Đề tài đánh giá mức độ thích nghi của cây chè trên địa bàn huyện Anh Sơn
Trang 1A PHAN MO DAU
1 Ly do chon dé tai
Hiệu quả kinh tế của vệc trồng cây công nghiệp thường cao hơn so với trồng
cây lương thực do có giá trị xuất khâu cao Trồng cây công nghiệp tập trung tạo
ra vùng nguyên liệu cho các cơ sở sản xuất chế biến nông sản, góp phần vào công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông thôn Điều này càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với một huyện miền núi còn nhiều khó khăn như huyện Anh Sơn
tỉnh Nghệ An
Phát triển cây công nghiệp còn có tác dụng tận dụng tài nguyên, phá thế độc canh trong nông nghiệp và góp phần bảo vệ môi trường Trồng cây công nghiệp ngày càng tận dụng được đất ở trung du miền núi Đặc biệt trồng cây công nghiệp dài ngày ở miền núi theo phương thức nông lâm kết hợp còn góp phần nâng cao thu nhập cho đồng bào các dân tộc miền núi
Anh Sơn là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Nghệ An, nhờ có
điều kiện thuận lợi nên trong những năm qua ngày càng phát triển Mặc dù vậy, trong cơ cấu kinh tế, nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chính Tuy nhiên, việc quy hoạch sử dụng đất và cơ cấu cây trồng vẫn còn chưa thực sự hợp lý Vì vậy, làm thế nào để có thể sử dụng hiệu quả đất đai là vẫn đề đang được các cấp chính quyền quan tâm nghiên cứu nhằm xây dựng các phương án chuyển dịch
cơ cấu cây trồng, đem lại hiệu quả sử dụng đất đai cao nhất để nâng cao đời sống cho người dân
Chính vì những lý do trên, đề tài "Đánh mức độ thích nghỉ của cây chè trên địa bàn huyện Anh Sơn " nhằm mục đích đó
Trang 22 Mục đích nghiên cứu
Phát triển kinh tế tại các vùng miền núi đang là một trong những định hướng phát triển kinh tế của nước ta trong những năm tới Chính vì vậy Đảng, nhà nước ta đang khuyến khích sản xuất nông sản tập trung nhằm đạt hiệu quả cao trong sản xuất Mục đích chính của đề tài là đánh giá mức độ thích nghi của cây chè đối với đặc điểm địa lý của huyện Anh Sơn - tỉnh Nghệ An Làm cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp phát triển vùng chè cây công nghiệp
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện đề tài "Đánh giá mức độ thích nghi của cây chè trên địa bài
huyện Anh Sơn" cần thực hiện được các nhiệm vụ sau:
- Cần nắm vững lý thuyết đánh giá thích nghỉ sinh thái Đây là cơ sở quan trọng áp dụng đánh giá thích nghi của một loại cây trên một lãnh thổ cụ thé
- Đề tài cũng cần phái làm rõ được đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội
cả vùng đánh giá (cụ thể là địa bàn huyện Anh Sơn) là cơ sở khoa học phục vụ cho quá trình đánh giá
- Cần phải nắm vững nhu cầu sinh thái của cây chè, là yếu tố quyết định tới công việc đánh giá Dựa vào các đặc điểm sinh thái của cây chè để xây dựng hệ thống chỉ tiêu, từ đó làm cơ sở khoa học cho việc đánh giá và lựa chọn các địa
tổng thể phù hợp cho việc trồng cây chè
4 Quan điểm nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Tất cả các hợp phần trong bất kì lãnh thổ nào cũng không đứng độc lập, tác rời
nhau, mà giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau Mỗi thành phần vận động
