1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

7 nguon goc gia dinh, che do tu huu, NN

21 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 131,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự hình thành và phát triển các loại hình gia đìnhPh.Ăngghen đã phân tích sự phát triển của các loại hình gia đình trên cơ sở quan điểm tiếp cận duy vật biện chứng về lịch sử: sự biến đổ

Trang 1

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “NGUỒN GỐC CỦA GIA ĐÌNH, CHẾ ĐỘ TƯ HỮU VÀ NHÀ NƯỚC”

tác phẩm "Xã hội cổ đại, hay là sự khảo cứu những con đường tiến bộ của

loài người từ thời đại mông muội qua thời dại dã man đến thời đại văn minh’’ 1 , xuất bản năm 1877.

C.Mác đã đọc và ghi chép kỹ trong bản thảo "Tóm tắt tác phẩm của

L.Morgan", dự định viết một cuốn sách trình bày những kết quả nghiên cứu

của Morgan gắn với những kết luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử nhưng chưakịp thực hiện Đầu năm 1884, khi chỉnh lý những di cảo của C.Mác,Ph.Ăngghen đã tìm thấy bản thảo viết tay này Thực hiện ý nguyện củaC.Mác, ông đã sử dụng các nhận xét và phê phán của C.Mác về tác phẩm củaL.Morgan và những tài liệu phong phú do ông tự nghiên cứu về lịch sử Hy

lạp, La mã, Ireland… để viết tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ

tư hữu và của nhà nước"

1 "Ancient Society, or Researches in the Lines of Human Progress from Savagery through

Barbarism to Civillzation"

1

Trang 2

Tháng 5/1884, Ph.Ăngghen đã hoàn thành tác phẩm với chín chương, do

sự cấm đoán của nhà cầm quyền Đức, ông phải gửi bản thảo tới Zurich đểxuất bản Đầu tháng 10 năm 1884, tác phẩm đã ra mắt bạn đọc tại Zurich Mặc dù bị nhà cầm quyền Đức gây trở ngại trong quá trình xuất bản và

phát hành, nhưng tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và

của nhà nước" vẫn được tái bản hai lần vào các năm 1886 và 1889 tại

Stút-gát Sau khi tích luỹ thêm được những tài liệu lịch sử, khảo cổ học về xã hộiloài người ở thời kỳ nguyên thuỷ, đặc biệt là khi có các công trình nghiên cứucủa các nhà bác học Bắc-hô-phen, Mắc-Lê-man, Cô-va-lép-xki Năm 1891,Ph.Ăngghen có những sửa chữa và bổ sung cho tác phẩm của mình, nhữngthay đổi này được ông thể hiện trong phần chú thích ở cuối trang

Tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà

nước" đã được xuất bản nhiều lần, với nhiều thứ tiếng ở nhiều quốc gia khác

nhau

1.2 Cấu trúc tác phẩm

Tác phẩm gồm 9 chương từ chương I đến chương IX

Chương I: Những giai đoạn văn hóa tiền sử (tr.46-54)

Chương II: Gia đình (tr.55-129)

Chương III: Thị tộc Iroqua (tr.130-150)

Chương IV: Thị tộc Hy Lạp (tr.151-164)

Chương V: Sự ra đời của nhà nước Aten (tr.165-180)

Chương VI: Thị tộc và nhà nước ở La Mã (tr.181-195)

Chương VII: Thị tộc của người Ken-tơ và của người Giéc-manh 216)

(tr.196-Chương VIII: Sự hình thành nhà nước ở người Giéc-manh (tr.217-232)Chương IX: Thời đại dã man và thời đại văn minh (tr.233-265)

II Những nội dung chủ yếu của tác phẩm

1 Vấn đề lịch sử của gia đình, nguyên nhân của những biến đổi các hình thức gia đình

2

Trang 3

1.1 Sự hình thành và phát triển các loại hình gia đình

Ph.Ăngghen đã phân tích sự phát triển của các loại hình gia đình trên cơ

sở quan điểm tiếp cận duy vật biện chứng về lịch sử: sự biến đổi các hình thứcgia đình phụ thuộc vào sự biến đổi của trình độ phát triển của nền sản xuất xãhội

