1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

CHUYÊN đề GIÁ TRỊ và CHỨC NĂNG văn học

55 370 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giá Trị và Chức Năng Văn Học
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 199,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Giá trị nhận thức là khả năng của văn học có thể đáp ứng được yêu cầu của con người muốn hiểu biết cuộc sống và chính bản thân, từ đó tác động vào cuộc sống một cách có hiệu quả... Phả

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ

GIÁ TRỊ VÀ CHỨC NĂNG VĂN HỌC

Trang 2

A LÝ THUYẾT

I Giá trị văn học

* Khái quát chung

- Giá trị văn học là sản phẩm kết tinh từ quá trình văn học, đáp ứng

những nhu cầu khác nhau của cuộc sống con người, tác động sâu sắc tới con người và cuộc sống.

- Những giá trị cơ bản:

+ Giá trị nhận thức.

+ Giá trị giáo dục.

+ Giá trị thẩm mĩ.

Trang 3

1 Giá trị nhận thức

* Cơ sở

-       Tác phẩm văn học là kết quả của quá trình nhà  văn khám phá, lí giải hiện thực đời sống rồi chuyển  hoá những hiểu biết đó vào nội dung tác phẩm. Bạn  đọc đến với tác phẩm sẽ được đáp ứng nhu cầu về  nhận thức.

-       Mỗi  người  chỉ  sống  trong  một  khoảng  thời  gian  nhất  định,  ở  những  không  gian  nhất  định  với  những mối quan hệ nhất định. Văn học có khả năng  phá vỡ giới hạn tồn tại trong thời gian, không gian  thực  tế  của  mỗi  cá  nhân,  đem  lại  khả  năng  sống  cuộc sống của nhiều người, nhiều thời, nhiều nơi.

-       Giá trị nhận thức là khả năng của văn học có  thể đáp ứng được yêu cầu của con người muốn hiểu  biết  cuộc  sống  và  chính  bản  thân,  từ  đó  tác  động  vào cuộc sống một cách có hiệu quả.

Trang 4

* Nội dung

- Quá trình nhận thức cuộc sống của văn học: nhận thức nhiều mặt của cuộc sống với những thời gian, không gian khác nhau (Quá khứ, hiện tại, tương lai, các vùng đất, các dân tộc, phong tục, tập quán,…)

Ví dụ: Đọc sử thi Đăm Săn, chúng ta hiểu biết hơn về đời sống sinh hoạt và khát vọng của con

người Tây Nguyên thời cổ đại.

Đọc “VC APhủ” của TH, chúng ta hiểu thêm về phong tục tập quán của người Tây Bắc: bắt vợ, trình ma, xử kiện…

- Quá trình tự nhận thức của văn học: người đọc hiểu được bản chất của con người nói chung (mục đích tồn tại, tư tưởng, khát vọng, sức mạnh của con người), Từ đó mà hiểu chính bản thân mình

Ví dụ: đọc “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, ta thấm thía tâm trạng nhớ nhà, cô đơn, lo sợ chông chênh của TK trước cuộc đời đầy sóng gió -> Thương Kiều, ta cũng hiểu chính mình Kiều gần gũi với ta trong những nỗi sợ rất con người Từ đó, ta hiểu mình hơn và thêm trân quý những gì ta đang có.

Trang 5

2 Giá trị giáo dục

* Cơ sở

-       Con người không chỉ có nhu cầu hiểu biết mà còn có nhu cầu hướng thiện, khao khát cuộc sống tốt lành, chan hoà tình yêu thương

-       Nhà  văn  luôn  bộc  lộ  tư  tưởng-tình  cảm,  nhận  xét  đánh giá,…của  mình  trong  tác  phẩm.  Điều  đó  tác  động  lớn  và  có khả năng giáo dục người đọc

-       Giá trị nhận thức luôn là tiền đề của giá trị giáo dục. Giá trị giáo dục làm sâu sắc thêm giá trị nhận thức

Trang 6

* Nội dung

-     Văn học đem đến cho con người những bài học quý giá về lẽ sống. 

