- Giá trị nhận thức là khả năng của văn học có thể đáp ứng được yêu cầu của con người muốn hiểu biết cuộc sống và chính bản thân, từ đó tác động vào cuộc sống một cách có hiệu quả... Phả
Trang 1CHUYÊN ĐỀ
GIÁ TRỊ VÀ CHỨC NĂNG VĂN HỌC
Trang 2A LÝ THUYẾT
I Giá trị văn học
* Khái quát chung
- Giá trị văn học là sản phẩm kết tinh từ quá trình văn học, đáp ứng
những nhu cầu khác nhau của cuộc sống con người, tác động sâu sắc tới con người và cuộc sống.
- Những giá trị cơ bản:
+ Giá trị nhận thức.
+ Giá trị giáo dục.
+ Giá trị thẩm mĩ.
Trang 31 Giá trị nhận thức
* Cơ sở
- Tác phẩm văn học là kết quả của quá trình nhà văn khám phá, lí giải hiện thực đời sống rồi chuyển hoá những hiểu biết đó vào nội dung tác phẩm. Bạn đọc đến với tác phẩm sẽ được đáp ứng nhu cầu về nhận thức.
- Mỗi người chỉ sống trong một khoảng thời gian nhất định, ở những không gian nhất định với những mối quan hệ nhất định. Văn học có khả năng phá vỡ giới hạn tồn tại trong thời gian, không gian thực tế của mỗi cá nhân, đem lại khả năng sống cuộc sống của nhiều người, nhiều thời, nhiều nơi.
- Giá trị nhận thức là khả năng của văn học có thể đáp ứng được yêu cầu của con người muốn hiểu biết cuộc sống và chính bản thân, từ đó tác động vào cuộc sống một cách có hiệu quả.
Trang 4* Nội dung
- Quá trình nhận thức cuộc sống của văn học: nhận thức nhiều mặt của cuộc sống với những thời gian, không gian khác nhau (Quá khứ, hiện tại, tương lai, các vùng đất, các dân tộc, phong tục, tập quán,…)
Ví dụ: Đọc sử thi Đăm Săn, chúng ta hiểu biết hơn về đời sống sinh hoạt và khát vọng của con
người Tây Nguyên thời cổ đại.
Đọc “VC APhủ” của TH, chúng ta hiểu thêm về phong tục tập quán của người Tây Bắc: bắt vợ, trình ma, xử kiện…
- Quá trình tự nhận thức của văn học: người đọc hiểu được bản chất của con người nói chung (mục đích tồn tại, tư tưởng, khát vọng, sức mạnh của con người), Từ đó mà hiểu chính bản thân mình
Ví dụ: đọc “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, ta thấm thía tâm trạng nhớ nhà, cô đơn, lo sợ chông chênh của TK trước cuộc đời đầy sóng gió -> Thương Kiều, ta cũng hiểu chính mình Kiều gần gũi với ta trong những nỗi sợ rất con người Từ đó, ta hiểu mình hơn và thêm trân quý những gì ta đang có.
Trang 52 Giá trị giáo dục
* Cơ sở
- Con người không chỉ có nhu cầu hiểu biết mà còn có nhu cầu hướng thiện, khao khát cuộc sống tốt lành, chan hoà tình yêu thương
- Nhà văn luôn bộc lộ tư tưởng-tình cảm, nhận xét đánh giá,…của mình trong tác phẩm. Điều đó tác động lớn và có khả năng giáo dục người đọc
- Giá trị nhận thức luôn là tiền đề của giá trị giáo dục. Giá trị giáo dục làm sâu sắc thêm giá trị nhận thức
Trang 6* Nội dung
- Văn học đem đến cho con người những bài học quý giá về lẽ sống.
Ví dụ: Paven Coocsaghin trong tác phẩm “Thép đã tôi thế đấy” đã thắp
lên trong ta lý tưởng sống cao cả: "Cái quý nhất của con người ta là sự
sống Đời người chỉ sống có một lần Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: Tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao
đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người"
- Văn học hình thành trong con người một lí tưởng tiến bộ, giúp họ
có thái độ và quan điểm đúng đắn về cuộc sống.
Ví dụ: Qua nhân vật Giăng Văn Giăng - vị thánh của tình thương trong
“Những người khốn khổ”, chúng ta thấm nhuần một phương châm
sống: “Trên đời này chỉ có một điều ấy thôi đó là yêu thương nhau”.