và phát triển không ngừng theo quy luật phát triển riêng Để đảm bảo phát triển
và đảm bảo cân bằng nội bộ của chúng Sự phát triển của mỗi loại cây công nghiệp đều chịa ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng Mỗi vùng khác nhau đều có một đặc điểm, đặc trưng khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hôi Chính sự khác nhau đó là nguyên nhân dẫn tới sự phân bố
Trang 3của các loại cây từ sự phân tích đặc tính thích nghỉ, hiệu quá kinh tế, môi trường của mỗi loại cây đối với từng vùng để có kế hoạch, đề ra định hướng phát triển của cây chè trên địa bàn huyện Cụ thể ở huyện Anh Sơn, một vùng đất đã có lịch sử trồng chè lâu đời dựa trên ý thức tự phát và kinh nghiệm, nay
cần được nghiên cứu đầy đủ, đưa ra các luận chứng khoa học để phát triển cây
chè trên quy mô lớn
Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin: phương pháp này được vận dụng
để phân tich, tổng hợp, đánh giá và xử lý các số liệu, các tài liệu thu thập được
để thấy được tiềm năng phát triển của cây chè trong các địa phương ở trên địa bàn huyện, nghiên cứu định hướng phát triển kinh tế xã hội của huyện Anh Sơn thông qua các văn kiện, báo cáo, niên giám thống kê, đề xuất định hướng phát
triển cây chè, nghiên cứu đặc tính của cây chè để đề xuất các giải pháp, biện pháp kỹ thuật trồng chè
5 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài có 3 phần chính
- Chương l1: cơ sở lý luận đánh giá thích nghi sinh thái cảnh quan
- Chương 2: điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Anh Sơn Các chỉ tiêu sinh thái của cây chè
- Chương 3:đánh giá thích nghỉ sinh thái của cây chè đối với điều kiện tự nhiên của huyện Anh Sơn
Trang 4CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐÁNH GIÁ THÍCH NGHI SINH THÁI
CẢNH QUAN
1.1 Các khái niệm
1.1.1.Quan niệm về cảnh quan
Một số quan niệm của các nhà cảnh quan học trên thế giới
Bergo : Cảnh quan địa lý là một tập hợp hay nhóm các sự vật, hiện tượng, trong đó đặc biệt là địa hình, khí hậu, nước, đất, lớp phủ thực vật và giới động
vật cũng như hoạt động của con người hòa trộn với nhau vào một hệ thống nhất
hòa hợp, lặp đi lặp lại một cách điển hình trên đới nhất định nào đó của trái dat
AG Ixatsenko : Cảnh quan là một địa tổng thể thống nhất về mạt phát sinh, đồng nhất về mặt phát sinh, đồng nhất về các dấu hiệu địa đới và phi địa đới, bao gồm đặc trưng của hệ địa liên kết bậc thấp
X.V Kalenik : Cảnh quan địa lý là một bộ phận của bộ phận trái đất, về mặt
định tính, khác hẳn với các bộ phận khác, được bao bọc bởi ranh giới tự nhiên
và là tập hợp các đối tượng, hiện tượng tác động lẫn nhau một cách có quy luật
và thống nhất trong bản thân nó, được biểu hiện một cách điển hình trên không gian rộng lớn và có quan hệ không tách rời về mọi mặt với lớp vỏ địa lý
Như vậy : Cảnh quan là địa tổng thể được tạo nên bởi sự tác động tương hỗ, có
quy luật của các nhân tố tự nhiên và tác động của con người
1.1.2 Các nhân tố thành tạo cảnh quan
Nền rắn của cảnh quan : mỗi cảnh quan có một nền địa chất đồng nhất về cầu trúc địa chất, thành phần nham thạch và thế nằm của đá Nền địa chất trong thành tạo cảnh quan thành những đơn vị hình thái Sự biến động, diễn biến phức tạp của địa hình, nham thạch, đá mẹ và quá trình hình thành thổ nhưỡng
