Nội dung của Hội nghị trung ương 8 5/1941 Thứ nhất, hết sức nhấn mạnh mâu thuẫn chủ yếu đòi hỏi phải được giải quyết cấp bách là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc phát xít Ph
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
- o0o -
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ MÔN: LỊCH SỬ ĐẢNG
ĐỀ BÀI:
Tại sao Hội nghị Trung ương lần thứ 8 tháng 5 năm 1941, Đảng lại chủ trương đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu và thành lập Mặt trận Việt Minh?"
Giảng viên : Phạm Minh Thế Sinh viên : Vũ Thị Ngọc Ánh
Mã số sinh viên : 19041682
Trang 2A MỞ ĐẦU
Hội nghị Trung ương lần thứ 8 tháng 5 năm 1941, có thể nói là hội nghị mà đáp ứng đúng và đầy đủ nhất những nhu cầu và nguyện vọng của nhân dân Trong hội nghị này, Đảng ta đã thể hiện sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và chủ trương giải phóng dân tộc của đảng từ 1939-1941 Trong đó, hội nghị chủ trương đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu và thành lập Mặt trận Việt Minh Đây là một quan điểm mới, sáng tạo của Đảng
ta
B NỘI DUNG
1 Nội dung của Hội nghị trung ương 8 (5/1941)
Thứ nhất, hết sức nhấn mạnh mâu thuẫn chủ yếu đòi hỏi phải được giải quyết cấp
bách là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc phát xít Pháp-Nhật
Thứ hai, khẳng định dứt khoát chủ trương “phải thay đổi chiến lược” và giải thích:
“Cuộc cách mạng ở Đông Dương hiện tại không phải là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là một
Thứ ba, giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông Dương, thi hành
chính sách “dân tộc tự quyết” Hội nghị quyết định thành lập ở mỗi nước Đông Dương một mặt trận riêng, thực hiện đoàn kết từng dân tộc, đồng thời đoàn kết ba dân tộc chống kẻ thù chung
Thứ tư, tập hợp rộng rãi mọi lực lượng dân tộc
Thứ năm, chủ trương sau khi cách mạng thành công sẽ thành lập nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa theo tinh thần tân dân chủ, một hình thức nhà nước “của chung cả toàn thể dân tộc”1
Thứ sáu, Hội nghị xác định chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của
Đảng và nhân dân
Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã hoàn chỉnh chủ trương chiến lược được đề ra từ Hội nghị tháng 11-1939, khắc phục triệt để những hạn chế của
Trang 3Luận cương chính trị tháng 10-1930, khẳng định lại đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc Đó là ngọn cờ dẫn đường cho toàn dân Việt Nam đẩy mạnh công cuộc chuẩn bị lực lượng, tiến lên trong sự nghiệp đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập
tự do
2 Lý do Đảng chủ trương đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu và thành lập Mặt trận Việt Minh
Tại hội nghị trung ương 8 vào tháng 5 năm 1941, Đảng đã chủ trương đặt vấn đề
giải phóng dân tộc lên hàng đầu và thành lập Việt Minh Bởi lẽ, Bác đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo quan điểm của Marx-Lenin về mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc
2.1 Đảng ta đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo quan điểm của Marx-Lenin về mối quan
hệ giữa giai cấp và dân tộc
a, Quan điểm của Marx- Angen về mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc
Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Marx - Engels cho rằng để giải quyết sự
đối kháng dân tộc, trước hết phải giải quyết sự đối kháng giai cấp, nghĩa là giải phóng giai cấp là nhiệm vụ trung tâm, là điều kiện cần thiết để giải phóng dân tộc Họ không xem nhẹ