Trang 7* Nội dung
- Văn học giúp con người biết yêu ghét đúng đắn, làm cho tâm hồn con người trở nên lành mạnh, trong sáng, cao thượng hơn.
Ví dụ: Đọc những câu chuyện cổ tích, ta thêm thương, thêm quý những con người hiền lành, tốt bụng như cô Tấm, anh Khoai, Sọ Dừa,… Đồng thời cũng căm ghét mẹ con dì ghẻ độc ác, người anh trong “Cây khế” tham lam,
mẹ con Lý Thông nham hiểm, thâm độc,…
- Văn học nâng đỡ cho nhân cách con người phát triển, giúp cho họ biết phân biệt phải-trái, tốt-xấu, đúng-sai, có quan hệ tốt đẹp và biết gắn bó cuộc sống của cá nhân mình với cuộc sống của con người.
Ví dụ: Học “Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy”, qua bi kịch đau xót của nàng Mị Châu ta thấm thía bài học phải hài hòa giữa hạnh phúc riêng tư và hạnh phúc gia đình.
Trang 8* Đặc trưng giáo dục của văn học là từ con đường cảm xúc đến nhận thức, tự giáo dục (khác với pháp luật, đạo đức,…) Văn học cảm hóa con người bằng hình tượng, bằng cái thật, cái đúng, cái đẹp nên nó giáo dục một cách tự giác, thấm sâu, lâu bền Văn học không chỉ góp phần hoàn thiện bản thân con người mà còn hướng con người tới những hành động cụ thể, thiết thực, vì một cuộc đời ngày càng tốt đẹp hơn.
Ví dụ: Đọc truyện “Cô bé bán diêm” ta thấm thía hơn niềm hạnh phúc khi có cha mẹ yêu thương, có mái ấm gia đình. Ta thương cảm xót xa cho những con người nghèo khổ, những em
bé lang thang, ko nơi nương tựa. Và cũng khao khát góp một phần nhỏ bé của mình giúp đỡ họ có cuộc sống tốt đẹp hơn
Trang 93 Giá trị thẩm mĩ
* Cơ sở
- Con người luôn có nhu cầu cảm thụ, thưởng thức cái đẹp.
- Thế giới hiện thực đã có sẵn cái đẹp nhưng không phải ai cũng có thể nhận biết và cảm thụ. Nhà văn, bằng năng lực của mình đã đưa cái đẹp vào tác phẩm một cách nghệ thuật, giúp người đọc vừa cảm nhận được cái đẹp cuộc đời vừa cảm nhận được cái đẹp của chính tác phẩm.
- Giá trị thẩm mĩ là khả năng của văn học có thể đem đến cho con người những rung động trước cái đẹp (cái đẹp của cuộc sống và cái đẹp của chính tác phẩm).
Trang 10* Nội dung
- Văn học đem đến cho con người những vẻ đẹp muôn hình, muôn vẻ của cuộc đời (thiên nhiên, đất nước, con người, cuộc đời, lịch sử,…). Ví dụ ( )
- Văn học đi sâu miêu tả vẻ đẹp con người (ngoại hình, nội tâm, tư tưởng-tình cảm, những hành động, lời nói,…). Ví
dụ Thúy Kiều với nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành, tài năng cầm-kì-thi-họa, tấm lòng hiếu thảo với mẹ cha, cháy bỏng, thủy chung trong tình yêu, và có nội tâm phong phú, sôi sục,…
Trang 11vẻ đẹp đồ sộ, kì vĩ của Cửu Trùng Đài nguy nga, lộng lẫy, tranh tinh xảo với hóa công
- Hình thức đẹp của tác phẩm (kết cấu,ngôn ngữ,…) cũng chính là một nội dung quan trọng của giá trị thẩm mĩ. Ví dụ truyện cổ tích thần kì ấn tượng người đọc ở những yếu tố kì
ảo, cốt truyện đa tình tiết, hấp dẫn, nhân vật chia thành hai phe thiện - ác, tốt - xấu rõ rệt,…
Trang 124.Mối quan hệ giữa các giá trị văn học
Ba giá trị có mối quan hệ mật thiết, không tách rời, cũng tác
động đến người đọc (khái niệm chân-thiện-mĩ của cha ông).