Ví dụ:  Paven Coocsaghin trong tác phẩm “Thép đã tôi thế đấy” đã thắp 

lên trong ta lý tưởng sống cao cả: "Cái quý nhất của con người ta là sự

sống Đời người chỉ sống có một lần Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: Tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao

đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người"

-       Văn học hình thành trong con người một lí tưởng tiến bộ, giúp họ 

có thái độ và quan điểm đúng đắn về cuộc sống. 

Ví dụ: Qua nhân vật Giăng Văn Giăng - vị thánh của tình thương trong 

“Những  người  khốn  khổ”,  chúng  ta  thấm  nhuần  một  phương  châm 

sống: “Trên đời này chỉ có một điều ấy thôi đó là yêu thương nhau”.

Trang 7

* Nội dung

-       Văn học giúp con người biết yêu ghét đúng đắn, làm cho tâm  hồn con người trở nên lành mạnh, trong sáng, cao thượng hơn. 

Ví dụ: Đọc những câu chuyện cổ tích, ta thêm thương, thêm quý những con  người  hiền  lành,  tốt  bụng  như  cô  Tấm,  anh  Khoai,  Sọ  Dừa,…  Đồng  thời  cũng căm ghét mẹ con dì ghẻ độc ác, người anh trong “Cây khế” tham lam, 

mẹ con Lý Thông nham hiểm, thâm độc,…

-       Văn học nâng đỡ cho nhân cách con người phát triển, giúp cho họ biết  phân  biệt  phải-trái,  tốt-xấu,  đúng-sai,  có  quan  hệ  tốt  đẹp  và  biết  gắn  bó  cuộc sống của cá nhân mình với cuộc sống của con người. 

Ví  dụ:  Học  “Truyện  An  Dương  Vương  và  Mị  Châu  Trọng  Thủy”,  qua  bi  kịch đau xót của nàng Mị Châu ta thấm thía bài học phải hài hòa giữa hạnh  phúc riêng tư và hạnh phúc gia đình.

Trang 8

* Đặc trưng giáo dục của văn học là từ con đường cảm xúc đến nhận thức, tự giáo dục (khác với pháp luật, đạo đức,…) Văn học cảm hóa con người bằng hình tượng, bằng cái thật, cái đúng, cái đẹp nên nó giáo dục một cách tự giác, thấm sâu, lâu bền Văn học không chỉ góp phần hoàn thiện bản thân con người mà còn hướng con người tới những hành động cụ thể, thiết thực, vì một cuộc đời ngày càng tốt đẹp hơn. 

Ví  dụ:  Đọc  truyện  “Cô  bé  bán  diêm”  ta  thấm  thía  hơn  niềm hạnh phúc khi có cha mẹ yêu thương, có mái ấm gia đình. Ta thương cảm xót xa cho những con người nghèo khổ, những em 

bé lang  thang, ko  nơi nương tựa. Và cũng khao khát góp một phần nhỏ bé của mình giúp đỡ họ có cuộc sống tốt đẹp hơn

Trang 9

3 Giá trị thẩm mĩ

* Cơ sở

-       Con người luôn có nhu cầu cảm thụ, thưởng thức cái đẹp.

-       Thế giới hiện thực đã có sẵn cái đẹp nhưng không phải ai cũng có  thể nhận biết và cảm thụ. Nhà văn, bằng năng lực của mình đã đưa cái  đẹp vào tác phẩm một cách nghệ thuật, giúp người đọc vừa cảm nhận  được cái đẹp cuộc đời vừa cảm nhận được cái đẹp của chính tác phẩm.

-       Giá trị thẩm mĩ là khả năng của văn học có thể đem đến cho con  người những rung động trước cái đẹp (cái đẹp của cuộc sống và cái đẹp  của chính tác phẩm).