vấn đề dân tộc nhưng không đi sâu giải quyết vấn đề dân tộc Vì ở các nước này, mâu thuẫn
cơ bản của xã hội là mâu thuẫn giữa hai giai cấp đối kháng là tư sản và vô sản Về cơ bản,
ở châu Âu, vấn đề dân tộc đã được giải quyết trong cách mạng tư sản Bên cạnh đó, vào thời của Marx, hệ thống thuộc địa đã có, nhưng các cuộc đấu tranh giành độc lập chưa phát triển mạnh
b, Quan điểm của Lê nin về mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc
Lenin đã lên án chủ nghĩa dân tộc của giai cấp tư sản Ông cho rằng giai cấp tư sản giải quyết một cách trìu tượng, hình thức vấn đề dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộc
Đó là một sự dối trá, thủ tiêu , nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản Bên cạnh đó, Lenin
Trang 4cho rằng vấn đề dân tộc phải được giải quyết dựa trên quan điểm của giai cấp vô sản, bởi giai cấp vô sản là giai cấp bị bóc lột nặng nề nhất, nên chỉ họ mới có ý chí chiến đấu mạnh
mẽ nhất Nói cách khác, chỉ giai cấp vô sản mới có thể bảo vệ quyền tự do của các dân tộc Ông còn nhấn mạnh cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản sẽ không giành được thắng lợi, nếu
nó không liên minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức Từ đó, Người cùng với Quốc tế cộng sản bổ sung khẩu hiệu nêu trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: "Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại." Sau khi Lenin mất, Ban lãnh đạo Quốc tế cộng sản một thời gian dài đã nhấn mạnh vấn đề giai cấp, coi nhẹ vấn đề dân tộc,
vì vậy không mấy quan tâm đến chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc của các nước thuộc địa, thậm chí còn coi đó là biểu hiện của chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi, trái với chủ nghĩa quốc tế vô sản
Tóm lại, Marx – Lenin đã chỉ ra những quan điểm cơ bản nhất về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp Tuy nhiên, xuất phát từ mục tiêu và yêu cầu cũng như
bối cảnh của cách mạng vô sản châu Âu, các ông vẫn tập trung nhiều hơn vào vấn đề giai cấp
c, Quan điểm của Bác Hồ về mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp
Trong suốt chặng đường ra đi tìm đường cứu nước của mình, có lẽ tư tưởng của chủ nghĩa Marx- Lenin đã ảnh hưởng nhiều nhất đến Bác Tuy nhiên, Bác không sao chép y nguyên những tư tưởng của họ mà vận dụng một cách sáng tạo dựa trên đặc điểm của dân
tộc Việt Nam Về quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, Người cho rằng: Phải kết hợp và giải quyết hài hòa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, song phải đặt lợi ích dân tộc lên trên hết
và trước hết Bởi Hồ Chí Minh đã phát hiện ra những nét đặc thù của Việt Nam khác so với
các quốc gia khác, đặc biệt là các nước phương Tây Nếu như ở các nước phương Tây, mâu thuẫn giai cấp đã trở nên sâu sắc thì ở Việt Nam, vào những năm 1939-1945 mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc với chủ nghĩa thực dân Pháp- Nhật và bè lũ tay sai lại là mâu thuẫn hàng đầu Đây chính là lý do vì sao Bác Hồ khẳng định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là ưu tiên hàng đầu Để hiểu rõ hơn về lý do này, cũng như các mâu thuẫn trong lòng xã hội Việt
Trang 5Nam lúc bấy giờ thì chúng ta sẽ đến với bối cảnh lịch sử của thế giới và Việt Nam giai đoạn 1939-1945
2.2 Bối cảnh thế giới giai đoạn 1939-1945