- Giá trị nhận thức luôn là tiền đề của giá trị giáo dục. Giá trị giáo dục làm sâu sắc thêm giá trị nhận thức. Giá trị thẩm
mĩ khiến cho giá trị nhận thức và giá trị giáo dục được phát huy. Không có nhận thức đúng đắn thì văn học không thể giáo dục được con người vì nhận thức không chỉ để nhận thức mà nhận thức là để hành động.
Tuy nhiên, giá trị nhận thức và giá trị giáo dục chỉ có thể phát huy một cách tích cực nhất, có hiệu quả cao nhất khi gắn với giá trị thẩm mĩ-giá trị tạo nên đặc trưng của văn học
Trang 13II CHỨC NĂNG VĂN HỌC
1 Khái niệm: Chức năng của văn học là vai trò, tác dụng của văn học đối với
đời sống xã hội ; giá trị xã hội của văn học đối với đời sống tinh thần của con người.
2 Sự đa dạng và thống nhất trong chức năng văn học
a Sự đa dạng
- Xét từ phía chủ thể sáng tạo: Viết văn làm thơ là để phản ánh cuộc sống muôn màu (tự nhiên, xã hội và con người), dựng lên “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”. Đồng thời, nhà văn cũng bộc lộ tư tưởng, tình cảm, thái
độ, quan niệm, hiểu biết về cuộc đời; mong muốn ký thác, tự bộc bạch, tự đối thoại, tự trình bày cái tôi của mình. Sâu xa hơn, tác giả thông qua tác phẩm của mình cũng khao khát bồi đắp tâm hồn, giáo dục tư tưởng cho người đọc, thông tin, dự báo, dự cảm về đời sống.
Trang 14- Xét từ phía người tiếp nhận: Khi tác phẩm đi vào đời sống, chủ thể tiếp nhận lại có những cách hiểu khác nhau. Người đọc đến với tác phẩm văn học để thưởng thức cái hay cái đẹp của tác phẩm nghệ thuật, thư giãn, thanh lọc tâm hồn, hiểu biết nhiều mặt về đời sống.
- Xét từ bản chất của tác phẩm văn học: độc đáo, đa nghĩa.
=> Văn học mang nhiều chức năng Chức năng văn học thường vận
động, biến đổi theo sự thay đổi của đời sống xã hội Các chức năng
cơ bản của văn học: nhận thức (tự nhận thức), giáo dục (tự giáo dục), thẩm mĩ, giao tiếp, giải trí, dự báo.
Trang 15- Chức năng thẩm mĩ là chức năng đặc thù của văn học:
+ Xuất phát từ đặc trưng của văn học: Văn học là hoạt động nhận thức và sáng tạo thẩm mĩ. Đó là sự nhận thức, khám phá, sáng tạo theo yêu cầu của cái đẹp. Tính thẩm mĩ là phẩm chất tất yếu phải có của văn học nghệ thuật. Đây là chức năng bao trùm, đặc trưng, loại biệt của văn học
Trang 16b Tính thống nhất
- Sự phân chia văn học thành nhiều chức năng riêng biệt chỉ có ý nghĩa tương đối. Tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật toàn vẹn. Các chức năng của văn học cũng xuyên thấm, hàm chứa lẫn nhau.
VD: Tác phẩm văn học có tác dụng giáo dục khi nó là một thế giới nghệ thuật hàm chứa những phẩm chất thẩm mĩ thú vi, hấp dẫn, độc đáo, và tác phẩm phải có chiều sâu nhận thức đời sống và mang tầm cao lý tưởng, cùng sự thanh khiết trong đạo đức, tâm hồn của người sáng tạo.
Trang 17c Quan điểm lịch sử và quan điểm hệ thống trong nghiên cứu chức năng văn học
- Quan điểm lịch sử: Vận động là quy luật, bản chất của đời sống.
Quan điểm lịch sử cụ thể nhìn sự vật, hiện tượng trong quá trình phát sinh, phát triển, và chuyển hóa lẫn nhau. Chức năng văn học cũng vận động, biến đổi theo sự biến đổi của đời sống xã hội (khi đời sống thanh bình, văn học là món ăn tinh thần để bồi đắp tâm hồn, tình cảm, thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người… Khi đất nước có chiến tranh, văn học là vũ khí đắc lục phục vụ chiến đấu,…)
Trang 18- Quan điểm hệ thống:
+ Hệ thống là một tập hợp, một tổng thể nhiều yếu tố có quan hệ biến chứng với nhau cấu thành một khối thống nhất, hoàn chỉnh. Các yếu tố trong hệ thống có mối liên hệ bên trong, bên ngoài, có khả năng chuyển hóa lẫn nhau và đều phải thể hiện đặc trưng chung của cả hệ thống.
