Từ quan điểm này thì sản phẩm là tập hợp những yếu tố thỏa mãn nhu cầu của khách hàng bao gồm cả những thứ như phụ tùng, bao gói và dịch vụ… Hiểu và mô tả đúng sản phẩm của doanh nghiệp
Trang 1BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TÊN ĐỀ TÀI: HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM MÌ ĂN LIỀN
HẢO HẢO THUỘC CÔNG TY ACECOOK VIỆT NAM
Hà Nội, năm 2022
Trang 2BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Giáo viên hướng dẫn: Đàm Thị Hiền Sinh viên thực hiện: Lê Mỹ Dung
Mã sinh viên: 5093401014 Lớp: Quản trị kinh doanh 9A
Hà Nội, năm 2022
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới cô Đàm Thị Hiền - Giáo viên hướng dẫn đã rất tận tình truyền đạt nhiều kiến thức quý báu, giúp đỡ em hoàn thành bài luận này Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô khoa Quản trị kinh doanh – Học viện Chính sách và Phát triển đã tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học để
em có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp Kính chúc các thầy cô sức khỏe dồi dào, luôn luôn giữ vững ngọn lửa nhiệt huyết với nghề, dẫn dắt nhiều thế hệ ngày càng tài giỏi hơn
Thời gian làm khóa luận là cơ hội cho em tổng hợp và hệ thống hóa lại những kiến thức đã học, đồng thời kết hợp với thực tế để nâng cao kiến thức chuyên môn Tuy nhiên do khả năng viết hạn chế và nghiên cứu kiến thức còn hạn hẹp nên bài luận của em không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý từ các thầy cô để em rút kinh nghiệm hoàn thiện bài hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan khóa luận với đề tài “Hoàn thiện chính sách sản phẩm mì ăn liền Hảo Hảo thuộc công ty Acecook Việt Nam” là bài
nghiên cứu của cá nhân em và mọi số liệu sử dụng có nguồn gốc rõ ràng
Em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự không trung thực trong thông tin sử dụng trong công trình nghiên cứu này
Sinh viên thực hiện
Lê Mỹ Dung
Trang 5MỤC LỤC
DANH SÁCH HÌNH ẢNH
DANH SÁCH BẢNG
DANH MỤC VIẾT TẮT (TIẾNG VIỆT)
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT (TIẾNG NƯỚC NGOÀI)
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu khóa luận 3
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM 4
1.1 Một số cơ sở lý luận về sản phẩm 4
1.1.1 Khái niệm sản phẩm 4
1.1.2 Các cấp độ các cấu thành đơn vị sản phẩm 5
1.1.3 Phân loại sản phẩm 7
1.1.4 Chu kỳ sống của sản phẩm 8
1.2 Nội dung về chính sách sản phẩm 11
1.2.1 Khái niệm về chính sách sản phẩm 11
1.2.2 Chính sách về nhãn hiệu sản phẩm 12
1.2.3 Chính sách về bao bì sản phẩm 17
1.2.4 Chính sách về dịch vụ khách hàng 18
1.2.5 Chính sách về chủng loại sản phẩm 20
1.2.6 Chính sách phát triển sản phẩm mới 22
1.3 Một số chính sách hỗ trợ 23
1.3.1 Chính sách giá 23
1.3.2 Chính sách phân phối 25
1.3.3 Chính sách xúc tiến hỗn hợp 28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM CỦA 30
MÌ ĂN LIỀN HẢO HẢO THUỘC CÔNG TY ACECOOK VIỆT NAM 30
2.1 Giới thiệu chung về công ty Acecook Việt Nam 30
Trang 62.1.1 Thông tin sơ bộ về công ty Acecook Việt Nam 30
2.1.2 Triết lý kinh doanh và giá trị cốt lõi 35
2.1.3 Tầm nhìn và sứ mệnh 35
2.1.4 Vị thế của mì Hảo Hảo trên thị trường mì ăn liền tại Việt Nam 36
2.2 Thực trạng chính sách sản phẩm của mì ăn liền Hảo Hảo thuộc công ty Acecook Việt Nam 37
2.2.1 Chính sách về nhãn hiệu sản phẩm 37
2.2.2 Chính sách về bao bì sản phẩm 42
2.2.3 Chính sách về dịch vụ khách hàng 44
2.2.4 Chính sách về chủng loại sản phẩm 47
2.2.5 Chính sách phát triển sản phẩm mới 54
2.2.6 Một số chính sách hỗ trợ 57
2.3 Đánh giá chung 60
2.3.1 Ưu điểm của chính sách sản phẩm 61
2.3.2 Hạn chế của chính sách sản phẩm 62
2.3.3 Nguyên nhân 63
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM MÌ ĂN LIỀN HẢO HẢO THUỘC CÔNG TY ACECOOK VIỆT NAM 65
3.1 Mục tiêu của công ty Acecook trong thời gian tới 65
3.2 Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách sản phẩm mì ăn liền Hảo Hảo thuộc công ty Acecook Việt Nam 66
3.2.1 Giải pháp phát triển thương hiệu 66
3.2.2 Giải pháp hoàn thiện bao bì sản phẩm 67
3.2.3 Giải pháp hoàn thiện dịch vụ chăm sóc khách hàng 68
3.2.4 Giải pháp hoàn thiện chủng loại sản phẩm 69
3.2.5 Giải pháp phát triển sản phẩm mới 70
3.2.6 Giải pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ 70
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 7DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1: Danh sách sản phẩm bị thu hồi của FSAI 41 Bảng 2.2: Các dòng sản phẩm mì ăn liền Hảo Hảo 49 Bảng 2.3: Bảng so sánh mì ăn liền Hảo Hảo với đối thủ cùng ngành 53
Trang 8DANH SÁCH HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Ba cấp độ cấu thành sản phẩm 6
Hình 1.2: Các giai đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm 9
Hình 2.1: Công ty Acecook Việt Nam 31
Hình 2.2: Xếp hạng dấu chân thương hiệu năm 2021 tại Việt Nam 37
Hình 2.3: Logo thương hiệu Acecook Việt Nam 38
Hình 2.4: Logo sản phẩm mì ăn liền Hảo Hảo 39
Hình 2.5: Bảng xếp hạng công ty thực phẩm uy tín năm 2020 40
Hình 2.6: Ảnh minh họa bao bì 42
Hình 2.7: Bên trong bao bì sản phẩm 43
Hình 2.8: Hình ảnh thùng mì ăn liền Hảo Hảo 44
Hình 2.9: Facebook chính chủ của mì ăn liền Hảo Hảo 47
Hình 2.10: Các hương vị của mì ăn liền Hảo Hảo 48
Hình 2.11: Mì ly Handy Hảo Hảo 52
Hình 2.12: Mì ly mini ăn liền Handy Hảo Hảo 55
Hình 2.13: Muối chấm Hảo Hảo 56
Hình 2.14: Mô hình phân phối của Acecook Việt Nam 58
Trang 9DANH MỤC VIẾT TẮT (TIẾNG VIỆT)
Đơn vị cung cấp các giải pháp hàng không Logistics , đáp ứng hoàn hảo nhu cầu quản lý chuỗi cung ứng hàng hoá tại thị trường Việt Nam
3 Marketing Mix 4P
Marketing Mix còn gọi là Marketing hỗn hợp, là một tập hợp các chính sách quan trọng nhất về các khía cạnh chính sách Marketing tổng thể, giúp doanh nghiệp xây dựng và triển khai hiệu quả hoạt động Marketing của mình Bốn chữ P trong Marketing Mix 4P là Product (Sản phẩm), Price (Giá cả), Place (Kênh phân phối) và Promotion (Xúc tiến thương mại) Đây là những yếu tố quan trọng liên quan đến việc tiếp thị một sản phẩm hoặc dịch
vụ
Trang 10DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT (TIẾNG NƯỚC NGOÀI)
STT Từ viết tắt Nội dung Nghĩa tiếng Việt
Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á
2 Covid-19 Coronavirus Disease Bệnh do vi-rút corona gây ra
3 EO Ethylene Oxide Khí được sử trong lĩnh vực y tế,
sản xuất dược phẩm
5 FSAI Food Safety Authority
Ireland
Cơ quan An toàn thực phẩm
Ireland
6 RASFF Rapid Alert System for
Food and Feed
Hệ thống cảnh báo nhanh đối với mặt hàng thực phẩm
7 USD United States Dollar Đơn vị tiền tệ chính thức của
Hoa Kỳ
8 2-CE 2-chlorethanol Sản phẩm phụ trong quá trình
khử trùng bằng Ethylene Oxide
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Sau gần 30 năm hoạt động, Công ty Cổ phần Acecook Việt Nam đã không ngừng tăng trưởng vững mạnh trở thành công ty thực phẩm tổng hợp số một tại Việt Nam với vị trí vững chãi trên thị trường, chuyên cung ứng những mẫu sản phẩm ăn liền có chất lượng và dinh dưỡng cao Mì Hảo Hảo là một trong những sản phẩm nổi tiếng nhất của Acecook, cũng là một trong những tên thương hiệu mì nổi tiếng nhất tại nước ta Nhờ chính sách Marketing hiệu quả, mì Hảo Hảo ngày càng xác định được vị trí của mình so với người tiêu dùng và có vị trí đứng vị trí số một trong thị trường mì ăn liền ở Việt Nam Chính sách Marketing của mì Hảo Hảo hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu
“mì ăn liền quốc dân” và chứng minh Acecook là thương hiệu mì hàng đầu
Việt Nam Với sự cải thiện không ngừng về mẫu mã, chất lượng, chi phí thấp, Acecook đã thành công trong việc lôi cuốn số lượng lớn người mua Bên cạnh
đó, Hảo Hảo cũng có mạng lưới hệ thống phân phối rộng khắp, giúp người mua thuận tiện tiếp cận mẫu sản phẩm Bên cạnh đó, Acecook cũng tiến hành nhiều chiến dịch quảng cáo, chương trình khuyến mại phong phú và thực thi những hoạt động giải trí xã hội để cải tổ mức độ nhận diện tên thương hiệu của mình
Chính sách sản phẩm là chính sách đầu tiên quan trọng nhất của hệ thống Marketing Mix 4P Do vậy, chính sách sản phẩm quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp khách sạn và nó thực sự là xương sống, là hạt nhân của hoạt động Marketing Công ty Accook với sự hình thành và phát triển khá lâu, có nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh, có vị thế uy tín đáng kể đối với khách hàng, nhưng trong điều kiện thị trường hiện nay ngày càng có nhiều đối thủ cạnh tranh lớn mạnh, công ty đã gặp không ít khó khăn Do đó, em đã thực
hiện nghiên cứu với đề tài “Hoàn thiện chính sách sản phẩm mì ăn liền Hảo
Hảo thuộc công ty Acecook Việt Nam”, thông qua nghiên cứu thực trạng
Trang 122
chính sách sản phẩm mì ăn liền Hảo Hảo của công ty Acecook giai đoạn 2019-2021, qua đó đề xuất một số biện pháp hoàn thiện chính sách sản phẩm cho công ty Hy vọng với những ý kiến của đề tài có thể góp phần nhỏ bé trong việc hoàn thiện chính sách sản phẩm mì ăn liền Hảo Hảo thuộc công ty Acecook Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Chính sách sản phẩm của mì ăn liền Hảo Hảo
thuộc công ty Acecook Việt Nam
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận về chính sách sản phẩm,
phân tích thực trạng chính sách sản phẩm mì ăn liền Hảo Hảo thuộc công
ty Acecook Việt Nam giai đoạn 2019-2021, qua đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách sản phẩm mì ăn liền Hảo Hảo trong thời gian tới
Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách sản phẩm
+ Phân tích thực trạng chính sách sản phẩm mì ăn liền Hảo Hảo thuộc công ty Acecook Việt Nam giai đoạn 2019-2021
+ Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách sản phẩm mì ăn liền Hảo Hảo cho công ty Acecook trong thời gian tới
3 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu: Tập trung đi sâu nghiên cứu chính sách sản
phẩm mì ăn liền Hảo Hảo thuộc công ty Acecook Việt Nam
Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn 2019 – 2021
Không gian nghiên cứu: Công ty Acecook Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện khóa luận, em đã sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu như:
Phương pháp thu thập thông tin, số liệu thứ cấp: thu thập, sưu tầm
những tài liệu, hình ảnh từ nhiều nguồn khác nhau để đánh giá thực trạng
Trang 133
chính sách sản phẩm mì ăn liền Hảo Hảo thuộc công ty Acecook Việt Nam
Phương pháp phân tích: phân tích đánh giá tổng hợp, kết hợp với hệ
thống hóa để nhận định đầy đủ về chính sách sản phẩm, nêu ra các ưu điểm, nhược điểm trong chính sách của công ty, từ đó đánh giá chính sách sản phẩm và đề xuất biện pháp trong tương lai
Phương pháp so sánh: Tiến hành so sánh chính sách sản phẩm mì ăn
liền Hảo Hảo với đối thủ cạnh tranh, qua đó rút ra nhận xét về những nguyên nhân gây ra hạn chế hoặc thúc đẩy hoạt động của chính sách sản phẩm
5 Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng và hình ảnh, tài liệu tham khảo, bài luận kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách sản phẩm
Chương 2: Thực trạng chính sách sản phẩm của mì ăn liền Hảo Hảo
thuộc công ty Acecook Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách sản phẩm mì ăn liền Hảo
Hảo thuộc công ty Acecook Việt Nam
Trang 144
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM
1.1 Một số cơ sở lý luận về sản phẩm
1.1.1 Khái niệm sản phẩm
Sản phẩm theo quan điểm Marketing là tất cả những gì được đem ra chào bán (thu hút sự chú ý và mua sắm của khách hàng) trên thị trường và có khả năng thỏa mãn được nhu cầu hay mong muốn của khách hàng Khái niệm sản phẩm trong Marketing không chỉ là những hàng hóa hữu hình mà nó còn
có thể được xem là những dịch vụ, con người với sức lao động và sáng tạo, địa điểm, tổ chức và ý tưởng… Hàng hóa và dịch vụ là cách gọi khác của sản phẩm Mỗi đơn vị sản phẩm là một tập hợp các yếu tố và thuộc tính gắn liền với mức độ thỏa mãn nhu cầu và mong muốn, mang lại cho khách hàng những lợi ích và chính vì những yếu tố này mà khách hàng chọn mua sản phẩm này chứ không phải sản phẩm khác Tóm lại, khái niệm sản phẩm phải tổng hợp mọi sự thỏa mãn về vật chất, tâm lý, tinh thần, văn hóa, xã hội… mà người mua nhận được từ việc mua, sở hữu và tiêu dùng sản phẩm Từ quan điểm này thì sản phẩm là tập hợp những yếu tố thỏa mãn nhu cầu của khách hàng bao gồm cả những thứ như phụ tùng, bao gói và dịch vụ…
Hiểu và mô tả đúng sản phẩm của doanh nghiệp đưa ra bán trên thị trường là một trong những nhiệm vụ quan trọng của hệ thống Marketing hỗn hợp của doanh nghiệp Việc xác định đúng sản phẩm có ảnh hưởng lớn đến khả năng tiêu thụ và khai thác cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp Thông thường khi nói về sản phẩm hàng hoá các doanh nghiệp thường chỉ quan tâm đến “hàng hoá hiện vật” hay “hàng hoá cứng” mà doanh nghiệp đang chế tạo hay kinh doanh, tức là nó chỉ bao hàm những thành phần hoặc yếu tố có thể
Trang 15họ trước, trong và sau khi mua hàng Khách hàng luôn muốn sự thoả mãn toàn bộ nhu cầu chứ không chỉ quan tâm đến một bộ phận đơn lẻ Trong trường hợp này thì theo khách hàng sản phẩm của doanh nghiệp bao gồm tất
cả các yếu tố vật chất (hiện vật) và phi vật chất (dịch vụ) và các yếu tố khác
có liên quan mà doanh nghiệp đã đưa ra để thoả mãn nhu cầu cụ thể của họ
Trang 16ẩn đó có thể thay đổi tùy những yếu tố hoàn cảnh của môi trường và mục tiêu
cá nhân của khách hàng, nhóm khách hàng trong bối cảnh nhất định Điều quan trọng sống còn đối với các doanh nghiệp là nhà quản trị Marketing phải nghiên cứu tìm hiều khách hàng để phát hiện ra những đòi hỏi về các khía cạnh lợi ích cốt yếu khác nhau tiềm ẩn trong nhu cầu của họ Chỉ có như vậy doanh nghiệp mới tạo ra những sản phẩm có khả năng thỏa mãn đúng và tốt những lợi ích mà khách hàng mong đợi
Cấp độ thứ hai là sản phẩm hiện thực: Đó là những yếu tố phản ánh sự
có mặt trên thực tế của sản phẩm Những yếu tố đó bao gồm: Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng, các đặc tính, bố cục bề ngoài, đặc thù, nhãn hiệu và bao gói Trong thực tế, khi tìm mua những lợi ích cơ bản, khách hàng dựa vào những yếu tố này Và cũng nhờ các yếu tố này nhà sản xuất khẳng định sự hiện diện của mình trên thị trường, đó cũng là những chỉ dẫn để người mua tìm đến doanh nghiệp, họ phân biệt hàng hoá của hãng này so với hãng khác
Trang 177
Cuối cùng là sản phẩm bổ sung hay còn gọi là sản phẩm hoàn chỉnh:
