng ra khung cảnh nơi đây
- Sử dụng các kênh giác quan
- Tính hoạ : bằng ngòi bút điêu luyện ông đã vẽ nên 1 bức tranh thiên nhiên vừa chân thực vừa chi
tiết vừa sắc sảo , gợi cái hồn của thiên nhiên
b Mặt ghềnh Hát Loóng
* Điểm nhìn mở rộng từ bờ sông hẹp tối mở ra mặt sông rộng lớn, giống như một bức hoạ đan xen
- ghềnh: chỗ lòng dòng chảy có chướng ngại vật nhô cao trên mặt nước hay nằm lơ lửng trong nước ngăn cản dòng chảy gây nên nước chảy xiết tạo các xoáy nước →Làm cản trở, nguy hiểm cho con người khi đi qua đoạn này
- Lại 1 lần nữa ta thấy đc sự hung bạo của sông Đà với độ dài hàng cây số nối tiếp nhau tựa như không có điểm dừng Nước chảy xiết đến nỗi tưởng như tất cả mọi thứ trên dòng sông xô đẩy lẫn nhau 1 cách dữ dội mạnh mẽ, không chỉ thế mà gió còn cuồn cuộn lên 1 cách mạnh bạo Tất cả những thứ đó cùng nhau tạo nên sự hung bạo và hùng vĩ của mặt ghềnh hát loong
- Trên mặt ghềnh sự nguy hiểm luôn trực chờ những người lái đò, để đi qua quãng sông này thì đòi hỏi ở người lái đò phải vững tay lái, vững tinh thần không bị hoảng sợ trc sự hung bạo dữ dằn của nơi đây
* Nguyễn Tuân - bậc thầy ngôn ngữ:
- Câu văn:
+ Câu văn được tác giả cố tình mở rộng biên độ để tạo hình chiều dài tưởng như bất tận của ghềnh thác trên sông Đà Câu dài nhưng nhịp ngắn không tạo nên cảm giác dàn trải, chậm rãi mà gấp gáp, vội vã tạo nhịp điệu nhanh, mạnh như sự hung hăng của con sông
+ Cấu trúc móc xích, trùng trùng điệp điệp nước xô đá, đá xô song, sóng xô gió
• tạo ra nhịp điệu khẩn trương, gấp gáp
• tái hiện vòng tuần hoàn của thiên nhiên với nước, đá, sóng, gió
• đã tạo ra một phản ứng dây chuyền giữa bốn đối tượng là nước, đá, sóng và gió Bình thường mỗi thế lực này đã mang sẵn trong mình sức mạnh ghê gớm của tự nhiên nay chúng lại được gối lên nhau để tạo nên một sức mạnh vô cùng khủng khiếp
+ Bằng lối viết tài hoa, những câu văn diễn đạt theo kiểu móc xích, cấu trúc câu trùng điệp như sóng gió, thác nước cứ gối lên nhau, liên tiếp, liên tiếp mà khuấy đảo mặt ghềnh, đẩy cao hơn nhịp xô đẩy
ầm ào của sóng gió và cũng gợi về hình ảnh con sông đà cuồng nộ, dữ dằn như lúc nào cũng muốn tiêu diệt con người
- Từ ngữ: Từ láy tượng hình “cuồn cuộn, gùn ghè” và hình ảnh so sánh mang đậm sắc thái nhân
hóa về việc sóng gió trên mặt ghềnh Hát Loong "lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông
Đà nào tóm được qua đấy" Thể hiện sinh động sự hung hãn lì lợm và cuồng bạo của dòng sông
Thêm vào đó là các động từ như xô, cuồn cuộn, gùn ghè vừa gợi hình, vừa dùng nhiều thanh trắc
nên tất cả đã giúp nhà văn tạo hình một cách sống động dòng chảy cuồn cuộn dữ dội đầy nguy hiểm Qua đó cho thấy nét tài hoa, khéo léo trong việc sử dụng từ ngữ của Nguyễn Tuân
- Biện pháp tu từ:
+ Sử dụng những động từ mạnh lặp đi lặp lại
• Thể hiện rõ những hành động dữ dội trong không gian rộng lớn và trong 1 thời gian dài
Trang 7• Thể hiện sức mạnh uy hiếp ở mặt ghềnh, từ đó tạo thêm sự oai linh hùng vĩ để nét dữ dội cứ nhân lên mãi
+ So sánh, nhân hóa: gió gùn ghè như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò sông Đà nào
tóm được qua đấy sóng gió như vút lên theo chiều dọc, chồm lên theo chiều ngang, ầm ập ầm ập mà
đổ xuống mặt ghềnh, khẳng định sức mạnh vĩnh hằng của mẹ thiên nhiên, khắc họa sắc nét hình tượng con sông như 1 chủ nợ dữ tợn mà luôn hằm hè những người ko mắc nợ một cách vô lý Sông
