Đánh giá hiệu quả kinh tế của cây chè trên địa bàn xã Phúc Xuân thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên.Đánh giá hiệu quả kinh tế của cây chè trên địa bàn xã Phúc Xuân thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên.Đánh giá hiệu quả kinh tế của cây chè trên địa bàn xã Phúc Xuân thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên.Đánh giá hiệu quả kinh tế của cây chè trên địa bàn xã Phúc Xuân thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên.Đánh giá hiệu quả kinh tế của cây chè trên địa bàn xã Phúc Xuân thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên.Đánh giá hiệu quả kinh tế của cây chè trên địa bàn xã Phúc Xuân thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên.Đánh giá hiệu quả kinh tế của cây chè trên địa bàn xã Phúc Xuân thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên.
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ VIỆT HƯNG
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÂY CHÈ TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ PHÚC XUÂN, TP THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
THÁI NGUYÊN – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ VIỆT HƯNG
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÂY CHÈ TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ PHÚC XUÂN, TP THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giảng viên hướng dẫn: PGS TS Đinh Ngọc Lan
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban lãnh đạo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Phát triển Nông thôn, các thầy giáo, cô giáo trong khoa Đặc biệt,
tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến cô giáo PGS,TS Đinh Ngọc Lan
người đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện khóa luận này
Để hoàn thành được khóa luận này, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Uỷ ban nhân dân xã Phúc Xuân, các hộ trồng chè ở các xóm Cây Thị, Giữa I và Giữa II đã cung cấp cho tôi những nguồn tư liệu hết sức quý báu Trong suốt quá trình nghiên cứu, tôi nhận được sự quan tâm, sự động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi về cả vật chất và tinh thần của gia đình
và bạn bè Thông qua đây, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến những tấm lòng và sự giúp đỡ quý báu đó
Trong quá trình hoàn thành khóa luận, tôi đã có nhiều cố gắng Tuy nhiên, khóa luận này không thể tránh khỏi những thiếu sót vì vậy, tôi kính mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các quý thầy cô giáo và các bạn sinh viên để khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Lê Việt Hƣng
Trang 4ii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Diện tích năng xuất sản lượng chè của một số nước trên thế giới 17
Bảng 2.2 Diện tích, năng xuất, sản lượng chè theo vùng 19
Bảng 2.3 Kim ngạch xuất khẩu chè Việt Nam 2009 – 2013 23
Bảng 3.1 Kết quả chọn mẫu nghiên cứu điều tra 3 xóm năm 2014 31
Bảng 4.1 Diện tích và cơ cấu sủ dụng đát của xã Phúc Xuân
Thài Nguyên năm 2012 – 2014 38
Bảng 4.2 Tình hình nhân khẩu và lao động xã
Phúc Xuân năm 2012-2014 39
Bảng 4.3 Diện tích năng suất sản lượng chè của xã
qua 3 năm 2012-2014 42
Bảng 4.4 Tình hình nhân lực sản xuất chè hộ nông dân năm 2014 44
Bảng 4.5 Phương tiện phục vụ sản xuất chè của các
hộ nông dân năm 2014 45
Bảng 4.6 Chi phí sản xuất bình quân cho 1 sào chè kinh doanh
trong năm 2014 46
Bảng 4.7 Chi phí sản xuất bình quân cho 1 sào chè của các nhóm
hộ điều tra năm 2014 49
Bảng 4.8 Kết quả sản xuất kinh doanh chè của các hộ điều tra tính bình quân /1 sào năm 2014 50
Bảng 4.9 Kết quả sản xuất kinh doanh chè cành của hộ điều tra
tính bình quân / 1 sào năm 2014 51
Bảng 4.10 Kết quả và hiệu quả sản xuất 1 sào chè của nhóm hộ điều
tra năm 2014 52
Trang 5HQKT : Hiệu quả kinh tế
UBDN : Ủy ban nhân dân
BVTV : Bảo vệ thực vật
FAO : Food and Agriculture Organization of the United Nations GO/ha : Tổng giá trị sản xuất/héc ta
VA/ha : Giá trị gia tăng/héc ta
GO/IC : Tổng giá trị sản xuất/Chi phí trung gian
VA/IC : Giá trị gia tăng/Chi phí trung gian
GO/lđ : Tổng giá trị sản xuất/lao động
VA/lđ : Giá trị gia tăng/lao động
TDMNBB : Trung du miền núi bắc bộ
ĐBSH : Đồng bằng sông Hồng
DHBTB : Duyên hải bắc trung bộ; ĐNB: Đông na bm bộ
DHNTB : Duyên hải nam trung bộ; TN: Tây Nguyên
Trang 6iv
MỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 3
2.1 Mục tiêu chung 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Ý nghĩa của đề tài 3
3.1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
3.2.Ý nghĩa thực tiễn 4
Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1.Cơ sở lý luận của đề tài 5
2.1.1.Cơ sở lý luận về phát triển cây chè 5
2.1.2.Các nhân tố ảnh hưởng tời việc sản xuất chè hiện nay 8
2.1.3.Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế 13
2.2.Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 16
2.2.1.Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới 16
2.2.2.Tình hình sản xuất và xuất khẩu chè ở Việt Nam 19
2.2.3.Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè ở Thái Nguyên 25
Phần III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 28
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 28
3.2 Câu hỏi nghiên cứu 28
3.3 Nội dung nghiên cứu 29
3.4 Phương pháp nghiên cứu 29
3.4.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu 29
3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin 29
Trang 7v
3.4.3 Phương pháp so sánh 32
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 32
3.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 33
3.5.1 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất của hộ 33
3.5.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất chè 34
Phần IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THẢO LUẬN 36
4.1 Tổng quan khu vực nghiên cứu 36
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 36
4.1.2 Dân số - dân tộc 39
4.1.3 Cơ sở hạ tầng 41
4.1.4 Thực trạng phát triển sản xuất chè xã Phúc Xuân – TP Thái Nguyên 42
4.2 Đặc điểm chung của hộ trồng chè 43
4.3 Chi phí sản xuất chè của hộ 45
4.4 Kết quả và thu nhập từ sản xuất kinh danh chè 50
4.5 Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất của các hộ điều tra 52
4.6 Một số khó khăn trong sản xuất chè của hộ sản xuất 53
4.7 Một số nhấn xét về tình hình sản phát triển sản xuất chè của hộ nông dân 53 Phần V ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG SẢN XUẤT SẢN PHẨM CHÈ CÀNH CHO XÃ PHÚC XUÂN