Đó là những yếu tố như: bảo hành, lắp đặt, vận hành, giao hàng, tín dụng Chính nhờ những yếu tố này đã tạo ra sự đánh giá mức độ hoàn chỉnh khác nhau trong sự nhận thức của người tiêu dùng đối với một mặt hàng hay nhãn hiệu cụ thể Khi mua những lợi ích cơ bản của một hàng hoá bất kỳ khách hàng nào cũng thích mua nó ở mức độ hoàn chỉnh nhất Đến lượt mình, chính mức độ hoàn chỉnh về lợi ích cơ bản mà khách hàng mong đợi lại phụ thuộc vào những yếu tố bổ sung mà nhà kinh doanh sẽ cung cấp cho họ Vì vậy, từ góc độ nhà kinh doanh, các yếu tố bổ sung trở thành một trong những vũ khí cạnh tranh của các nhãn hiệu hàng hoá
1.1.3 Phân loại sản phẩm
Chính sách Marketing của mỗi doanh nghiệp khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm của sản phẩm Để có chính sách Marketing đúng cần phân loại đúng sản phẩm Trong Marketing có hai cách phân loại sản phẩm đáng chú ý:
cách phân loại này, sản phẩm được phân loại gồm: Sản phẩm lâu bền là những vật phẩm thường được sử dụng nhiều lần; Sản phẩm sử dụng ngắn hạn
là những vật phẩm được sử dụng một lần hay một vài lần; Dịch vụ là những đối tượng được bán dưới dạng hoạt động, ích lợi hay sự thỏa mãn
Thứ hai là phân loại theo thói quen mua hàng Thói quen mua hàng là
yếu tố rất cơ bản ảnh hưởng đến cách thức hoạt động Marketing Theo đặc điểm này sản phẩm phân thành các loại sau:
+ Sản phẩm sử dụng thường ngày: Đó là những sản phẩm mà người tiêu dùng mua cho việc sử dụng thường xuyên trong sinh hoạt Đây là những nhu cầu thiết yếu nên khách hàng hiểu biết về sản phẩm và thông tin của sản phẩm Mì
ăn liền Hảo Hảo thuộc sản phẩm sử dụng thường ngày
Trang 188
+ Sản phẩm mua ngẫu hứng: Đó là những sản phẩm được mua không có kế hoạch trước và khách hàng cũng không chủ ý tìm mua Người mua quyết định mua khi gặp sản phẩm và sự thuyết phục của người bán;
+ Sản phẩm mua khẩn cấp: Đó là những sản phẩm được mua khi xuất hiện nhu cầu cấp bách vì một lý do bất thường nào đó Việc mua sản phẩm này không phải suy tính nhiều;
+ Sản phẩm mua có lựa chọn: Là những sản phẩm mà việc mua diễn ra lâu hơn đồng thời khi mua khách hàng thường lựa chọn, so sánh, cân nhắc về công dụng, kiểu dáng, chất lượng, giá cả của chúng;
+ Sản phẩm mua do các nhu cầu đặc thù: Những sản phẩm có tính chất đặc biệt hay sản phẩm đặc biệt mà khi mua người ta sẵn sàng bỏ thêm sức lực, thời gian để tìm kiếm và lựa chọn chúng;
+ Sản phẩm cho các nhu cầu thụ động: Những sản phẩm mà người tiêu dùng không hay biết và thường không nghĩ đến việc mua chúng Thường những sản phẩm này không liên quan trực tiếp đến nhu cầu cuộc sống hàng ngày
1.1.4 Chu kỳ sống của sản phẩm
Chu kỳ sống của một sản phẩm là thuật ngữ mô tả sự biến đổi của doanh số tiêu thụ kể từ khi hàng hoá được tung ra thị trường cho đến khi nó phải rút lui khỏi thị trường Chu kỳ sống của sản phẩm có thể được xem xét cho từng mặt hàng, từng nhóm chủng loại, thậm chí từng nhãn hiệu sản phẩm
Sự tồn tại của chu kỳ sống của sản phẩm là hiển nhiên Nhà kinh doanh luôn hy vọng về sự tồn tại lâu dài với doanh số cao một sản phẩm, chủng loại sản phẩm, nhãn hiệu sản phẩm Để làm được điều đó thì doanh nghiệp phải nắm bắt được diễn biến của nó và phải có và chính sách Marketing phù hợp
Chu kỳ sống của sản phẩm bao gồm bốn giai đoạn: Đối với từng sản phẩm, nhóm chủng loại hoặc nhãn hiệu sản phẩm có thể có số lượng và độ dài từng giai đoạn khác nhau Nhưng dạng khái quát về mặt lý thuyết thì chu kỳ
Trang 199
sống của sản phẩm có bốn giai đoạn đó là: Giai đoạn tung sản phẩm vào thị trường; Giai đoạn phát triển; Giai đoạn chín muồi và Giai đoạn suy thoái
Hình 1.2: Các giai đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm
(Nguồn: Giáo trình Marketing)
Giai đoạn tung sản phẩm vào thị trường (Giai đoạn giới thiệu): Đây là
giai đoạn mở đầu của việc đưa sản phẩm ra bán chính thức trên thị trường Bởi vậy nó đòi hỏi phải có thời gian và sự chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt Mặc
dù vậy mức tiêu thụ trong giai đoạn này thường tăng chậm chạp vì các lý do như: Doanh nghiệp mở rộng năng lực sản xuất; Doanh nghiệp còn phải gặp phải những vướng mắc về kỹ thuật; Chậm triển khai một kênh phân phối hiệu quả; Khách hàng chưa từ bỏ thói quen tiêu dùng trước đây; Khả năng mua sắm còn hạn chế Trong giai đoạn này, doanh nghiệp thường chịu lỗ hoặc lãi rất ít, mặc dù giá bán thường được quy định cao Hướng chính sách của hoạt động Marketing trong giai đoạn này là tập trung nỗ lực bán vào nhóm khách hàng có điều kiện sẵn sàng mua nhất; động viên khuyến khích các trung gian Marketing và tăng cường quảng cáo và xúc tiến bán
Giai đoạn phát triển: Trong giai đoạn này mức tiêu thụ bắt đầu tăng
mạnh, trên thị trường xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh mới, lợi nhuận trong giai đoạn này tăng Để khai thác và kéo dài tối đa cơ hội này, doanh nghiệp có
Trang 2010
thể thực hiện các tư tưởng chiến lược như: Giữ nguyên mức giá hoặc giảm chút để thu hút khách hàng; Giữ nguyên hoặc tăng chi phí kích thích tiêu thụ; Tiếp tục thông tin mạnh mẽ về sản phẩm cho công chúng; Nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo cho nó tính chất mới, sản xuất những mẫu mã mới; Xâm nhập vào những phần thị trường mới; Sử dụng kênh phân phối mới; Thay đổi đôi chút về thông điệp quảng cáo để kích thích khách hàng
Giai đoạn bão hoà (chín muồi): Khi nhịp độ tăng mức tiêu thụ bắt đầu
chững lại, việc tiêu thụ sản phẩm bước vào giai đoạn chín muồi Về thời gian, giai đoạn này thường dài hơn các giai đoạn trước và đặt ra những nhiệm vụ phức tạp Sản phẩm tiêu thụ chậm cũng có nghĩa là chúng tràn đầy trên các kênh lưu thông, điều đó hàm chứa một cuộc cạnh tranh gay gắt Để cạnh tranh các đối thủ dùng nhiều thủ thuật khác nhau như: Bán hạ giá, bán theo giá thấp hơn giá niêm yết chính thức, tăng quảng cáo, kích thích các trung gian thương mại, tăng cường chi phí đầu tư cho việc nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm nhằm tạo ra các mẫu mã hàng mới tình hình đó dẫn đến sự giảm sút của lợi nhuận Để sản phẩm tiếp tục tồn tại trên thị trường, doanh nghiệp có thể có các phương án lựa chọn như: Cải biến thị trường, tức là tìm thị trường mới cho sản phẩm; Cải biến sản phẩm, thay đổi một số yếu tố, đặc tính của sản phẩm; Cải biến các công cụ Marketing Mix
Giai đoạn suy thoái: Giai đoạn suy thoái xuất hiện khi mức tiêu thụ các
loại sản phẩm hoặc nhãn hiệu sản phẩm giảm sút Việc giảm sút có thể diễn ra nhanh chóng, chậm chạp, thậm chí đến số không Cũng có sản phẩm mức tiêu thụ chúng giảm xuống thấp rồi dừng lại ở đó trong nhiều năm
Giống như con người thì sản phẩm cũng cần có một chu kỳ sống Và việc nghiên cứu chu kỳ sống của sản phẩm là một yếu tố quyết định, là cơ sở
để ban lãnh đạo doanh nghiệp cũng như các chuyên gia tiếp thị sử dụng để ra quyết định thời điểm thích hợp
Trang 21Chính sách sản phẩm còn là những nguyên tắc chỉ đạo, quy tắc, phương pháp, thủ tục được thiết lập gắn với việc phát triển và đổi mới sản phẩm nhằm