Khí hậu : Những đặc trưng khí hậu với đặc điểm vị trí , sự phân hóa địa hình
thể hiện rõ nét đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa của cảnh quan nước ta, các
Trang 5quá trình trao đối vật chất năng lượng trong cảnh quan sẽ có những đặc trưng
của khí hậu bao trùm lên đó
Thủy văn : Các quá trình thủy văn tham gia vào quá trình trao đối vật chất năng lượng giữa các lớp Loại cảnh quan và trên toàn hệ thống, nó đảm bảo sự cân bằng vật chất và năng lượng của hệ thống đó làm cho hệ thống đó có những
đặc trưng riêng Trong chừng mực nào đó Về lâu dài quá trình này có thể thay
đổi các loại cảnh quan
Thổ nhưỡng : đất là nhân tố thê hiện rõ tương tác giữa nhân tố địa đới và phi địa đới Đặc điểm phân hóa thổ nhưỡng được xem xét trong việc phân chia các cấp phân vị cánh quan, đặc điểm là các loại đất hình thành trên các đá mẹ khác nhau
Sinh vật : là dấu hiệu phân loại rõ nhất và là nhân tố dễ biến đổi nhất của cảnh
quan Các kiểu thám (sinh quần) là hạt nhân của các phụ kiểu cảnh quan
1.2 Đánh giá cảnh quan
1.2.1 Lý luận chung về đánh giá cảnh quan
Đánh giá cảnh quan: là việc so sánh các địa tổng thể (với sự phân hóa cảnh quan) với yêu cầu hoạt động sử dụng cảnh quan Đánh giá cảnh quan có vai trò quan trọng trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Là vị trí trung gian giữa điều tra co bản và quy hoạch lãnh thé
Nội dung của việc đánh giá cảnh quan là phục vụ cho các ngành nông nghiệp, nông nghiệp, nhằm quy hoạch rừng đầu nguồn và các cảnh quan chung Các nội dung đánh giá cảnh quan bao gồm:
- Đánh giá thích nghi sinh thái cảnh quan
- Đánh giá kinh tế cảnh quan
- Đánh giá bền vững môi trường
- Đánh giá bền vững về mặt xã hội
Trang 61.2.2 Đánh giá thích nghỉ sinh thái
Đánh giá thích nghỉ sinh thái là việc đánh giá các đặc điểm của địa tổng
thể (cảnh quan) So sánh chúng với yêu cầu sinh thái của cây trồng và lựa chọn
những địa tổng thê hù hợp (thuận lợi) với đối tượng sử dụng Địa tổng thể không
những là phức hợp trong đó xảy ra tương hỗ giữa các bộ phận cấu thành mà còn
là không gian cho quá trình phát sinh phát triển của địa tổng thể, diễn ra quá
trình trao đổi vật chất năng lượng làm thay đổi hoặc biến đổi địa tổng thể theo
thời gian
Để đánh giá thích nghỉ sinh thái cảnh quan cần phải đám bảo những yêu cầu sau
- Đặc tính của địa tổng thé, các bộ phận cầu thành nên các địa tổng thể và mối
quan hệ giữa các thành phần đó với nhau
- Yêu cầu sinh thái của đối tượng cần đánh giá, các chỉ tiêu sinh thái mà đối
tượng sinh thái can dé sinh trưởng và phát triển tốt trong các địa tổng thé
Nghiên cứu cảnh quan tại địa tổng thể và nhu cầu sinh thái của đối tượng chính
là xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá
1.2.3 Đánh giá kinh tễ cảnh quan
Đánh giá kinh tế cảnh quan là xác định hiệu quả kinh tế trên một đơn vị sử
dụng cảnh quan (/ha) Tiến hành bằng những cách khác nhau, trong đó phương
pháp phân tích chỉ phí và lợi ích được sử dụng phổ biến và hiệu quả nhất Mội chi phí hoạt động cảnh quan và thu lại từ cảnh quan (hệ thống) từ đó lựa chọn sử dụng cảnh quan