TP THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN 55
5.1 Một số định hường năng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè của xã 55
5.1.1 Quan điểm phát triển sản xuất chè ở Phúc Xuân 55
5.1.2 Định hướng phát triển sản xuất chè 55
5.1.3 Mục tiêu phát triển sản xuất chè 55
5.2 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của cây chè 56
5.2.1 Giải pháp về khoa học kỹ thuật 56
5.2.2 Giải pháp về quản lý và tổ chức sản xuất 57
5.2.3 Huy động nguồn lực và chính sách hỗ trợ đầu tư 57
5.2.4 Công tác tuyên truyền 57
Trang 8vi
5.2.5 Giải pháp bảo vệ môi trường 58
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
1 Kết luận 59
2 Kiến nghị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
I Tiếng Việt 62
II Tài liệu internet 62
Trang 9Việt Nam là một trong những nước có điều kiện tự nhiên rất thích hợp cho việc sinh trưởng phát triển cây chè Uống chè từ lâu đã là một nhu cầuthiết yếu đối với người dân nước ta, ngoài ra nó cũng là nét văn hoá truyềnthống của dân tộc Vì vậy, cây chè ở nước ta có lịch sử phát triển hàng nghìn năm Trồng chè tập trung chủ yếu ở hai vùng trọng điểm đó là vùng miền núi trung du phía Bắc và Tây Nguyên Sản phẩm chè không những đáp ứng nhucầu tiêu dùng trong nước mà còn là một mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn củanước ta hàng chục năm nay Ngoài ra, việc trồng chè còn giải quyết nhu cầuviệc làm cho người lao động ở nông thôn, miền núi, đem lại thu nhập cho người dân, xoá đói giảm nghèo ở nông thôn và miền núi, góp phần quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, đặcbiệt là nông nghiệp nông thôn vùng Trung du miền núi phía Bắc
Trang 102
Cây chè là một thế mạnh của khu vực trung du vùng núi phía Bắc, đặc biệt là chè Thái Nguyên Xưa nay, nói đến trà Việt người ta nghĩ ngay đến trà Thái Nguyên với hương vị chè đặc trưng mà không nơi nào có được Và chè Thái Nguyên đã được tôn vinh là “ Đệ nhât đệ nhất danh trà” của đất nước Chè Thái Nguyên nổi tiếng khắp gần xa, thực tế cho thấy những năm qua chè Thái Nguyên luôn được thị trường trong và ngoài nước chấp nhận Sản phẩm chè co giá trị xuất khẩu cao, nhu cầu tiêu thụ lớn Về môi trường chè có tác dụng phủ xanh đất trống đồi trọc, chống xói mòn đất, bảo vệ môi trường sinh thái Ngành chè là ngành sản xuất mũi nhọn của tỉnh hiện nay Trong tỉnh có rất nhiều vùng trồng chè như: Tân Cương, Phúc Xuân, Đại Từ, Phổ Yên…
Xã Phúc Xuân là một xã nằm ở phía Tây Bắc thành phố Thái Nguyên,
là nơi có rất nhiều làng nghề chè nổi tiếng như xóm Giữa 1, Khuôn Năm,xóm Cây Thị, hợp tác xã chè Tân Cương … nổi tiếng vời hương vị chè đặc sản của vùng đất Thái Nguyên Cây chè đã gắn bó vời người dân xã Phúc xuân từ những năm 50 của thế ky XX trải qua nhiều thăng trầm, nay được nông dân đánh giá là cây công nghiệp có giá trị nhất trong phát triển kinh tế hộ gia đình
có tính ổn định lâu dài và bền vững, tạo công ăn việc làm tại chỗ cho người dân địa phương Xã có địa hình chủ yếu là đồi núi thấp đặc trưng của vùng trung du, điều kiện nông hóa, thổ nhưỡng rất phù hợp cho cây chè phát triển Tuy nhiên sản phẩm chè của xã Phúc Xuân vẫn còn chưa có tính cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và nước ngoài, vẫn chưa xứng với tiềm năng của xã và còn nhiều vấn đề cần phải xem xét, giải quyết Đặc biệt, hiện vẫn cần một bức tranh tổng thể về hiệu quả kinh tế của cây chè so với những cây khác tại địa phương Xuất phát từ những thực tế trên em đã tiến hành thực hiện đề tài:
“Đánh giá hiệu quả kinh tế của cây chè trên địa bàn xã Phúc Xuân-
tp Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên”
Trang 113 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Có được cái nhìn tổng thể về thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế của cây chè Phúc Xuân,
- Củng cố kiến thức từ cơ sở đến chuyên ngành đã học trong trường, ứng dụng kiến thức đó và thực tiễn
- Nâng cao năng lực cũng như rèn luyện kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân, đòi hỏi sinh viên phải vận dụng nhiều kiến thức
đã học để đưa vào thực tế, các thủ thuật về xác xuất thống kê; kỹ năng đặt câu hỏi khai thác thông tin, các phương pháp PRA, khả năng nhận định theo các nguyên lý phát triên nông thôn, tổng hợp và đưa ra lý luận từ những vấn đề thực tiễn…
Trang 124
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Nắm bắt được tình hình hiệu quả kinh tế của cây chè trong sự phát triển kinh tế địa phương, thấy được giá trị kinh tế do cây trồng náy mang lại cho các hộ nông dân
- Giúp người dân có cơ sở để tiếp tục mở rộng sản xuất chè và đề ra phương hướng để nâng cao hiệu quả kinh tế của cây chè đem lại cho người dân trên địa bàn xã
Trang 135
Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Cơ sở lý luận về phát triển cây chè
2.1.1.1 Khái niệm về sản xuất
a Khái niệm về sản xuất
Kinh tế học có những cách tiếp cận khác nhau khi bàn về sản xuất
Theo cách tiếp cận của kinh tế chính trị Mác – Lê nin thì: “Sản xuất của cải
vật chất là cơ sở của đời sống xã hội loài người và là hoạt động cơ bản nhất trong tất cả các hoạt động của con người Sản xuất vật chất là sự tác động của con người vào tự nhiên, nhằm biến đổi nó cho phù hợp với nhu cầu của mình”[7]
Theo cách tiếp cận của kinh tế học cổ điển, kinh tế học tân cổ điển, hay kinh tế học vi mô, bàn về sản xuất với cách tiếp cận của chủ nghĩa cận biên
(marginalism) “Sản xuất là việc tạo ra hàng hóa và dịch vụ có thể trao đổi
được trên thị trường để đem lại cho người sản xuất càng nhiều lợi nhuận càng tốt” Cách tiếp cận này bàn luận nhiều hơn về các chủ thể như: chi phí
sản xuất, tối đa hóa lợi nhuận, tối thiểu hóa chi phí sản xuất, năng suất lao động cận biên, tỷ lệ thay thế kỹ thuật cận biên, v.v Khái niệm sản xuất trong
tài khoản quốc gia được định nghĩa như sau: “Sản xuất là quá trình sử dụng
lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị thể chế để chuyển những chi phí
là vật chất và dịch vụ được sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng cung cấp cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền”[9]
Tóm lại sản xuất là một quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết
bị để chuyển những chi phí là vật chất, dịch vụ thành sản phẩm vật chất và
Trang 146
dịch vụ khác Tất cả những hàng hóa và dịch vụ đó được sản xuất ra phải có khả bán trên thị trường có thu tiền hoặc không thu tiền Đối vời sản xuất nông nghiệp thì người sản xuất sử dụng sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động nông nghiệp nhằm tạo ra sản phẩm để sử dụng hoặc bán