Ph.Ăngghen hoàn toàn đồng ý với quan điểm của Morgan về tiêu chíphân chia các thời kỳ phát triển xã hội và theo đó sự thay đổi của các hìnhthức gia đình Ph.Ăngghen đã đồng tình với Morgan trong nhận định có tính

khái quát: “Tất cả các thời đại tiến bộ lớn lao của loài người, nhiều hay ít,

đều trực tiếp khớp với những thời đại mở rộng các nguồn sinh tồn”2 và “Gia

đình là một yếu tố năng động; nó không bao giờ đứng nguyên ở một chỗ, mà chuyển từ một hình thức thấp lên một hình thức cao, khi xã hội phát triển từ một giai đoạn thấp lên một giai đoạn cao”3 Ph.Ăngghen cũng nhấn mạnh ýkiến của C.Mác bổ sung thêm cho quan điểm của Morgan: “C.Mác nói thêm:

“Và nói chung, những hệ thống chính trị, pháp luật, tôn giáo và triết học cũngđều như thế”4

Từ đó Ph.Ăngghen đã phân tích sự hình thành và phát triển của các loạihình gia đình theo ba thời đại phát triển của xã hội thời tiền sử:

Thời đại mông muội với chế độ quần hôn dưới hai loại hình gia đìnhhuyết tộc và loại hình gia đình pu-na-lu-an (tr 66-79)

Gia đình huyết tộc: Đây là giai đoạn đầu của gia đình- là tập đoàn hônnhân theo thế hệ ngay trong từng gia đình

Gia đình pu-na-lu-an: Đây là bước tiến thứ hai trong tổ chức gia đình:

“Nếu bước tiến đầu tiên trong tổ chức gia đình là hủy bỏ quan hệ tình dụcgiữa cha mẹ và con cái, thì bước tiến thứ hai là hủy bỏ quan hệ tình dục giữaanh em trai và chị em gái”, và Ph.Ăngghen trích lời của Morgan cho rằng

bước tiến này là “một sự minh họa rất tốt về tác động của nguyên tắc đào thải

2 C.Mác và Ph.Ăng-ghen Toàn tập Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật Hà Nội t.21., 1995., tr.46.

3 Sdd, tr.57

4 Sdd, tr57

3

Trang 4

tự nhiên”5 Đó là hình thức gia đình trong đó “một số nhất định chị em gáicùng mẹ hoặc xa hơn… đều là vợ chung của những người chồng chung, trừnhững anh em trai của họ ra; những người chồng đó… gọi nhau là “pu-na-lu-a”, nghĩa là bạn thân, có thể nói là associé (người cùng hội) Cũng giống nhưthế, một số anh em trai cùng mẹ hoặc xa hơn, đều lấy chung một số vợ khôngphải là chị em gái của họ, và những người vợ đó đều gọi nhau là pu-na-lu-a”6 Gia đình cặp đôi (tr.79-99): Việc kết hôn từng cặp trong một thời gianngắn hoặc dài Trong số rất đông người vợ, người đàn ông có một vợ chính(cùng như vậy trong nhiều người chồng , người đàn bà chọn một người chồngchính) Đây là một bước tiến, do việc cấm kết hôn trong họ hàng, chế độ quầnhôn chuyển sang gia đình cặp đôi

Gia đình một vợ một chồng (tr.99-117): Đánh giấu thời đại văn minh,loại hình gia đình này có quan hệ vợ chồng chặt chẽ hơn, đánh dấu sự thay thếcủa sở hữu tư nhân đối với sở hữu công cộng nguyên thủy trước đây, đánhdấu sự thắng lợi của chế độ phụ quyền (99-101)