hỗ trợ và thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu đã xác định Chính sách sản phẩm bao gồm toàn bộ các giải pháp định hướng cho việc phát triển sản phẩm, làm cho sản phẩm luôn thích ứng với thị trường, đáp ứng cầu thị trường trong thời kỳ chiến lược xác định Chính sách sản phẩm được nghiên cứu tách rời với Marketing, chính sách sản phẩm phải chỉ rõ ràng, cụ thể các đặc điểm của sản phẩm như chất lượng, nhãn hiệu, bao bì, đóng gói Định hướng giải pháp phát triển sản phẩm mới, đổi mới sản phẩm là nhiệm vụ chính của chính sách sản phẩm Như vậy, chính sách sản phẩm phải đề cập đến các nguyên tắc, phương pháp và giải pháp cần thiết được sử dụng để thu thập thông tin về sản phẩm; nghiên cứu, thiết kế, thí nghiệm và thử nghiệm sản phẩm mới cũng như đưa sản phẩm mới, sản phẩm đã được cải tiến thâm nhập thị trường
Sản phẩm là vũ khí cạnh tranh cốt lõi, có tác động bền vững và lâu dài nhất trong Marketing Mix 4P Vì vậy, chính sách sản phẩm có vai trò đặc biệt quan trọng với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp, chính sách sản phẩm sẽ quyết định phương hướng sản xuất, quy mô và tốc độ phát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh; Chính sách sản phẩm cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu và chi phí, các yếu tố cấu thành nên lợi nhuận của doanh nghiệp Một sản phẩm độc đáo, chất lượng
Trang 2212
tốt sẽ gia tăng khả năng thu hút khách hàng Số lượng sản phẩm tiêu thụ tăng
sẽ giúp chi phí bình quân trên mỗi đơn vị sản phẩm có xu hướng giảm xuống
góp phần đẩy mạnh doanh thu Đối với khách hàng, sản phẩm tốt đối với
khách hàng là một giải pháp giải quyết vấn đề họ gặp phải Khách hàng sẽ không dùng một sản phẩm dở nhiều lần cho dù giá rẻ, khuyến mãi nhiều hoặc
phân phối vô cùng tiện lợi Về đối thủ cạnh tranh, giá và khuyến mãi rất dễ
dàng bị đối thủ sao chép Nếu doanh nghiệp khuyến mãi, đối thủ có thể ngay lập tức trong ngày hôm đó khuyến mãi theo Chỉ có sản phẩm là độc nhất và
có thời gian sao chép lâu Vì thế, khi đối thủ ra sản phẩm tương tự, doanh nghiệp có thể đưa ra sản phẩm mới với những lợi ích vượt trội hơn
1.2.2 Chính sách về nhãn hiệu sản phẩm
Theo Philip Kotler: “Nhãn hiệu là tên gọi, thuật ngữ, hình vẽ, biểu
tượng, hình vẽ hay sự phối hợp giữa chúng, được dùng để xác nhận hàng hóa hay dịch vụ của người bán hay một nhóm người bán và để phân biệt với hàng hóa và dịch vụ của đối thủ cạnh tranh” Nhãn hiệu có các bộ phận cơ bản là:
Tên hiệu là tên gọi nhằm xác định hàng hoá hay dịch vụ của người bán và phân biệt với hàng hoá của những doanh nghiệp khác; Dấu hiệu của nhãn hiệu bao gồm biểu tượng, hình vẽ, màu sắc hay kiểu chữ đặc thù…đó là một bộ phận của nhãn hiệu mà chúng ta có thể nhận biết được nhưng không thể đọc được
Nhãn hiệu là sự hứa hẹn của người bán bảo đảm cung cấp cho người mua một tập hợp nhất định những tính chất lợi ích và dịch vụ Những nhãn hiệu danh tiếng bao hàm một sự đảm bảo về chất lượng Nhãn hiệu bao gồm sáu cấp độ ý nghĩa là: Thuộc tính nhằm gợi những thuộc tính rất đặc trưng; Lợi ích cho ta ý nghĩa về tiết kiệm, thiết kế hoàn hảo cho ta cảm nhận sự an toàn; Giá trị nói lên những giá trị mà nhiều người mua tìm kiếm; Văn hoá nhãn hiệu của nhà sản xuất thể hiện một nền văn hóa nhất định; Tính cách; Người sử dụng Cần nhận thức rằng, người mua quan tâm đến các cấp độ ỷ nghĩa của nhãn hiệu với mức độ khác nhau Họ thường coi trọng lợi ích, giá
Trang 2313
trị và tính cách hơn các thuộc tính của sản phẩm Hơn nữa, cùng với thời gian các thuộc tính sẽ mất dằn giá trị được đề cao của nó Một nhãn hiệu có uy tín cao, thì sự trung thành của khách hàng đối với nó càng cao, mức độ được biết đến và chất lượng được đánh giá càng cao hơn Với tính cách là một tài sản, nhãn hiệu cần được quản lý cẩn thận Điều này đòi hỏi phải duy trì hay không ngừng nâng cao mức độ biết đến nhãn hiệu, chất lượng và công dụng của nó được thừa nhận Những công việc này cũng đòi hỏi phải đầu tư liên tục vào nghiên cứu phát triển, quảng cáo thật hiệu quả, đảm bảo những dịch vụ thương mại và tiêu dùng tuyệt hảo
Việc đặt nhãn hiệu ngày nay đã trở nên phổ biến đến nỗi khó mà có sản phẩm nào không có nhãn hiệu Việc gắn nhãn hiệu cho sản phẩm có ưu điểm
là thể hiện được lòng tin hơn của người mua đối với nhà sản xuất là khẳng định sự hiện diện của doanh nghiệp trên thị trường qua nhãn hiệu, làm căn cứ cho việc lựa chọn của người mua Và đặc biệt ở nước ta hiện nay, nó làm cơ
sở cho việc quản lý chống làm hàng giả Một số quyết định liên quan đến nhãn hiệu:
– Có thể gắn nhãn hiệu cho sản phẩm của mình hay không? Việc gắn nhãn
hiệu có ưu điểm là thể hiện được lòng tin hơn của người mua đối với nhà sản xuất khi họ dám khẳng định sự hiện diện của mình trên thị trường qua nhãn hiệu, làm căn cứ cho việc lựa chọn của người mua, đặc biệt ở nước ta hiện nay nhãn hiệu làm cơ sở cho việc quản lý chống làm hàng giả
– Ai là chủ nhân của nhãn hiệu sản phẩm? Thông thường thì nhà sản xuất là
chủ đích thực về nhãn hiệu sản phẩm do mình sản xuất ra Nhưng đôi khi vì những lý do khác nhau, nên nhãn hiệu sản phẩm lại không phải nhãn hiệu của nhà sản xuất mà đưa sản phẩm ra thị trường dưới nhãn hiệu của nhà trung gian hoặc vừa nhãn hiệu của nhà sản xuất, vừa nhãn hiệu của nhà trung gian
– Tương ứng với nhãn hiệu đã chọn, chất lượng sản phẩm có những đặc
trưng gì? Nhãn hiệu sản phẩm là để phản ánh sự hiện diện của sản phẩm đó
Trang 2414
trên thị trường, song vị trí và sự bền vững của nhãn hiệu lại do mức độ chất lượng sản phẩm quyết định
– Đặt tên cho nhãn hiệu như thế nào? Khi quyết định đưa ra một sản phẩm
hoặc nhóm sản phẩm ra thị trường phải gắn nhãn hiệu cho chúng và nhà sản xuất còn phải đặt tên cho sản phẩm, cách đặt tên cho nhãn hiệu:
+ Tên nhãn hiệu riêng biệt được sử dụng cho từng mặt hàng, nhưng có đặc tính khác nhau ít nhiều
+ Tên nhãn hiệu đồng nhất cho tất cả các sản phẩm được sản xuất bởi công ty + Tên thương mại của công ty kết hợp với tên nhãn hiệu riêng biệt của sản phẩm
+ Tên nhãn hiệu tập thể cho từng dòng sản phẩm do công ty sản xuất
Việc đặt tên cho nhãn hiệu theo mỗi cách có những ưu điểm nhất định
về sự ràng buộc của công ty với sản phẩm, chi phí quảng cáo sản phẩm, hoặc đem lại sức mạnh hợp pháp cho sản phẩm Nhưng dù lựa chọn cách nào khi đặt tên cho nhãn hiệu sản phẩm cũng phải đảm bảo yêu cầu: Phải hàm ý về lợi ích sản phẩm; phải hàm ý về chất lượng sản phẩm; phải dễ đọc, dễ nhận biết
và dễ nhớ; phải khác biệt hẳn với những tên khác
– Có nên mở rộng giới hạn sử dụng tên nhãn hiệu hay không? Việc mở rộng
giới hạn sử dụng nhãn hiệu đã thành công có ưu điểm là tiết kiệm được chi phí để tuyên truyền quảng cáo so với đặt tên nhãn hiệu khác cho sản phẩm mới và sản phẩm cải tiến, đồng thời bảo đảm cho sản phẩm được khách hàng nhận biết nhanh hơn thông qua nhãn hiệu đã quen thuộc
– Sử dụng một hay nhiều nhãn hiệu cho các sản phẩm hoặc chủng loại sản
phẩm và những đặc tính khác nhau? Nhiều nhãn hiệu riêng là quan điểm
người bán sử dụng hai hay nhiều nhãn hiệu cho các mặt hàng hoặc các chủng loại sản phẩm Mỗi loại sản phẩm, mỗi chủng loại có tên nhãn hiệu riêng gọi
là sản phẩm đặc hiệu
Thương hiệu là tên gọi, thuật ngữ, biểu tượng, hình vẽ hay sự phối hợp giữa chúng, được dùng để xác nhận hàng hoá hay dịch vụ của một người bán