Các chỉ phí bỏ ra và chỉ phí thu được đều đưa về tiền tệ, trong đánh giá cần lưu
ý thị trường bền vững và khoảng cách giao thông, cơ sở hạ tầng để lưu thông
hàng hóa Đầu vào bao gồm các thông tin về chi phi bỏ ra đầu tư canh quan , loi ích mà các hoạt động sử dụng cảnh quan có thể mang lại Trong đó cần lưu ý
nhất là tính toán đầy đủ các chi phí có thể phải đầu tư và phát sinh trong sử dụng
cảnh quan, đặc biệt chỉ phí bỏ ra cho việc lưu thông sản phẩm, lợi ích thu về
Trang 7tính tất cả các loại thu thập mà hoạt động sử dụng cảnh quan thu được: sản phẩm chính sản phẩm phụ
1.2.4 Đánh giá bền vững môi trường
Đánh giá bền vững môi trường là đánh giá hoạt động sử đụng cảnh quan có thể
tác động như thế nào? Nếu tác động xấu thì có thẻ khắc phục được đến mức nào
của cảnh quan Đồng thời xác định khả năng chịu tải của môi trường và mức độ bền vững của cảnh quan đối với các hoạt động này
Nội dung của việc đán giá: xác định nguy cơ gây ô nhiễm, suuy thoái tài nguyên và khả năng cải thiện môi trường Xác định mức độ chịu tải của môi trường và độ bền vững của cảnh quan chống lại các hiện tượng cực đoan như cói mòn đất, khô hạn, lũ lut
1.2.5 Đánh giá mức độ bén vững của xã hội
Trong đánh giá cảnh quan tính đến độ bền vững của về mặt xã hội cần được
xem xét, phân tích ở trên các khía cạnh: truyền thống, tập quán canh tác, khả năng tiếp thu kinh tế - xã hội của cộng đồng với định hướng phát triển của nhà nước Bên cạnh đó, khi đánh giá độ bền vững xã hội chúng ta cần càn lưu ý đến các chỉ tiêu mức sống người dân như thu nhập, giáo duc, y tế, sưc khỏe trong vùng mà mà tác động cảnh quan tác động tới Cho phép các nhà quản lý, nhà hoach định chính sách lựa chọn các phương án hù hợp để đầu tư phát triển kinh
tế ở địa phương
1.2.6 Quy trình đánh giá thích nghỉ sinh thái cảnh quan
Để đánh giá thích nghỉ sinh thái cảnh quan cần thực hiện các bước sau:
Bước 1: nghiên cứu đặc tính của địa tông thé, và nhu cầu sinh thái của đối tượng Bước 2: xây dựng hệ thống chỉ tiêu
Bước 3: Đánh giá thành phằn(dựa vào nhu cầu sinh thái để đánh giá)
Bước 4: Đánh giá tổng hợp
Bước 5: Đánh giá tổng hợp
Bước 6: Kiểm nghiệm thực tế
Trang 8CHƯƠNG II: DIEU KIEN TU NHIEN, KINH TE XA HOI CUA HUYEN
ANH SON CAC CHi TIEU SINH THAI CUA CAY CHE
2.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Anh Sơn
- Vi tri dia ly
Anh Sơn là huyện miền miền núi thấp nằm về phía Tây tinh Nghệ An Tọa độ dia ly 18046’ dén 19010’ Vi độ Bắc, 104055° — 105015” kinh độ Đông Diện tích đất tự nhiên toàn huyện năm 2010: 603,328,50 ha, xếp thứ 11 trong 20
huyện, thành phó, thị xã trong tỉnh Với 21 đơn vị hành chính cấp xã ( 01 thị trấn
và 20 xã) Hiện nay đang quy hoạch xây dựng 2 thị trấn: Tri Lễ và Cây Chanh Ranh giới hành chính của huyện được xác định như sau: Phía Bắc giáp huyện Tân Kỳ và huyện Quỳ Hợp, Phía Nam giáp huyện Thanh Chương,Phía Đông giáp huyện Đô Lương, Phía Tây giáp huyện Con Cuông và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Huyện Anh Sơn cách thành phố Vinh khoảng 100 km về phía Bắc, trên địa
bàn huyện có 2 tuyến đường giao thông chính là Quốc lộ 7 chạy qua theo hướng