đà được miêu tả như kẻ thù của con người, lúc nào cũng hung hăng, chờ chực để gây sự, hình ảnh con sông hung dữ, thích gây sự, dồn hết giận dữ vào những người qua sông, giáng hết tai họa vào họ
để thỏa tính hung hăng, bạo tàn của chính nó; cảnh báo con người khi đi qua khúc sông này phải hết sức cẩn trọng
+ Sử dụng kết cấu trùng điệp, điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc ngữ pháp và tăng tiến tạo ra nhịp điệu
hối hả, khẩn trương giống với sự chuyển vần của sóng lớn gió to tiếp thêm cái oai linh hùng vĩ cho
“Đường lên Mường Lễ bao xa Trăm bảy cái thác trăm ba cái ghềnh”
mỉ, tinh tế của NT trước sự hung tợn, nguy hiểm của những cái hút nước so sánh cái hút nước như cái giếng: Độ sâu, Độ đứng
• Kết hợp với “trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cx đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn”, NT mở
ra 1 không gian thị giác đầy rùng rợn, sát khí trừng trừng của chính sông Đà, đem lại tưởng tượng về 1 đôi mắt hung tợn (tâm xoáy nước) đang nhìn chằm chằm và nó bắt ta phải đối diện trực tiếp với nó
+ Thính giác:
• So sánh+nhân hóa “nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc” nước biết thở, biết kêu
→tác giả đang nhân hóa con sông, biến nó thành một sinh thể miêu tả chân thực “tiếng kêu” của sông Đà mang lại cảm giác rợn tóc gáy cho người đọc, khiến ta cảm nhận được sức mạnh của dòng chảy sông Đà, nó như đang sục sôi trào dâng mãnh liệt, tạo thành một dòng chảy xiết, liên tục, không hồi kết
• và “những cái giếng sâu nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào” “ặc ặc”: từ láy tượng thanh càng làm tăng sự sinh động, tạo ra hình dung rõ ràng trong tâm tưởng người đọc giống như hố
tử thần tạo thành những cái xoáy nước Hút mạnh đến nỗi nước ở trên sông rơi vào cái miệng của nó, bên cạnh đó nước còn bị hút nhanh và sâu đến nỗi cảm tg như đang bị sặc và có lẽ phần nào giúp cho người đọc thấy được sự dữ dội, nguy hiểm nơi đây Thiên nhiên hiện hữu
Trang 8qua hình ảnh con người, tài năng diễn tả của Nguyễn Tuân như thể trao linh hồn sống cho hình ảnh thiên nhiên vô tri vô giác
đà Người đọc có thể không tận mắt chứng kiến nhưng chắc chắn phần nào cũng sẽ cảm nhận được cái hiểm nguy, cái khắc nghiệt nơi này qua những hình ảnh so sánh đầy độc đáo của NT Và đọng lại trg lòng ng đọc, sông Đà đc nhìn như 1 hung thần, gây cảm giác hãi hùng về 1 cuôc chiến đấu dữ dội suốt hàng thế kỉ vẫn luôn diễn ra
* Bút pháp liên tưởng, tưởng tượng:
+ Tác giả đã hình dung ra những “bè gỗ rừng đi nghênh ngang vô ý” và bị những cái hút nước “lôi tuột xuống” và còn tưởng tượng ra hình ảnh “thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi”
“tan xác ở khuỷnh sông dưới Hiểm nguy khi vô ý đi ngang qua cái hút nước được tác giả dự báo trước cho thấy sự dữ tợn của hút nước Sông Đà
+ Không chỉ tưởng tượng về con thuyền hay cái bè mà tác giả lại tiếp tục đưa ra một giả tưởng hấp dẫn người đọc “nghĩ đến một anh quay phim táo tợn” “ dũng cảm dám ngồi vào một cái thuyền thúng tròn vành”
→ Những tưởng tượng của tác giả đang làm sinh động lên và sâu đậm hơn những sức mạnh khủng khiếp của những cái hút nước sông Đà Một sự li kì kéo người đọc xuống tận đáy “những cái hút nước xoay tít” Dù là liên tưởng tưởng tượng nhưng dường như lại thể hiện được một cảm giác chân thực khó tả khiến người đọc thấy được mình như đang trải nghiệm trên chính những cái thuyền cái
bè mà tác giả gợi ra
* Bút pháp điện ảnh:
Nguyễn Tuân đã vận dụng tài hoa uyên bác của mình để khám phá dòng sông trên góc nhìn điện ảnh