Trang 2515
hay một nhóm người bán và để phân biệt chúng với hàng hoá và dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh Mỗi thương hiệu có một tập hợp các yếu tố nhận diện bao gồm: Tên thương hiệu, logo hay biểu tượng và các dấu hiệu khác như hình vẽ, màu sắc, khẩu hiệu, bài hát, đoạn nhạc, kiến trúc
Chính sách phát triển thương hiệu thực chất là quyết định có nên sử dụng thương hiệu hiện có cho thị trường mới, sản phẩm mới hay sử dụng tên mới cho sản phẩm hoàn toàn mới trên thị trường hiện có Mở rộng giới hạn sử dụng nhãn hiệu là bất kỳ một mưu toan nào hướng vào việc sử dụng tên nhãn hiệu đã thành công gắn cho một mặt hàng mới cải tiến hay một sản phẩm mới Việc sử dụng nhãn hiệu hiện có cho sản phẩm mới, thị trường mới sẽ tiết kiệm chi phí quảng cáo, tuyên truyền so với sử dụng tên cho sản phẩm mới, sản phẩm cải tiến, đảm bảo khách hàng nhận biết nhanh hơn Nhưng nếu sản phẩm mới không được ưa thích thì có thể làm giảm uy tín của bản thân nhãn hiệu, do đó ảnh hưởng đến tất cả các hàng hoá khác Một số quyết định chủ yếu trong quản trị thương hiệu là:
Thứ nhất, quyết định về xây dựng chính sách thương hiệu
– Có gắn thương hiệu cho hàng hóa của mình hay không? Một số loại hàng hóa được bán trên thị trường không cần có thương hiệu Thông thường đây là những sản phẩm chất lượng thấp sản xuất với khối lượng nhỏ, doanh nghiệp không cần tạo dựng uy tín hình ảnh Tất nhiên phần lớn sản phẩm cần có thương hiệu riêng Đây chính là yêu cầu tạo lòng tin cho khách hàng và chống làm hàng giả
– Doanh nghiệp gắn thương hiệu nào của ai cho sản phẩm của họ Thường thì nhà sản xuất nào cũng muốn chính mình là chủ đích thực về thương hiệu hàng hóa do mình sản xuất ra Nhưng đôi khi vì những lý do khác nhau, nhà sản xuất phải bán sản phẩm của họ ra thị trường dưới thương hiệu của người khác
Thứ hai, quyết định thiết kế hệ thống nhận diện thương hiệu: Hệ thống
nhận diện thương hiệu là sự kết hợp của nhiều yếu tố bao gồm tên, logo, ký
Trang 26có thể đăng ký bảo hộ độc quyền sử dụng
– Logo hay biểu tượng: Nguyên tắc thiết kế là đơn giản, có ý nghĩa, độc đáo
dễ sử dụng cho các chương trình truyền thông cho thương hiệu Biểu tượng thương hiệu doanh nghiệp cần xây dựng đảm bảo tính thống nhất các yếu tố
cơ bản giữa tổng công ty với các công ty thành viên và cần đảm bảo những yếu tố chung dễ nhận biết mối liên kết và phân biệt được đẳng cấp giữa chúng
– Xác định khẩu hiệu: Lựa chọn khẩu hiệu cho thương hiệu doanh nghiệp và cho từng thương hiệu sản phẩm Mỗi khẩu hiệu phải nói lên hình ảnh định vị hay tính cách cốt lõi của thương hiệu, đồng thời hấp dẫn gây chú ý và dễ nhớ
Thứ ba, quyết định về đăng kí bảo hộ hệ thống nhận diện thương hiệu
Các doanh nghiệp phải thực hiện đăng ký bản quyền nhãn hiệu để được luật pháp bảo hộ độc quyền sử dụng nhãn hiệu trên thị trường, chống lại bất kỳ mưu toan giả mạo của người khác
Thứ tư, quyết đinh về xây dựng thương hiệu sản phẩm thành thương hiệu mạnh Cần đảm bảo năm yếu tố đó là: Sản phẩm có chất lượng; Xuất
hiện đầu tiên trên thị trường; Chính sách định vị nhất quán; Chương trình truyền thông mạnh mẽ; Thời gian và sự kiên định
Thứ năm, quyết đinh về các công việc quản lí tài sản thương hiệu trong quá trình kinh doanh Giải quyết các nhiệm vụ như: Thường xuyên đánh giá
sức khỏe của thương hiệu; Có nên mở rộng giới hạn sử dụng thương hiệu hay không; Sử dụng một hay nhiều thương hiệu cho các hàng hóa có những đặc
Trang 27Bao bì khác biệt hoặc đặc thù là một phương pháp để doanh nghiệp phân biệt sản phẩm của mình với các sản phẩm cùng loại Bao bì ngày nay có chức năng quan trọng trong kinh doanh Một mặt, bao bì có tác dụng bảo quản sản phẩm trong quá trình sử dụng và vận chuyển qua kênh phân phối tới người tiêu dùng Mặt khác, bao bì có chức năng thông tin về sản phẩm Hơn thế nữa bao bì đòi hỏi phải có kích thước thuận tiện và dễ mở
Bao bì trở thành công cụ Marketing với chức năng tự giới thiệu cho sản phẩm chứa đựng bên trong, chức năng quảng cáo, trở thành “người bán hàng thầm lặng” Chức năng về Marketing trở thành chức năng chính của bao bì, bởi vì: Một là, sự phát triển của hệ thống cửa hàng tự phục vụ ngày càng tăng, hai là, khả năng mua sắm của người tiêu dùng càng tăng, ba là, bao bì góp phần tạo ra hình ảnh về công ty và thương hiệu, bốn là, tạo ra khả năng và ý niệm của người tiêu dùng về sự cải tiến sản phẩm hàng hoá Bao bì phải có sự hấp dẫn, và có thể sử dụng như một phương tiện thu hút khách hàng
Bao bì thường có các bộ phận chủ yếu gồm: Lớp bảo vệ sản phẩm, bao
bì vận chuyển, tên, biểu tượng thương hiệu, dấu hiệu bảo hộ thương hiệu và các thông tin mô tả hàng hoá trên bao gói Tất nhiên có một số hàng hoá đưa
Trang 2818
ra thị trường không cần phải bao bì nhưng với đa số hàng hoá, bao bì là yếu tố quan trọng như chính bản thân sản phẩm Để tạo ra bao bì có hiệu quả cho một sản phẩm phải thông qua các quyết định về bao gói như:
– Xác định những thuộc tính cơ bản của bao gói: Kích thước, hình dáng, vật
liệu, màu sắc, nội dung trình bày và thương hiệu gắn trên bao gói? Khi thông qua các quyết định này phải gắn với các công cụ khác của Marketing Xác
định những lợi ích cơ bản bao gói mang lại cho người tiêu dùng và xã hội – Quyết định các thông tin trên bao gói: Tuỳ vào những điều kiện cụ thể mà
các nhà sản xuất bao gói quyết định đưa thông tin gì lên bao gói và đưa chúng như thế nào? Thông thường những thông tin chủ yếu được thể hiện qua bao gói là: Thông tin về hàng hoá, chỉ rõ đó là hàng gì? Thông tin về đặc tính và phẩm chất hàng hoá; thông tin về xuất sứ của hàng hoá; thông tin về hướng dẫn sử dụng Một số những thông tin này do luật pháp quy định bắt buộc các
nhà sản xuất phải theo
– Quyết định về thử nghiệm bao gói bao gồm: thử nghiệm kỹ thuật để đánh
giá các tính năng của bao gói, thử nghiệm thị trường để đánh giá mức độ chấp nhận của khách hàng
– Xác định chi phí cho bao gói và khả năng chấp nhận của khách hàng
1.2.4 Chính sách về dịch vụ khách hàng
Dịch vụ khách hàng là tất cả các loại dịch vụ doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng kèm theo sản phẩm bao gồm các dịch vụ trước khi bán, trong khi bán và sau khi bán Phần lớn các dịch vụ này do hệ thống hậu cần kinh doanh của doanh nghiêp cung cấp nhằm thoả mãn khách hàng về thời gian, địa điểm, truyền tin, khả năng sử dụng, sự tiện lợi Dịch vụ kèm theo sản phẩm là công cụ để doanh nghiệp sử dụng nhằm phân biệt sản phẩm của mình với sản phẩm cạnh tranh và thuyết phục khách hàng Tuỳ vào từng loại sản phẩm và đặc điểm của thị trường mà tầm quan trọng của dịch vụ khách hàng
sẽ khác nhau Các quyết định về dịch vụ khách hàng đó là:
Trang 2919
– Các loại dịch vụ nào mà khách hàng đòi hỏi và khả năng công ty có thể
cung cấp? Tầm quan trọng tương đối của từng dịch vụ đó đối với khách hàng
Doanh nghiệp cần cung cấp bao nhiêu loại dịch vụ cho khách hàng là tuỳ thuộc vào đặc điểm của sản phẩm, đặc điểm của thị trường và đặc điểm cạnh tranh Trong đó nhu cầu và mong muốn của khách hàng là một cơ sở quan trọng để xác định doanh nghiệp nên cung cấp những dịch vụ khách hàng nào?
