14 GIỚI THIỆU TÁC PHẨM CỦA Ph ĂNG GHEN “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” [C Mác và Ph Ăng ghen Toàn tập Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật Hà Nội t 21 , 1995 , tr 41 265] I Hoàn[.]
Trang 1“Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”
[C.Mác và Ph.Ăng-ghen Toàn tập Nxb Chính trị quốc gia,
Sự Thật Hà Nội t.21., 1995., tr.41-265]
I Hoàn cảnh lịch sử ra đời tác phẩm
Tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước" được Ph.Ăng-ghen viết từ cuối tháng Ba đến cuối tháng Năm năm 1884 Đến khoảng đầu tháng 10 năm 1884 tác phẩm này được xuất bản tại Xuy-rích
Thời điểm Ph.Ăng-ghen viết tác phẩm này nằm trong thời kỳ những năm 1883-1889, là thời kỳ có thể được coi là thời kỳ phát triển tương đối hòa bình của chủ nghĩa tư bản đang chuyển mạnh sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, đồng thời cũng là thời kỳ giai cấp vô sản đang cần tập trung lực lượng để chuẩn bị cho những cuộc cách mạng sắp tới; thời kỳ xuất hiện và phát triển chủ nghĩa cơ hội, cải lương và những quan điểm chống lại chủ nghĩa Mác
Từ khi Mác qua đời, Ph.Ăng-ghen đã dành mọi sức lực trí tuệ của mình vào mục tiêu phát triển hơn nữa học thuyết Mác, đấu tranh chống mọi trào lưu tư tưởng cơ hội và cải lương, phi mác-xít, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa xã hội khoa học Một trong những công việc mà Ph.Ăng-ghen tiến hành trong thời gian này nhằm mục tiêu nói trên là hoàn thành các công trình lý luận mà C.Mác còn chưa kịp hoàn thành, phổ biến rộng rãi những di sản tư tưởng của C.Mác trong phong trào công nhân quốc tế
Để có thể hoàn thành công việc quan trọng này, Ph.Ăng-ghen đã tập trung nghiên cứu nhiều nguồn tài liệu phong phú, rà soát lại một cách tỉ mỉ và cẩn thận những di cảo của C.Mác, đặc biệt là những bản thảo bộ “Tư bản”; đưa ra xuất bản những tập tiếp theo (tập II và tập III)của bộ “Tư bản” (tập I đã được xuất bản khi Mác còn sống); tái bản nhiều lần bằng nhiều thứ tiếng “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”; tái bản những tác phẩm nổi tiếng khác của Mác như: “Sự khốn cùng của triết học”, “Lao động làm thuê và tư bản”, “Ngày 18 tháng Sương mù của
Lu-i Bô-na-pác-tơ” v v Đồng thờLu-i Ph.Ăng-ghen cũng vLu-iết và cho xuất bản nhLu-iều tác
Trang 2phẩm của riêng mình như: “Chống Đuy-rinh”, “Chủ nghĩa xã hội phát triển từ không tưởng đến khoa học” v v
Trong số những tác phẩm mà Ph.Ăng-ghen viết trong thời kỳ này (1883-1889), tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước" được đánh giá là một tác phẩm có giá trị đặc biệt, một trong những tác phẩm chủ yếu tiếp tục phát triển quan điểm tư tưởng thiên tài của C.Mác: quan niệm duy vật
về lịch sử
Sự ra đời của tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước" diễn ra như sau:
Vào nửa đầu tháng Hai năm 1884, trong khi sắp xếp những di cảo của C.Mác, Ph.Ăng-ghen đã tìm thấy bản tóm tắt tỉ mỉ, do C.Mác biên soạn trong những năm 1880-1881, cuốn sách “Xã hội cổ đại hay là sự nghiên cứu những tuyến tiến bộ của loài người từ mông muội, dã man đến văn minh” của Lewis Henry Morgan (Luy-xơ Hen-ri Moóc-gan), một nhà bác học, nhà dân tộc học, khảo cổ học, sử học và nhà nghiên cứu lịch sử xã hội nguyên thủy nổi tiếng, đồng thời cũng là nhà duy vật tự phát tiến bộ người Mỹ Khi biên soạn tóm tắt cuốn sách “Xã hội cổ đại” này, C.Mác dự định sẽ phát biểu công khai trên báo chí thời