qua kỹ thuật điện ảnh quay cận cảnh
- Lý do : tại sao chọn điện ảnh quay cận cảnh:
của nhân vật, sự vật, không dừng ở
đó,tác giả còn đồng thời đưa ra nhận
xét,đánh giá, bình luận về sự kiện, sự
việc đó
Phim chuyển động, không hư cấu nhằm mục
đích "ghi lại hiện thực, chủ yếu cho mục đích giảng dạy, giáo dục hoặc duy trì hồ sơ lịch sử " Phim tài liệu có nghĩa là các tác phẩm thông tin,
và thường được sử dụng trong các trường học, như một nguồn tài nguyên để dạy các nguyên lý khác nhau
➢ Kỹ thuật điện ảnh quay cận cảnh góp phần miêu tả, tái hiện 1 sông Đà chân thực nhất, dữ dội nhất, hung bạo nhất dưới những cái hút nước làm người đọc nhưng đang tự mình trải nghiệm
và thực sự cũng phải lạnh sống lưng
Trang 9- Cách sử dụng kỹ thuật điện ảnh:
+ Được tái hiện từ các góc nhìn khác nhau: từ trên nhìn xuống mặt nước sông “giống như cái giếng
bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu”; từ dưới lòng sông nhìn ngược lên “thành giếng
xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày, khối pha lê xanh như sắp vỡ tan
ụp vào…”
+ Được cảm nhận từ các vị thế trải nghiệm khác nhau:
• vị thế của người quay phim “ngồi vào một cái thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền cả
mình cả máy quay xuống đáy cái hút sông Đà…” Để máy quay từ cái đáy cái hút nhìn ngược lên vách thành (quay hất ngược từ dưới lên), thu ảnh, những thước phim màu quay tít, cái máy lia ngược contre-plongeé lên một cái mặt giếng
• vị thế của người xem phim “thấy mình đang lấy gân ngồi giữ chặt ghế như ghì lấy mép một
chiếc lá rừng bị vứt vào một cái cốc pha lê nước khổng lồ vừa rút lên cái gậy đánh phèn…” Nguyễn Tuân tiếp tục gây áp lực lên hệ thần kinh ng đọc bằng cách bắt họ ph tự chiêm
nghiệm cái cảm giác lạ lùng, đáng sợ này Độ sâu của cái hút nước thật đáng sợ khi cái vách thành hút mặt sông chênh nhau tới 1 cột nước cao đên vài sải Những dòng xoáy nước xoay tít luôn hiện hữu trên dòng sông như 1 lẽ đương nhiên “ thước phim màu cũng quay tít”
- Tác dụng: văn NT là văn ham cảm giác mạnh => Những hút nước hiểm nguy lại trở thành đam mê dưới những ngòi bút của ông Nguyễn Tuân đã đem lại, truyền tải cho người đọc 1 cái nhìn, một cảm giác lạ về sông Đà NT thường có cảm hứng thích thú với những đối tượng tác động mạnh mẽ vào giác quan nghệ sĩ của mình Và tình huống anh bạn quay phim cho cả mình cả thuyền cả máy quay xuống đáy cái hút sông Đà dường như đã làm thỏa mãn niềm say mê mãnh liệt đó của tác giả Tất cả như một cuộc phiêu lưu mạo hiếm Thủ pháp điện ảnh tạo ra những thước phim ghi lại để rồi đem đến cảm giác chân thực hơn cả khi “những mảnh pha lê như sắp vỡ tan” có thể xuyên qua màn hình
đổ ập vào cả người xem
* Bút pháp sử dụng chất hoạ tài hoa
+ Vẽ lại sống động, đặc sắc khiến hút nước hiện ra khi mang hình hài của một "cái giếng bê tông" xoáy tít với “những cánh quạ đàn”: không nói rõ sắc đen từ cánh quạ nhưng Nguyễn Tuân vẫn biểu đạt thành công màu đen u ám, ghê rợn, lạnh lẽo, ẩn hoạ 1 sự chết chóc đáng sợ , nhắc đến quạ chúng