b Khái niệm phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là quá trình thay đổi thay đổi theo hướng tiến bộ về mọi mặt của nền kinh tế, bao gồm sự thay đổi cả lượng và về chất, là quá trình hoàn thiện cả về kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia Phát triển kinh tế bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- Tăng trưởng kinh tế, thể hiện sự gia tăng tổng thu nhập của nền kinh
tế và thu nhập bình quân đầu người dài hạn
- Cơ cấu kinh tế - xã hội chuyển dịch theo hướng tiến bộ Đối với các nước đang phát triển, đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, đô thị hóa Đó không chỉ là quá trình thay đổi trong cơ cấu kinh tế theo ngành theo hướng tiến bộ, mà còn bao hàm việc mở rộng chủng loại và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, gia tăng hiệu quả
và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, tạo cơ sở cho việc đạt được tiến bộ xã hội một cách sâu rộng
- Là quá trình gia tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế, đặc biệt là năng lực khoa học và công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực của đất nước
- Nâng cao chất lượng cuộc sống của mọi người dân từ kết quả tăng trưởng
2.1.1.2 Tầm quan trọng của cây chè đối với đời sống con người
Cây chè là loại cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao Nó là loại cây trống có vị trí quan trọng trong đới sống sinh hoạt cũng như phát triển kinh tế, văn hóa của con người Chè có nhiều Vitamin giúp thanh lọc cơ thể, giải khát, có tác dụng giảm thiểu một số bệnh thường gặp về máu do đó chè đã trở thánh đồ uống phổ thông trên thế giới
Trang 157
Mặt khác, cây chè là loại cây trồng thích hợp với các vùng đất miền núi
và trung du, những vùng đất cao khô thoáng Hơn thế nữa nó còn gắn bó keo sơn ngay cả với những vùng đất đồi dốc khô cằn sỏi đá Chính vì vậy trồng chè không chỉ đem lại giái trị kinh tế cao mà nó còn góp phần bảo vệ môi trường, phủ xanh đất trống đồi trọc, tạo ra cảnh quan đẹp Kết hợp trồng chè với trồng rùng sẽ tạo nên những vành đai chống xói mòn, rửa trôi, giữ lại lớp đất màu mỡ cho đất, cải tạo đất tăng độ phì nhiêu cho đât bạc màu, góp phần bảo về môi trường giúp phát triển một nền nông nghiệp bền vững
Ngoài ra trồng chè và sản xuất chè còn cần một lực lượng lao động lớn, cho nên nó sẽ tạo ra công ăn việc làm cho nhiều lao động nhàn rỗi ở nông thôn, tạo điều kiện cho việc thu hút và sử dụng lao động, điều hòa lao động được hợp lý hơn Đồng thời nó còn tạo ra một lượng của cải vật chất lớn cho
xã hội, tăng thu nhập cho người dân, cải thiện mức sống của khu vực, tạo sự thay đổi lớn cho bộ mặt của khu vực nông thôn, nhất là giai đoạn đổi mời hiện nay, việc phát triển sản xuất chè góp phần đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông thôn , đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của khu vực nông thôn, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn Đồi với nước ta sản phẩm chè không chỉ thỏa mãn nhu cầu trong nước, mà còn là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng tạo ra nguộn thu ngoại tệ lớn, giúp nược ta có thêm nguồn ngân sách để đầu tư phát triển kinh tế của đất nước, cải thiện nâng cao mức sống của người dân
Hiện nay chè là loại cây có giá trị xuất khẩu cao ngoài ra tại thị trường trong nước hiện nay cũng đòi hỏi về chất lượng cây chè ngày càng cao Giúp phát triển sản xuất , đẩy mạnh tiêu thụ giúp tăng thu nhập cho người nông dân tại một số vùng miền núi do cơ sở vật chất còn thiếu thốn, kỹ thuật thô sơ Ngoài ra còn có tác dụng phủ xanh đất trống, đồi trọc, bảo vệ sinh thái môi trường Lực lượng lao động dồi dào, có kinh nghiệm trong việc thu hoạch,
Trang 168
góp phần tạo được việc làm cho phần đông người lao động chưa có việc làm
Do đó việc phát triển ngành chè trong những năm tời là rất khả thi
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tời việc sản xuất chè hiện nay
2.1.2.1 Nhóm điều kiện tự nhiên
+ Đất đai và địa hình: Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt đối với cây chè, nó là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng, chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm[1] Muốn chè có chất lượng cao và hương vị đặc biệt cần phải trồng chè ở độ cao nhất định Đa số những nơi trồng chè trên thế giới thường có độcao cách mặt biển từ 500 - 800m So với một số cây trồng khác, cây chè yêu cầu về đất không nghiêm ngặt Nhưng để cây sinh trưởng tốt, có tiềm năng năng suất cao thì đất trồng chè phải đạt yêu cầu: đất tốt, nhiều mùn, có độ sâu, chua và thoát nước Độ pH thích hợp là 4,5 - 6, đất phải có độ sâu ít nhất là 60cm, mực nước ngầm phải dưới 1 m Địa hình có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và chất lượng chè Chè trồng ở trên núi cao
có hương vị thơm và mùi vị tốt hơn vùng thấp, nhưng lại sinh trưởng kém hơn
ở vùng thấp
+ Thời tiết khí hậu: Cùng với địa hình, đất đai, các yếu tố: nhiệt độ, ẩm
độ trong không khí, lượng mưa, thời gian chiếu sáng và sự thay đổi mù đều ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, sản lượng và chất lượng chè Cây chè bắt đầu sinh trưởng được ở nhiệt độ >100C Nhiệt độ trung bình hàng năm đểcây chè sinh trưởng và phát triển bình thường là 12,50C, cây chè sinh trưởng và phát triển tốt nhất trong điều kiện nhiệt độ từ 15 - 230C Mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, mùa xuân cây chè sinh trưởng trở lại Cây chè yêu cầu lượng tích nhiệt hàng năm từ 3000 – 40000C Nhiệt độ quá cao và quá thấp đều ảnh hưởng đến việc tích luỹ tanin trong chè, nếu nhiệt độ vượt quá 350C liên tục kéo dài sẽ dẫn đến cháy lá chè Nhiệt độ thấp kết hợp với khô hạn là nguyên nhân hình thành nhiều búp mù Cây chè tiến hành quang
Trang 179
hợp tốt nhất trong điều kiện ánh sáng tán xạ, ánh sáng trực xạ trong điều kiện nhiệt độ không khí cao không có lợi cho quang hợp và sinh trưởng của chè Tuỳ theo giống và tuổi của chè mà yêu cầu ánh sáng cũng khác nhau Thời kỳ cây con, giống chè lá to yêu cầu ánh sáng ít hơn trong thời kỳ cây trưởng thành và giống lá chè nhỏ Do cây chè là cây thu hoạch lấy búp non và lá non nên cây ưa ẩm, cần nhiều nước Yêu cầu lượng mưa bình quân trong năm khoảng 1.500 mm và phân bố đều trong các tháng Lượng mưa và phân bố lượng mưa ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng và thu hoạch của cây chè Cây chè yêu cầu độ ẩm cao trong suốt thời kỳ sinh trưởng là khoảng 85% Ở nước ta các vùng trồng chè có điều kiện thích hợp nhất cho cây chè phát triển cho năng suất và chất lượng cao vào các tháng 5, 6, 7, 8, 9 và 10 trong năm