Trang 10

* Nội dung

-       Văn  học  đem  đến  cho  con  người  những  vẻ  đẹp  muôn hình, muôn vẻ của cuộc đời (thiên nhiên, đất nước, con người, cuộc đời, lịch sử,…). Ví dụ ( )

-       Văn  học  đi  sâu  miêu  tả  vẻ  đẹp  con  người  (ngoại  hình, nội tâm, tư tưởng-tình cảm, những hành động, lời nói,…). Ví 

dụ Thúy Kiều với nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành, tài năng  cầm-kì-thi-họa,  tấm  lòng  hiếu  thảo  với  mẹ  cha,  cháy bỏng, thủy chung trong tình yêu, và có nội tâm phong phú, sôi sục,…

Trang 11

vẻ  đẹp  đồ  sộ,  kì  vĩ  của  Cửu  Trùng  Đài  nguy  nga,  lộng  lẫy, tranh tinh xảo với hóa công

-       Hình thức đẹp của tác phẩm (kết cấu,ngôn ngữ,…) cũng chính là một nội dung quan trọng của giá trị thẩm mĩ. Ví dụ truyện cổ tích thần kì ấn tượng người đọc ở những yếu tố kì 

ảo,  cốt  truyện  đa  tình  tiết,  hấp  dẫn,  nhân  vật  chia  thành  hai phe thiện - ác, tốt - xấu rõ rệt,…

Trang 12

4.Mối quan hệ giữa các giá trị văn học

Ba giá trị có mối quan hệ mật thiết, không tách rời, cũng tác 

động đến người đọc (khái niệm chân-thiện-mĩ của cha ông).

-       Giá trị nhận thức luôn là tiền đề của giá trị giáo dục. Giá trị giáo dục làm sâu sắc thêm giá trị nhận thức. Giá trị thẩm 

mĩ khiến cho giá trị nhận thức và giá trị giáo dục được phát huy. Không có nhận thức đúng đắn thì văn học không thể giáo dục được con người vì nhận thức không chỉ để nhận thức mà nhận thức là để hành động. 

Tuy nhiên, giá trị nhận thức và giá trị giáo dục chỉ có thể phát huy một cách tích cực nhất, có hiệu quả cao nhất khi gắn với giá trị thẩm mĩ-giá trị tạo nên đặc trưng của văn học

Trang 13

II CHỨC NĂNG VĂN HỌC

1 Khái niệm: Chức năng của văn học là vai trò, tác dụng của văn học đối với 

đời sống xã hội ; giá trị xã hội của văn học đối với đời sống tinh thần của con  người.

2 Sự đa dạng và thống nhất trong chức năng văn học

a Sự đa dạng

-  Xét  từ  phía  chủ  thể  sáng  tạo:  Viết  văn  làm  thơ  là  để  phản  ánh  cuộc  sống  muôn màu (tự nhiên, xã hội và con người), dựng lên “hình ảnh chủ quan của  thế giới khách quan”. Đồng thời, nhà văn cũng bộc lộ tư tưởng, tình cảm, thái 

độ, quan niệm, hiểu biết về cuộc đời; mong muốn ký thác, tự bộc bạch, tự đối  thoại, tự trình bày cái tôi của mình. Sâu xa hơn, tác giả thông qua tác phẩm của  mình cũng khao khát bồi đắp tâm hồn, giáo dục tư tưởng cho người đọc, thông  tin, dự báo, dự cảm về đời sống.

Trang 14

-  Xét  từ  phía  người  tiếp  nhận:  Khi  tác phẩm  đi  vào  đời sống,  chủ  thể  tiếp  nhận  lại  có  những  cách  hiểu  khác  nhau.  Người  đọc  đến  với  tác  phẩm văn học để thưởng thức cái hay cái đẹp của tác phẩm nghệ thuật,  thư giãn, thanh lọc tâm hồn, hiểu biết nhiều mặt về đời sống.

- Xét từ bản chất của tác phẩm văn học: độc đáo, đa nghĩa.

=> Văn học mang nhiều chức năng Chức năng văn học thường vận

động, biến đổi theo sự thay đổi của đời sống xã hội Các chức năng

cơ bản của văn học: nhận thức (tự nhận thức), giáo dục (tự giáo dục), thẩm mĩ, giao tiếp, giải trí, dự báo.