+ Các chức năng cơ bản của văn học: nhận thức (tự nhận thức), giáo dục (tự giáo dục), giao tiếp, giải trí, dự báo đều là yếu tố của chức năng thẩm mĩ có tính chất bao trùm và đặc thù. Nhận thức ở văn học là nhận thức thẩm mĩ, giáo dục là giáo dục thẩm mĩ, giải trí thẩm mĩ,…
Trang 193 Chức năng văn học
3.1 Chức năng thẩm mĩ
- Nhằm thỏa mãn nhu cầu cái đẹp cho cuộc sống con người. Con người luôn khao khát cái đẹp, tìm kiếm và sáng tạo cái đẹp. Nhu cầu về cái đẹp thể hiện sự tiến hóa trong nhận thức của con người. Trong khao khát tìm tòi, sáng tạo cái đẹp, văn học nghệ thuật đã ra đời như một hoạt động không thể thiếu của tâm hồn, trí tuệ người.
- Văn học thực hiện chức năng thẩm mĩ bằng nhiều cách:
+ Nhận thức và phản ánh cái đẹp trong tự nhiên, và cuộc sống con người: Nhà văn không sao chép nguyên xi, mà phải chọn lọc, khái quát công phu, làm cho cái đẹp trong cuộc sống được lưu giữ và hiện lên rõ nét hơn, giúp cho mọi người có điều kiện chiêm ngưỡng, suy ngẫm.
Trang 20VD: Đọc bài ca dao “Gió đưa cành trúc la đà…”. Ta như được chiêm ngưỡng vẻ đẹp trầm mặc, cổ kính, đắm mình trong không khí mơ hồ, huyền ảo, ngân nga tiếng chuông chùa thoảng vọng của Tây hồ. Ta thêm yêu quý tự hào về thủ đô ngàn năm văn hiến.
VD2: Vẻ đẹp của Thị Nở - người đàn bà xấu ma chê quỷ hờn là một tấm lòng vàng - có thể cảm hóa, lay thức, thanh lọc tâm hồn CP, khơi dậy khát vọng lương thiện trong tâm hồn một con quỷ dữ
Trang 21+ Sáng tạo cái đẹp chưa có hoặc không có trong đời thực, làm giàu có thêm cho cuộc sống, phong phú them tình cảm, trí tuệ nhân loại.
VD: ND sáng tạo ra hình tượng Từ Hải - người anh hùng lý tưởng, tượng trưng cho khát vọng về tự do công lý.
+ Rèn luyện, bồi dưỡng cảm xúc, thị hiếu thẩm mĩ, lý tưởng, nhận thức và năng lực sáng tạo thẩm mĩ, làm cho con người biết yêu quý, trân trọng cái tốt, cái đẹp, căm ghét cái xấu, cái ác. Văn học giúp con người vươn đến cái đẹp, cái hoàn thiện, nhân đạo hóa con người, làm cho con người thực sự Người hơn.
Trang 22Lí giải: Như một khách thể thẩm mĩ, tác phẩm văn học là thế giới nghệ thuật chứa đựng trong nó cảm xúc, tình cảm, lý tưởng thẩm mĩ, nhận thức thẩm mĩ của người sáng tạo. Trong quá trình tiếp nhận, thế giới nghệ thuật ấy lại tạo nên rung động thẩm mĩ ở người đọc.
Ví dụ đọc “Truyện Kiều”, người đọc xúc động, trân trọng tài sắc của Thúy Kiều, thương cảm với những kiếp “tài hoa bạc mệnh”.
+ Nâng cao khả năng thụ cảm vẻ đẹp thẩm mĩ của tác phẩm nghệ thuật:
vẻ đẹp của ngôn từ nghệ thuật và hình tượng nghệ thuật.
Trang 233.2 Chức năng nhận thức
- Nhận thức là bản chất chung của hoạt động ý thức. Văn học là một hình thái ý thức xã hội, vì vậy văn học cũng nhận thức và phản ánh đời sống.
- Nhận thức trong văn học rất rộng. Đối tượng nhận thức của văn học là toàn bộ hiện thực đời sống, mà tâm điểm là cuộc sống của con người. Như một bộ bách khoa toàn thư về đời sống, văn học cung cấp cho ta kho tàng tri thức bất tận về tự nhiên, xã hội: từ lao động sản xuất, đấu tranh sinh tồn, kinh tế, chính trị, lịch sử, văn hóa… đặc biệt là đời sống tinh thần, tâm lý con người.