đó những nhận xét của mình về cuốn sách và nhân đó, tiếp tục khẳng định và truyền bá những quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong học thuyết của mình Ý định này vì nhiều lý do, C.Mác chưa thực hiện được
Ph.Ăng-ghen đã quyết định viết một tác phẩm, thực hiện ý định của C.Mác, với tính cách là “thực hiện di chúc” của C.Mác qua bản tóm tắt nói trên
Đầu tháng Ba năm 1884, Ph.Ăng-ghen tìm đọc lại cuốn sách “Xã hội cổ đại” của Morgan, một lần nữa thấy rằng, Morgan đã đi tới nhận thức duy vật về lịch sử một cách tự phát thông qua những kết quả nghiên cứu về chế độ xã hội của những người Idian Bắc Mỹ và một số dân tộc cổ đại; đồng thời cuốn sách “Xã hội
cổ đại” của Morgan cũng là một bằng chứng xác nhận tính đúng đắn của quan điểm duy vật lịch sử trong học thuyết của Mác
Từ cuối tháng Ba đến cuối tháng Năm năm 1884, Ph.Ăng-ghen bắt đầu viết tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước"
Trang 3Khi viết tác phẩm này, Ph.Ăng-ghen đã sử dụng những nhận xét trong bản tóm tắt của C.Mác; những tài liệu thực tế và những kết luận trong cuốn sách của Morgan; đồng thời cũng dựa trên những tư liệu phong phú do bản thân tự tìm tòi, nghiên cứu để biên soạn cuốn sách khảo luận về lịch sử xã hội nguyên thủy và nguồn gốc của chế độ tư hữu và của nhà nước trên lập trường của chủ nghĩa duy vật lịch sử
Ngày 22 tháng 5 năm 1884, Ph.Ăng-ghen hoàn thành 8 chương đầu của tác phẩm và gửi bản thảo đến Xuy-rích để xuất bản Trong lá thư gửi kèm theo tác phẩm, Ph.Ăng-ghen nói rõ những lý do không thể xuất bản tác phẩm này ở Đức
Lý do thứ nhất là tác phẩm này của Ph.Ăng-ghen đã phê phán mạnh mẽ xã hội tư sản và khẳng định sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản Lý do thứ hai là đạo luật đặc biệt chống những người xã hội chủ nghĩa do chính phủ của Bi-xmắc ban hành vẫn đang có hiệu lực ở nước Đức
Đến ngày 26 tháng 5 năm 1884, Ph.Ăng-ghen viết xong toàn bộ tác phẩm
"Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước" gồm 9 chương
Đầu tháng 10 năm 1884, tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước" được xuất bản, ra mắt bạn đọc tại Xuy-rích
Sau hai lần tái bản vào năm 1886 và năm 1889, tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước" của Ph.Ăng-ghen được xuất bản lần thứ tư, có sửa đổi, bổ sung tại thành phố Stút-gát nước Đức vào cuối năm 1891 và
từ đó cuốn sách không có sự sửa đổi nào nữa Ở lần xuất bản thứ tư này, Ph.Ăng-ghen đã viết Lời tựa mới cho cuốn sách Lời tựa này được công bố dưới hình thức một bài báo riêng có tên “Về lịch sử gia đình nguyên thủy”
Khi Ph.Ăng-ghen còn sống, cuốn sách được tái bản lần thứ năm (1892), lần thứ sáu (1894), theo đúng bản in xuất bản lần thứ tư Cuốn sách cũng đã được dịch ra các thứ tiếng: tiếng Pháp, tiếng Bun-ga-ri vào năm 1893, tiếng Tây-ban-Nha vào năm 1894, tiếng Nga vào năm 1894 (đây cũng là tác phẩm đầu tiên của Ph.Ăng-ghen được xuất bản một cách hợp pháp tại Nga) Trong những năm 1894 cho đến 1910, trước cách mạng tháng 10 Nga, cuốn sách "Nguồn gốc của gia
Trang 4đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước" đã được tái bản tới 10 lần; bản tiếng Anh mãi đến năm1902 mới được ra mắt độc giả
Như trên đã nói, mục đích chủ yếu của tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước" là:
+ “thực hiện di chúc” của Mác, tiếp tục phát triển những tư tưởng thiên tài của Mác về giai cấp, đấu tranh giai cấp, về nhà nước; khẳng định và bảo vệ quan điểm duy vật về lịch sử của chủ nghĩa Mác