từ Đông sang Tây, đường Hồ Chí Minh chạy từ Bắc vào Nam Có sông Lam, sông Con, sông Giăng chảy qua với bãi sông lớn nhất Tỉnh đã tạo điều kiện
thuận lợi cơ bản cho huyện trong việc mở rộng giao lưu phát triển kinh tế - xã hội với các địa phương khác trong tỉnh và ngoài tỉnh
-_ Địa chất, khoáng sản
Địa chất của huyện Anh Sơn nằm trong hệ tầng sông Cả, cso dạng bên ngoài
rất đặc trưng và dễ nhận biết trong các vùng phân bố khác nhau của nó Đây là
một hệ thống biến vị phức tạp, chủ yếu là lục nguyên có đạng bên ngoài khá đơn
điệu Trong một vài phần mặt cắt của hệ tằng có dạng flis biểu hiện rất rõ ràng
Các phần dưới của mặt cắt địa chất chủ yếu là đá phiến, giữa chúng thường gặp
là các lớp kẹp cát kết mỏng Đá phiến cơ bản là đá phiến sét, thường là đá flis
Trang 9màu xám, xám lục, xám đen Trong đá có một số lượng nhỏ hỗn hợp vật liệu
silic cacbonat và than Ở nhiều điểm lộ đá phiến bị biến vị mãnh liệt, thường bị
vi uốn nếp Trong các vùng phân phiến mạch theo mạch phân phiến phát triển theo các mặt lãng bóng rất đặc trưng do thờ nứt gây ra
Ở các lớp cao hơn mặt cắt, hệ tầng dần có đặc tính đá phiến cát kết rất rõ
Trong thành phần của nó vai trò của lớp kẹp cát kết tăng lên, ở nhiều nơi cát kết
nay lan at ca phiến đá bảo tồn trong cát kết đưới đạng các lớp kẹp mỏng vỏ nhàu
mạnh và vi uốn nếp
Trong phần tiếp theo trên mặt cắt xuất hiện đá vôi phân lớp màu đen, thường chứa sét va than, xen lẫn các tầng đá phiến sét khắp nơi các đá bị vi uốn nếp vò nhàu và bị băm nát bởi vô số các khẽ nứt nhỏ chứa mạch canxit
Chiều dày địa chất của hệ tầng sông Cả rất lớn có thể vượt quá 4000 - 5000m
Trong các đá hệ tầng không phát hiện được hóa thạch bởi vì vậy vấn đề tuổi của
hệ tầng này vẫn chưa được giải quyết
Tài nguyên khoáng sản chủ yếu là Đá vôi có diện tích: 1500ha, trữ lượng 361,4 triệu m3,ược phân bố ở các xã như: Thọ Sơn, Đỉnh Sơn, Hội Sơn, Tường Sơn, Hoa Sơn, Phúc Sơn, Long Sơn Trong đó đá có khả năng sản xuất xi măng
ở xã Long Sơn, Hội Sơn khoảng 33 triệu m 3 Đá có khả năng sản xuất gạch ốp
lát phục vụ xuất khẩu như ở: Hội Sơn, Hoa Sơn, Cẩm Sơn diện tích khoảng 20
ha, trữ lượng khoảng 3 đến 4 triệu m3
* Mỏ phốt pho rích: Ở các xã Tường Sơn, Thọ Sơn, hàm lượng P2O5 = 8 — 16
Trang 10khoảng 200 ha được phân bố trên các xã Cẩm Sơn, Hội Sơn, Long Sơn, Lĩnh Sơn, Phúc Sơn, Thạch Sơn
* Đất san lấp mặt bằng: Trữ lượng khoảng 0,6 triệu m3, phân bổ tập trung chủ yếu ở xã Lĩnh Sơn phục vụ nhu cầu trong việc san lấp mặt bằng xây dựng trên địa bàn toàn huyện
* Các loại khoáng sản khác như: Sắt, Mangan, chì, kẽm được phân bố trên địa bàn các xã Thọ Sơn khoảng 200 ha, Hoa Sơn, Hội Sơn khoảng 15 ha, Thạch Sơn, thị trấn Anh Sơn, Phúc Sơn khoảng 10 ha, và một số tiềm năng khoáng sản khác chưa được đánh giá thăm dò về trữ lượng
Địa chất của huyện Anh Sơn nằm trong hệ tầng sông Cả, cso dạng bên ngoài
rất đặc trưng va dễ nhận biết trong các vùng phân bố khác nhau của nó Đây là
một hệ thống biến vị phức tạp, chủ yếu là lục nguyên có dạng bên ngoài khá đơn
điệu Trong một vài phần mặt cắt của hệ tầng có dạng flis biểu hiện rất rõ ràng Các phần dưới của mặt cắt địa chất chủ yếu là đá phiến, giữa chúng thường gặp