Trang 24+ Ăng-ghen: đã tìm thấy toàn bộ lịch sử nước Pháp trong “Tấn trò đời” của Banzac, mà chỉ riêng các chi tiết kinh tế “cũng đã biết được nhiều hơn… các sách của tất cả các chuên gia - những nhà sử học, kinh tế học, thống kê học thời ấy cộng lại”.
+ LN thấy ở “Lepstonxtoi tấm gương phản chiếu cách mạng Nga”
+ “TK” - “cuốn sách của ngàn tâm trạng”, thể hiện thấm thía những rung động, suy nghĩ thầm kín của TK khi rơi tay vào MGS, khi ở lầu Ngưng Bích, lầu xanh, trao duyên,…
Trang 25- Văn học không phản ánh cuộc sống bằng công thức, định lý, định luật, con số khô khan như khoa học. Nhận thức trong văn học là nhận thức thẩm mĩ. Văn học nhận thức, lý giải hiện thực bằng hình ảnh, hiện tượng, bằng cảm xúc, thúc đẩy suy ngẫm, chiêm nghiệm.
Muốn nhận thức và phản ánh xhpk thối nát, bất nhân, ND đã xây dựng hình tượng TK - một
cô gái tài tình, hiếu hạnh, để thể hiện tư tưởng “hồng nhan bạc mệnh”.
- Nhận thức thẩm mĩ trong văn học trong các thời kỳ lịch sử khác nhau thì khác nhau:
+ VH trung đại VN từ thế kỷ XVII trở về trước là văn học chức năng, chủ yếu để “nói chí tỏ lòng”, hơn là mô tả đời thực. Từ XVIII trở về sau, văn chương hướng ngoại, phản ánh
“những điều trông thấy”, thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao cả, thương yêu những con người bạc mệnh, đau khổ.
+ VHHTPP 30 - 45: phản ánh cuộc sống nghèo khổ, cùng quẫn của những người nông dân thấp cổ bé họng (Ngô Tất Tố, Nam Cao,…); bức tranh thối nát của giới quan trường (Nguyễn Công Hoan), sự lố lăng, đồi bại của tầng lớp tư sản thành thị (Vũ Trọng Phụng,…) + VHCM 45 - 75: Phản ánh lòng yêu nước nồng nàn, đức hy sinh, quả cảm của nhân dân…
Trang 26- Nhận thức trong sáng tạo và tiếp nhận văn chương là nhận thức thẩm mĩ có tính cá thể. Nó phụ thuộc vào sự tinh nhạy của giác quan người nghệ sĩ, năng lực cảm thụ cái đẹp, cách diễn đạt,lí giải của từng người sáng tạo và tiếp nhận. Chiều sâu nhận thức trong văn học rất đa dạng, phong phú, lắm màu sắc, cung bậc, làm nên vẻ đẹp riêng của văn chương mà các ngành khoa học khác không có được.
VD: Cùng viết về đề tài người nông dân VN những năm TCM tháng Tám, nhưng nếu như tác phẩm của Ngô Tất Tố là tiếng kêu cứu đói, thì tác phẩm của Nam Cao lại là tiếng kêu khẩn thiết: hãy cứu lấy nhân tính, nhân phẩm của con người đang bị cái đói tàn phá.
Trang 273.3 Chức năng giáo dục
- Giáo dục là hoạt động có ý thức, có mục đích, kế hoạch tác động vào con người để bồi dưỡng, cải tạo con người. Giáo dục bao hàm cả tự giáo dục, biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo.
- Luôn hàm chứa những giá trị chân thật, tốt đẹp, cao cả, văn học có thể tác động và đời sống tinh thần, lí trí, tình cảm của con người. Khi đối diện với tác phẩm, con người đồng thời đối diện với lương tâm mình. Qua đó, tác phẩm hướng con người đến chân - thiện - mĩ.
+ VHTD VN và Trung Quốc luôn đề cao nhiệm vụ giáo huấn đạo đức cho con người: “Văn dĩ tải đạo”, “thi dĩ ngôn chí”.
+ Thơ văn yêu nước cách mạng luôn giáo dục tinh thần yêu nước, yêu đồng bào, chí khí anh hung bất khuất.