1.1.2.2 Nhóm nhân thố về kỹ thuật
+ Ảnh hưởng của giống chè: chè là loại cây trồng có chu kỳ sản xuất từ
30 – 40 năm, giống chè tốt có ý nghĩa cực kỳ quan trọng với việc sản xuất Giống chè ảnh hưởng tới năng suất búp, chất lượng nguyên liệu do đó cũng ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm chè, đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và tính cạnh tranh trên thi trường, Giống chè là giống có nâng xuất cao, chất lượng tốt, chống chịu được điều kiện khắc nghiệt và sâu bệnh, nguyên liệu phù hợp để chế biến các mặt hàng có hiệu quả kinh tế cao Cùng vời giống tốt trong sản xuất kinh doanh giống chè cần một số cơ cấu giống hợp
lý, việc chọn tạo giống chè là rất quan trọng trong công tác giống Ở Việt Nam đã chọn, tạo được rất nhiều giống chè tốt bắng phương pháp chọn lọc cá thể như: PH1, TRI777, 1A, TH3, đây là một số giống chè khá tốt, tập trung được nhiều ưu điểm, cho năng suất và chất lượng búp cao, đã và đang được
sử dụng nhiều, trồng trên diện tích rộng, bổ sung cơ cấu giống và thay thế các giống chè cũ trên các nương chè cằn cỗi
Bên cạnh đặc tính của giống chè, phương pháp nhân giống cũng ảnh hưởng trục tiếp tới chè nguyên liệu Hiện nay có 2 phương pháp chủ yếu la
Trang 1810
trồng bằng hạt và bằng cành giâm, Đặc biệt phương pháp trồng chè cành đến nay được phổ biến rộng rãi và dần dần trở thành biện pháp chủ yếu trên thế giới cũng như ở Việt Nam
+ Áp dụng khoa học kỹ thuật
- Tủ cỏ rác và tưới nước: Tủ cỏ rác tăng năng suất chè 30 – 50% do giữ được ẩm, tăng lượng mùn và các chất dễ tiêu trong đất Chè là cây ưa nước trong búp chè có hàm lượng nước lớn, song chè rất sợ úng và không chịu úng, chè gặp khô hạn sẽ bị cằn cỗi, hạn chế việc hút chất dinh dưỡng từ
đất, khô hạn lâu ngày sẽ làm giảm sản lượng thậm chí còn làm chết cây
- Để có năng suất cao cần phải đảm bảo mật độ trồng chè cho thích hợp Mật độ trồng chè tùy thuộc vào giống chè, độ dốc, điều kiện cơ giới hóa Nhìn chung túy điều kiện mà ta bố trí mật độ chè khác nhau, nếu mật độ quá thưa hoặc quá dày thí sẽ làm cho năng suất sản lượng thấp, lâu khép tán, không tận dụng được đất đai, không chống được sói mòn và cỏ dại Vì vậy cần phải bố trì mật độ chè sao cho hợp lý Qua thực tế cho thấy, mật độ vườn đảm bảo từ 18nghin đến 20nghin cây / ha thì sẽ cho năng suất và chất lượng
tốt, chi phí phải đầu tư tính cho một sản phẩm đạt mức thấp nhất
- Đốn chè: Đốn chè cũng ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng và chất lượng chè, đốn chè là cắt đi đỉnh ngọn của cành chè, ức chế ưu thế sinh trưởng đỉnh và kích thích các trồi ngủ, trồi nách mọc thành lá, cành non mới tạo ra một bộ khung tán khỏe mạnh, làm cho cây luôn ở trạng thái sinh trưởng dinh dưỡng, hạn chế việc ra hoa kết quả có lợi cho việc ra lá, kích thích sinh trưởng búp non, táng mật độ búp và trọng lượng búp, tạo bộ khung tán có nhiều búp, vứa tầm hái, tăng hiệu suất lao động, cắt bỏ những cành già tăm hương, bí sâu bệnh, thay bằng những cành non mới sung sức hơn giữ cho cây
chè có bộ lá thích hợp để quang hợp[3]
- Bón phân: Bón phân cho chè nhất là chè kinh doanh là một biện pháp
kỹ thuật quan trọng quyết định trực tiếp tới năng suất và chất lượng búp chè,
Trang 19- Che nắng: Theo các chuyên gia về chè, nếu thời tiết khô hạn kéo dài thì cây bóng mát được trồng 170- 230 cây/ha che phủ được 20 – 30% diện tích thì độ ẩm sẽ cao[1] Qua nghiên cứu về tác động của ánh sáng tới cây chè
và quang hợp tốt nhất trong điều kiện ánh sáng tán xạ
+ Ánh hưởng của công nghệ thu hài và chế biến chè
- Hái chè:Thời điểm, thời gian và phương thức hái có ảnh hưởng đến chất lượng chè nguyên liệu, hái chè gồm một tôm hai lá là nguyên liệu tốt cho chế biến chè, vì trong đó chứa hàm lượng Polyphenol và Caphein cao, nếu hái quá già thì không những chất lượng chè giảm mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây chè
- Vận chuyển và bảo quản nguyên liệu: Nguyên liệu chè sau khi thu hái
có thể đưa thẳng vào chế biến, có thể để một thời gian nhưng không quá 10h
do nhà máy chế biến ở xa hoặc công suất máy thấp Do vậy khi thu hái không
để dập nát búp chè
- Công nghệ chế biến: Tùy thuộc vào mục đích của phương án sản phẩm mà ta có các quy trình công nghệ chế biến phù hợp với từng nguyên liệu đầu vào, nhìn chung quá trình chế biến gòm hai giai đoạn sơ chế và tinh chế thành phẩm
2.1.2.3 Nhóm nhân tố về điều kiện kinh tế xã hội
Sản xuất chè chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện kinh tế xã hội, cụ thể là
cơ sở hạ tầng, hệ thống đi lại, hệ thống điện, hế thống tưới tiêu, khâu tiêu thụ
Trang 2012
sản phẩm và đặc biệt là xây dựng các nhà máy, các cơ sở hiện đại chế biến chè Các vấn đề về nhân công lao động, các chính sách đầu tư khuyến khích phát triển, các chính sách vĩ mô của nhà nước cho chè đều có tác dụng cho sự phát triển của cây chè Ngoài ra kinh nghiệm và truyền thống sản xuất còn ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng của sản phẩm chè Nếu các vấn đề trên được giải quyết triệt để sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất phát triển
+ Thị trường: Thị trường là yếu tố quan trọng và có tính quyết định đến
sự tồn tại của cơ sở sản xuất kinh doanh chè, của các đơn vị sản xuất trong nền kinh tế thị trường Thị trường đóng vai trò là khâu trung gian nồi giữa sản xuất và tiêu dùng[10]
Ngành chè có ưu thế hơn một số ngành khác, bởi sản phẩm của nó sử dụng khá phổ biến trong nước cũng như quốc tế Nhu cầu về mặt hàng này khá lớn và tương đối ổn định Hơn nữa chè không phải là sản phẩm tươi sống, sau khi chế biến có thể bảo quản lâu dài, chè mang tính thời vụ cũng ít gắt gao hơn các loại câyăn quả khác Chính nhờ ưu diểm trên dễ tạo ra thị trường khá
ổn định và vững chắc, là điều kiện, là nền táng để kích thích, thúc đẩy sự phát triển ngành chè
+ Giá cả: Đối với ngườ sản xuất nông nghiệp nói chung, đối với người
trồng chè nói riêng, thì sự quan tâm hàng đầu là giá chè ( giá chè búp tươi và giá chè búp khô ) trên thị trường; giá cả không ổn định ảnh hưởng tới tâm lý người trồng chè
Có thể nói sự biến động của thị trường ảnh hưởng trục tiếp tới đời sống của người sản xuất nói chung,cũng như người làm ngành chè nói riêng Do đó việc ổn định thị trường, ổn định giá cả là hết sức cần thiết cho sự phát triển lâu dài của ngành chè