là các lớp kẹp cát kết mỏng Đá phiến cơ bản là đá phiến sét, thường là đá flis màu xám, xám lục, xám đen Trong đá có một số lượng nhỏ hỗn hợp vật liệu
silic cacbonat và than Ở nhiều điểm lộ đá phiến bị biến vị mãnh liệt, thường bị
vi uốn nếp Trong các vùng phân phiến mạch theo mạch phân phiến phát triển theo các mặt lãng bóng rất đặc trưng do thờ nứt gây ra
Ở các lớp cao hơn mặt cắt, hệ tầng dần có đặc tính đá phiến cát kết rất rõ
Trong thành phần của nó vai trò của lớp kẹp cát kết tăng lên, ở nhiều nơi cát kết
nay lan át cả phiến đá bảo tồn trong cát kết đưới dạng các lớp kẹp mỏng vỏ nhàu
mạnh và vi uốn nếp
Trong phần tiếp theo trên mặt cắt xuất hiện đá vôi phân lớp màu đen, thường chứa sét va than, xen lẫn các tầng đá phiến sét khắp nơi các đá bị vi uốn nếp vò nhàu và bị băm nát bởi vô số các khẽ nứt nhỏ chứa mạch canxit
Trang 11Chiều dày địa chất của hệ tầng sông Cá rất lớn có thể vượt quá 4000 - 5000m
Trong các đá hệ tầng không phát hiện được hóa thạch bởi vì vậy vấn đề tuổi của
hệ tầng này vẫn chưa được giải quyết
- Địa hình
Anh Sơn nằm ở phía Tây Nam tỉnh Nghệ An, nằm ở rìa ngoài của miền Tây Bắc Trong hệ thống các miền tự nhiên Việt Nam đang được nâng cấp lên tiếp giáp với các miền sụt võng là các đồng bằng châu thổ nên có độ cao không đáng
kể
Địa hình Anh Sơn chủ yếu là dạng địa hình núi thấp có xen các mặt bằng nhỏ hai bên cao dốc dần vào phía sông Lam Địa hình chia cắt bởi ba con sông lớn: sông Con, sông Lam, sông Giăng và các khe suối khá dày đặc Có thể phân ra làm ba dạng địa hình chính đồng bằng ven sông, dạng đôi và dạng núi thấp + Đồng bằng ven sông
Chủ yếu nằm chủ yếu ở hai bên đọc theo sông Lam ở độ cao khoảng 30 - 40m (bao gồm các xã Tam Sơn, Thạch Sơn, Vĩnh Sơn ), chiếm khoảng 14% diện tích tự nhiên, có khoảng 30% loại đất này bị ngập lụt hằng năm (bãi bồi ven sông) còn lại ít bị ngập lụt hoặc không bị ngập lụt Vùng này chủ yếu trồng lúa, cây công nghiệp ngắn ngày và các loại rau màu khác
dé phát triển cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả, mía đồi, trồng cây lâm nghiệp
+ Địa hình dạng núi
Trang 12Chủ yếu ở dạng núi thấp ở độ cao từ 300 - 500m, chiếm khoảng 26% diện tích
tự nhiên Tập trung chủ yếu ở phía Bắc của huyện (gồm các huyện Thành Sơn, Thọ Sơn, Đinh Sơn ) phía Tây Nam (xã Phúc Sơn) Những đỉnh cao nhất ở Thành Sơn là 400m, Phúc Sơn cao nhất là đỉnh Cao Vều 1200m, dạng địa hình
này chỉ sử dụng mục đích lâm nghiệp
+ Nhiệt độ không khí bình quân hằng năm: 24°C
+ Nhiệt độ không khí cao nhất: 42,5°C (tháng 7)
+ Nhiệt độ không khí thấp nhất:4,§ °C (tháng 1)
- Độ âm không khí
Độ 4m không khí trung bình là 87% cao nhất là vào các tháng 12, 1, 2 khoảng 89%, thấp nhất vào tháng 6,7 khoảng 60%
- Lượng nước bốc hơi
+ Tổng lượng nước bốc hơi trung bình hằng năm là: 1000 - 1100 mm
+ Tổng lượng nước bốc hơi cao nhất là: 172.2 mm
+ Tổng lượng nước bốc hơi thấp nhất là: 28,8 mm
- Lượng mưa
Lượng mưa trung bình hằng năm 1800 - 1900mm
Lượng mưa phân bố không đều theo không gian và thời gian, lượng mưa tập trung chủ yếu tập trung chủ yếu vào tháng 8 tháng 9 chiếm khoảng 75 - 80% lượng mưa cả năm Tháng có lượng mưa ít là tháng 2, tháng 3, tháng 7