ta thường liên tưởng đến sự đen đủi, 1 niềm dự cảm không lành mà tác giả muốn nói đến Cái hút nước ghê rợn trên sông Đà, lòng sông ẩn chưa nhiều nguy hiểm đe doạ con người sẵn sàng nhấn chìm mọi thuyền bè đi ngang qua Có lẽ sự hung bạo ấy khiến cho “ không thuyền nào dám men gần”, dòng sông Đà hùng dũng uy lực điên cuồng với khát vọng khuất phục mọi thứ Hay cách liên tưởng so sánh “…y như là ô tô sang số ấn ga cho nhanh” , Ng Tuân có sự liên tg hứng thú khi giữa chốn núi rừng hoang sơ tác giả đã thổi vào không khí của phố thị với hình ảnh ô tô sang số ấn ga, đoạn sông có những cái hút nước với 1 quãng đường vượt cạp ra ngoài bờ vực Bút vẽ hết sức sinh động, miêu tả sự đối phó của con thuyền khi qua khúc sông này càng làm nổi bật hình ảnh của những cái hút nước như thể một quái vật đang trong cơn giận dữ cuồng loạn sẵn sàng gieo chết chóc cho con người
+ “Nhiều bè gỗ rừng nó lôi tuột xuống”: thể hiện sự “nghênh ngang”, ngang ngược của Đà giang, cái nhìn độc đáo của NT, cho thấy được sự to lớn của những chiếc bè gỗ trôi theo dòng
Thể hiện sự đối lập trong cách dùng từ đối với những đối tượng riêng: Nhiều bè gỗ => nghênh ngang, những cái giếng hút => vô ý Chỉ cần một tác động nhỏ của cái hút nước cx có thể khiến những cái bè gỗ to lớn tan tác, biến mất ko dấu vết vào những dòng chảy xiết ấy “lôi tuột xuống” : Hành động mạnh mẽ, hung tợn đi kèm với thái độ khinh thường, không đặt vào tầm mắt của những cái giếng hút (thái độ của kẻ mạnh đứng trước kẻ yếu thế )
Trang 10+ “Có những thuyền đã bị… rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông”: (4 bước như quá trình tiêu hóa thức ăn của con ng - Quá trình tiêu hủy một con thuyền của sông Đà)
- Gđ đầu (hút xuống)
- Gđ thứ 2 (con thuyền trồng cây chuối ngược rồi vụt biến đi)
- Gđ thứ 3( bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi mấy phút)
- Gđ cuối (tan xác ở khuỷnh sông) Một con thuyền chưa bao giờ nhỏ bé và mong manh đến vậy cho đến khi nó rẽ vào sông Đà Bằng những quan sát tỉ mỉ, tinh tường, kết hợp cách dùng hàng loạt động từ "lôi", "hút", "trồng", "dìm",
"đi ngầm", "tan xác" cách sử dụng từ tượng hình: lừ lừ, nghênh ngang, Nguyễn Tuân đã diễn tả
hình ảnh chiếc thuyền bị hút nước nuốt chửng một cách đáng sợ
Con sông mang trên mình những cái hút nước khổng lồ ấy khiến ta hình dung nó chẳng khác nào một loài thủy quái hung bạo, dữ dằn Nó sẵn sàng nuốt tất cả mọi thứ vào lòng sâu của cái chết Con thủy quái ấy cứ như chỉ chờ có thuyền nào qua là lôi tuột, nuốt chửng con thuyền tội nghiệp cho hả cơn giận dữ Đây là những hình ảnh đầy chất hiện thực mà ngòi bút
Nguyễn Tuân giúp người đọc nhận ra bên trong sự hung bạo ấy, hình ảnh con sông Đà nổi lên như một biểu tượng về sức mạnh dữ dội và vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên, đất nước
Ngôn từ độc đáo của NT (NX Anh Đức: “Không biết chừng nào mới lại có một nhà văn như thế, một nhà văn mà khi ta gọi là 1 bậc thầy của ngôn từ ta không hề thấy ngại miệng, một nhà văn độc đáo vô song mà mỗi dòng, mỗi chữ tuôn ra đầu ngọn bút đều như có đóng một
dấu triện riêng”)
d Thác nước hiểm nguy
* Thẩm âm tài tình:
- Tiếng nước réo: Thác ở đây từ rất xa đã nghe thấy âm thanh hãi hùng ghê rợn : “Tiếng nước thác
nghe như là oán trách gì , rồi lại như là van xin , rồi lại như là khiêu khích , giọng gằn mà chế
nhạo” Một câu văn mà có đủ các cung bậc âm thanh của tiếng thác vừa thể hiện vốn từ phong phú ,
vừa thể hiện trình độ thẩm âm tinh tế của tác giả
• Tác giả sử dụng hàng loạt những động từ dồn dập với những sắc thái khác nhau :
o Oán trách : căm hận trách móc
o Van xin : cầu xin
o Khiêu khích: trêu tức để gây sự bất hòa
o Chế nhạo: khinh thường, mỉa mai
• Sử dụng từ ngữ chỉ trạng thái để miêu tả âm thanh với những cung bậc tăng dần cả về sắc thái và âm lượng, dùng các cung bậc của con người tả thác để dội lại cái vang vọng đầy cảm xúc ấy cho người đọc