+ Yếu tố lao động: Nhân tố lao động luôn là yếu tố quyết định trong sản
xuất, trong sản xuất chè cũng vậy, yếu tố con người mang lại năng xuất, sản
Trang 2113
lượng, chất lượng cho chè Đề sản phẩm chè sản xuất có năng xuất cao, chất lượng tốt ngoài việc ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuất ra, cần phải có lao động có trình độ kỹ thuật, tay nghề cao trong 2 khâu sản xuất và chế biến
+ Hệ thống cơ sở chế biến: Sau khi hái được chè nguyên liệu ( chè búp
tươi ) người dân sẽ tiến hành chế biến, từ chè búp tươi tạo ra thành phẩm sau
đó mới đem ra thị trường
Ngoài yêu cầu về chất lượng chè nguyên liệu, thì công tác tổ chức,chế biến, quy trình chế biến cũng ảnh hưởng tới chất lượng chè thành phẩm Hạch toán được giá thành từ đó quyết định được mức giá bán trên thị trường sao cho phù hợp hiện nay ngành chè Việt Nam đang có những bước tiến đáng kể trong khâu chế biến, nhiều công ty, doanh nghiệp được thành lập, hay chuyển đổi thành các công ty cổ phần tham gia liên kết với nước ngoài đưa vào sử dụng những dây chuyền hiện đại, công suất lớn đã đáp ứng được phần nào yêu cầu của quá trình sản xuất chè
+ Hệ thống chính sách vĩ mô của nhà nước: Thành tựu về kinh tế của
Việt Nam hơn 10 năm qua là do nhiều nhân tố tác động, trong đó phải kể đến
sự đóng góp tích cực của đổi mới quản lý kinh tế vĩ mô Sự đổi mới này được diễn ra trong tất cả các nghành, các lĩnh vực sản xuất Ngành chè cũng như các ngành sản xuất khác, muốn mở rộng quy mô và chất lượng trong sản xuất kinh doanh, nhất thiết phải có hệ thống chính sách kinh tế thích hợp nhằm tạo dựng mối quan hệ hữu cơ giữa các nhân tố với nhau để tạo hiệu quả kinh doanh cao nhất Kết quả sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào chính sách kinh tế, một chính sách kinh tế không phù hợp sẽ kìm hãm phát triển của ngành, ngược lại một chính sách thích hợp sẽ kích thích sản xuất phát triển
2.1.3 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế
2.1.3.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho
Trang 2214
lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh
tế Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất
xã hội xuất phát từ những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng
Xuất phát từ giác độ nghiên cứu khác nhau, các nhà kinh tế đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế
Theo GS.TS Ngô Đình Giao: “HQKT là tiêu chuẩn cao nhất cho mọi
sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”[3] Theo Farell (1957) và một số nhà kinh tế học khác
thì chúng ta chỉ tính được HQKT một cách đầy đủ theo nghĩa tương đối:
“HQKT là một phạm trù kinh tế trong đó sản xuất đạt được cả HQ kỹ thuật và
HQ phân phối”
Hiệu quả kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp Như vậy
HQ kỹ thuật liên quan đến phương diện vật chất của sản xuất, nó chỉ ra một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm
HQ phân phối(hiệu quả giá) là chỉ tiêu HQ trong đó các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng thêm về đầu vào Khi nắm được giá của các yếu tố đầu vào, đầu ra, người ta sẽ sử dụng các yếu tố đầu vào theo một tỷ lệ nhất định để đạt được lợi nhuận tối đa Thực chất của HQ phân phối, chính là HQ kỹ thuật có tính đến giá của các yếu tố đầu vào và đầu ra, hay chính là HQ về giá
Như vậy, mặc dù còn có rất nhiều những quan điểm khác nhau về khái niệm HQKT nhưng quy chung lại chúng ta có thể hiểu: Hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và tiết kiệm chi phí các nguồn lực đó trong quá trình sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu sản xuất kinh doanh
Trang 2315
2.1.3.2 Phân loại hiệu quả kinh tế
Hoạt động sản xuất của nền kinh tế - xã hội được diễn ra ở các phạm vi khác nhau, đối tượng tham gia vào các quá trình sản xuất vào các quá trình sản xuất và các yếu tố sản xuất càng khác nhau thì nội dung nghiên cứu HQKT càng khác nhau Do đó, để nghiên cứu HQKT đúng cần phân loại HQKT Có thể phân loại HQKT theo các tiêu chí sau:
Phân loại theo phạm vi và đối tượng xem xét HQKT được phân theo các khía cạnh sau:
- HQKT quốc dân: là HQKT tính chung cho toàn bộ nền sản xuất xã hội của một quốc gia
- HQKT ngành: là HQKT tính riêng cho từng ngành sản xuất vật chất nhất định như công nghiệp, nông nghiệp
- HQKT theo lãnh thổ: tính riêng cho từng vùng, từng địa phương
- HQKT của từng quy mô tổ chức sản xuất – kinh doanh: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình
- HQKT từng biện pháp kỹ thuật, từng yếu tố đầu vào sản xuất
Phân loại hiệu quả theo bản chất, mục tiêu:
- HQKT phản ánh mối quan hệ tương quan giữa kết quả hữu ích về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra, nó đánh giá chủ yếu về mặt kinh tế của hoạt động kinh tế mang lại
- HQ xã hội: phản ánh mối tương quan giữa kết quả của các lợi ích vềmặt xã hội do hoạt động sản xuất mang lại
- HQ kinh tế - xã hội: phản ánh mối tương quan giữa kết quả tổng hợp
về mặt kinh tế - xã hội với các chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó như bảo
vệ môi trường, lợi ích công cộng
- HQ phát triển và bền vững: là HQ kinh tế - xã hội có được do tác động hợp lý để tạo ra nhịp độ tăng trưởng tốt nhất và bảo đảm những lợi ích kinh tế
- xã hội lâu dài
Trang 24- HQ sử dụng các yếu tố tài nguyên như năng lượng, vốn
- HQ việc áp dụng khoa học – kỹ thuật như HQ làm đất, HQ bón phân [6]
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới
Chè là cây trồng có lịch sử lâu đời ( trên 4000 năm ) Lúc đầu chè chủ yếu được dùng làm nguyên liệu, sát trùng, rứa các vết thương Ngày nay chè
là thú nước uống phổ biến và chủ yếu với những sản phẩm chế biến đa dạng
và phong phú Ngoài việc thỏa mãn nhu cầu về giải khát, dinh dưỡng, thưởng thức chè ở nhiều nước đã được nâng tầm văn hóa với cả những nghi thức trang trọng và thanh cao của trà đạo
Từ Trung Quốc chè truyền bá khắp năm châu Đầu tiên sang Nhật Bản
do các vị hòa thượng mang về, sau này phát triển thành trà đạo, sang vùng Ả Rập, Trung Đông bằng con đường tơ lụa, sang Châu Âu do các thủy thủ, tàu buôn Bồ Đào Nha; sang Mông Cổ, Nga bằng các đoàn lạc đà xuyên sa mạc Nội Mông Cho đền nay chè được trồng ở 58 nước, trong đó có 30 nước trồng chè chủ yếu, phân bổ từ 33o vĩ Bắc đến 49O vĩ Nam, trong đó vùng thích hợp nhất là 16o vĩ Nam đến 20o
vĩ Bắc, ở vùng này cây chè sinh trưởng quanh năm, còn trên 20o
vĩ Bắc cây chè có thời gian ngủ nghỉ và tính chất mùa rõ rệt, đến năm 2012, ngành chè của Sri – Lanka đã có lịch sử phát triển 145 năm Từ nhieuf năm đến nay, Sri-Lanka được biết đến là một nước sản xuất