- Nẵng
Trang 13Số giờ nắng trong năm:168§ giờ Các tháng nắng nhiều là tháng 5, tháng 6, tháng 7 bình quân khoảng 7 - 8 giờ/ngày Tháng nắng ít nhất là tháng 2 bình quân khoảng 1,6 giờ/ ngày thường có mưa phùn
- Gió
Trên địa bàn huyện có hai hướng gió chính
+ Gió Tây - Nam (gió Lào) bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 8 Tập trung cao nhất là vào tháng 5, tháng 6 Đây là loại gió đặc trưng của huyện Anh Sơn
nói riêng và khu vực Bắc Miễn Trung nói chung, gây khô nóng ảnh hưởng xấu tới đời sống và sức khỏe con người
+ Gió mùa Đông Bắc: từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau gây mưa phùn và rét, thỉnh thoảng có xuất hiện sương mù, sương muối gây ảnh hưởng bắt lợi đến sức khỏe, đời sống của con người và một số loại cây trồng
- Thủy văn
+ Nguôn nước mặt
Chế độ thủy văn của huyện Anh Sơn chịu ảnh hưởng chính từ các con sông:
Sông Lam: Đây là sông lớn nhất trên địa bàn huyện Anh Sơn, chia địa bàn
huyện Anh Sơn thành 2 phần Chiều dài của đoạn sông chảy qua địa bàn huyện
là 47km, chảy theo hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, diện tích lưu vực sông
là 17730km?
lưu lượng trung bình hằng năm dat 688 m°/s, lưu lượng nước lớn nhất bình quân
là 2260 m3⁄s đo được tại trạm cửa rào Đây là tuyến đường thủy cực kì quan trọng và duy nhất dé nối nước bạn là với Nghệ An và thông ra biển Đông
Sông Con: sông Con là phụ lưu của của sông Lam, chiều đài đoạn sông chảy qua địa bàn huyện là 20km chảy qua địa bàn các xã Bình Sơn, Thành Sơn và Dinh Sơn diện tích lưu vực sông là 5340 km? lưu lượng nước bình quân 1a 141 m?/s, m6 - đun dòng chảy là 25,4 I/s/ km2
Trang 14Sông Giăng: sông Giăng cũng là một phụ lưu của sông Lam, ciều dài của sông đoạn chảy qua địa bàn là 13km, chảy qua địa bàn các xã Phúc Sơn, và Hội Sơn Diện tích lưu vực sông là 1050 km2, tổng lượng nước trong lưu vực sông lên đến 21,90 km3, ứng với lưu lượng bình quân nhiều năm là 688 m°/s và mô đun dòng chảy là 25,3 I/s/ km2 Lòng sông nhỏ, hẹp, khả năng vận tải gặ nhiều khó khăn
Ngoài 3 sông chính trên, địa bàn huyện Anh Sơn còn có các sông suối nhỏ tạo thành mạng lưới lưu vực sông, bên cạnh đó Anh Sơn hiện có 72 hồ nước lớn
nhỏ Diện tích đất sông suối, mặt nước chuyên dùng của huyện theo thống kê
năm 2011 có 251069 ha, chiếm 4,16% diện tích đất tự nhiên
( Nguồn: xí nghiệp thủy lợi Anh Sơn)
Anh Sơn là huyện có nguồn nước mặt phong phú, thuận lợi cho cung cấp nước sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt Song nguồn nước phân bố không đồng đều giữa các vùng, các mùa, mực nước lại thấp so với độ cao của đồng ruộng, địa hình không bằng phẳng lại bị chia cắt lớn Vì vậy hiện tượng trong mùa nắng nóng, lũ lụt về mùa mưa vẫn xảy ra trên diện rộng Mùa lũ trùng với mùa mưa,
Trang 15luc tiểu mãn xuất hiện trước ngày 10 /5 muộn nhất là ngày 6/6 Lũ chính xuất hiện trước ngày 15/7 và muộn nhất là vào ngày 25/11 Thời gian lũ lớn nhất vào
khoảng 25/8 đến 2/10
+ Nguôn nước ngẫm
Tuy chưa có tài liệu điều tra chuyên ngành, tuy qua thực tế khai thác của người
dân cho thấy rằng: Nước ngầm phân bố khá rộng, chất lượng nước đảm bảo, có