+ khẳng định quan điểm duy vật tự phát và những cống hiến to lớn của Morgan cho khoa học lịch sử xã hội, phát hiện những bằng chứng xác nhận tính đúng đắn của những quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác
+ phê phán những quan điểm sai lầm của các nhà sử học và kinh tế chính trị học đương thời
+ Trang bị cho giai cấp công nhân vũ khí lý luận trong cuộc đấu tranh chống lại hệ tư tưởng tư sản, hướng giai cấp công nhân vào một phong trào thống nhất, có tổ chức, đấu tranh vì một xã hội không còn sự phân chia giai cấp, xã hội
xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa
Trong tác phẩm kinh điển này, lần đầu tiên việc giải thích xã hội loài người
ở các giai đoạn sớm nhất một cách khoa học, trên lập trường của chủ nghĩa duy vật lịch sử, đã được trình bày một cách có hệ thống Ph.Ăng-ghen đã chỉ rõ lịch sử phát triển của gia đình trong các hình thái kinh tế-xã hội khác nhau; phân tích quá trình tan rã của chế đô công xã nguyên thủy và quá trình hình thành xã hội có giai cấp dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất; đặc biệt đã giải thích một cách xác đáng, có căn cứ khoa học nguồn gốc và bản chất của nhà nước, đồng thời đã chứng minh tính tất yếu lịch sử của sự tiêu vong của nhà nước trong xã hội cộng sản chủ nghĩa không còn sự phân chia giai cấp
II Kết cấu tác phẩm
Tác phẩm gồm 9 chương từ chương I đến chương IX
Chương I: Những giai đoạn văn hóa tiền sử (tr.46-54)
Chương II: Gia đình (tr.55-129)
Chương III: Thị tộc I-rô-qua (tr.130-150)
Trang 5ChươngIV: Thị tộc Hy Lạp (tr.151-164)
ChươngV: Sự ra đời của nhà nước A-ten (tr.165-180)
Chương VI: Thị tộc và nhà nước ở La Mã (tr.181-195)
Chương VII: Thị tộc của người Ken-tơ và của người Giéc-manh (tr.196-216)
Chương VIII: Sự hình thành nhà nước ở người Giéc-manh (tr.217-232) Chương IX: Thời đại dã man và thời đại văn minh (tr.233-265)
III: Những vấn đề lý luận chủ yếu của tác phẩm
1 Vấn đề lịch sử của gia đình, nguyên nhân của những biến đổi các hình thức gia đình.
a sự hình thành và phát triển các loại hình gia đình
Ph.Ăng-ghen đã phân tích sự phát triển của các loại hình gia đình trên cơ sở quan điểm tiếp cận duy vật biện chứng về lịch sử: sự biến đổi các hình thức gia đình phụ thuộc vào sự biến đổi của trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội
Ph.Ăng-ghen hoàn toàn đồng ý với quan điểm của Morgan về tiêu chí phân chia các thời kỳ phát triển xã hội và theo đó sự thay đổi của các hình thức gia đình
Ph.Ăng-ghen chỉ ra, Morgan đã chia thời kỳ phát triển của xã hội tùy theo
“bước tiến đã đạt được trong việc sản xuất các tư liệu sinh hoạt” (48) vì : “Tất cả các thời đại tiến bộ lớn lao của loài người, nhiều hay ít, đều trực tiếp khớp với những thời đại mở rộng các nguồn sinh tồn”1 và “Gia đình là một yếu tố năng động; nó không bao giờ đứng nguyên ở một chỗ, mà chuyển từ một hình thức thấp lên một hình thức cao, khi xã hội phát triển từ một giai đoạn thấp lên một giai đoạn cao”2 Ph.Ăng-ghen cũng nhấn mạnh ý kiến của Mác bổ sung thêm cho quan điểm của Morgan: “Mác nói thêm: “Và nói chung, những hệ thống chính trị, pháp luật, tôn giáo và triết học cũng đều như thế””(tr.57)
Từ đó Ph.Ăng-ghen đã phân tích sự hình thành và phát triển của các loại hình gia đình theo ba thời đại phát triển của xã hội thời tiền sử:
