Đuối nước và phòng chống đuối nước cho trẻ em Phạm Việt Cường Đuối nước được coi là một vấn đề y tế công cộng quan trọng đứng thứ 2 trong các nguyên nhân tử vong chấn thương hàng đầu t
Trang 1Đuối nước và phòng chống đuối nước
cho trẻ em
Phạm Việt Cường
Đuối nước được coi là một vấn đề y tế công cộng quan trọng đứng thứ 2 trong các nguyên nhân tử vong chấn thương hàng đầu trên thế giới Đuối nước có thể xảy ra ở tất cả các lứa tuổi, tuy nhiên trẻ
em dưới 15 tuổi là nhóm đối tượng có nguy cơ nhất, đặc biệt là ở những khu vực có tình trạng kinh tế phát triển thấp và trung bình Ở Việt Nam, đuối nước là nguyên nhân hàng đầu về tử vong đối với trẻ em dưới 20 tuổi, theo ước tính thì có từ 20-30 trẻ bị đuối nước hàng ngày tại Việt Nam Đuối nước có thể phòng ngừa được thông qua các biện pháp đơn giản phù hợp với từng địa bàn và lứa tuổi Đuối nước có thể phòng được qua việc loại bỏ các nguy cơ nước trong, xung quanh hộ gia đình Đối với những đứa trẻ lớn hơn, đuối nước có thể được dự phòng bằng cách dạy cho trẻ các kỹ năng bơi an toàn và các khả năng an toàn, cứu trợ khi cần thiết Các bằng chứng trên thế giới, tại các nước trong khu vực châu Á, cũng như ban đầu tại Việt Nam cũng đã chỉ ra việc triển khai các hoạt động dạy bơi và phòng chống đuối nước cho trẻ là hoàn toàn khả thi và góp phần giảm đuối nước ở trẻ em một cách có hiệu quả.
Từ khóa: Đuối nước, phòng chống đuối nước, bơi an toàn, dạy bơi
Drowning intervention
for children
Pham Viet Cuong
Drowning is the second leading cause of unintentional injury worldwide Drowning could affect all age groups, but children under 15 years of age, especially those living in low and middle income countries are at the highest risk Drowning is the leading cause of death among children under 20 years of age in Viet Nam It is estimated that there are from 20 to 30 drowning cases per day in the country
Drowning is preventable through appropriate intervention measures at or nearby home Drowning could also be prevented by teaching children safe swim and other safe-water skills
Evidences around the world and in Asia, as well as in Vietnam, also show that implementing safe swim training and other interventions are feasible and potentially effective to prevent child drowning Key words: drowning, drowning intervention, safe swim, swim training
Tác giả
Tiến sỹ Phạm Việt Cường, Trung tâm Nghiên cứu Chính sách và Phòng chống Chấn thương, Trường Đại học Y tế Công cộng, 38 Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội E.mail: pvc1@hsph.edu.vn
Trang 2Giới thiệu
Đuối nước được coi là một vấn đề y tế công cộng
quan trọng nhưng chưa được quan tâm một cách
thích đáng ở nhiều quốc gia Từ những năm 1990,
đuối nước đã được chỉ ra là một nguyên nhân tử vong
quan trọng trong Báo cáo Gánh nặng Bệnh tật toàn
cầu của Tổ chức Y tế Thế giới [13] Nguyên nhân
này được khẳng định là nguyên nhân chấn thương tử
vong nghiêm trọng trong Báo cáo gánh nặng bệnh