Trang 15

- Chức năng thẩm mĩ là chức năng đặc thù của văn học:

+ Xuất phát từ đặc trưng của văn học: Văn học là hoạt động nhận thức và sáng tạo thẩm mĩ. Đó là sự nhận thức, khám phá, sáng tạo theo yêu cầu của cái đẹp. Tính thẩm mĩ là phẩm chất tất yếu phải có của văn học nghệ thuật. Đây là chức năng bao trùm, đặc trưng, loại biệt của văn học

Trang 16

b Tính thống nhất

-  Sự  phân  chia  văn  học  thành  nhiều  chức  năng  riêng  biệt  chỉ  có  ý  nghĩa tương đối. Tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật toàn  vẹn.  Các  chức  năng  của  văn  học  cũng  xuyên  thấm,  hàm  chứa  lẫn  nhau.

VD:  Tác  phẩm  văn  học  có  tác  dụng  giáo  dục  khi  nó  là  một  thế  giới nghệ thuật hàm chứa những phẩm chất thẩm mĩ thú vi, hấp dẫn,  độc đáo, và tác phẩm phải có chiều sâu nhận thức đời sống và mang  tầm cao lý tưởng, cùng sự thanh khiết trong đạo đức, tâm hồn của  người sáng tạo.

Trang 17

c Quan điểm lịch sử và quan điểm hệ thống trong nghiên cứu chức năng văn học

- Quan điểm lịch sử:  Vận  động  là  quy  luật,  bản  chất  của  đời  sống. 

Quan điểm lịch sử cụ thể nhìn sự vật, hiện tượng trong quá trình phát  sinh, phát triển, và chuyển hóa lẫn nhau. Chức năng văn học cũng vận  động, biến đổi theo sự biến đổi của đời sống xã hội (khi đời sống thanh  bình, văn học là món ăn tinh thần để bồi đắp tâm hồn, tình cảm, thỏa  mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người… Khi đất nước có chiến tranh, văn  học là vũ khí đắc lục phục vụ chiến đấu,…)

Trang 18

- Quan điểm hệ thống: 

+ Hệ thống là một tập hợp, một tổng thể nhiều yếu tố có quan hệ biến  chứng với nhau cấu thành một khối thống nhất, hoàn chỉnh. Các yếu tố  trong hệ thống có mối liên hệ bên trong, bên ngoài, có khả năng chuyển  hóa lẫn nhau và đều phải thể hiện đặc trưng chung của cả hệ thống.

+ Các chức năng cơ bản của văn học: nhận thức (tự nhận thức), giáo dục  (tự  giáo  dục),  giao  tiếp,  giải  trí,  dự  báo  đều  là  yếu  tố  của  chức  năng  thẩm mĩ có tính chất bao trùm và đặc thù. Nhận thức ở văn học là nhận  thức thẩm mĩ, giáo dục là giáo dục thẩm mĩ, giải trí thẩm mĩ,…

Trang 19

3 Chức năng văn học

3.1 Chức năng thẩm mĩ

- Nhằm thỏa mãn nhu cầu cái đẹp cho cuộc sống con người. Con người luôn khao  khát cái đẹp, tìm kiếm và sáng tạo cái đẹp. Nhu cầu về cái đẹp thể hiện sự tiến hóa  trong nhận thức của con người. Trong khao khát tìm tòi, sáng tạo cái đẹp, văn học  nghệ thuật đã ra đời như một hoạt động không thể thiếu của tâm hồn, trí tuệ người.

- Văn học thực hiện chức năng thẩm mĩ bằng nhiều cách:

+ Nhận thức và phản ánh cái đẹp trong tự nhiên, và cuộc sống con người: Nhà văn  không sao chép nguyên xi, mà phải chọn lọc, khái quát công phu, làm cho cái đẹp  trong cuộc sống được lưu giữ và hiện lên rõ nét hơn, giúp cho mọi người có điều  kiện chiêm ngưỡng, suy ngẫm. 