→ Không chỉ diễn tả âm thanh mà còn gợi lên được sức mạnh của thác nước, lúc nào cũng trong 1 tâm thế hung hăng khiến con người ta phải khiếp sợ Đồng thời diễn tả được khoảng cách giữa người
và thác đang ngắn dần
- Tiếng nước rống:
+ Lấy hình ảnh gợi tả âm thanh: “Một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng”: phóng đại,
đẩy âm thanh lên đỉnh điểm Tiếng thác nước như được phóng to lên hết kích cỡ giống như bản nhạc của thiên nhiên mà các nhạc khí đều bừng bừng ở đỉnh điểm của một cơn phấn khích mạnh mẽ và man dại Những âm thanh cuồng loạn như thanh viện hỗ trợ làm cho sự giận dữ của nước sông như tăng lên gấp bội Chúng va đập vào vách đá tạo nên một sức mạnh hoang dại ghê gớm khủng khiếp, sức mạnh hoang dại ấy của Sông Đà mang đến cho người đọc cảm giác sợ hãi như phải chứng kiến trận động đất trấn động khiến núi lửa phun trào hay một cơn đại hồng thủy với sóng thần cao ngất
Trang 11Sự tài hoa tinh tế của Nguyễn Tuân còn thể hiện qua cách nhà văn dùng hệ thống những từ ngữ miêu
tả âm thanh theo những cung bậc tăng dần cả về sắc thái cảm xúc và âm lượng đế vừa miêu tả sống động sự đe dọa hung bạo của dòng sông, vừa miêu tả khoảng cách ngăn dân của người quan sát của thác đá sông Đà – và có lẽ đây cũng là cách làm tăng dần cảm giác hãi hùng, hồi hộp, kì thủ
+ Đặt những hình ảnh tương phản trong cùng một trường liên tưởng miêu tả Lần đầu tiên
trong thơ văn có người lại dùng lửa để miêu tả nước, hai nguyên tố có sức hủy diệt rất lớn lại luôn tương khắc với nhau Trước mắt người đọc là cả một rừng vầu, tre nứa hàng ngàn cây đang bị đốt cháy và phát ra tiếng nổ nhưng chưa hết, lại được thả vào đó hàng ngàn con trâu mộng to khỏe, chúng sẽ lồng lộn mà phá tan rồi tìm đường thoát thân Khi chạy, nó va đập mạnh vào những cây tre, cây nứa tạo nên những tiếng nổ lớn, liên hoàn Những phép so sánh kì thú trong một câu văn dài đầy
ắp những hình ảnh dữ dội với hàng ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lứa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng nhà văn đã thể
hiện sự tài hoa độc đáo khi lấy hình ảnh gợi tả âm thanh, lấy lửa tả nước, lấy rừng tả sông, đặt những hình ảnh tương phản trong một trường liên tưởng bất ngờ, thú vị Cách miêu tả ấy khiến
âm thanh của thác đá không chỉ được cảm nhận bằng thính giác, không chỉ được hình dung qua trí tưởng tượng mà còn hiện ra trong những ấn tượng đặc biệt sống động của thính giác, thị giác Hình ảnh của Nguyễn Tuân tác động mạnh mẽ lên hệ thần kinh người đọc để mang đến cảm giác chân thực và sống động nhất Con sông ấy như một kẻ lắm mưu, nhiều kế để khiêu khích người lái đò
-Biểu cảm của âm thanh: So sánh âm thanh “ rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang
lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng” Dòng sông hiện lên như một loài động vật hung dữ đang cuồng loạn gầm thét tìm lối thoát Nó chứa đựng biểu tượng về sức mạnh dữ dội và vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên đất nước Bằng nghệ thuật so sánh kết hợp với liên tưởng mở rộng nhà văn Nguyễn Tuân đã giúp người đọc như nghe thấu được những âm thanh đa dạng của thác nước Sông Đà từ đó khắc họa tính cách hung bạo của con sông Sự dữ dội, nham hiểm của sông Đà hiện lên thành hình và gào thét bằng trăm ngàn âm thanh Con Sông Đà đã trở thành một loại thủy quái vừa hung ác, vừa nham hiểm Tiếng thác nước như được phóng to lên đến kịch điểm giống như một bản nhạc của thiên nhiên