Về hôn nhân và gia đình dưới chế độ tư sản

Trong quá trình nghiên cứu các hình thức gia đình và hôn nhân dưới chế

độ tư hữu, Ph.Ăngghen đã đề cập đến hôn nhân trong gia đình tư sản Theoông thì các cuộc hôn nhân của giai cấp thống trị là một việc có tính toán lợihại, do cha mẹ thu xếp, và mục tiêu của các cuộc hôn nhân là nhằm duy trì sự

kế thừa tài sản, cũng giống như trong các xã hội tổn tại chế độ tư hữu trướcđây Điều này luôn luôn đúng, kể cả trong môi trường đạo Thiên chúa hay đạoTin lành thì hôn nhân trong chế độ tư sản “…đều dựa trên địa vị giai cấp củađôi bên, vì vậy, hôn nhân luôn luôn là hôn nhân có tính toán….Hôn nhân cótính toán đó thường biến thành sự mại dâm ty tiện nhất – có khi là của cả đôibên, nhưng thông thường nhất là về phía người vợ Nếu ở đây, người đàn bà

có khác với gái đĩ thường thì chỉ là vì người đó không bán thể xác mình từng

5 Sdd, tr68

6 Sdd, tr69-70

4

Trang 5

thời gian một như người nữ công nhân làm thuê bán sức lao động của mình,

mà là bán mãi mãi, như một nữ nô lệ"7

Ông đã chỉ ra sự hạn chế của nền sản xuất tư sản đó là "biến mọi thứthành hàng hoá" và hợp đồng hoá mọi quan hệ xã hội kể cả hôn nhân, theoông hôn nhân dưới chế độ tư sản "chỉ hoàn toàn phụ thuộc vào những lý dokinh tế mà thôi”8 Mặc dù, xét về mặc hình thức thì hôn nhân dưới chế độ tưsản được coi là một hợp đồng, "một giao kèo có tính chất pháp lý, hơn nữa lại

là một giao kèo quan trọng nhất trong tất cả mọi giao kèo vì nó định đoạt cảthể xác lẫn tinh thần trong suốt cả đời họ"9 nhưng chủ thể ký hợp đồng đókhông được thực sự được tự nguyện và bình đẳng mà điều này phụ thuộc vào

sự sắp xếp của cha mẹ nhằm đạt được các lợi ích kinh tế và chính trị nhấtđịnh

Với cơ sở để thiết lập hôn nhân như vậy, gia đình tư sản phải đương đầuvới nhiều mâu thuẫn, dẫn tới nhiều kết cục ngoài ý muốn, đó là tệ mãi dâm

và nạn ngoại tình Tệ mại dâm một hiện tượng xã hội, là nguyên nhân gópphần làm tan vỡ hạnh phúc gia đình và làm bại hoại nhân cách con người dướichế độ tư sản Ông viết: "Trong giới phụ nữ, tệ mại dâm chỉ làm truỵ lạcnhững người nào không may đã trở thành nạn nhân của tệ nạn đó, và ngaynhững người ấy cũng không truỵ lạc tới mức như người ta vẫn tưởng Ngượclại, tệ mại dâm đã làm bại hoại nhân cách của toàn thế giới đàn ông của nhânloại Chính vì thế mà chẳng hạn, trong mười trường hợp kéo dài thời kỳ đínhhôn thì chín trường hợp là một trường học thật sự để huấn luyện tệ ngoại tìnhsau này"10 Điều này“làm cho mâu thuẫn chứa đựng trong chế độ một vợ, mộtchồng phát triển đầy đủ nhất: Chế độ hê-ta-ia, về phía người chồng là chế độhê-ta-ia bừa bãi, về phía vợ là ngoại tình lu bù"11 và những người con trai ítnhiều được lựa chọn vợ chồng trong cùng giai cấp thì chế độ hê-ta-ia củangười chồng được thực hành ít kiên quyết hơn, và tệ ngoại tình của vợ cũng ít

Trang 6

thành lệ hơn Song “cũng chỉ mang lại cho cuộc sống chung một nỗi buồnnặng trĩu mà người ta gọi là hạnh phúc gia đình"12.