Vào tháng 9 năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra Cả thế giới rơi vào tình trạng hỗn loạn Do quy luật lợi nhuận tối đa và sự phát triển không đồng đều về kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư bản đã dẫn đến cuộc chiến tranh giữa 2 tập đoàn đế quốc phát xít Đức, Ý, Nhật và Anh, Pháp, Mỹ nhằm giành giật thị trường, nguồn nguyên liệu, chia lại thị trường thế giới Vì thế, các nước thực dân, đế quốc phát xít đẩy mạnh vơ vét sức người, sức của ở các thuộc địa Cụ thể, vào 1/9/1939 phát xít Đức tấn công Ba Lan; đến 3/9/1939 Anh – Pháp tuyên chiến với Đức, vì họ cho rằng Đức tấn công Ba Lan là hành động gây chiến, gây căng thẳng giữa các bên; 6/1940 Đức tấn công Pháp, 22/9/1940 Nhật Bản đánh chiếm Đông Dương, tiến vào Việt Nam 22/6/1941 Đức tấn công Liên xô
Khi các quốc gia này trực tiếp tham gia chiến đấu thì chính sách dân chủ hoá mà chúng ta đấu tranh có được từ những năm trước đều bị thu hồi và chuyển sang chính sách thời chiến Chúng cũng thay đổi chính sách cai trị, chủ yếu thi hành các chính sách mang tính chất mệnh lệnh, chỉ huy, bóp nghẹt đời sống của nhân dân Thêm vào đó, khi chiến tranh nổ ra thì đời sống văn hoá, kinh tế, xã hội, chính trị trở nên khó khăn, ngặt nghèo, tỉ
lệ thất nghiệp cao Điều này đã thúc đẩy phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phát triển, các phong trào giải phóng dân tộc cũng trở nên mạnh mẽ hơn Nói cách khác, chiến tranh thế giới thứ hai làm thức tỉnh nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân toàn thế giới, đòi hỏi tất cả phải đứng lên đấu tranh giành chính quyền Bởi nếu không đấu tranh thì sẽ trở thành miếng mồi của bọn thực dân
Tóm lại, sau khi chiến tranh thế giới diễn ra, cục diện thế giới có sự thay đổi lớn Đặc biệt là sự biến đổi của các nước đế quốc và phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc Bên cạnh đó, tính chất chiến tranh đế quốc cũng chuyển thành chiến tranh giữa các lực lượng dân chủ với lực lượng phát xít
2.3 Bối cảnh lịch sử trong nước (1939-1945)
Trang 6Chiến tranh thế giới thứ 2 đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Đông dương và Việt Nam Tại Đông Dương và Việt Nam, thực dân Pháp thực hiện chính sách thời chiến phản động Vào ngày 28/9/1939, Toàn quyền Đông dương ra nghị định cấm tuyên truyền cộng sản, cấm lưu hành, tàng trữ tài liệu cộng sản, đặt Đảng cộng sản Đông Dương ra ngoài vòng pháp luật, giải tán các hội, đoàn, đóng cửa các tờ báo và nhà xuất bản, cấm hội họp, tụ tập đông người Chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương ngay lập tức thi hành chính sách thời chiến rất hà khắc Một mặt, trắng trợn phát xít hóa bộ máy cai trị, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng, tập trung chĩa mũi nhọn tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương; mặt khác, ra sức vơ vét của cải và tăng cường bắt lính phục vụ chiến tranh đế quốc chủ nghĩa Bên cạnh đó, Pháp còn phát xít hoá bộ máy cai trị, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng Ban bố lệnh tổng động viên, thực hiện chính sách kinh tế chỉ huy Chỉ trong thời gian ngắn, khoảng 8 vạn binh lính người Việt Nam bị đưa sang chiến trường châu Âu Chính sách phản động đó đã đẩy các tầng lớp nhân dân lao động vào cảnh sống ngột ngạt
về chính trị, bần cùng về kinh tế Mâu thuẫn giữa nhân dân Đông Dương với thực dân Pháp
và tay sai càng trở nên gay gắt
Bên cạnh đó, vào 22/9/1940, phát xít Nhật tấn công Pháp và xâm lược vào Việt Nam, cho quân chiếm đóng Lạng Sơn Chính quyền thực dân Pháp nhanh chóng đầu hàng (23/9/1940) rồi mở cửa cho chúng vào Đông Dương Trên thực tế, cả hai bên có mâu thuẫn với nhau, nhưng Pháp và Nhật lại sẵn sàng câu kết chặt chẽ với nhau để cùng áp bức, bóc lột nhân dân Đông Dương Các tầng lớp nhân dân rơi vào tình cảnh khổ cực, khó khăn Khi