mà các nhạc khí , nhạc cụ đều được bừng ở mức độ đỉnh điểm Những âm thanh cuồng loạn như là thanh viên hỗ trợ cho sự giận dữ của nước sông đà tăng lên gấp bội Chúng va đập vào vách đá mang đến một sức mạnh hoang dại khủng khiếp khiến người đọc cảm giác như đang phải chứng kiến một trận động đất trấn động khiến núi lửa phun trào hay một cơn đại hồng thủy với sóng thần cao chất ngất Lời văn cũng thể hiện sự liên tưởng tài hoa và lối chơi ngông trong cách nói của Nguyễn Tuân
* Thẩm hình tài hoa
Sông Đà trở thành một sinh thể biết đánh địch trên mặt trận ngoại giao: Khi còn xa mới tới
thác, Nguyễn Tuân đã miêu tả âm thanh của tiếng nước thác bằng những từ ngữ chỉ cảm xúc, thái độ, tâm trạng của con người khi “oán trách”, “van xin”, khi khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo, khi
“rống lên” Nghệ thuật nhân hóa đã khiến thác nước sông Đà thực sự trở thành một sinh thể sống đang giận dữ, gầm gào, đe dọa con người ngay cả khi nó chưa xuất hiện
- Sử dụng những động từ mạnh: nổ lửa, phá tuông, gầm thét, cháy bùng bùng khiến câu chữ như
đập mạnh vào giác quan người đọc Từ đó tính chất hung bạo của con sông như hằn lên nổi lên thành hình thành khối đang gào thét trong muôn vàn âm thanh
-Đối lập lửa tả nước, núi tả sông: Trong ngũ hành, thủy và hỏa vốn là hai yếu tố tương khắc với
nhau, dân gian có câu “ kỵ nhau như nước với lửa” Vậy mà ở đây Nguyễn Tuân lại dùng lửa để tả nước, lấy núi rừng để tả dòng sông từ đó làm nổi bật sự tương giao về sức mạnh của những hiện tượng tự nhiên
Trang 12- Nghệ thuật tăng tiến: Tác giả đặc tả sự tăng dần sắc thái cảm xúc và âm lượng từ oán trách, van
xin, đến chế nhạo khiến sông Đà hiện ra như sinh thể sống vừa gầm gào, vừa đe dọa uy hiếp con
người
- Thủ pháp so sánh liên hoàn, so sánh kép, so sánh đối lập cao độ
→ Nguyễn Tuân không chỉ có cái nhìn độc đáo mà còn là bậc kì tài trong lĩnh vực sử dụng ngôn từ Đội quân ngôn từ trong tác phẩm đã nói lên được khả năng thẩm âm thẩm hình của tác giả gợi ra sự uyên bác trong mọi lĩnh vực đây là sự phá cách của các tay bút thực sự tài hoa Vài câu văn ngắn mà
đủ các cung bậc âm thanh của tiếng thác vừa thể hiện vốn từ phong phú vùa thể hiện trình độ thẩm
âm tinh tế của tác giả Lời văn cũng thể hiện sự liên tưởng tài hoa và lối chơi ngông trong cách nói
của Nguyễn Tuân
e Một chân trời đá – Trùng vi thạch trận bầy trên sông
- Một chân trời đá
+ Khi thác đá hiện ra, sau câu văn ngắn như một tiếng reo ngỡ ngàng, thích thú: Tới cái thác rồi, nhà văn đã đồng thời tả cả đá và nước thác với sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá Tính từ trắng xóa” lặp lại nhiều lần gây ấn tượng về sóng, về gió, về bọt nước trào lối dữ dội, lại gợi tả làn hơi nước như mờ đi trên một diện rộng mênh mông của mặt sông; cùng với hình ảnh “chân trời đá”, câu văn miêu tả của Nguyễn Tuân đã làm hiện ra sự hùng vĩ tới choáng ngợp của thác đá sông Đà + Đá sông Đà cùng với nước với sóng với gió sông Đà được miêu tả qua một hình ảnh nhân hóa đặc sắc: Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện là một số hòn bên nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền Mỗi hòn đá được khắc họa như một quái vật Chúng đều thiện chiến liều mạng và có nhiệm vụ riêng Chúng chia ra làm hàng tiền vệ và hậu