1.2 Nguyên nhân kinh tế-xã hội của sự biến đổi các hình thức gia đình

Theo Ph.Ăngghen, chế độ kinh tế có vai trò quan trọng đối với sự hìnhthành và phát triển của gia đình

Gia đình huyết tộc (cùng dòng máu) ra đời dựa trên chế độ kinh tế cộng

sản nguyên thủy Dưới chế độ kinh tế công xã nguyên thủy, tài sản thuộc về

cộng đồng, chưa có sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất nói riêng, tư hữu về tàisản nói chung Mặt khác, trong loại hình gia đình huyết tộc, các con không thểbiết chính xác được ai là bố đẻ của mình, trong khi có thể xác định một cáchchắc chắn người mẹ Đây là một trong những nguyên nhân hình thành chế độmẫu quyền

Chế độ kinh tế cộng sản nguyên thủy chi phối tất cả các loại hình giađình trong suốt thời đại mông muội và dã man Ph.Ăngghen viết: “Kinh tếchung của gia đình cộng sản nguyên thủy đã chi phối, không trừ một ngoại lệnào, đến thời cực thịnh của giai đoạn giữa của thời đại dã man, đòi hỏi giađình phải có quy mô tối đa”13

Chế độ sở hữu tư nhân về tài sản là nguyên nhân chính làm biến đổi hình thức gia đình cặp đôi thành gia đình một vợ một chồng.

Kinh tế phát triển đã tạo ra một loạt những thay đổi trong đời sống conngười, sự dư thừa của cải đã bắt đầu xuất hiện, “việc thuần dưỡng gia súc vàviệc chăn nuôi các bầy gia súc đã tạo ra những nguồn của cải chưa từng thấy

và đã tạo ra những quan hệ xã hội hoàn toàn mới” 14 Sở hữu tư nhân về cácđàn gia súc đã xuất hiện, của cải đó thuộc về các gia đình riêng rẽ chứ khôngphải của cộng đồng nữa, mà trước hết thuộc về những người đàn ông

Ph.Ăngghen chỉ ra: “Những của cải ấy, một khi trở thành sở hữu riêngcủa các gia đình riêng rẽ và một khi đã tăng lên nhanh chóng, thì đánh mộtđòn rất mạnh vào xã hội dựa trên chế độ hôn nhân cặp đôi và trên thị tộc mẫu

12 Sđd tr 112

13 Sdd, tr69

14 Sdd, tr88-89

6

Trang 7

quyền Hôn nhân cặp đôi đã đưa vào gia đình một yếu tố mới Bên cạnh người

mẹ đẻ, chế độ đó đã đặt người bố đẻ, người bố thật, có lẽ thật hơn nhiều sovới những người “bố ” thời nay”15

Đồng thời Ph.Ăngghen cũng chỉ ra, “chế độ một vợ một chồng sinh ra từ

sự tập trung nhiều của cải vào tay một người đàn ông, vừa từ nguyện vọngchuyển của cải ấy lại cho con cái của người đàn ông ấy, chứ không phải củangười nào khác”16

Sở hữu công cộng về tài sản và tình yêu thực sự giữa nam và nữ làm biến đổi bản chất của gia đình một vợ một chồng từ chưa hoàn bị trở thành hoàn bị.

Sự xuất hiện sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đã là nguyên nhân xuấthiện hình thức gia đình một vợ một chồng Hình thức này được duy trì chođến ngày nay, sẽ ngày càng hoàn thiện hơn khi xuất hiện chế độ sở hữu côngcộng về tài sản nói chung, về tư liệu sản xuất nói riêng

Theo Ph.Ăngghen, dưới chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất hônnhân cá thể ra đời hoàn toàn không phải là sự liên kết tự nguyện giữa ngườiđàn ông và người đàn bà thỏa thuận với nhau và yêu nhau mà “nó thể hiện ra

là một sự nô dịch của giới này đối với giới kia, là việc tuyên bố sự xung độtgiữa hai giới, sự xung đột mà người ta chưa từng thấy trong suốt thời kỳ tiềnsử”17