– Chất lượng dịch vụ và công ty phải đảm bảo cho khách hàng đến mức độ
nào so với các đối thủ cạnh tranh
– Chi phí dịch vụ, tức là khách hàng được cung cấp dịch vụ miễn phí hay theo
mức giá cả nào? Cung cấp nhiều dịch vụ cho khách hàng đương nhiên có thể
làm tăng giá bán sản phẩm Vì vậy số lượng và chất lượng dịch vụ cung cấp phải đặt trong khả năng chi trả của khách hàng
– Lựa chọn hình thức cung cấp dịch vụ: do công ty trực tiếp cung cấp hay
được cung cấp bởi các trung gian buôn bán Công ty cũng có thể thuê tổ chức độc lập bên ngoài cung cấp dịch vụ cho khách hàng
Theo các nhà nghiên cứu thì có năm yếu tố chủ yếu quyết định chất lượng dịch vụ Các yếu tố này được xếp thứ tự theo tầm quan trọng được khách hàng đánh giá: Thứ nhất là mức độ tin cậy, khả năng đảm bảo dịch vụ
đã hứa hẹn một cách chắc chắn và chính xác; Thứ hai, thái độ nhiệt tình sẵn sàng giúp đỡ khách hàng và đảm bảo dịch vụ nhanh chóng; Thứ ba, sự đảm bảo trình độ chuyên môn, thái dộ ứng xử của nhân viên và khả năng của họ tạo nên được tín nhiệm và lòng tin ờ khách hàng; Thứ tư, sự thông cảm với thái độ quan tâm và đồng cảm với khách hàng; Thứ năm, yếu tố hữu hình như các phương tiện vật chất, trang thiết bị, con người và tài liệu thông tin Doanh nghiệp phải đảm bảo về chất lượng dịch vụ, luôn đặt ra những tiêu chuẩn cao
về dịch vụ để theo đuổi Thường xuyên theo dõi kết quả thực hiện dịch vụ và giải quyết đầy đủ những khiếu nại của khách hàng cũng như thỏa mãn lợi ích của khách hàng, nhân viên
Trang 3020
1.2.5 Chính sách về chủng loại sản phẩm
Chủng loại sản phẩm là một nhóm những sản phẩm có liên hệ mật thiết với nhau, hoặc vì chúng thực hiện một chức năng tương tự, được bán cho cùng một nhóm khách hàng, được đưa vào thị trường theo cùng những kênh phân phối như nhau, hay được xếp chung một mức giá bán nào đó Bề rộng của chủng loại sản phẩm là sự phân giải về số lượng các mặt hàng thành phần theo một tiêu thức nhất định, ví dụ như theo kích cỡ, theo công suất Mỗi doanh nghiệp thường có cách thức lựa chọn bề rộng chủng loại sản phẩm khác nhau Những lựa chọn này tùy thuộc vào mục đích mà doanh nghiệp theo đuổi Các doanh nghiệp thiên về theo đuổi mục tiêu cung cấp một chủng loại đầy đủ hay phấn đấu để chiếm lĩnh phần lớn thị trường hoặc mở rộng thị trường thường có chủng loại sản phẩm rộng Trong trường hợp này họ sản xuất cả những sản phẩm sinh lời ít Ngược lại có những doanh nghiệp quan tâm trước hết đến sinh lời cao của sản phẩm
Danh mục sản phẩm là tập hợp tất cả các chủng loại hàng hoá và các đơn vị hàng hoá do một người bán cụ thể đem chào bán cho người mua Danh mục sản phẩm được phản ánh qua bề rộng, mức độ phong phú bề sâu và mức
độ hài hoà của nó Bề rộng của danh mục sản phẩm là tổng thể số các chủng loại sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất Mức độ phong phú của danh mục sản phẩm là tổng số những mặt hàng thành phần của nó Bề sâu của danh mục sản phẩm là tổng số các đơn vị sản phẩm cụ thể được chào bán trong từng mặt hàng riêng của một chủng loại Mức độ hài hòa của danh mục sản phẩm phản ánh mức độ gần gũi của sản phẩm thuộc các nhóm chủng loại khác nhau xét theo góc độ mục đích sử dụng cuối cùng, hoặc những yêu cầu về tổ chức sản xuất, các kênh phân phối hay một tiêu chuẩn nào đó Bốn thông số đặc trưng cho danh mục sản phẩm mở ra cho doanh nghiệp bốn hướng chiến lược mở rộng danh mục sản phẩm
Một số quyết định về danh mục, chủng loại sản phẩm mà doanh nghiệp phải quan tâm tới khi thiết kế, phát triển chủng loại sản phẩm:
Trang 3121
Về quyết định mở rộng hoặc thu hẹp bề rộng của danh mục sản phẩm:
Quyết định này về bề rộng của danh mục sản phẩm dẫn đến việc tăng hoặc giảm các dòng sản phẩm, tức là mở rộng hoặc thu hẹp chủng loại sản phẩm
Có hai trường hợp sau:
– Nếu chủng loại sản phẩm hiện tại của công ty hẹp có thể bổ sung thêm các
chủng sản phẩm mới để tăng lợi nhuận, tăng độ an toàn, tận dụng năng lực
sản xuất dư thừa, chiếm lĩnh thị trường còn bỏ trống Các chủng loại sản phẩm mới có thể liên quan hoặc không liên quan đến các chủng loại sản phẩm hiện tại
– Nếu bề rộng của danh mục sản phẩm rộng thì có thể thu hẹp, giảm bớt, loại
bỏ một số chủng loại sản phẩm Khi một công ty muốn chiếm lĩnh nhiều thị trường thì họ sẽ áp dụng chiến lược mở rộng danh mục sản phẩm Ngược lại, khi công ty quan tâm đến tỷ suất lợi nhuận cao thì thường thu hẹp bề rộng của danh mục sản phẩm, bằng cách bỏ bớt các chủng loại sản phẩm ít sinh lời, chỉ nhằm vào các chủng loại sản phẩm sinh lời cao
Về quyết định tăng hoặc giảm chiều sâu của các chủng loại sản phẩm:
Cũng tương tự như trên, công ty có thể thêm hoặc bớt các sản phẩm trong mỗi chủng loại sản phẩm Khi một sản phẩm đã bước vào giai đoạn bão hoà, công
ty có thể thực hiện chiến lược đổi mới sản phẩm bằng cách cải tiến sản phẩm hiện hành và loại bỏ sản phẩm đó
Về quyết định về chiến lược phát triển chủng loại sản phẩm: Chủng
loại sản phẩm của một công ty cũng là một bộ phận của chủng loại sản phẩm toàn ngành Chính sách phát triển chủng loại sản phẩm có thể được thực hiện theo các hướng là lên phía trên, xuống phía dưới, hoặc theo cả 2 hướng theo hai biến số là chất lượng và giá cả, hoặc phát triển sang góc trên bên trái – Phát triển lên trên: Khi công ty đang kinh doanh các sản phẩm ở thị trường phía dưới: chất lượng thấp, giá thấp, công ty có thể vươn lên thị trường phía trên với chất lượng cao, giá cao nhằm đạt mức sinh lời cao, tốc độ tăng trưởng cao hơn, hoặc làm cho chủng loại sản phẩm phong phú thêm cho khách hàng
Trang 3222
– Phát triển xuống phía dưới: Đây là chính sách đi theo hướng ngược lại so với chính sách trên với mục tiêu là cản trở các đối phương hoặc xâm nhập vào thị trường đang tăng trưởng nhanh
– Phát triển theo hai phía, vừa lên vừa xuống Mục tiêu của chính sách này là chiếm lĩnh toàn bộ thị trường
– Phát triển lên góc trên bên trái: Chất lượng cao giá thấp Để cạnh tranh, các công ty Việt Nam có thể thực hiện chính sách này với lợi thế về chi phí các đầu vào thấp Rất nhiều loại hàng hoá Việt Nam có chất lượng tương đương sản phẩm nước ngoài, nhưng giá chỉ bằng một phần nhỏ
1.2.6 Chính sách phát triển sản phẩm mới
Theo quan niệm Marketing: “Sản phẩm mới có thể là những sản phẩm
mới về nguyên tắc, sản phẩm mới cải tiềm từ các sản phẩm mới hiện có hoặc những nhãn hiệu mới do kết quả nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm của doanh nghiệp” Điều quan trọng là phải được khách hàng thừa nhận là mới
Do những thay đổi nhanh chóng về thị hiếu, công nghệ, tình hình cạnh tranh doanh nghiệp không thể tồn tại và phát triển nếu chỉ dựa vào những sản phẩm hiện có Vì vậy, doanh nghiệp phải quan tâm đến việc phát triển sản phẩm mới nếu muốn tồn tại và phát triển lâu dài Để có được sản phẩm mới, doanh nghiệp có thể có hai cách đó là: Mua toàn bộ doanh nghiệp nào đó, mua bằng sáng chế hay giấy phép sản xuất sản phẩm của người khác, hoặc tự thành lập bộ phận nghiên cứu Marketing phát triển sản phẩm mới Thông thường, doanh nghiệp sẽ tập trung nghiên cứu theo hướng thứ hai Phát triển sản phẩm mới là việc làm cần thiết nhưng cũng rất mạo hiểm vì nó ẩn chứa nhiều rủi ro Để hạn chế bớt rủi ro các chuyên gia – những người sáng tạo sản phẩm mới phải tuân thủ nghiêm ngặt các bước trong quá trình tạo ra sản phẩm mới và đưa nó vào thị trường