vệ, chúng dàn hàng ngang để chặn đánh và đòi ăn chết con thuyền muốn vượt Mỗi lần thấy một con thuyền nào là chúng lập tức vồ lấy Mặt hòn đá nào ở đây cũng trông “ngỗ ngược” như một đứa trẻ bướng bỉnh hay “nhăn nhúm méo mó” hơn cả mặt nước cuộn sóng, những hòn đá muôn hình vạn trạng có hòn “đứng” có hòn “nằm” hay “ngồi” tùy vào sở thích riêng của chúng Nhà văn Nguyễn Tuân cũng như muốn khắc sâu cho người đọc ấn tượng về những hòn đá sông Đà nên ông đã không chỉ thổi hồn mà còn tạo ra diện mạo cho từng viên đá: là đá mà mặt thằng nào cũng nhăm nhúm, méo
mó, ngỗ ngược
+ Những tri thức về quân sự, về võ thuật, thể dục thể thao, điện ảnh… , Nguyễn Tuân đã gọi dậy cái
sự bí ẩn và hiểm ác của đá sông Đà trong sự vĩnh hằng của thiên nhiên khi ngàn năm mai phục, khi
dữ dằn, đột ngột hiện ra sau cái dập dềnh của sóng để nhổm cả dậy vồ lấy thuyền; diễn tả sự độc ác, xảo quyệt hết sức nguy hiểm của đá sông Đà khi nó mai phục để đột nhiên nhổm cả dậy vồ lấy con thuyền nơi khúc sông ngoặt, khi thì nó lại tỏ ra sơ hở để dụ con thuyền vào rồi bất ngờ quay lại đánh quật vu hồi Trận thủy chiến với một đội quân hùng hậu, dữ dằn của SĐ gồm có đá hậu, đá tướng,
đá tiền vệ, hệ thống boong ke, pháo đài đá chìm, đá nổi, tập đoàn cửa sinh, cửa tử
Ánh Vân
Khái quát:
- Số lượng: trắng xóa cả một chân trời đá → hùng vĩ đến choáng ngợp của thác đá sông đà
- Thời gian: ở đây từ ngàn năm trước
- Vị trí: mai phục trong lòng sông
- Hình dạng: mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này, những tảng đá mới trông tưởng như nó đứng nó ngồi nó nằm, đá to đá
bé
➔ Phần nào gợi mở những bí ẩn, những nguy hiểm của những trùng vi thạch trận
Nhiệm vụ
Trang 13- Mỗi lần có chiếc thuyền nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn nhổm dậy để vồ lấy
thuyền
- Bày thạch trận trên sông
+Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông
+Hàng tiền vệ có hai hòn canh một cửa đá giữ vai trò dụ cái thuyền đối phương đi vào sâu nữa
+Những boong ke chìm và pháo đài đá đánh tan cái thuyền lọt lưới đá tuyến trên, phải tiêu diệt tất cả thuyền trưởng thủy thủ ngay ở chân thác
→Đá sông Đà không còn là những hòn đá vô tri vô giác mà chúng phải “đảm nhiệm” những vai trò hết sức quan trọng không kể độ tuổi, hình dáng, kích thước
+Một hòn lùi lại một chút và thách thức cái thuyền có giỏi thì tiến vào
+Kết hợp với những yếu tố khác trên sông: thác, sóng, mặt nước tạo nên một trận địa hiểm nguy
→Ở TVTT 1, đá chào hỏi và khiêu khích
- Trùng vi thạch trận 2: tăng thêm nhiều cửa tử, cửa sinh bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn
→Ở TVTT 2, đá làm tướng đứng chiến ở cửa sinh
- Trùng vi thạch trận 3: ít cửa hơn, bên trái bên phải đều là luồng chết, luồng sống ở ngay giữa
→Ở TVTT 3, đá hậu vệ tạo thành 1 cánh cửa cánh mở cánh khép chặn cửa sinh
➔ Đá sông Đà giữ nhiệm vụ chính là xây dựng nên 1 lớp phòng thủ chắc chắn chúng được miêu
tả với sự khôn ngoan, thể hiện qua những “chiêu trò”, những trọng trách, vị trí cốt cán mà chúng nắm giữ trong những trận vi thạch trận Đá nơi đây tỏ ra không kém cạnh con người, sẵn sàng đương đầu để tìm ra kẻ mạnh hơn
→Sông Đà hiện lên với những trùng vi thạch trận mưu mẹo
Tuyến đá cuối cùng kiên quyết nhất gồm những “boong ke chìm và những pháo đài
đá nổi” sẽ tiêu diệt con thuyền cùng tất cả thuyền trưởng và thuỷ thủ nếu nó lọt khỏi hai vòng vây trước
Trang 14→ Đám tảng đám hòn thì được phân ra 3 hàng tuyến với 3 nhiệm vụ khác nhau nhưng lại bổ trợ cho nhau để nhằm nuốt chửng con thuyền Dường như sông Đà đã tính kế chiến con sông ấy hiện lên như một kẻ thù nham hiểm, xảo quyệt