1 C.Mác và Ph.Ăng-ghen Toàn tập Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật Hà Nội t.21., 1995., tr.46.
2 C.Mác và Ph.Ăng-ghen Toàn tập Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật Hà Nội t.21., 1995., tr.57.
Trang 6+ Thời đại mông muội với chế độ quần hôn dưới hai loại hình gia đình huyết tộc và loại hình gia đình pu-na-lu-an (tr.66-79) Ph.Ăng-ghen giải thích thêm về loại hình gia đình pu-na-lu-an coi đây là bước tiến thứ hai trong tổ chức gia đình: “Nếu bước tiến đầu tiên trong tổ chức gia đình là hủy bỏ quan hệ tình dục giữa cha mẹ và con cái, thì bước tiến thứ hai là hủy bỏ quan hệ tình dục giữa anh em trai và chị em gái” (tr.68), và Ph.Ăng-ghen trích lời của Morgan cho rằng bước tiến này là “một sự minh họa rất tốt về tác động của nguyên tắc đào thải tự nhiên” (tr.68) đó là hình thức gia đình trong đó “một số nhất định chị em gái cùng
mẹ hoặc xa hơn… đều là vợ chung của những người chồng chung, trừ những anh
em trai của họ ra; những người chồng đó… gọi nhau là “pu-na-lu-a”, nghĩa là bạn thân, có thể nói là associé (người cùng hội) Cũng giống như thế, một số anh em trai cùng mẹ hoặc xa hơn, đều lấy chung một số vợ không phải là chị em gái của
họ, và những người vợ đó đều gọi nhau là pu-na-lu-a” (tr.69-70)
+ Thời đại dã man với loại hình gia đình cặp đôi (tr.79-99) định nghĩa gia đình cặp đôi (tr.79)
+ Thời đại văn minh với loại hình gia đình một vợ một chồng (tr.99-117)
b Nguyên nhân kinh tế-xã hội của sự biến đổi các hình thức gia đình
Theo Ph.Ăng-ghen, chế độ kinh tế có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của gia đình
+ Gia đình huyết tộc (cùng dòng máu) ra đời dựa trên chế độ kinh tế cộng sản nguyên thủy Dưới chế độ kinh tế công xã nguyên thủy, tài sản thuộc về cộng
đồng, chưa có sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất nói riêng, tư hữu về tài sản nói chung Mặt khác, trong loại hình gia đình huyết tộc, các con không thể biết chính xác được ai là bố đẻ của mình, trong khi có thể xác định một cách chắc chắn người mẹ Đây là một trong những nguyên nhân hình thành chế độ mẫu quyền
Có thể nói, chế độ kinh tế cộng sản nguyên thủy chi phối tất cả các loại hình gia đình trong suốt thời đại mông muội và dã man Ph.Ăng-ghen viết: “Kinh
tế chung của gia đình cộng sản nguyên thủy đã chi phối, không trừ một ngoại lệ nào, đến thời cực thịnh của giai đoạn giữa của thời đại dã man, đòi hỏi gia đình phải có quy mô tối đa” (tr.69)
Trang 7Sự ra đời của hình thức gia đình cặp đôi cũng có những nguyên nhân từ yếu
tố kinh tế-xã hội Gia đình cặp đôi là loại hình gia đình “trong số vợ rất đông của mình, người đàn ông có một vợ chính (nhưng chưa thể nói đó là người vợ yêu nhất), và trong số nhiều người chồng khác, anh ta là người chồng chính của người đàn bà ấy” (tr.79)
Ph.Ăng-ghen đã chỉ ra, “các điều kiện sinh hoạt kinh tế càng phát triển, do
đó phá hủy chế độ cộng sản cổ xưa, và mật độ dân số càng tăng, thì những quan
hệ tình dục cổ truyền mất tính chất ngây thơ nguyên thủy của nó và càng tỏ ra là nhục nhã và nặng nề đối với đàn bà, nên họ mong muốn, ngày càng nồng nhiệt, đạt được quyền giữ trinh tiết, kết hôn nhất thời hay lâu dài với chỉ một người đàn ông, coi đó là được giải phóng” (tr.87-88)
Mặc dù có nhiều yếu tố mới, nhưng gia đình cặp đôi vẫn chưa đủ điều kiện
để xây dựng một cơ sở kinh tế riêng, vẫn phải dựa trên cơ sở kinh tế cộng sản nguyên thủy
Chế độ sở hữu tư nhân về tài sản là nguyên nhân chính làm biến đổi hình thức gia đình cặp đôi thành gia đình một vợ môt chồng.