và xuất khẩu chè lớn nhất tại khu vực Nam Á và trên thế giới
Trang 2517
Bảng 2.1: Diện tích năng xuất sản lượng chè của một số nước trên thế giới
(Nguồn: Theo FAO Start Ciation, 2013)
Qua số liệu thống kê diện tích, sản lượng chè thế giới những năm qua cho thấy: Từ năm 2007 đến năm 2012 diện tích năng xuất và sản lượng đều tăng dần Năm 2007 diện tích từ 2.929,703 ha tăng lên 3.267,991 ha, tương tự vời năng suất cũng tăng từ 13,581 tạ khô/ha đến 14,707 tạ khô/ha Cùng với sản lượng tăng từ 3.978,842 tấn lên 4.818,118 tấn
Một điểm quan trọng khác là phần lớn sản lượng chè trên thế giới được tiêu dùng ngay ở các quốc gia sản xuất chè, như ở Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ Chỉ có 45% tổng sản lượng chè thế giới được bán ra ngoài Về nhập khẩu chè, nếu năm 2000, toàn thế giới nhập 1.343 triệu kg thì đến năm 2013
đã đạt 1.675 triệu kg Tổng giá trị nhập khẩu toàn thế giới 5 năm gần đây ước
từ 3 – 5 tỷ USD/năm Hiện tại, 5 quốc gia nhập khẩu chè đứng đầu trên thế giới bao gồm: Ai Cập (107.586 tấn), các tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất UAE (109.575tấn), Hoa Kỳ (116,746 tấn), Vương quốc Anh (157.593 tấn), Liên Bang Nga (181.859 tấn).Giá chè nhập khẩu trung bình trên thế giới 3,8 USD/kg
Một đặc điểm nổi bật trong nghành chè đó là mặc dù Trung Quốc và
Ấn Độ là hai quốc gia trồng chè và có sản lượng chè cao nhất thế giới, nhưng phần lớn được sử dụng để đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng trong nước, phần
(1000ha)
Năng xuất (tạ khô/ha)
Sản lƣợng (1000 tấn)
Trang 2618
còn lại được xuất khẩu Hiện Kenya là quốc gia xuất khẩu đứng đầu trên thế giới (326.641 tấn), kế đến là Sri Lanka (318.329 tấn), Trung Quốc (299.789 tấn), Ấn Độ(203.207 tấn) và Việt Nam (104.700 tấn) Tốc độ tăng sản lượng xuất khẩu của toàn thế giới đạt 3,3% năm trong giai đoạn
2005 đến 2012
Trang 2719
2.2.2 Tình hình sản xuất và xuất khẩu chè ở Việt Nam
a) Diện tích, năng xuất sản lượng chè cả nước
Bảng 2.2: Diện tích, năng xuất, sản lƣợng chè theo vùng
STT
Vùng
DT trồng (ha)
DT cho sản phẩm (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (tấn)
DT trồng (ha)
DT cho sản phẩm (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (tấn)
Trang 28là 90.100 ha chiếm 68,8% diện tích cả nước
Đứng thứ hai về diện tích là vùng Tây Nguyên bao gồm 4 tỉnh trồng chè: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng, nhưng chỉ có 2 tỉnh sản xuất chè hàng hóa chính là Lâm Đồng và Gia Lai Lâm Đồng là tỉnh đứng đầu Tây Nguyên và cũng là tỉnh đứng đầu cả nước về quy mô sản xuất chè Năm 2000 diện tích chè cả vùng là 21.982 ha nhưng đến năm 2013 tổng diện tích là 27.800ha chiếm 21,2% so với cả nước sau một thời gian dài trồng thử nghiệm chè ở tỉnh Lâm Đồng mà trung tâm là hai huyện Bảo Lộc và Di Linh
Năng suất tăng liên tục trong những năm qua, và đạt bình quân 72,8 tạ búp tươi/ha năm 2010, năm 2013 đạt 77,4 tạ/ha Tốc độ tăng năng suất đạt 4,97%/năm Năng suất, sản lượng tăng liên tục là do giá chè và đặc biệt là thị trường tiêu thụ những năm vừa qua tương đối ổn định, đã kích thích người làm chè đầu tư thâm canh tăng năng suất Sản lượng năm 2010 đạt 823,7 ngàn tấn (tăng 10,1%/năm giai đoạn 2000 - 2010), riêng giai đoạn 2000 - 2005, tăng 12,6%/năm Năm 2013 sản lượng đạt 908.400 tấn, tăng nhẹ so với 2010
b) Tình hình tiêu thụ trong nước
Việt Nam được coi là “cái nôi” của ngành chè thế giới, chất lượng chè ngon, có nền văn hóa trà lâu đời, tuy nhiên mức tiêu thụ chè trong nước lại quá thấp
Trang 2921
Theo lãnh đạo Hiệp hội Chè Việt Nam, nước ta hiện có gần 90 triệu dân nhưng mức tiêu thụ chè trong nước chỉ đạt 30.000 tấn chè/năm, nếu tính bình quân theo đầu người chỉ đạt 300gr chè/người/năm Con số này quá thấp
so với tiềm năng của thị trường trong nước Trong khi đó, mức tiêu thụ chè bình quân theo đầu người ở Trung Quốc đạt hơn 1kg chè/người/năm, ở Nhật Bản đạt 2kg/người/năm, ở các nước Trung Đông đạt hơn 2kg/người/năm, ở Nga, Anh đều đạt trên 2,5kg/người/năm, gấp gần 10 lần mức tiêu thụ chè của Việt Nam
Vấn đề hiện nay đặt ra đối với việc tiêu thụ chè trong nước là thị hiếu truyền thống và thị hiếu mới của lớp trẻ,của tầng lớp có thu nhập cao, của khách du lịch quốc tế đòi hỏi sản phẩm chè phải nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm, sử dụng tiện lợi, văn minh lịch sự và giá cả hợp lý đang là thách thức đối với nghành chè Điều này đặt ra cho ngành chè yêu cầu là phải nâng cao năng lực cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường trong nước
Ở Việt Nam hiện nay chè xanh búp và chè xanh đã qua chế biến được người tiêu dùng sử dụng nhiều nhất Tuy nhiên người tiêu dùng hiện nay có tâm lý e ngại về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật Vì vậy muốn kích cầu thì người sản xuất và ngành chè cần có biện pháp giảm thiểu dư lượng hóa chất trên các sản phẩm chè Về giá cả, giá cả trong những năm qua tương đối ổn định Giá chè hương (chè Sen, chè Nhài) là 180.000 – 200.000 đồng/kg, chè xanh đặc biệt là 250.000 đồng/kg, chè xanh thường là dưới 100.000 đồng/kg
c) Thị trường xuất khẩu
Chè việt Nam đã xâm nhập trên 35 thị trường trong đó chủ yếu là thị trường ở một số nước như: Nga, Paskistan, Đài Loan, Nhật Hiện Việt Nam
có 6 triệu người sống trong vùng chè, có thu nhập từ trồng, chế biến và kinh doanh chè Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp & PTNT, hiện cả nước có 35 tỉnh trồng chè, với tổng diện tích hơn 131.500 ha Bình quân năng suất đạt 6,5 tấn búp tươi/ha, cung cấp nguyên liệu cho khoảng 700 cơ sở sản xuất chè khô
Trang 3022
Hiện có khoảng 650 nhà máy chế biến chè (công suất từ 2 đến 10 tấn nguyên liệu chè búp tươi/ngày) và hàng ngàn hộ dân lập xưởng để chế biến chè tại gia đình Đội ngũ làm chè lên tới 3 triệu lao động, chiếm 50% tổng số dân sống trong vùng chè.Từ năm 2000, ngành chè đều có tốc độ tăng trưởng từ 7- 9% năm Năm 2007, lượng xuất khẩu chính ngạch đạt 110 ngàn tấn
Kết quả này đã đưa Việt Nam trở thành nước thứ 5 trên thế giới về sản xuất và xuất khẩu chè
Hiện nay, Việt Nam đã chế biến khoảng 15 loại chè khác nhau, trongđó chè Ô Long, chè đen và chè nhài được thị trường thế giới ưa chuộng Những năm gần đây thực hiện quá trình đổi mới ngành chè Việt Nam đã có những bước phát triển quan trọng Sau quyết định số 43/1999/QĐ-TTg ngày 9/3/1999 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án phát triển chè Việt Nam giai đoạn 2005 - 2010