Trang 20

VD: Đọc bài ca dao “Gió đưa cành trúc la đà…”. Ta như được chiêm  ngưỡng  vẻ  đẹp  trầm  mặc,  cổ  kính,  đắm  mình  trong không  khí  mơ  hồ,  huyền  ảo,  ngân  nga  tiếng  chuông  chùa thoảng  vọng  của  Tây  hồ.  Ta  thêm  yêu  quý  tự  hào  về  thủ  đô ngàn năm văn hiến.

VD2:  Vẻ  đẹp  của  Thị  Nở  -  người  đàn  bà  xấu  ma  chê  quỷ hờn là một tấm lòng vàng - có thể cảm hóa, lay thức, thanh lọc tâm  hồn  CP,  khơi  dậy  khát  vọng  lương  thiện  trong  tâm  hồn một con quỷ dữ

Trang 21

+ Sáng tạo cái đẹp chưa có hoặc không có trong đời thực, làm giàu có  thêm cho cuộc sống, phong phú them tình cảm, trí tuệ nhân loại. 

VD: ND sáng tạo ra hình tượng Từ Hải - người anh hùng lý tưởng,  tượng trưng cho khát vọng về tự do công lý.

+  Rèn  luyện,  bồi  dưỡng  cảm  xúc,  thị  hiếu  thẩm  mĩ,  lý  tưởng,  nhận  thức và năng lực sáng tạo thẩm mĩ, làm cho con người biết yêu quý,  trân trọng cái tốt, cái đẹp, căm ghét cái xấu, cái ác. Văn học giúp con  người vươn đến cái đẹp, cái hoàn thiện, nhân đạo hóa con người, làm  cho con người thực sự Người hơn.

Trang 22

Lí giải: Như một khách thể thẩm mĩ, tác phẩm văn học là thế giới nghệ  thuật chứa đựng trong nó cảm xúc, tình cảm, lý tưởng thẩm mĩ, nhận  thức thẩm mĩ của người sáng tạo. Trong quá trình tiếp nhận, thế giới  nghệ thuật ấy lại tạo nên rung động thẩm mĩ ở người đọc.

Ví dụ đọc “Truyện Kiều”, người đọc xúc động, trân trọng tài sắc của  Thúy Kiều, thương cảm với những kiếp “tài hoa bạc mệnh”.

+ Nâng cao khả năng thụ cảm vẻ đẹp thẩm mĩ của tác phẩm nghệ thuật: 

vẻ đẹp của ngôn từ nghệ thuật và hình tượng nghệ thuật.

Trang 23

3.2 Chức năng nhận thức

-  Nhận  thức  là  bản  chất  chung  của  hoạt  động  ý  thức.  Văn  học  là  một  hình thái ý thức xã hội, vì vậy văn học cũng nhận thức và phản ánh đời  sống.

- Nhận thức trong văn học rất rộng. Đối tượng nhận thức của văn học là  toàn bộ hiện thực đời sống, mà tâm điểm là cuộc sống của con người.  Như một bộ bách khoa toàn thư về đời sống, văn học cung cấp cho ta  kho tàng tri thức bất tận về tự nhiên, xã hội: từ lao động sản xuất, đấu  tranh sinh tồn, kinh tế, chính trị, lịch sử, văn hóa… đặc biệt là đời sống  tinh thần, tâm lý con người.

Trang 24

+ Ăng-ghen: đã tìm thấy toàn bộ lịch sử nước Pháp trong “Tấn trò đời” của Banzac, mà chỉ riêng các chi tiết kinh tế “cũng đã biết  được  nhiều  hơn…  các  sách  của  tất  cả  các  chuên  gia  - những nhà sử học, kinh tế học, thống kê học thời ấy cộng lại”.