● Trận địa được sắp xếp, bố trị xong thì cũng là lúc con thuyền vụt tới – cuộc chiến bắt đầu Nếu như
đá làm nhiệm vụ phá hủy con thuyền thì nước trên sông lại “phối hợp với đá “ mà reo hò những tiếng khích lệ như cổ vũ cho đá cho cuộc hỗn chiến sắp xảy ra Hai hòn đá canh cửa thì một hòn hất hàm lên trước như 1 anh lính yêu cầu thuyền phải xưng hô tên tuổi dò hỏi còn một hòn thì lại lùi về sau thách thức cái thuyền có giỏi thì tiến vào vừa khiêu khích vừa kích thích, hối cái hiếu thắng của cái thuyền
● Sóng dữ dội và hung bạo, Với bản tính hung hãn như một loài thủy quái, sông Đà đã đánh phủ đầu người lái đò với những đòn thế vô cùng hiểm hóc Sóng cao đến nỗi mà có thể “ phóng thảng vào mặt của người chèo thuyền “ Sông Đà cậy thế quân đông tướng mạnh nên đã “ùa vào mà bẻ gãy cán chèo”, chiến lược đánh giáp lá cà khi “liều mạng vào sát nách mà đá trái”, con sóng tựa 1 đô vật mang sức mạnh điên cuồng “thúc gối vào bụng và hông thuyền”, có lúc chúng dâng cao “đội cả thuyền lên” Trận giáp là cà dữ dội khiến cho đoạn đầu thuyền đi
Lúc này sông Đà lại chuyển thế bám lấy thuyền và đánh miếng đòn hiểm độc nhất “cả cái luồng nước vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy ” phần thân dưới người lái đò Bên cạnh ta thấy đc sự hung bạo và hung hăng của sông Đà thì còn gây nên nhiều bất trắc, hiểm nguy bắt ng lái đò phải vượt qua Cái luồng sóng đánh từng đòn từ đòn hồi lùng đến đòn tỉa rồi đòn âm – cứ liên tiếp như vũ bão, dồn dập vào chỗ hiểm, tiếng hỗn chiễn trên sông cũng từ đó mà tăng lên
- NT:
+ nhân hóa
●Là những hòn đá vô tri vô giác nhưng biết “canh cửa, đánh khuýp quật, tiêu diệt,hất hàm hỏi, lùi lại
và thách thức ” : làm cho câu văn thêm sinh động hơn bản chất đá trên sông đã đáng sợ mà còn đc gắn với từ miêu tả của con ng như tăng thêm cái sự hung bạo và ghê rợn , gợi lên hình ảnh như
những kẻ địch địch trên sông luôn trực chờ sẵn sàng lấy mạng sống ng đi qua vòng vây này
●“tiếng reo hò của nc reo hò” ngoài là âm thanh cổ vũ cho trận chiến còn là đánh trên mặt trận giáp
lá cà, đánh bằng cả nghệ thuật tâm lý chiến, gây nên áp lực cho hệ thần kinh ng giữ tay lái
●sóng thì “ liều mạng, thúc, đọi thuyền, bám lấy đánh đòn ” không chỉ đá trên sông dữ dội mà ngay
cả sóng nc cũng đang tham gia vào cuộc hỗn chiến như 1 tên lính với sức mạnh cuồng nộ muốn tiêu diệt mọi vâthj trên quãng sông
+ Một loạt động từ được Nguyễn Tuấn huy động để miêu tả cách đánh của sông Đà làm người đọc không khỏi rùng mình trước sự hung bạo của thiên nhiên: “ùa vào, bẻ gãy, đá trái, thúc gối, đội,…” Cộng hưởng với những động từ là những tính từ làm nổi bật tính hung bạo: “ngỗ ngược”, “nhăn nhúm”, “méo mó…Tất cả làm nổi bật thế và lực của đá sông vừa đông vừa mạnh hung tợn, ghê sợ tạo thành thế không cân sức với ông lái đò chỉ có một mình đơn phương độc mã để gieo vào lòng người đọc bao phấp phỏng, hồi hộp
=> Như vậy đã khép lại trùng vi thạch trận thứ nhất phải trải qua bao sự nguy hiểm dữ dội, hung bạo những cú đánh bất ngờ, trận địa giáp lá cà Dường như thở phào nhẹ nhõm, cảm thán “ Vậy là phá xong cái trùng vi thạch trận vòng thứ nhất “, phá xong 1 cái vòng vây bởi đá và sóng hiểm trở Trận đánh ko chỉ đánh về thể chất mà còn về tinh thần
TVTT 2
+ Chiến thuật thay đổi : Nếu như trùng vi 1 có 1 cửa tử duy nhất thì vòng này tăng thêm nhiều cửa
tử, cửa sinh lại bố trí lệch sang phía bờ hữu hạn để nhằm đánh lừa con thuyền => sông Đà đã có phần hung hiểm hơn
● 4 cửa sinh - 1 cửa tử ở TV1 -> sự nguy hiểm ít