khả năng khai thác theo kiểu công nghiệp
- Thổ nhưỡng
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Anh Sơn là 6029258 ha (năm 2010) bao gồm 2 hệ đất chính là đất feralit và đất phù sa
* Hệ đất feralit
Chiếm phần lớn diện tích đất của huyện, hệ đất này tương đối chua, có quá trình
rửa trôi, xói mòn mạnh Cấu tượng bền có kết vụn đá ong ở nhiều nơi Loại đất này thích hợp cho trồng rừng, trồng cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả, cây được liệu
- Dat feralit nâu vàng phát triển trên đất phù sa cổ
Diện tích 1993ha chiếm 3,28% tống diện tích đất tự nhiên và chiếm 3,6% tổng
diện tích các loại thổ nhưỡng có ở các xã: Thành Sơn, Bình Sơn (phân bố ở dãy đồi dọc sát sông Con)
Lớp phù sa, cuội có thể dày 2 - 3m, loại đất đồi có lý tính tốt, chất dinh dưỡng khá Hiện nay loại đất này đã được bồ trí hầu hết dân cư
- Đất feralit nâu đỏ phát triển trên đá vôi (Fv)
Diện tích 392ha có mặt ở dưới chân các núi đá vôi ở các xã như: Cẩm Sơn, Đỉnh
Sơn, và Thọ Sơn Đây là sản phẩm biến hóa của đá vôi Đất có cấu tượng tốt, khả năng giữ nước và giữ màu khá Đất có phản ứng chua, mùn trung bình, đạm
và kali giàu, lân khá
Trang 16Đây là loại đất khá tốt có thể trồng cây công nghiệp như chè, cà phê, cây ăn quả
và các loại cây rau màu khác Hiện nay loại đất này hầu hết đã được sử dung
- Dat feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét (Fs)
Diện tích 22015ha, chiếm 36,33% điện tích đất tự nhiên và chiếm 40,07%
tổng diện tích các loại thổ nhưỡng Phân bố ở tất cả các xã vùng của huyện
nhiều nhất ở các xã Cao Sơn, Khai Sơn, Phúc Sơn, Long Sơn đây là loại đất rất quan trọng, chứa đụng nhiều tiềm năng và thế mạnh của huyện Là loại đất có
diện tích lớn nhất và tương đối tốt về lý tính và hóa tính Đất có phản ứng chua (pH 4 - 5), đạm tổng số trung bình (0,08% - 0,1%) kali tổng số trung bình (0,1 -
0,15%), thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình, tầng đất trung bình hoặc dày
0 - 50cm Tuuy nhiên, một số nơi lâu nay sử dụng không hợp lý nên đã thoái hóa nghiêm trọng, bị xói mòn tầng đất mỏng
Đất này thích hợp cho trồng nhiều loại cây công nghiệp và cây ăn quả: Tầng đất dày có thê trồng cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả như cây chè, cà phê, cao su, cam, quýt tầng đất trung bình trồng chè đất ít dốc có thê trồng hoa màu
như mía, khoai sắn Tầng đất mỏng có thể trồng dứa, trồng rừng, trồng cỏ Đây là loại đất đã va sé 1a noi bé tri dan cu ở vùng đồi
- Dat feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét và đá biến chat (Fs +j)
Diện tích 12082ha chiếm 19,94 % tổng diện tích đất tự nhiên và chiếm 21,9%
diện tích các loại thổ nhưỡng phân bố ở vùng núi các xã Phúc Sơn, Cao Sơn Đất có phản ứng chua, tỷ lệ mùa tăng theo độ cao, thành phần cơ giới thịt nhẹ hoạc trung bình Đất giàu đạm nhưng nghèo lân, kali trung bình (pH 4.0 - 4.5,
đạm tổng số 0.1 - 0.2%, lân tổng số 0.03 -0.04%, kali tổng số 0.20 - 1.5%) Loại đất này tương đối tốt nhưng địa hình đốc và độ cao nên chủ yếu dành để
phát triển lâm nghiệp Hiện tại, phần lớn đang là đất tự nhiên
- Dat feralit vảng đỏ phát triển trên đá sa thạch (Fq)