Ph.Ăngghen cũng chỉ ra, “hôn nhân cá thể là một bước tiến lịch sử lớn,nhưng đồng thời nó cũng mở ra, bên cạnh chế độ nô lệ và tài sản tư nhân, mộtthời đại kéo dài cho đến ngày nay, thời đại trong đó mỗi bước tiến đồng thờicũng là một bước lùi tương ứng, trong đó phúc lợi và sự phát triển của nhữngngười này được thực hiện bằng sự đau khổ và bị áp chế của những ngườikhác Hôn nhân cá thể là hình thức tế bào của xã hội văn minh, hình thức mà

15 Sdd, tr 90-91

16 Sdd, tr118

17 Sdd, tr104

7

Trang 8

chúng ta có thể dựa vào để nghiên cứu bản chất của những đối kháng vànhững mâu thuẫn hiện đang phát triển đầy đủ trong xã hội văn minh”18.

Ph.Ăngghen phê phán gay gắt gia đình tư sản hiện đại, hình thức giađình được các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản ca ngợi như là một hình thứcgia đình lý tưởng, là biểu hiện cao nhất của đạo đức Thực ra, những cuộc hônnhân trong xã hội có phân chia giai cấp, phần lớn là những cuộc hôn nhân cótính toán và những cuộc hôn nhân có tính toán này để lại những tệ nạn xã hội(ngoại tình, mại dâm)

Ph.Ăngghen cũng đưa ra dự báo về hình thức gia đình sau khi nền sảnxuất tư bản chủ nghĩa bị xóa bỏ, xã hội mới dựa trên công hữu tư liệu sản xuấtđược thiết lập Hình thức gia đình lúc đó sẽ là sự phát triển hoàn thiện hơnnữa của gia đình một vợ một chồng Ph.Ăngghen cũng khẳng định rằng, tronggiai cấp vô sản đang hình thành những cuộc hôn nhân trong đó tình cảm yêuthương và sự kính trọng lẫn nhau giữ vai trò quyết định Đó là sự liên kết tựnguyện của những con người hoàn toàn bình đẳng với nhau

Ph.Ăngghen cũng đồng tình với quan điểm của Morgan, cho rằng “sự

phát triển hơn nữa của gia đình một vợ một chồng là một bước tiến nhất định đến gần sự hoàn toàn bình đẳng về quyền lợi giữa nam và nữ”19( Morgan vàĂngghen cũng nhấn mạnh điều đó chưa đạt được trong hiện thực)

Bên cạnh vai trò của nhân tố kinh tế đối với sự phát triển của hôn nhân

và các hình thức gia đình, Ph.Ăngghen cũng đã chỉ ra vai trò của những yếu

tố di truyền sinh học đối với việc thúc đẩy của các hình thức hôn nhân và gia

đình, ông viết: "Khi nảy sinh ra quan niệm cho rằng quan hệ tình dục giữa

những người con cùng mẹ là không được phép, thì quan niệm ấy đã có tác dụng trong việc phân nhỏ những cộng đồng gia đình cũ và thành lập cộng đồng gia đình mới Một hay nhiều nhóm chị em gái trở thành hạt nhân của một cộng đồng, còn những anh em trai cùng mẹ của họ lại trở thành hạt nhân của cộng đồng khác"20

18 Sdd, tr 104-105

19 Sdd, tr128-129

20 Sđd tr 69

8

Trang 9

2 Sự ra đời và phát triển của chế độ tư hữu và giai cấp

Trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhànước", Ph.Ăngghen đã sử dụng những tài liệu lịch sử, những kết quả nghiêncứu của các nhà khoa học có uy tín đương thời, trong đó có công trình nghiêncứu của Morgan, dựa trên lập trường của chủ nghĩa duy vật lịch sử để chứngminh, khẳng định rằng, chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chỉ xuấthiện, tồn tại trong một giai đoạn nhất định của lịch sử loài người

Trong tác phẩm (tr.237-249), Ph.Ăngghen đã phác họa tiến trình hìnhthành và phát triển nền sản xuất xã hội và những biến đổi trong những quan

hệ xã hội gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất trong những giaiđoạn đầu tiên của sự phát triển xã hội Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng, chế độcông hữu về tư liệu sản xuất tồn tại trong giai đoạn phát triển đầu tiên của tất

cả các dân tộc Xã hội loài người, trong chế độ công xã nguyên thủy, mà hìnhthức tổ chức xã hội đầu tiên là thị tộc và bộ lạc, chưa hề có sự phân chia thànhcác giai cấp khác nhau, chưa hề có sự phân biệt kẻ giàu người nghèo, kẻ bóclột và người bị bóc lột