+  LN  thấy  ở  “Lepstonxtoi  tấm  gương  phản  chiếu  cách  mạng Nga”

+ “TK” - “cuốn sách của ngàn tâm trạng”, thể hiện thấm thía những  rung  động,  suy  nghĩ  thầm  kín  của  TK  khi  rơi  tay  vào MGS, khi ở lầu Ngưng Bích, lầu xanh, trao duyên,…

Trang 25

- Văn học không phản ánh cuộc sống bằng công thức, định lý, định luật, con số khô khan  như khoa học. Nhận thức trong văn học là nhận thức thẩm mĩ. Văn học nhận thức, lý giải  hiện thực bằng hình ảnh, hiện tượng, bằng cảm xúc, thúc đẩy suy ngẫm, chiêm nghiệm.

Muốn nhận thức và phản ánh xhpk thối nát, bất nhân, ND đã xây dựng hình tượng TK - một 

cô gái tài tình, hiếu hạnh, để thể hiện tư tưởng “hồng nhan bạc mệnh”.

- Nhận thức thẩm mĩ trong văn học trong các thời kỳ lịch sử khác nhau thì khác nhau:

+ VH trung đại VN từ thế kỷ XVII trở về trước là văn học chức năng, chủ yếu để “nói chí tỏ  lòng”,  hơn  là  mô  tả  đời  thực.  Từ  XVIII  trở  về  sau,  văn  chương  hướng  ngoại,  phản  ánh 

“những điều trông thấy”, thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao cả, thương yêu những con người  bạc mệnh, đau khổ.

+ VHHTPP 30 - 45: phản ánh cuộc sống nghèo khổ, cùng quẫn của những người nông dân  thấp  cổ  bé  họng  (Ngô  Tất  Tố,  Nam  Cao,…);  bức  tranh  thối  nát  của  giới  quan  trường  (Nguyễn Công Hoan), sự lố lăng, đồi bại của tầng lớp tư sản thành thị (Vũ Trọng Phụng,…) + VHCM 45 - 75: Phản ánh lòng yêu nước nồng nàn, đức hy sinh, quả cảm của nhân dân…

Trang 26

-  Nhận  thức  trong  sáng  tạo  và  tiếp  nhận  văn  chương  là  nhận  thức  thẩm mĩ có tính cá thể. Nó phụ thuộc vào sự tinh nhạy của giác quan  người  nghệ  sĩ,  năng  lực  cảm  thụ  cái  đẹp,  cách  diễn  đạt,lí  giải  của  từng người sáng tạo và tiếp nhận. Chiều sâu nhận thức trong văn học  rất đa dạng, phong phú, lắm màu sắc, cung bậc, làm nên vẻ đẹp riêng  của văn chương mà các ngành khoa học khác không có được.

VD:  Cùng  viết  về  đề  tài  người  nông  dân  VN  những  năm  TCM  tháng  Tám,  nhưng  nếu  như  tác  phẩm  của  Ngô  Tất  Tố  là  tiếng  kêu  cứu đói, thì tác phẩm của Nam Cao lại là tiếng kêu khẩn thiết: hãy  cứu lấy nhân tính, nhân phẩm của con người đang bị cái đói tàn phá.

Trang 27

3.3 Chức năng giáo dục

- Giáo dục là hoạt động có ý thức, có mục đích, kế hoạch tác động vào con  người để bồi dưỡng, cải tạo con người. Giáo dục bao hàm cả tự giáo dục, biến  quá trình đào tạo thành tự đào tạo.

- Luôn hàm chứa những giá trị chân thật, tốt đẹp, cao cả, văn học có thể tác  động và đời sống tinh thần, lí trí, tình cảm của con người. Khi đối diện với tác  phẩm,  con  người  đồng  thời  đối  diện  với  lương  tâm  mình.  Qua  đó,  tác  phẩm  hướng con người đến chân - thiện - mĩ.

+ VHTD VN và Trung Quốc luôn đề cao nhiệm vụ giáo huấn đạo đức cho con  người: “Văn dĩ tải đạo”, “thi dĩ ngôn chí”.

+ Thơ văn yêu nước cách mạng luôn giáo dục tinh thần yêu nước, yêu đồng  bào, chí khí anh hung bất khuất.

Ngày đăng: 17/10/2022, 00:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w