tật cập nhật gần đây, và đuợc xếp thứ hai trong các
nguyên nhân tử vong sau tai nạn giao thông với tỷ
suất 6,8/100.000 người-năm [14] Đuối nước có thể
xảy ra ở tất cả các lứa tuổi, tuy nhiên trẻ em là nhóm
đối tượng có nguy cơ nhất, đặc biệt là ở những khu
vực có tình trạng kinh tế chưa phát triển Trên một
nửa tử vong do đuối nước ở trong nhóm trẻ dưới 15
tuổi và có tới 97% tử vong do đuối nước xảy ra ở các
nước có thu nhập thấp và trung bình (LMIC) [15] Ở
khu vực Đông Nam Á, trẻ tử vong do đuối nước hàng
năm còn vượt quá số trẻ tử vong do các bệnh truyền
nhiễm cộng lại [18] Các nghiên cứu của nhiều quốc
gia trong khu vực châu Á cũng đã khẳng định đuối
nước là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em
tại khu vực này [11, 12, 16]
Nghiên cứu quốc gia về chấn thương của Việt
Nam năm 2001 [8] đã chỉ ra đuối nước là nguyên
nhân hàng đầu dẫn đến tử vong do chấn thương của
trẻ em từ 0-20 tuổi Biểu đồ 2 bên dưới chỉ ra các
nguyên nhân khác nhau của tử vong do chấn thương
trên các nhóm tuổi và cho thấy đuối nước là nguyên
nhân gây tử vong hàng đầu trong mọi lứa tuổi đối
với các nhóm trẻ dưới 15 tuổi
Tỷ suất đuối nước theo nghiên cứu VMIS là 39,2/100.000 trẻ - năm và theo ước tính từ nghiên cứu này thì hàng năm ở Việt Nam sẽ có khoảng gần 10.000 trẻ em tử vong do đuối nước, và nguy cơ tử vong ở trẻ em trai do đuối nước bao giờ cũng cao hơn nhiều so với trẻ em gái (tỷ suất tương ứng 31,4
so với 9,8/100.000 trẻ) Các nghiên cứu cộng đồng khác ở Việt Nam cũng chỉ ra các tỷ suất tương tự và cũng khẳng định rõ ràng đuối nước là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ em dưới 18 tuổi ở Việt Nam Các nghiên cứu này cũng đã chỉ ra sự thiếu giám sát của người lớn, môi trường thiếu an toàn, trẻ em không biết bơi là những nguy cơ đuối nước ở trẻ em [2-6, 17]
1 Đuối nước có thể được phòng ngừa?
Mô hình đuối nước ở Việt Nam cũng như các nước trong khu vực châu Á có sự khác biệt rất lớn
so với các nước phát triển như Mỹ, Úc hay các nước Tây Âu Tại các nước này, đuối nước thường có mối liên quan đến rượu, các nguy cơ trong nhà như bể bơi, hoặc liên quan nhiều đến các hoạt động giải trí như bơi lội, đi thuyền [7, 8] Tuy nhiên, tại các nước có thu nhập thấp và trung bình, đuối nước xảy ra phần lớn liên quan đến phơi nhiễm với nước trong cuộc sống hàng ngày Ở các nước này, nông thôn chiếm phần lớn, do vậy các yếu tố nguy cơ từ nước có ở mọi nơi, và trẻ em bị phơi nhiễm với nước ở một tỷ lệ rất cao Các ao/hồ nước ở ngay gần nhà là nguồn nước thường xuyên dùng trong tắm giặt và nấu nướng, hoặc là nguồn nước cho các vật nuôi trong các trang trại hoặc ngay cạnh các hộ gia đình
Biểu đồ 2 Tỷ suất tử vong của 5 nguyên nhân
chấn thương hàng đầu ở Việt Nam
(nguồn: VMIS 2001)
Biểu đồ 1 Năm nguyên nhân tử vong do
chấn thương hàng đầu ở Châu Á
(Số liệu trong biểu đồ được tác giả tổng hợp dựa trên các nghiên
cứu chấn thương trẻ em tại Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc,
Bangladesh và Philippin.)