Ph.Ăngghen đã chỉ rõ, cùng với sự cải tiến, thay đổi các công cụ sảnxuất và năng suất lao động tăng lên thì phân công lao động xã hội cũng pháttriển Sự phát triển của phân công lao động xã hội dẫn đến sự biến đổi nhữnghình thức sở hữu và những quan hệ xã hội khác Chế độ công hữu thị tộc tan

vỡ, chế độ tư hữu chiến thắng và phát triển, và cùng với sự xuất hiện của chế

độ tư hữu, xã hội bị phân chia thành những giai cấp có những lợi ích kinh tếđối lập nhau

Quá trình hình thành các giai cấp được diễn ra gắn liền với các cuộcphân công lao động xã hội:

Cuộc phân công xã hội lớn đầu tiên (những bộ lạc du mục tách ròi khỏi

bộ phận còn lại của những người dã man) đã sinh ra sự phân chia lớn đầu tiêntrong xã hội thành 2 giai cấp: chủ nô và nô lệ, kẻ bóc lột và người bị bóc lột.Ph.Ăngghen khái quát : " Từ sự phân công xã hội lớn lần đầu tiên, đã nảy sinh

9

Trang 10

ra sự phân chia lớn đầu tiên trong xã hội thành hai giai cấp: chủ nô và nô lệ,

kẻ bóc lột và người bị bóc lột"21

Quá trình này được phân tích: Sự phân công lao động lần thứ nhất làmtăng nhiều của cải cho xã hội và tạo ra nhiều quan hệ xã hội mới.“ Ở đây, việcthuần dưỡng súc vật và việc chăn nuôi các bày gia súc đã tạo ra những nguồncủa cải chưa từng thấy và đã tạo ra quan hệ xã hội hoàn toàn mới” “Thời kỳ

có lịch sử thành văn thì đâu đâu các đàn gia súc cũng là tài sản đã được táchriêng ra của các chủ gia đình, các xa xỉ phẩm, và sau hết giống như gia súc-người, tức là nô lệ”22

Chế độ tư hữu ra đời làm xuất hiện tình trạng bất đồng về của cải giữacác thành viên trong cộng đồng thị tộc Trong xã hội ấy đã sinh ra những lớpngười giàu nghèo khác nhau và địa vị của họ trong thị tộc cũng khác nhau Sựbất đồng về tài sản đó tạo ra những mầm mống đầu tiên của các tầng lớp quítộc, đã bắt đầu hình thành sự phân biệt giữa kẻ giàu và người nghèo, giữa chủ

nô và nô lệ: "Sự chênh lệch về tài sản đã ảnh hưởng trở lại đến tổ chức quản

lý bằng cách tạo ra những mầm mống đầu tiên của giới quí tộc thế tập vàvương quyền thế tập; chế độ nô lệ lúc đầu chỉ thi hành đối với tù binh, đã mở

ra triển vọng nô dịch ngay cả những thành viên trong cùng một bộ lạc và thậmchí cả những thành viên của chính ngay thị tộc mình nữa"23

Sự phân công công lớn lần thứ hai: Thủ công nghiệp tách khỏi nôngnghiệp đã làm cho chế độ nô lệ “trở thành một bộ phận trọng yếu của xãhội24”, nô lệ được sử dụng ở nhiều hình thức lao động (trong nhà, ngoài đồng,trong công xưởng…) xuất hiện trao đổi hàng hóa - phân tách kẻ giàu vàngười nghèo

Thời đại văn minh bổ sung thêm hình thức phân công lớn thứ ba:Thương mại tách khỏi sản xuất hình thành một giai cấp không còn tham giasản xuất nữa mà chỉ làm công việc trao đổi sản phẩm, có toàn quyền lãnh đạo

Ngày đăng: 14/10/2022, 10:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w