Nếu sản phẩm mới tạo ra được lợi nhuận tối đa và các rủi ro tối thiểu,
nó chắc chắn sẽ được phát triển và tung ra thị trường Tuy nhiên, doanh nghiệp khó có thể biết chắc sản phẩm mới có thành công không do có rất
Trang 3323
nhiều các yếu số khách quan Cần thiết phải có một quy trình phát triển sản phẩm mới hợp lý, có tính hệ thống cho kế hoạch hoá sản phẩm mới Đầu tiên, doanh nghiệp phải hình thành đường hướng chính sách sản phẩm mới bao gồm: Lĩnh vực sản phẩm sẽ đầu tư phát triển sản phẩm mới; Trách nhiệm tổ chức quản lý các giai đoạn trong chính sách sản phẩm mới; Các yếu tố để ra quyết định trực tiếp về sản phẩm mới Sau khi hình thành đường lối, chính sách, quá trình phát triển sản phẩm mới sẽ diễn ra theo sáu bước đó là: Hình thành ý tưởng; Đánh giá ý tưởng; Kế hoạch dự; Phát triển ý tưởng; Thử nghiệm trong điều kiện thị trường; Triển khai sản xuất đại trà và doanh nghiệp Hơn nữa, chọn thời điểm để tung sản phẩm ra thị trường là rất quan trọng, ra mắt sao cho có lợi nhiều cơ hội để tăng doanh thu và lợi nhuận; Chọn khu vực để tung sản phẩm ra thị trường có tiềm năng bán hàng, thuận lợi kênh phân phối và xúc tiến bán; Xác định khách hàng triển vọng tiên phong về phong cách tiêu dùng của thị trường mục tiêu; Cách thức giới thiệu sản phẩm có hiệu quả khi tung chúng ra các khu vực thị trường khác nhau; đồng thời đảm bảo tính phối hợp và nhất quán của các chương trình hoạt động Marketing
1.3 Một số chính sách hỗ trợ
1.3.1 Chính sách giá
Giá là một trong bốn yếu tố quan trọng trong Marketing Mix 4P Theo định nghĩa hẹp nhất thì giá là khoản tiền trả cho một sản phẩm Nói rộng hơn, giá là tổng của toàn bộ những giá trị mà khách hàng phải trả để được hưởng những lợi ích của việc sở hữu hoặc sử dụng một sản phẩm
Chính sách giá là những phương pháp, kế hoạch nghiên cứu được đưa
ra để xác định một mức giá hấp dẫn, cạnh tranh nhất cho sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường Chính sách giá thường không mang tính ổn định, lâu dài bởi thị trường luôn thay đổi và doanh nghiệp phải đưa ra những phương
án, chính sách giá mới phù hợp hơn và có thể cạnh tranh với đối thủ
Trang 3424
Mặc dù hiện nay trên thị trường cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm chứ không cạnh tranh bằng giá cả như trước nhưng không vì thế mà làm giảm vai trò của chính sách giá Giá cả là một yếu tố rất quan trọng, nó ảnh hưởng rất nhiều và trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp và thương hiệu tác động sâu rộng đến nhiều chủ thể trong đời sống kinh doanh Đối với khách hàng, giá cả là một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp hành vi mua hàng Đối với doanh nghiệp, giá là biến số Marketing duy nhất quy định đến doanh thu cả doanh nghiệp và tác động đến sức cạnh tranh, vụ thể của doanh nghiệp trên thị trường mục tiêu Một số chính sách giá phổ biến nhất được các doanh nghiệp
sử dụng hiện nay:
Thứ nhất là hớt váng thị trường Đúng như tên gọi của nó, đây là cách
mà doanh nghiệp “hớt phần ngon” đầu tiên trên thị trường về Theo chính sách này, doanh nghiệp sẽ đặt giá cao nhất có thể cho các đoạn thị trường sẵn sàng chấp nhận sản phẩm mới để thu được lợi nhuận Khi mức tiêu thụ giảm xuống thì doanh nghiệp lại giảm giá để thu hút thêm khách hàng mới và ngăn chặn đối thủ cạnh tranh Áp dụng cho các sản phẩm công nghệ cao, độc đáo, mang tính độc quyền Điều kiện để định giá hớt váng là mức cầu về sản phẩm mới cao; Chất lượng và hình ảnh sản phẩm hỗ trợ cho mức giá cao; Đối thủ khó tham gia vào thị trường để làm cho mức giá giảm đi Chính sách này sẽ rất thích hợp cho các sản phẩm mới
Thứ hai là định giá thâm nhập thị trường Định giá thâm nhập là chính
sách đặt giá ban đầu của một sản phẩm hay dịch vụ thấp hơn giá phổ biến trên thị trường Các công ty sử dụng chính sách này phải chấp nhận lợi nhuận trước mắt sẽ ít để thay vào đó là sản phẩm của mình sẽ được thị trường chấp nhận rộng rãi hơn Đó là thị trường của những khách hàng chưa từng mua sản phẩm hoặc những khách hàng trung thành với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh Áp dụng cho các sản phẩm chu kì sống dài
Thứ ba là định giá ở mức cao cấp Với mức giá cao cấp, doanh nghiệp
sẽ phải tăng mức giá cao hơn các đối thủ khác Đây là chính sách được nhiều
Trang 3525
doanh nghiệp lựa chọn hiện nay tuy nhiên nó cũng đặt ra nhiều thách thức Để
có thể đánh vào tâm lý “tiền nào của nấy”, sản phẩm của doanh nghiệp phải thực sự mang đến cho họ giá trị tương xứng với số tiền mà họ bỏ ra
Thứ tư là giá cho chương trình khuyến mãi Các chương trình khuyến
mãi mang đến những lợi ích hấp dẫn kích thích khách hàng mua sản phẩm Doanh nghiệp có thể sử dụng các chính sách giảm giá, tặng voucher, coupon hoặc quà tặng để định giá cho sản phẩm
Thứ năm là định giá theo vị trí địa lý Ở mỗi một vị trí địa lý khác
nhau, doanh nghiệp có sự điều chỉnh giá để phù hợp với thu nhập và mức chi tiêu chung của khách hàng ở địa phương đó
lý, phản ứng tích cực của khách hàng nhằm tăng nhu cầu bằng cách tạo ra một
ảo tưởng về giá trị nâng cao cho người tiêu dùng Chẳng hạn như nhiều doanh nghiệp để mức giá 99.000 nghìn đồng thay vì 100.000 nghìn đồng để thu hút người mua bởi khách hàng thường có xu hướng tập trung vào những con số thay vì mức giá cụ thể
Chính sách giá có mối quan hệ tương hỗ với chính sách sản phẩm, nó phối hợp chặt chẽ, chính xác Giá cả là hình ảnh của chất lượng, bởi vậy giá
cả của sản phẩm dịch vụ được xác định trên cơ sở chính sách sản phẩm dịch
vụ của doanh nghiệp Như vậy, đứng sau chính sách sản phẩm là chính sách giá thích hợp, mềm dẻo và linh hoạt Nếu thiếu một chính sách giá đúng đắn thì sản phẩm có được xây dựng tốt cũng không đem lại hiệu quả Chính sách giá sai lầm sẽ làm mất đi một khoản lợi nhuận lớn cho doanh nghiệp
1.3.2 Chính sách phân phối
Phân phối là quá trình tổ chức, kinh tế, kĩ thuật nhằm điều hành và vận chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng đạt hiệu quả kinh tế cao Phân phối là cầu nối giúp nhà sản xuất cung cấp sản phẩm cho khách hàng đúng sản phẩm, thời điểm, địa điểm, đúng kênh, luồng hàng
Trang 3626
Theo quan điểm Marketing: “Kênh phân phối là một tập hợp các tổ
chức độc lập tham gia vào quá trình đưa một sản phẩm hoặc dịch vụ có sẵn
từ người sản xuất đến người tiêu dùng” Kênh phân phối có vai trò quan trọng
trong hoạt động Marketing Kênh phân phối hợp lý, thuận tiện cho người mua
sẽ góp phần cho sản phẩm lưu thông suốt, sản phẩm sẽ dễ dàng nhanh chóng đến với người mua Doanh nghiệp sẽ bán được nhiều sản phẩm, tăng sức cạnh tranh và góp phần chiếm lĩnh thị trường cho sản phẩm Kênh phân phối tốt sẽ