Trang 3Các ao hồ có nguy cơ đuối nước ít khi được che chắn
và trẻ nhỏ thì có thể tiếp xúc trực tiếp rất nhiều lần
trong một ngày, trong khi chúng chơi ở cạnh nhà,
hay trên đường đến trường và về nhà Với những
đặc thù đó, việc áp dụng các giải pháp phòng chống
đuối nước có hiệu quả tại các nước phát triển dường
như khá khó khăn tại châu Á cũng như tại Việt Nam
Trong những năm gần đây, một mô hình phòng
chống đuối nước đang được thực hiện tại nhiều dự
án qui mô lớn như PRECISE (Bangladesh), An toàn
Đà Nẵng (Việt Nam), Bangkok (Thái Lan) đã đưa
ra một mô hình can thiệp và đang được minh chứng
là có hiệu quả
Chiến lược này được chia làm hai nhóm chính
để phù hợp với sự phát triển của các nhóm tuổi trong
đó khả năng bơi lội được coi là chủ chốt (i) Chiến
lược phòng ngừa thứ nhất phù hợp đối với nhóm trẻ
dưới 5 tuổi Chiến lược này sẽ tập trung vào phòng
ngừa các yếu tố nguy cơ đuối nước ở trẻ tại gia đình,
và tập trung vào việc tăng cường sự giám sát của
người lớn và cách ly các yếu tố nguy cơ với nước
trong hoặc gần nhà bằng các vật che/chắn hoặc rào
cản khác nhau Chiến lược này có thể triển khai dựa
trên các mô hình can thiệp tại hộ gia đình hoặc cộng
đồng (ii) Chiến lược dự phòng thứ 2 phù hợp cho
trẻ trên 5 tuổi, ở độ tuổi này rất khó có thể bảo vệ
và tránh cho trẻ tiếp xúc với những yếu tố có hại của
nước vì trẻ đã bắt đầu tham gia vào các hoạt động
vui chơi, đi học trong cộng đồng và biện pháp phù
hợp đó là loại bỏ yếu tố nguy cơ đuối nước bằng
cách dạy cho trẻ tập bơi Trong chiến lược dự phòng
thứ 2 này trẻ từ 10 tuổi trở lên sẽ được cung cấp các
khả năng cứu người đuối nước và hồi sức tim phổi /hô hấp nhân tạo (CPR)
2 Kỹ năng bơi an toàn: Một biện pháp phòng ngừa thích hợp của đuối nước
Hiện tại thì chưa có bất kỳ một qui định thế nào là khả năng bơi an toàn được thống nhất trên thế giới Tuy nhiên một số tiêu chuẩn được dùng chung nhất tại các chương trình phòng chống đuối nước cho trẻ em như Safe Swim, Survival Swim hoặc Royal Life Saving [3] đó là trẻ được coi là có khả năng Bơi an toàn khi phải nổi trên mặt nước 90 giây và Bơi được ít nhất 25m bất kể theo kiểu bơi như thế nào và không có vật dụng/phương tiện trợ giúp Điều này rất khác với việc bơi thi đấu trong thể thao hoặc giải trí với các kiểu bơi đặc biệt được sử dụng để có thể bơi nhanh và có thành tích cao Các nghiên cứu trên thế giới cũng chỉ ra rằng biết bơi, đặc biệt là trẻ em, có khả năng giảm nguy
cơ đuối nước [9], trẻ em (1-4 tuổi) đã tham gia vào các khóa đào tạo cơ bản về bơi có khả năng giảm 88% nguy cơ đuối nước [10] Một nghiên cứu bệnh chứng tại Bangladesh cũng đã chỉ ra rằng trẻ không biết bơi/chưa từng học bơi có nguy cơ đuối nước cao gấp 4,5 (KTC95%: 1,15-19,4) Một nghiên cứu thuần tập có đối chứng trên 17.000 trẻ đã được tham gia chương trình học Bơi an toàn tại dự án PRECISE/Bangladesh đã được tiến hành từ năm 2006, đã cho thấy nguy cơ đuối nước của nhóm trẻ học bơi so với trẻ không được học là thấp hơn có ý nghĩa thống kê (RR= 0,09, KTC95% 0,01-0,74, p<0,01) Mặc dù chúng ta còn cần nhiều hơn các bằng chứng để khẳng định kỹ năng bơi có hiệu quả và tiêu chuẩn bơi an toàn (nổi 90 giây và bơi được 25m) là thước đo chuẩn, tuy nhiên các kết quả nghiên cứu ban đầu cũng đã chỉ ra những hiệu quả của dạy bơi trong phòng chống đuối nước ở trẻ
em, đặc biệt là tại các nước có thu nhập thấp và trung bình
Cũng như phòng ngừa chấn thương sọ não từ các tai nạn xe máy, trẻ nhỏ cần đội mũ bảo hiểm đúng cách và mọi lúc khi tham gia giao thông, đó là một biện pháp phòng chống thụ động và được chứng minh là có hiệu quả cao Kỹ năng bơi lội cũng là một biện pháp phòng ngừa thụ động, các kỹ năng có thể được sử dụng trong trường hợp chúng rơi vào nguy cơ và các kỹ năng này có thể phòng ngừa được đuối nước Điều này cũng có thể coi tương tự như việc tiêm chủng phòng các bệnh truyền nhiễm, việc
Biểu đồ 3 Chiến lược phòng ngừa theo độ tuổi
(Nguồn: Dự án PRECISE/Bangladesh)
Trang 4dạy kỹ năng bơi an toàn ngay từ những giai đoạn
đầu đời có thể giúp cho trẻ có được những khả năng