Nhiều tiến bộ kỹ thuật được áp dụng, nhiều chương trình khoa học công nghệ đã được tiến hành nghiên cứu khảo nghiệm, kết quả tuyển chọn, nhân lai, nhập mới các giống chè quý đến nay Việt Nam đã có 130 giống trong tập đoàn quỹ gen chè Có giống được trồng phổ biến như: Kim Tuyên, Bát Tiên, Thuý Ngọc, Keo Am Tích, Hùng Đỉnh Bạch, Phúc Vân Tiên Việc đưa các giống mới trồng bằng cành sẽ là tiền đề cho việc nâng cao chất lượng chè cả về nội chất lẫn ngoại hình và đa dạng hoá các sản phẩm chè Việt Nam.Tất cả những yếu tố trên nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh cho ngành chè Việt Nam, phấn đấu thực hiện mục tiêu sản phẩm chè Việt Nam đạt chất lượng cao, từng bước khẳng định vị thế của chè Việt Nam trên thị trường chè Quốc tế
Đến năm 2020, diện tích trồng chè của Việt Nam sẽ là 140.000 ha, với năng suất bình quân đạt 9 tấn/ha Sản lượng chè thô dự kiến đạt 1.260.000 tấn
và đạt mức 300.000 tấn đối với sản lượng chè khô.Về thị trường sẽ phấn đấu
Trang 3123
xuất khẩu khoảng 70% tổng sản lượng chè, tiêu thụ nội địa 30% Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu gồm 50% chè đen, 20% sản phẩm chè mới có giá trị cao và 30% chè xanh chất lượng cao
Bảng 2.3: Kim ngạch xuất khẩu chè Việt Nam 2009 – 2013
(Nguồn: Tổng cục hải quan 2014)
Những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất chè của Việt Nam
Thuận lợi
- Lợi thế đầu tiên phải kể đến là tiềm năng về đất đai và sự phân bố đấtđai trên nhiều miền khí hậu khác nhau Với gần 10 triệu ha đất nông nghiệp với các vùng đất cấu tạo khác nhau, các vùng khí hậu khác nhau đã hình thành các vùng sản xuất sản phẩm hàng hoá đa dạng khác nhau
+ Với khí hậu nhiệt đới chúng ta đã hình thành 2 vùng đồng bằng lớn sản xuất lúa nước, có thể sản xuất từ 2 - 3 vụ lúa và cây vụ đông, cây ăn quả
+ Vùng đất đỏ bazan ở Tây Nguyên và dải miền Trung đã hình thành vùng trồng cafe, cao su, hồ tiêu, điều, hoa quả
+ Vùng núi phía Bắc trồng chè, cây ăn quả Vì vậy, chúng ta có thể đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp hàng hoá và lại hình thành các vùng chuyên canh với quy trình sản xuất có thể diễn ra quanh năm, đáp ứng được yêu cầu của thị trường
- Nước ta là một nước có nguồn lao động nông nghiệp dồi dào, 70% lao động tham gia vào sản xuất nông nghiệp, hiện nay đang thiếu việc làm, công lao động lại rất thấp Một ngày công lao động nông nghiệp ở Đài Loan là 30
Trang 32- Đường lối chính sách sách đổi mới kinh tế của nước ta đã được mở rộng, tự do hoá thương mại, hoà nhập thị trường Quốc tế Các chính sách, luật
đã tạo hành lang thông thoáng cho các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh Đã có nhiều chính sách khuyến khích mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước có điều kiện thuận lợi để tham gia liên doanh liên kết đầu tư phát triển sản xuất
- Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ cũng ngày càng được Nhà nước quan tâm và ngày càng được nâng cao, thông qua nhiều kênh để đến với người sản xuất nhằm năng cao chất lượng sản phẩm và công nghệ sản xuất
Là một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất chủ yếu là công cụ thủ công nên quá trình sản xuất của các hộ nông dân tạo ra nguyên liệu ban đầu chất lượng chưa cao, công nghệ sau thu hoạch chủ yếu còn lạc hậu nên thất thoát
về lượng cũng chiếm khoảng từ 10 - 15%, sự thất thoát về chất lượng bị giảm
đi còn chưa tính được Đây là vấn đề còn khó khăn nhất đòi hỏi phải có một
cố gắng lớn và thời gian dài, đặc biệt là việc áp dụng công nghệ sinh học, việc chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu của khách hàng và cho yêu cầu của công nghiệp chế biến
Trang 3325
Để làm được điều này không chỉ người sản xuất mà còn là chiến lược phát triển chung của đất nước cần được sự hỗ trợ của Nhà nước, sự quan tâm khuyến khích các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học
- Phát triển công nghiệp nặng để chế tạo ra máy móc phục vụ công nghiệp chế biến Hiện nay nền công nghiệp của nước ta chưa đủ sức để đảm nhiệm việc đó, vì vậy hầu như các loại máy móc phục vụ cho công nghiệp chế biến và bảo quản chúng ta phải nhập ở nước ngoài, giá của các công nghệ này còn quá cao Cho nên hiện nay Việt Nam phần lớn còn xuất khẩu sản phẩm thô, chưa đủ công nghệ để chế biến ra sản phẩm cuối cùng, điều chắc chắn là một bất lợi cho người sản xuất
- Hệ thống cơ sở hạ tầng như thuỷ lợi, giao thông, bến cảng, kho tàng tuy đã được nâng cấp nhưng chưa đủ đáp ứng cho yêu cầu của sản xuất và lưu thông Sản xuất vẫn phụ thuộc vào thiên nhiên, gây nên hạn úng mất mùa Chính sự yếu kém của các cơ sở hạ tầng đã gây nên sự chậm trễ cho việc thu gom sản phẩm và đáp ứng yêu cầu sản phẩm của thị trường
- Cơ chế chính sách: Chưa được hoàn thiện cho việc tạo ra hệ thống tổ chức loại hình doanh nghiệp, đầu tư tài chính, chính sách đầu ra, thuế nhằm tạo ra sự hoà nhập với khu vực và thế giới là cần thiết
2.2.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè ở Thái Nguyên
Mặc dù diện tích trồng chè chỉ đứng thứ 2 cả nước (sau Lâm Đồng), nhưng Thái Nguyên nằm trong vùng chè lâu đời của Việt Nam, với sản phẩm chè có hương vị đặc trưng mà không nơi nào khác có được Từ rất lâu, chè Thái Nguyên đã được tôn vinh là "đệ nhất danh trà" của đất nước
Thái Nguyên là một tỉnh thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc, được thiện nhiên ưu đãi một hệ thống đất đai và điều kiện khí hậu, thời tiết thích hợp cho việc phát triển cây chè Thái Nguyên vốn là một vùng đất có truyền thống sản xuất qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử, đến nay vẫn phát triển mạnh mẽ và là một trong những tỉnh có diện tích chè lớn nhất trong cả nước
Trang 3426
Diện tích chè giống mới tại tỉnh Thái Nguyên hiện nay gần 7.500 ha, chiếm 40,2% diện tích chè toàn tỉnh Chủ trương của tỉnh trong năm 2013 và những năm tiếp theo là hạn chế mở rộng diện tích trồng mới, tập trung thâm canh, cải tạo thay thế diện tích chè cũ bằng các giống chè chất lượng cao, ổn định, phù hợp với điều kiện địa phương, phấn đấu đến năm 2015 tỷ lệ chè giống mới đạt 60% diện tích
Năm 2013, toàn tỉnh có kế hoạch trồng thay thế 1.258 ha chè, năng suất trung bình 110 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi đạt 190.000 tấn Để hoàn thành
kế hoạch đề ra, tỉnh tiếp tục hỗ trợ bà con nông dân 100% giá cây chè giống; tăng cường hỗ trợ đào tạo tập huấn sản xuất chè an toàn; hỗ trợ chứng nhận sản xuất chè an toàn đối với các mô hình dự án (hỗ trợ 100% chi phí chứng nhận lần đầu, 50% lần thứ 2) (Dương Trung Kiên, 2013)