là một công cụ quan trọng để sản phẩm xâm nhập vào thị trường xa và mới lạ Ngược lại, nếu kênh phân phối không hợp lý thì quá trình lưu thông sẽ không thông suốt, tốn kém nhiều chi phí, kết quả tiêu thụ không cao hoặc có khi lỡ mất cơ hội bán hàng Kênh phân phối có vai trò như là “một chiếc cầu nối” giữa sản xuất và tiêu dùng Quyết định phân phối là một trong những quyết định quan trọng mà doanh nghiệp phải thông qua, bởi vì các kênh phân phối được lựa chọn sẽ ảnh hưởng tới các quyết định Marketing khác Một sản phẩm muốn đến được tay người tiêu dùng thì phải đi qua những kênh phân phối nhất định
Chính sách phân phối bao gồm ba kênh phân phối chính đó là kênh phân phối trực tiếp, kênh phân phối gián tiếp và kênh phân phối kép
Về kênh phân phối trực tiếp hay còn gọi là kênh phân phối cấp 0 Khi
nhà sản xuất cung cấp sản phẩm hàng hoá trực tiếp cho người tiêu cuối dùng cùng được gọi là kênh phân phối trực tiếp Nhà sản xuất tự mình thực hiện tất
cả các chức năng Marketing Không có người trung gian nào tham gia Kênh phân phối trực tiếp là một phương thức đơn giản và chi phí thấp Trong các kênh phân phối trực tiếp, nhà sản xuất cố gắng tiếp cận người tiêu dùng thông qua cửa chuỗi cửa hàng, chuyển phát nhanh hoặc bán hàng qua bưu điện, bán trực tuyến…
Về kênh phân phối gián tiếp: Khi một nhà sản xuất liên quan đến một
người môi giới hoặc trung gian để bán sản phẩm của mình cho khách hàng
Trang 37– Kênh phân phối ba cấp (Nhà sản xuất > Đại lý > Nhà bán buôn > Nhà bán lẻ
> Khách hàng): Khác với kênh hai cấp, kênh phân phối ba cấp có thêm một trung gian phân phối nữa là đại lý nằm giữa nhà sản xuất và nhà bán buôn Các đại lý này có nhiệm vụ xử lý việc phân phối sản phẩm cho các nhà bán buôn, đến lượt họ, phân phối cho các nhà bán lẻ của một khu vực cụ thể Nhà sản xuất có thể chỉ định một đại lý bán hàng duy nhất hoặc họ có thể chỉ định các đại lý duy nhất theo khu vực
Về kênh phân phối kép: Khi một doanh nghiệp sử dụng đồng thời nhiều
kênh phân phối để tiếp cận người tiêu dùng cuối Họ có thể mở các phòng trưng bày của riêng mình để bán sản phẩm trực tiếp, đồng thời sử dụng các sàn thương mại điện tử và các nhà bán lẻ khác để thu hút nhiều khách hàng hơn
Chính sách phân phối được phân loại thành ba loại là chính sách phân phối rộng rãi, chính sách phân phối chọn lọc và chính sách phân phối độc quyền, ba phương pháp này tuỳ chỉnh theo mô hình phân phối, chính sách phân phối mà linh hoạt ứng dụng
Về chính sách phân phối rộng rãi: Các nhà sản xuất hàng tiêu dùng và
các loại nguyên liệu thông thường vẫn dùng cách phân phối rộng rãi, khi đó lượng hàng dự trữ của họ ở càng nhiều cửa hàng càng tốt
Trang 3828
Về chính sách phân phối chọn lọc: Doanh nghiệp chỉ lựa chọn một số
trung gian ở một số nơi nhất dịnh để tiêu thụ sản phẩm mà không cần phải phân tán lực lượng ra nhiều điểm bán, nhằm giành được thị phần cần thiết với
sự kiểm soát chặt chẽ và tiết kiệm chi phí Hình thức này thường áp dụng cho loại hàng hóa có giá trị cao và khách hàng thường suy nghĩ tính toán nhiều mới quyết định mua
Về chính sách phân phối độc quyền: Doanh nghiệp chỉ sử dụng một số
trung gian rất hạn chế ở một khu vực thị trường để tiêu thụ sản phẩm Họ yêu cầu đại lý chỉ được bán hàng của mình, tuyệt đối không được bán hàng của đối thủ cạnh tranh Cách phân phối này giúp đề cao hình ảnh của sản phẩm và
có thể mang lại cho doanh nghiệp nhiều thành công hơn
1.3.3 Chính sách xúc tiến hỗn hợp
Xúc tiến hỗn hợp là những nỗ lực của doanh nghiệp để thông báo, thuyết phục, khách hàng nhớ đến hình ảnh sản phẩm với cảm xúc (hài lòng, thích thú, ham muốn) và hành động mua sản phẩm của doanh nghiệp Nhờ xúc tiến mà thúc đầy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa doanh nghiệp có thể bán ra nhiều hơn và nhanh hơn Xúc tiến hỗn hợp có các mục đích cơ bản là thông báo, thuyết phục và nhắc nhở đối tượng nhận tin Qua các nội dung thông điệp, doanh nghiệp thông báo cho khách hàng về sự có mặt của sản phẩm trên thị trường; thuyết phục họ về các ưu việt của sản phẩm so với các sản phẩm cạnh tranh và nhắc nhở họ nhớ đến sản phẩm khi có nhu cầu
Để thực hiện chính sách, doanh nghiệp không sử dụng một hình thức đơn lẻ mà thường sử dụng kết hợp một số các hình thức như: Quảng cáo; Khuyến mãi; Quan hệ công chúng; Bán hàng cá nhân; Marketing trực tiếp
Về quảng cáo: Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện thông tin để
truyền đạt tin tức về chất lượng hay ưu điểm của sản phẩm đến khách hàng
Để thực hiện được việc này, các doanh nghiệp phải chi ra một khoản tiền nhất định Quảng cáo được thực hiện thông qua các phương tiện chủ yếu như: Báo
Trang 3929
chí; Radio; Truyền hình; Quảng cáo ngoài trời; Mạng internet; Quảng cáo trên không; Phương tiện vận chuyển,…
Về khuyến mãi: Khuyến mãi là các hoạt động khuyến khích trước mắt
nhằm đẩy mạnh việc mua hay bán một sản phẩm hay dịch vụ, nhằm gây tác động nhu cầu của khách hàng Khuyến mãi có tác dụng trong việc khuyến khích khách hàng dùng thử sản phẩm hoặc mua sản phẩm dịch vụ ngay lập tức, hoặc mua nhiều hơn
Về quan hệ công chúng: Quan hệ công chúng là những hoạt động
truyền thông phi cá nhân cho một tổ chức, một sản phẩm, dịch vụ hoặc ý tưởng mà không phải trả tiền một cách trực tiếp hoặc ẩn dưới dạng hoạt động tài trợ Doanh nghiệp có thể truyền thông tới khách hàng thông qua một bài báo có ý kiến cá nhân của người viết, một hoạt động tài trợ, một sự kiện hoặc một thông báo về doanh nghiệp hoặc dịch vụ của họ
Về bán hàng cá nhân: Bán hàng trực tiếp là sự giao tiếp mặt đối mặt
của nhân viên bán hàng với khách hàng tiềm năng để trình bày, giới thiệu và bán sản phẩm Bán hàng cá nhân là công cụ hiệu quả nhất trong giai đoạn hình thành sự yêu thích, niềm tin của người mua và giai đoạn ra quyết định mua trong quá trình mua hàng Các công cụ bán hàng cá nhân có thể kể tới như hội chợ, cửa hàng giới thiệu sản phẩm…
Về Marketing trực tiếp: Marketing trực tiếp là phương thức sử dụng các
phương tiện truyền thông để các tổ chức có thể giao tiếp trực tiếp với khách hàng mục tiêu nhằm tạo ra sự phản hồi hay giao dịch của khách hàng tại mọi địa điểm Dựa trên những mục tiêu trong chương trình Marketing trực tiếp của mình, doanh nghiệp lựa chọn những hình thức marketing trực tiếp như quảng cáo đáp ứng trực tiếp, thư chào hàng; mail…
Trang 4030
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM CỦA
MÌ ĂN LIỀN HẢO HẢO THUỘC CÔNG TY ACECOOK VIỆT NAM
2.1 Giới thiệu chung về công ty Acecook Việt Nam
2.1.1 Thông tin sơ bộ về công ty Acecook Việt Nam
Được thành lập vào ngày 15/12/1993 và chính thức đi vào hoạt động từ năm 1995, sau nhiều năm hoạt động, Công ty Cổ phần Acecook Việt Nam đã không ngừng phát triển lớn mạnh trở thành công ty thực phẩm tổng hợp hàng đầu tại Việt Nam với vị trí vững chắc trên thị trường, chuyên cung cấp các sản phẩm ăn liền có chất lượng và dinh dưỡng cao
Trụ sở chính: Lô II-3, Đường số 11, Khu công nghiệp Tân Bình -
Phường Tây Thạnh - Quận Tân Phú – Thành phố Hồ Chí Minh