phòng được nguy cơ đuối nước trong suốt quãng đời
phát triển của trẻ
3 Dạy bơi cho trẻ em ở Việt Nam và vai
trò của hệ thống y tế công cộng trong việc
triển khai chiến lược này
Các nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy khả năng
bơi của trẻ em là quá thấp Nghiên cứu của UNICEF
cho thấy chỉ có 2,2% trẻ trên 15 tuổi biết và đã từng
học bơi [3], nghiên cứu tại Đà Nẵng năm 2006 cũng
cho thấy trong số trẻ tử vong do đuối nước cũng chỉ
có dưới 10% trẻ được tham gia học bơi, hoặc đã
được người nhà dạy [2]
Tại Việt Nam, bên cạnh các chương trình phòng
chống đuối nước cho trẻ tại gia đình, việc dạy bơi
cũng đã được triển khai tại một số tỉnh có nguy cơ
cao như Đồng Tháp, An Giang, Đà Nẵng và tại các
tỉnh dự án của UNICEF/Bộ Y tế bao gồm: Cần Thơ,
Hải Phòng và Hải Dương tuy nhiên hiệu quả của
chương trình này chưa được đánh giá và việc triển
khai còn mang tính phong trào [5, 17]
Để phòng chống đuối nước một cách có hiệu
quả cho trẻ em ở Việt Nam, chúng ta cần phải
triển khai chương trình này với cách tiếp cận hệ
thống của y tế công cộng với những hoạt động cần
thiết như:
- Chúng ta cần có các hoạt động có hệ thống để
xác định và giám sát về đuối nước ở trẻ em Mặc dù
hàng năm con số tích lũy về đuối nước trên toàn
quốc là rất lớn, nhưng đối với một khu vực nhỏ như
một xã/phường thì con số này sẽ rất thấp Các
trường hợp đuối nước cần phải được các cộng tác
viên/nhân viên y tế ghi nhận Với mỗi trường hợp
đuối nước trong cộng đồng cần được cảnh báo thông
qua các hoạt động như trao đổi thông tin/tuyên
truyền cho cha/mẹ và người chăm sóc, những thông
tin như thế này sẽ giúp cho việc tuyên truyền loại
bỏ các yếu tố nguy cơ trong gia đình và cộng đồng
sẽ có hiệu quả hơn so với việc tuyên truyền trên
diện rộng
- Giống như các dịch bệnh khác chúng ta cũng
cần "tiêm chủng" và tăng độ bao phủ để ngăn ngừa
bệnh hoặc bảo vệ cho trẻ khỏi đuối nước Việc triển khai các hoạt động dạy bơi phù hợp với cộng đồng là những giải pháp thích hợp để tăng độ bao phủ nhanh chóng về bơi an toàn Chúng ta sẽ có thể phải đối mặt với những thách thức trong việc dạy bơi đó là tạo ra những bể bơi theo tiêu chuẩn thể thao vì chúng rất tốn kém Tuy nhiên, để tạo ra một bể bơi đủ tiêu chuẩn để dạy bơi an toàn thì chi phí sẽ thấp hơn rất nhiều Đã có nhiều giải pháp đơn giản và phù hợp cho vấn đề này như tạo các bể bơi tại các ao/hồ/biển ở Đồng Tháp, An Giang, Huế, Đà Nẵng hoặc Bangladesh Hoặc các bể bơi di động đủ tiêu chuẩn tại các thành phố lớn như Đà Nẵng, Bangkok Những giải pháp này hiện đang phát huy hiệu quả một cách tích cực trong việc dạy bơi cho trẻ và chi phí để duy trì là hoàn toàn có thể chấp nhận được ở cộng đồng
- Khái niệm Bơi an toàn và dạy bơi là một biện pháp được coi như "tiêm chủng" để phòng chống đuối nước cho trẻ là những quan điểm rất mới Do vậy, việc hình thành khái niệm bơi an toàn phòng chống đuối nước cho trẻ cần phải được sự hỗ trợ của cha mẹ/cộng đồng và các cấp chính quyền có liên quan Hệ thống y tế công cộng cần phải có những hoạt động triển khai can thiệp, chứng minh sự hiệu quả và hơn nữa là sự vận động và hỗ trợ về hệ thống trong việc triển khai hoạt động phòng chống đuối nước cho trẻ em tại Việt Nam
- Cuối cùng, chúng ta đều nhất trí rằng một can thiệp cần phải có chí phí-hiệu quả tốt và phải được hướng vào nhóm đối tượng đích Khác với việc vào bệnh viện, nơi mà quyết định chi trả là thuộc về cá nhân và gia đình, các can thiệp Y tế công cộng cần phải có sự ủng hộ của Chính phủ và các hệ thống Nhà nước Các chi phí để dạy bơi, tuyên truyền và triển khai các hoạt động phòng ngừa có thể là lớn Tuy nhiên việc triển khai một can thiệp hướng tới trên 20 triệu đối tượng trẻ em từ 5-19 tuổi ở Việt Nam thì đó là một việc làm cần thiết Với hiệu quả phòng ngừa ban đầu được ước tính là trên 80% như tại Bangladesh và Mỹ thì việc triển khai rộng việc dạy bơi, lồng ghép vào các chương trình giáo dục phổ thông là một việc làm cần thiết và nó có thể giúp chúng ta cứu được hàng ngàn trẻ em bị đuối nước mỗi năm