Kinh tế phát triển đã tạo ra một loạt những thay đổi trong đời sống con người, sự dư thừa của cải đã bắt đầu xuất hiện, “việc thuần dưỡng gia súc và việc chăn nuôi các bầy gia súc đã tạo ra những nguòn của cải chưa từng thấy và đã tạo
ra những quan hệ xã hội hoàn toàn mới” (tr.88-89) Sở hữu tư nhân về các đàn gia súc đã xuất hiện, của cải đó thuộc về các gia đình riêng rẽ chứ không phải của cộng đồng nữa, mà trước hết thuộc về những người đàn ông
Ph.Ăng-ghen chỉ ra: “Những của cải ấy, một khi trở thành sở hữu riêng của các gia đình riêng rẽ và một khi đã tăng lên nhanh chóng, thì đánh một đòn rất mạnh vào xã hội dựa trên chế độ hôn nhân cặp đôi và trên thị tộc mẫu quyền Hôn nhân cặp đôi đã đưa vào gia đình một yếu tố mới Bên cạnh người mẹ đẻ, chế độ
đó đã đặt người bố đẻ, người bố thật, có lẽ thật hơn nhiều so với những người “bố
” thời nay” (tr 90-91)
Đồng thời Ph.Ăng-ghen cũng chỉ ra, “chế độ một vợ một chồng sinh ra từ
sự tập trung nhiều của cải vào tay một người đàn ông, vừa từ nguyện vọng chuyển
Trang 8của cải ấy lại cho con cái của người đàn ông ấy, chứ không phải của người nào khác” (tr.118)
Sở hữu công cộng về tài sản và tình yêu thực sự giữa nam và nữ làm biến đổi bản chất của gia đình một vợ một chồng từ chưa hoàn bị trở thành hoàn bị.
Sự xuất hiện sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đã là nguyên nhân xuất hiện hình thức gia đình một vợ một chồng (còn gọi là chế độ hôn nhân cá thể) Hình thức này được duy trì cho đến ngày nay, sẽ ngày càng hoàn thiện hơn khi xuất hiện chế độ sở hữu công cộng về tài sản nói chung, về tư liệu sản xuất nói riêng
Theo Ph.Ăng-ghen, dưới chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất hôn nhân cá thể ra đời hoàn toàn không phải là sự liên kết tự nguyện giữa người đàn ông và người đàn bà thỏa thuận với nhau và yêu nhau mà “nó thể hiện ra là một
sự nô dịch của giới này đối với giới kia, là việc tuyên bố sự xung đột giữa hai giới, sự xung đột mà người ta chưa từng thấy trong suốt thời kỳ tiền sử” (tr.104)
Ph.Ăng-ghen cũng chỉ ra, “hôn nhân cá thể là một bước tiến lịch sử lớn, nhưng đồng thời nó cũng mở ra, bên cạnh chế độ nô lệ và tài sản tư nhân, một thời đại kéo dài cho đến ngày nay, thời đại trong đó mỗi bước tiến đồng thời cũng
là một bước lùi tương ứng, trong đó phúc lợi và sự phát triển của những người này được thực hiện bằng sự đau khổ và bị áp chế của những người khác Hôn nhân cá thể là hình thức tế bào của xã hội văn minh, hình thức mà chúng ta có thể dựa vào để nghiên cứu bản chất của những đối kháng và những mâu thuẫn hiện đang phát triển đầy đủ trong xã hội văn minh” (tr 104-105)
Ph.Ăng-ghen phê phán gay gắt gia đình tư sản hiện đại, hình thức gia đình được các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản ca ngợi như là một hình thức gia đình lý tưởng, là biểu hiện cao nhất của đạo đức Thực ra, những cuộc hôn nhân trong xã hội có phân chia giai cấp, phần lớn là những cuộc hôn nhân có tính toán và những cuộc hôn nhân có tính toán này “thường thường biến thành sự mại dâm ty tiện nhất – có khi là của cả đôi bên, nhưng thông thường nhất là về phía người vợ; nếu
ở đây, người đàn bà có khác với gái đĩ thường thì chỉ là vì người đó không bán thể xác mình từng thời gian một như người nữ công nhân làm thuê bán lao động của mình, mà là bán mãi mãi, như một nữ nô lệ” (tr 112)
Trang 9Ph.Ăng-ghen cũng khẳng định rằng, trong giai cấp vô sản đang hình thành những cuộc hôn nhân trong đó tình cảm yêu thương và sự kính trọng lẫn nhau giữ vai trò quyết định Đó là sự liên kết tự nguyện của những con người hoàn toàn bình đẳng với nhau
Ph.Ăng-ghen cũng đưa ra dự báo về hình thức gia đình sau khi nền sản xuất