đó, Việt Nam phải chịu cảnh “một cổ hai tròng”, nghĩa là phải sống dưới hai vòng áp bức của đế quốc và thực dân Vì thế, trong xã hội đã nảy sinh mâu thuẫn mới là mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân việt nam với quân đội phát xít Nhật; mâu thuẫn giữa bộ máy cai trị thuộc địa, binh lính, sĩ quan, công dân Pháp ở Đông Dương với quân đội phát xít Nhật Đòi hỏi phong trào cách mạng cần giải quyết vấn đề này, cùng lúc chống hai nước đế quốc thực dân
Tóm lại, có thể thấy rằng lúc bấy giờ Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa thực dân Pháp, phát xít Đức và tay sai nổi trội hơn mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với địa chủ phong kiến, giữa tư sản với
Trang 7vô sản Do đó, chúng ta không thể học theo phương Tây, theo quan điểm của Marx-Lenin
là giải quyết vấn đề giai cấp trước rồi mới giải quyết vấn đề dân tộc Trái lại, chỉ khi giải quyết vấn đề dân tộc thì mới giải phóng được giai cấp Quyền lợi dân tộc và giai cấp là
thống nhất, quyền lợi dân tộc không còn, thì quyền lợi mỗi giai cấp, mỗi bộ phận trong dân tộc cũng không thể thực hiện được Đây có thể nói là sự vận dụng sáng tạo của Đảng và
Bác Hồ Quan điểm này được chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định trong Báo cáo của Việt Nam gửi Quốc tế Cộng sản (tháng 7/1940) Nhân dân Việt Nam chúng ta dù là sĩ, nông, công, thương, thì ai cũng căm ghét ách thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật; ai cũng muốn giành lại độc lập dân tộc, do đó, “nhân dân Việt Nam tuy hiện nay chưa được tổ chức, nhưng ai cũng chán ghét cuộc đời nô lệ, ai cũng mong muốn được độc lập, tự do, và đang trong tư thế một người lên tiếng vạn người ủng hộ” Tuy nhiên, dù đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt lên hàng đầu, nhưng không phải vì thế mà chúng ta hiểu đơn thuần là chỉ chống lại mình đế quốc Bên trong nó còn bao hàm ý chống lại bộ phận phong kiến phản động, nhưng vấn đề là phải làm sao để “chống phong kiến nhưng không làm ảnh hưởng đến nhiệm
vụ chống đế quốc” Mặt khác, chống đế quốc và bọn phong kiến phản động sẽ mang lại độc lập cho dân tộc và một phần ruộng đất cho nhân dân nên nó cũng thể hiện bao hàm nội dung dân chủ, đó là tư tưởng cốt lõi của Hồ Chí Minh trong việc xác định đối tượng của cách mạng Việt Nam ở thời điểm này Bên cạnh đó, với mục tiêu tập trung tất cả lực lượng để chống kẻ thù số một của dân tộc, giải phóng đất nước, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Dân tộc cách mệnh thì chưa phân chia giai cấp, nghĩa là sĩ, nông, công, thương đều nhất trí chống lại cường quyền”
Vì thế tại Hội Nghị trung ương lần thứ 8, Đảng ta đã xác định rõ mâu thuẫn cần phải giải quyết cấp bách nhất là mâu thuẫn giữa dân tộc ta với thực dân Pháp và phát xít Nhật Từ
đó, quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, thực hiện chiến lược giải phóng dân tộc, chỉ tập trung lực lượng toàn dân tộc giải quyết cho được một vấn đề cấp bách và quan trọng hàng đầu là đánh đổ ách thống trị của đế quốc Pháp-Nhật, giành độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc Bởi: "Trong lúc này quyền lợi của bộ phận giai cấp phải đặt dưới sự tồn vong sinh tử của quốc gia dân tộc Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được tự do độc lập cho toàn dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc
Trang 8gia dân tộc chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được."