Trang 5Tài liệu tham khảo
Tiếng Việt
1 Lê Vũ Anh, Lê Cự Linh và Phạm Việt Cường (2004).
Chấn thương tại Việt Nam: Những kết quả ban đầu từ cuộc
điều tra toàn quốc Tạp chí Y tế công cộng, 2004 (1.)
2 Phạm Việt Cường Dự án An Toàn Đà Nẵng: Kết quả
nghiên cứu cơ bản năm 2006, 2008 Đại học Y tế công cộng:
Hà Nội (chưa xuất bản).
3 Nguyễn Trọng Hà và Phạm Việt Cường (2009), Nghiên
cứu tai nạn thương tích trẻ em tại các tỉnh dự án UNICEF
năm 2008 Đại học Y tế Công Cộng: Hà Nội.
4 Nguyễn Thúy Quỳnh và Lê Vũ Anh Nghiên cứu tai nạn
thương tích trẻ em tại các tỉnh dự án UNICEF năm 2003
5 Nguyễn Thị Hồng Tú, Trần Thị Ngọc Lan và cộng sự
(2006) Các giải pháp phòng chống đuối nước cho trẻ em.
Thông tin phòng chống tai nạn thương tích 2: p 24-27.
6 Dương Khánh Vân và cộng sự (2006) Nghiên cứu nguy
cơ đuối nước trẻ em dưới 18 tuổi tại một số xã thuộc Hải
Dương, Thừa Thiên Huế và Đồng Tháp in Hội nghị khoa
học quốc tế phòng chống tai nạn thương tích – xây dựng cộng
đồng an toàn Hà Nội, Việt Nam.
7 UNICEF (2007) Báo cáo Quốc gia về tình hình thương
tích trẻ em trong năm 2001 Bộ Y tế: Hà Nội.
Tiếng Anh
8 Quan, L and P Cummings, Characteristics of drowning
by different age groups Inj Prev, 2003 9(2): p 163-168.
9 Brenner, R.A., Prevention of drowning in infants, children and adolescents Pediatrics, 2003 112(2): p 440-445.
10 Brenner, R.A., G Saluja, and G.S Smith, Swmiming lessons, swiming ability, and the risk of drowning Injury Control and Safety Promotion, 2003 10(4): p 211-215.
11 Brenner, R.A., et al., Association Between Swimming Lessons and Drowning in Childhood: A Case-Control Study Arch Pediatr Adolesc Med, 2009 163(3): p 203-210.
12 Fang, Y., et al., Child drowning deaths in Xiamen city and suburbs, People's Republic of China, 2001 5 Inj Prev,
2007 13(5): p 339-343.
13 Linnan, M., et al., Child Mortality and Injury in Asia, in Innocenti Working Paper 2007.
14 Murray, C.J.L and A.D Lopez, eds The global burden
of Disease: A comprehensive assessment of mortality and disability from diseases, injuries, and risk factors in 1990 and projected to 2020 1990: Geneva, Switzerland.
15.Organization, W.H., The global burdern of Disease: 2004 update 2008: Geneva, Switzerland.
16 Organization, W.H Factsheet on drowning 2009 26/7/2009 [cited.
17 Rahman, A., et al., Analysis of the childhood fatal drowning situation in Bangladesh: exploring prevention measures for low-income countries Inj Prev, 2009 15(2): p 75-79.
18.UNICEF/TASC Towards a world safer for children in UNICEF/TASC conference on child injury 2004 Bangkok.