tư bản chủ nghĩa bị xóa bỏ, nền sản xuất xã hội chủ nghĩa được thiết lập Hình thức gia đình lúc đó sẽ là sự phát triển hơn nữa của gia đình một vợ một chồng, bởi vì hình thức này đã được thiết lập bởi “một thế hệ đàn ông không bao giờ phải dùng tiền hoặc dùng những phương tiện quyền lực xã hội khác để mua sự hiến thân của người đàn bà, và một thế hệ đàn bà không bao giờ phải hiến mình cho đàn ông vì một lý do nào khác ngoài tình yêu chân chính, hoặc phải từ chối không dám hiến mình cho người yêu vì sợ những hậu quả kinh tế của sự hiến thân đó” (tr.128)
Ph.Ăng-ghen cũng đồng tình với quan điểm của Morgan, cho rằng “sự phát triển hơn nữa của gia đình một vợ một chồng là một bước tiến nhất định đến gần
sự hoàn toàn bình đẳng về quyền lợi giữa nam và nữ” (tr.128 -129)
2 Nguồn gốc và sự phát triển của các hình thái sở hữu
Đây là một trong những vấn đề lý luận cực kỳ quan trọng trong tác phẩm, bởi vì vấn đề sở hữu là vấn đề cốt lõi cần phải được giải quyết trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” C Mác và Ph.Ăng-ghen đã khẳng định mục tiêu cuối cùng của những người cộng sản là xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Trong khi đó, các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản, cho đến tận ngày nay lại
ra sức bảo vệ cho chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, ra sức chứng minh sự tồn tại vĩnh cửu của chế độ tư hữu
Trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước", Ph.Ăng-ghen đã sử dụng những tài liệu lịch sử, những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học có uy tín đương thời, trong đó có công trình nghiên cứu của Morgan, dựa trên lập trường của chủ nghĩa duy vật lịch sử (xem xét sự phát sinh
và phát triển của các hình thức sở hữu gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản
Trang 10xuất) để chứng minh, khẳng định rằng, chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chỉ xuất hiện, tồn tại trong một giai đoạn nhất định của lịch sử loài người
Ph.Ăng-ghen đã chỉ rõ, cùng với sự cải tiến, thay đổi các công cụ sản xuất
và năng suất lao động tăng lên thì phân công lao động xã hội cũng phát triển Sự phát triển của phân công lao động xã hội dẫn đến sự biến đổi những hình thức sở hữu và những quan hệ xã hội khác Chế độ công hữu thị tộc tan vỡ, chế độ tư hữu chiến thắng và phát triển, và cùng với sự xuất hiện của chế độ tư hữu, xã hội bị phân chia thành những giai cấp có những lợi ích kinh tế đối lập nhau Cuộc phân công lao động xã hội lần thứ nhất – ngành chăn nuôi hình thành - lần đầu tiên đã làm cho sự trao đổi đều đặn giữa những bộ lạc du mục và những bộ lạc không du mục có thể thực hiện được, kết quả là năng suất lao động ngày càng tăng lên, của cải xã hội nhiều thêm và chế đô nô lệ xuất hiện Sự phân chia lớn lần thứ nhất của
xã hội đã diễn ra, đó là sự phân chia xã hội thành các giai cấp: chủ nô và nô lệ, kẻ
đi bóc lột và người bị bóc lột
Nền sản xuất xã hội tiếp tục phát triển, dẫn đến sự phân công lao động xã hội lớn lần thứ hai - thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp, cuối cùng là sự phân công lao động xã hội lớn lần thứ ba – hình thành thương nghiệp
Cùng với sự phát triển của phân công lao động xã hội này, sự phân biệt giữa những người tự do và nô lệ được bổ sung thêm sự phân biệt giữa những người giàu và những người nghèo, xuất hiện những tầng lớp xã hội khác nhau mới “Sự phân biệt giữa kẻ giàu và người nghèo đã xuất hiện bên cạnh sự phân biệt giữa người tự do và người nô lệ: cùng với sự phân công mới là sự phân chia mới xã hội thành các giai cấp” (tr 243)
Như vậy trong tác phẩm (tr.237-249), Ph.Ăng-ghen đã phác họa tiến trình hình thành và phát triển nền sản xuất xã hội và những biến đổi trong những quan
hệ xã hội gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất trong những giai đoạn đầu tiên của sự phát triển xã hội Ph.Ăng-ghen đã chỉ ra rằng, chế độ công hữu về
tư liệu sản xuất tồn tại trong giai đoạn phát triển đầu tiên của tất cả các dân tộc
Xã hội loài người, trong chế độ công xã nguyên thủy, mà hình thức tổ chức xã