Hơn nữa, Đảng ta khẳng định "phải thay đổi chiến lược" Bởi "cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền hay cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề là phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cấp bách nhất là "dân tộc giải phóng" Trung ương Đảng khẳng định:
"Chưa chủ trương làm cách mạng tư sản dân quyền mà chủ trương làm cách mạng giải phóng dân tộc" Để thực hiện nhiệm vụ đó, Hội nghị quyết định tiếp tục tạm gác khẩu hiệu
"đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày", thay bằng các khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, chia lại ruộng đất công cho công bằng, giảm tô, giảm tức Bên cạnh đó, Hội nghị cũng chỉ rõ: "Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được Đó là nhiệm
vụ của Đảng ta trong vấn đề dân tộc"
Về việc thành lập mặt trận Việt Minh
Mặt trận Việt Minh ra đời do nhu cầu và nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân ta trong việc giải phóng dân tộc
Đứng trước bối cảnh thế giới và Việt Nam như thế, Hội nghị cũng đi đến thống nhất về chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc giải phóng trong phạm vi từng nước Đông Dương Mỗi nước Đông Dương cần thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất riêng và thi hành chính sách "dân tộc tự quyết" Từ quan điểm đó, Hội nghị quyết định thành lập ở mỗi nước Đông Dương một mặt trận riêng, vừa thực hiện đoàn kết từng dân tộc, vừa đoàn kết
ba dân tộc chống kẻ thù chung Vì thế, Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (tháng 5/1941), đảng ta đã quyết định đổi tên Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, thành một cái tên khác cho có tính chất dân tộc hơn, là Việt Nam độc lập đồng minh hay nói tắt là Việt Minh”
Trang 9Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cho rằng, để có thể lật đổ ách thống trị của bọn thực dân và phát xít thì giai cấp vô sản không thể tự mình đánh đổ được mà phải
liên minh với các lực lượng yêu nước khác trong nước Nghĩa là, để đưa cuộc cách mạng
đó đến thắng lợi cần phải thành lập một mặt trận dân tộc đoàn kết tất cả các giai cấp và tầng lớp xã hội Khi đó, đại đoàn kết dân tộc không chỉ nằm trên lý thuyết, mà nó phải trở
thành một chiến lược cách mạng, một lực lượng có tổ chức, có thể tập hợp rộng rãi mọi lực lượng dân tộc, "không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư bản bản xứ, ai
có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận, thu góp toàn lực đem tất cả
ra giành quyền độc lập, tự do cho dân tộc"
Tóm lại, việc thành lập Mặt trận Việt Minh đã đáp ứng được nguyện vọng của Đảng
và nhân dân ta Nó thể hiện tính sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh Thêm vào
đó, sự ra đời của Mặt trận Việt Minh đã đoàn kết được toàn thể dân tộc Việt Nam, phát huy lòng yêu nước, ý chí đấu tranh, ý chí cách mạng của mỗi người, góp phần tạo nên những
thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp cách mạng của Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng
C Kết luận
Tóm lại, Hội nghị trung ương đảng lần 8 là hội nghị có ý nghĩa lịch sử quan trọng Bởi Hội nghị đã hoàn chỉnh việc chuyển huóng chỉ đạo chiến lược, nêu ra những đường lối, quan điểm đúng đắn nhằm đáp ứng mục tiêu quan trọng nhất của nước ta lúc bấy giờ là giải phóng dân tộc Hơn nữa, hội nghị này cũng có ý nghĩa quyết định tới thắng lợi của cách mạng tháng 8 năm 1945
D Tài liệu tham khảo
1 PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, Giáo trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), NXB
Chính trị quốc gia sự thật
2 Mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh
(2015),
https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/c-mac-angghen-lenin-ho-chi-minh/ho-chi-