Trong những năm gần đây, không những quan tâm đến phát triển diện tích, năng suất sản lượng, Thái Nguyên đã và đang triển khai nhiều dự án về đổi mới công nghệ kết hợp với kỹ thuật truyền thống từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến, bảo quản và bao bì đóng gói để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và tạo sản phẩm an toàn bảo vệ sức khoẻ người trồng chè cũng như người sử dụng trà Hàng năm ngành nông nghiệp tổ chức các hội thi chè giữa các vùng chè truyền thống; xây dựng thương hiệu chè Thái Nguyên Ngoài ra, Thái Nguyên liên tục lựa chọn bộ giống chè có năng suất, chất lượng cao vào trồng để thay thế cho giống chè cũ
Với nguyên liệu chè búp tươi có chất lượng cao, kỹ thuật chế biến truyền thống tinh xảo của các làng nghề đã làm cho chất lượng sản phẩm chè xanh Thái Nguyên có hương vị đặc biệt, thơm ngon nổi tiếng, đạt giá trị sản xuất ngày càng được nâng cao Ngày càng có nhiều khách hàng tìm đến đểđược thưởng thức hương vị trà có một không hai bởi sức quyến rũ từ màu xanh vàng của nước, hương cốm đặc trưng và vị chát hậu ngọt của chè Thái
Trang 3527
Cây chè Thái Nguyên đang “lên ngôi” và trở thành cây mũi nhọn, góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở hầu hết các địa phương trong tỉnh, vì thế, Thái Nguyên đang tiếp tục mở rộng diện tích, sản lượng chè
Hiện nay, sản phẩm chè của Thái Nguyên đã có mặt ở các thị trường:
Mỹ, Canada, Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan Năm 2009, toàn tỉnh đã xuất khẩu được 5.980 tấn, chiếm gần 19% sản lượng chè búp khô của toàn tỉnh Số ngoại tệ thu được 7,098 triệu USD; tăng 8,9% so với cùng kỳ Đối với thị trường trong tỉnh, sản lượng chè tiêu thụ chiếm trên 81% sản lượng của cả tỉnh Thị trường tiêu thụ chè Thái Nguyên chủ yếu là thị trường trong nước chiếm trên 70%, sản phẩm chủ yếu cung cấp cho thị trường này là chè xanh Ngoài ra chè Thái Nguyên còn xuất khẩu sang Irắc, Nhật, Nga, và nhiều nước trên thế giới, mỗi năm xuất khẩu trên 4.000 tấn đạt giá trị 4,8 triệu USD, góp phần đáng kể vào giá trị hàng xuất khẩu(Vi Thu Lan, 2010)
Trang 3628
Phần III
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những vấn đề có liên quan đến hiệu quả kinh tế của cấy chè trên địa bàn xã Phúc Xuân
- Các hộ nông trồng chè thuộc địa bàn xóm 3 thuộc xã Phúc Xuân
+ Số liệu sơ cấp thu thập năm 2014
+ Số liệu thứ cấp thu thập từ năm 2012-2014
+ Thời gian tiến hành chuyên đề từ tháng 1/ 2015 – 5/ 2015
3.2 Câu hỏi nghiên cứu
- Tình hình thực trạng các hoạt động sản xuất sản phẩm ở xã được tiến hành như thế nào?
- Cần phải tiến hành các hoạt động sản xuất như thế nào mới nâng cao được hiệu quả về mặt kinh tế cho người trồng chè?
- Tại sao phải phát triển và nâng cao HQKT sản xuất cây chè cành tại
xã Phúc Xuân
- Những hạn chế về khâu tiêu thụ của xã là gì?
- Cần có những biện pháp nào để khắc phục được khâu tiêu thụ được luu thong ?
Trang 3729
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Phúc Xuân - tp Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên
- Nghiên cứu thực trạng tình hình sản xuất chè Cành tại xã Phúc Xuân-
tp Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên
- Phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế về chè của hộ điều tra
- Một số định hướng, giải pháp, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè cành trên địa bàn xã
- So sánh hiệu quả kinh tế cây chè cành với cây chè Trung Du trên địa bàn xã
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận vĩ mô: Nghiên cứu đánh giá tình hình sản xuất
và thị trường tiêu thụ chè trên địa bàn toàn xã Thu thập cả số liệu định tính và
số liệu định lượng về sản xuất và tiêu thụ để có thể phân tích, đánh giá chính xác vai trò và giá trị của cây chè trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương Từ đó chỉ ra những ảnh hưởng không tốt đến quá trình sản xuất
và tiêu thụ chè, rút ra những giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất và tiêu thụ chè ở địa phương
- Phương pháp tiếp cận vi mô: Tìm hiểu tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở các hộ gia đình trong địa bàn nghiên cứu
3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin
* Thu thập thông tin thứ cấp
- Sử dụng các số liệu đã thống kê, các báo cáo tổng kết của xã để có được các số liệu theo yêu cầu của đề tài Thu thập các thông tin qua các văn bản, sách báo, trang web có liên quan đến vấn đề sản xuất và tiêu thụ chè
- Phân tích các tài liệu có liên quan: xem xét các thông tin có sẵn trong các tài liệu của xã để thu thập thông tin ban đầu, lam nền tảng cho việc nghiên cứu đánh giá
Trang 3830
* Thu thập thông tin sơ cấp
Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp là phương pháp thu thập các thông tin, số liệu chưa từng được công bố ở bất kỳ tài liệu nào, người thu thập
có được thông qua tiếp xúc trực tiếp với đối tượng nghiên cứu bằng những phương pháp khác nhau như: tìm hiểu, quan sát thực tế Với bộ câu hỏi đã được xây dựng tiến hành phỏng vấn các hộ dân sản xuất chè trong xã, trong
đó được chia ra 2 loại đó là: chè cành và chè trung du Chè cành được chọn ra
40 hộ trong đó có tỷ lệ hộ khá, trung bình, nghèo Với việc tập trung sản xuất cây chè cành đã dần mang lại thu nhập cũng như năng suất ngày một tăng Chè trung du được chọn ra 20 hộ với các tỷ lệ khá, trung bình, nghèo.Sản xuất chè trung du đã và đang tụt hậu, bởi nó chiếm diện tích quá lớn trong khi năng suất và chất lượng đã không theo kịp được với xu hướng phát triển kinh tế của các hộ gia đình trong thời đại hiện nay của họ.Việc tiến hành điều tra với tổng
số 60 hộ được tiến hành trong phạm vi của xã Phúc Xuân Các hộ dân phân
bố tại 3 xóm của xã Phúc Xuân đó là:xóm Cây Thị, xóm Giữa I và xóm Giữa
II được chọn là điển hình cho các xóm Từ bộ câu hỏi đã được xây dựng em
đã tiến hành đi thu thập số liệu từ các hộ dân từ đó tổng hợp vào các bảng biểu, đưa ra những số liệu về hiệu quả kinh tế của việc sản xuất chè tại xã Phúc Xuân, tpThái Nguyên., tỉnh Thái Nguyên
Chọn mẫu điền tra
Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo các nhóm hộ chuyên sản xuất chè, trong đó có chè cành và chè trung du Trong địa bàn nghiên cứu chọn 3 xóm (xóm Cây Thị, xóm Giữa 1, xóm Giữa 2) thuộc xã Phúc Xuân, tp Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên
Từ đây ta có bảng sau: