1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

LÍ LUẬN VAN học ON HSG VAN GV

146 31 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhân Vật Văn Học Và Vai Trò Của Nhân Vật Trong Tác Phẩm
Thể loại luận văn
Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 753 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lê Bá Hán quan niệm: “Tư tưởng tác phẩm là sự nhận thức, lígiải và thái độ đối với toàn bộ nội dung cụ thể sống động của tác phẩm văn học,cũng như những vấn đề nhân sinh đặt ra ở trong đ

Trang 1

Nhân vật văn học và vai trò của nhân vật trong tác phẩm

1 Nhân vật văn học

“Văn học là nhân học” (M Gorki) Văn học bao giờ cũng thể hiện cuộc sống củacon người Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được nhà văn miêu tảthể hiện trong tác phẩm, bằng phương tiện văn học Nhân vật văn học có khi lànhững con người có họ tên như: Từ Hải, Thúy Kiều, Lục Vân Tiên, Chị Dậu, anhPha, … Khi là những người không họ không tên như: tên lính lệ, người hầu gái,một số nhân vật xưng “tôi” trong các truyện ngắn, tiểu thuyết hiện đại, như mình –

ta trong ca dao Khái niệm con người này cũng cần được hiểu một cách rộng rãitrên hai phương diện: số lượng và chất lượng Về số lượng, hầu hết các tác phẩm từvăn học dân gian đến văn học hiện đại đều tập trung miêu tả số phận của conngười Về chất lượng, dù nhà văn miêu tả thần linh, ma quỉ, đồ vật, … nhưng lạigán cho nó những phẩm chất của con người Nhân vật trong văn học có khi là mộtloài vật, một đồ vật hoặc một hiện tượng nào đó của thế giới tự nhiên, mang ýnghĩa biểu trưng cho số phận, cho tư tưởng, tình cảm của con người Có thể nóinhân vật là phương tiện để phản ánh đời sống, khái quát hiện thực

Miêu tả con người, chính là việc xây dựng nhân vật của nhà văn Ở đây, cần chú ýrằng nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không là

sự sao chép đầy mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện conngười qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách Nói đếnvăn học thì không thể thiếu nhân vật, vì đó chính là phương tiện cơ bản để nhà vănkhái quát hiện thực một cách hình tượng

Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó,

về một loại người nào đó, về một vấn đề nào đó của hiện thực Những con ngườinày có thể được miêu tả kỹ hay sơ lược, sinh động hay không rõ nét, xuất hiện mộthay nhiều lần, thường xuyên hay từng lúc, giữ vai trò quan trọng nhiều, ít hoặckhông ảnh hưởng nhiều lắm đối với tác phẩm

Có thể nói, “nhân vật là phương tiện để phản ánh đời sống, khái quát hiện thực.

Chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống và của con người, thể hiện những hiểu biết, những ước mơ, kì vọng về đời sống” Các vị thần

như thần Trụ trời, thần Gió, thần Mưa thể hiện nhận thức của người nguyên thuỷ

về sức mạnh của tự nhiên mà con người chưa giải thích được Truyền thuyết vềLạc Long Quân và Âu Cơ thể hiện niềm tự hào về nòi giống dân tộc Việt Nhân vật

lí tưởng của văn học cổ Hi – La là những anh hùng chưa có ý thức về đời sống cá

Trang 2

nhân, tìm lẽ sống trong việc phục vụ quyền lợi bộ tộc, thành bang, quốc gia, đó lànhững Asin, Hécto trong Iliát, Uylítxơ trong Ôđixê, Prômêtê trong Prômêtê bịxiềng Nhà văn sáng tạo nên nhân vật là để thể hiện những cá nhân xã hội nhấtđịnh và quan niệm về các cá nhân đó.

Nhân vật văn học được tạo nên bởi nhiều thành tố gồm hạt nhân tinh thần của cánhân như: ý chí, khát vọng, lí tưởng, các biểu hiện của thế giới cảm xúc, các lợi íchđời sống, các hình thái ý thức, các hành động trong quá trình sống Nhân vật vănhọc là một hiện tượng nghệ thuật có những dấu hiệu để nhận biết như tên gọi, tiểu

sử, nghề nghiệp, những đặc điểm riêng, … Những dấu hiệu đó thường được giớithiệu ngay từ đầu và thông thường, sự phát triển về sau của nhân vật gắn bó mậtthiết với những giới thiệu ban đầu đó Việc giới thiệu Tràng trong tác phẩm Vợnhặt của Kim Lân dường như cũng báo trước về số phận của nhân vật sau

này: “Hắn vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều,

hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ gì vừa lí thú, vừa dữ tợn Hắn có tật vừa đi vừa nói Hắn lảm nhảm than thở những điều hắn nghĩ”.

Gắn liền với những suy nghĩ, nói năng, hành động trong quá trình phát triển về saucủa nhân vật Nhân vật văn học không giống với các nhân vật thuộc các loại hìnhnghệ thuật khác Ở đây, nhân vật văn học được thể hiện bằng chất liệu riêng làngôn từ Vì vậy, nhân vật văn học đòi hỏi người đọc phải vận dụng trí tưởng tượng,liên tưởng để dựng lại một con người hoàn chỉnh trong tất cả các mối quan hệ củanó

2 Vai trò nhân vật trong tác phẩm

Nhân vật là phương tiện để phản ánh đời sống, khái quát hiện thực Vai trò củanhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống con người, thể hiện những hiểubiết, những ước ao và kì vọng về con người Mặt khác, nhân vật là phương tiệnkhái quát tính cách, số phận con người và các quan niệm về chúng Ví dụ, nhân vậtngười anh trong truyện cổ tích Cây khế là biểu hiện của loại người tham lam trong

xã hội Nhân vật còn là phương tiện thể hiện tư tưởng, tình cảm của nhà văn Nóthể hiện quan niệm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người Vìthế, nhân vật luôn luôn gắn chặt với chủ đề của tác phẩm

Thông qua việc xây dựng nhân vật, nhà văn bộc lộ tư tưởng, tình cảm của mình đốivới từng loại người trong xã hội, đồng thời dẫn dắt người đọc đi vào những thế giớiriêng với đủ mọi khát vọng cùng với cảm xúc yêu thương hay lòng căm giận Nhânvật Hămlét của Sêchxpia tiêu biểu cho con người thời đại Phục hưng có lí tưởng

Trang 3

nhân văn cao đẹp bị bế tắc và khủng hoảng khi phải đối diện với những cách sống,phản trắc, cơ hội, tàn nhẫn, con đẻ của chủ nghĩa tư bản ở thời kì tích luỹ ban đầu.Qua việc mô tả các nhân vật như bà Phó Đoan, cụ Cố Hồng trong tiểu thuyết Số

đỏ, nhà văn Vũ Trọng Phụng đã bộc lộ niềm căm ghét lối sống suy thoái về đạođức đến cùng cực của giới thượng lưu trong xã hội thực dân phong kiến

Nhân vật văn học do nhà văn sáng tạo nên, trên cơ sở quan sát những con ngườitrong cuộc sống Chính vì vậy, khái niệm nhân vật văn học là một trong nhữngkhái niệm trung tâm để xem xét tài năng nghệ thuật của nhà văn Sức sống củanhân vật được thể hiện qua việc mô tả ngoại hình, nội tâm, ngôn ngữ và hành độngcủa nhân vật, những cái làm cho nhân vật có sức hấp dẫn kì lạ với người đọc Cónhững nhân vật đã bất tử với thời gian: Hămlét, Võ Tòng, Lỗ Trí Thâm, LâmXung, Khổng Minh, Trương Phi, Quan Công, Tào Tháo, Lâm Đại Ngọc, Giả BảoNgọc, AQ, Thánh Gióng, Sơn Tinh, Thúy Kiều, Lục Vân Tiên, …

Sức hấp dẫn đối với người đọc của một nhân vật có nhiều lí do Nhưng một lí do

cơ bản là họ rất độc đáo, không hề giống ai như Hêghen từng nói Chí Phèo đượcnhớ mãi bởi những lời lẽ chửi rủa độc đáo, bởi cách đến nhà Bá Kiến xin được đi ở

tù lại, bởi cách trêu ghẹo Thị Nở

Nhân vật văn học giữ vai trò quyết định nội dung tư tưởng trong tác phẩm, vì vậynhà văn luôn dồn tâm huyết và tài năng của mình vào việc khắc hoạ nhân vật chính

vì thế mà chúng ta thấy có nhiều người không nhớ tên tác giả nhưng rất nhớ têncác nhân vật tác giả tạo dựng nên Do nhân vật có vai trò khái quát những tínhcách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời, cho nêntrong quá trình mô tả nhân vật, nhà văn có quyền lựa chọn những chi tiết, yếu tố

mà họ cho là cần thiết bộc lộ được quan niệm của mình về con người và cuộc sống.Chính vì vây, không nên đồng nhất nhân vật văn học với con người trong cuộc đời.Khi phân tích, nghiên cứu nhân vật, việc đối chiếu, so sánh có thể cần thiết để hiểu

rõ thêm về nhân vật, nhất là những nhân vật có nguyên mẫu cuộc đời

Tư tưởng của tác phẩm văn học

1 Khái niệm

Cùng với chủ đề, tư tưởng là một yếu tố cơ bản trong nội dung của tác phẩm vănhọc Khái niệm tư tưởng tác phẩm có ý nghĩa rộng bao gồm nhiệt tình, thái độ,cũng như toàn bộ quan điểm nhận thức và đánh giá của nhà văn về hiện thực đượcmiêu tả trong tác phẩm Tư tưởng của tác phẩm có thể được biểu hiện ở nhiều mức

độ khác nhau tùy theo ý thức giác ngộ của nhà văn về lý tưởng, cuộc đấu tranh xã

Trang 4

hội, cũng tùy thuộc vào khuôn khổ, những giới hạn của thời đại tạo điều kiện chonhà văn nhận thức và giải quyết vấn đề đến mức độ nào Có những nhà văn sống

và hoạt động ở những thời kì cao trào của cuộc đấu tranh cách mạng, họ xem sángtác văn học như một vũ khí đấu tranh, nên tác phẩm giàu tính tư tưởng và tínhchiến đấu

Tư tưởng tác phẩm chủ yếu được biểu hiện bằng hình tượng, hay có thể nói, đặcđiểm của tư tưởng trong tác phẩm văn học là tư tưởng – hình tượng Trong tất cảcác yếu tố tạo thành tác phẩm, tư tưởng có vai trò quan trọng nhất, vì nó có tácdụng chỉ đạo đối với toàn bộ tác phẩm Tư tưởng quy định phạm vi của đề tài, tạo

ra ý nghĩa của đề tài, chi phối sự hoạt động và mối liên hệ giữa các nhân vật, dẫndắt quá trình phát triển của cốt truyện và tứ thơ, lựa chọn hình thức kết cấu, ngônngữ, loại thể và các biện pháp thể hiện sao cho thật sự phù hợp với nó Bêlinxki đãviết: “Trong những tác phẩm nghệ thuật chân chính, tư tưởng đâu phải là một kháiniệm trừu tượng được thể hiện một cách giáo điều, mà nó là linh hồn của chúng, nóchan hòa trong chúng như ánh sáng chan hòa trong pha lê” Đúng như lời của nhàvăn Kôrôlêncô nói: “Tư tưởng là linh hồn của tác phẩm văn học”

Trong tất cả các yếu tố tạo thành tác phẩm, tư tưởng có vai trò quan trọng nhất vì

nó có tác dụng chỉ đạo đối với toàn bộ tác phẩm Tư tưởng quy định phạm vi của

đề tài, tạo ra ý nghĩa của chủ đề, chi phối sự hoạt động và mối liên hệ giữa cácnhân vật, dẫn dắt quá trình phát triển của cốt truyện và tứ thơ, lựa chọn hình thứckết cấu, ngôn ngữ, loại thể và các biện pháp thể hiện sao cho thật phù hợp với nó,

… Tất cả được thực hiện thông qua ý thức năng động, tích cực của tác giả trongquá trình sáng tác Nhà văn Gôntsarốp đã nói: “Nếu chỉ bằng trí tuệ không thôi thì

dù bạn có viết tới mười tập sách cũng chẳng nói nổi những điều do một chục nhânvật trong vở Quan thanh tra nào đấy nói lên”

Trong các tác phẩm thơ ca, tư tưởng thường được biểu hiện thông qua sự vận độngcủa cảm xúc và suy nghĩ, thông qua hệ thống hình tượng thơ và hệ thống các hìnhảnh khác, còn trong các tác phẩm văn xuôi và tác phẩm kịch, tư tưởng tác phẩmđược biểu hiện một cách tập trung qua hệ thống nhân vật Từ những khái quát hóariêng biệt của từng nhân vật chính, tác phẩm sẽ dẫn người đọc đến một khái quátchung rộng lớn cho toàn tác phẩm, đó chính là tư tưởng của nó Ví dụ, tư tưởngtrong tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố là tố cáo quyết liệt cái chế độ thống trịđen tối, thối nát, phi nhân tính đã chà đạp tàn bạo cuộc sống của con người, nhất lànông dân nghèo Lê Bá Hán quan niệm: “Tư tưởng tác phẩm là sự nhận thức, lígiải và thái độ đối với toàn bộ nội dung cụ thể sống động của tác phẩm văn học,cũng như những vấn đề nhân sinh đặt ra ở trong đó”

Trang 5

Như vậy, tư tưởng là linh hồn, là hạt nhân của tác phẩm, là kết tinh của những cảmnhận, suy nghĩ về cuộc đời Do yêu cầu của tư duy khái quát, người ta thường đúckết tư tưởng của tác phẩm bằng một số mệnh đề ngắn gọn, trừu tượng Thực ra, tưtưởng náu mình trong những hình tưởng sinh động, những cảm hứng sâu lắng củatác giả.

2 Sự lí giải chủ đề

Tư tưởng của tác phẩm văn học thường thể hiện qua sự lí giải chủ đề Điều đó cónghĩa là chủ đề mà tác giả đặt ra trong tác phẩm bao giờ cũng được đánh giá theomột quan điểm nhất định Lí giải chủ đề là sự thuyết minh, trả lời, giải đáp nhữngvấn đề được đặt ra trong tác phẩm dựa trên thế giới quan, hệ tư tưởng, ý thức giaicấp, … Lê Lưu Oanh cho rằng: “Điều đáng chú ý là tư tưởng tác phẩm chủ yếu

“toát ra” từ tình huống, tính cách, từ sự miêu tả các hiện tượng đời sống Ăngghentừng nói: “Bất cứ sự miêu tả nào đồng thời cũng tất yếu là một sự giải thích” Sự lígiải bằng hình tượng nằm ngay trong tương quan các nhân vật, trong bước ngoặtcủa đời sống, trong các hiện tượng được miêu tả lặp lại một cách có quy luật Mộttrong những tư tưởng của Tam quốc diễn nghĩa (La Quán Trung) là tư tưởng “thiênmệnh”: Con người dù có trí tuệ tuyệt vời hay gian trá xảo quyệt, vũ dũng siêuphàm hay nhân từ đạo đức đến đâu, dù có khi đã chiếm được thế lớn trong thiên

hạ, nhưng cuối cùng đều không có cách nào thay đổi được mệnh trời Những lờitrăng trối, những giọt nước mắt, những lần ngửa mặt kêu trời của những anh hùnghào kiệt Tam quốc đều thể hiện sự bất lực trước thiên mệnh”

Sự lí giải chủ đề trong tác phẩm văn học thường được thể hiện ở hai mặt: những lờithuyết minh trực tiếp của tác giả, của nhân vật và lôgíc của miêu tả Hai mặt nàythống nhất với nhau nhưng lôgíc miêu tả đáng chú ý hơn, vì đó là tư tưởng củahình tượng đã chuyển thành chân lí đời sống trong hình tượng Trong tác phẩm vănhọc, thường thấy có sự mâu thuẫn giữa hai phương diện lí giải đó Sự lí giải chủ đềtrong tác phẩm thường mang lại một quan niệm nhiều mặt về con người và thếgiới, chứ không bó hẹp trong việc cắt nghĩa sự kiện, số phận, phẩm chất nhân vật.Nói đến tư tưởng của tác phẩm văn học là nói tới một phán đoán về hiện thực, làcách nhìn, cách đánh giá hiện thực theo một quan điểm, một tình cảm nhất địnhcủa tác giả

Tư tưởng tác phẩm chủ yếu phải “toát ra” từ tình huống, tính cách, từ sự miêu tảcác hiện tượng đời sống Bởi vì, bất cứ sự miêu tả nào đồng thời cũng tất yếu làmột sự lí giải Sự lí giải bằng hình tượng nằm ngay trong tương quan các nhân vật,trong các bước ngoặt của đời sống, trong các hiện tượng được miêu tả lặp lại một

Trang 6

cách có quyluật Sự lí giải chủ đề trong tác phẩm thường mang lại một quan niệm nhiều mặt vềcon người và thế giới, chứ không bó hẹp trong việc cắt nghĩa sự kiện, số phận,phẩm chất nhân vật Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, quan niệm đó bao gồmcách hiểu về quyền sống và quyền hưởng hạnh phúc của con người, quan niệm về

đó còn bao hàm các quan niệm về các nguyên lí Nho giáo, chẳng hạn như cáchhiểu về “hiếu”, “trinh”, quan niệm về “tu tâm” khác với tinh thần “giáo lí”, đi tu làmột sự tự hủy hoại đời mình (“Đã đem mình bỏ am mây”)

Ở đây, chúng ta nên nhớ chủ đề và sự lí giải không tách rời nhau nhưng không phải

là một Nói đến lí giải là nói đến cơ sở tư tưởng, sự phân tích các tính cách, xungđột, quan hệ, sự miêu tả, tái hiện tính cách và các hiện tượng đời sống Các họcthuyết và quan điểm đóng vai trò rất quan trọng trong tác phẩm Đồng nhất quanđiểm tư tưởng và học thuyết vào nội dung tư tưởng tác phẩm là sai Vì như vậy làbiến tác phẩm thành minh họa giản đơn cho tư tưởng có sẵn Phân tích sự lí giải vềmặt quan điểm cho thấy chiều sâu tư tưởng mà tác phẩm đạt được Ví dụ, chủ đềcủa Tắt đèn là cuộc sống bị bần cùng hóa của người nông dân Việt Nam trướcCách mạng tháng Tám

Nhưng tác giả không chỉ nêu ra cuộc sống đó mà còn lí giải nó Trên lập trườngnhân đạo chủ nghĩa, Ngô Tất Tố cắt nghĩa, giải thích cuộc sống khổ đau, bế tắc đó,đồng thời, bộc lộ rõ thái độ, quan điểm, cảm xúc của mình trước những hiện tượngkhác nhau của cuộc sống Qua sự lí giải chủ đề, người đọc sẽ thấy được sức kháiquát và sự hiểu biết sâu sắc của nhà văn về cuộc đời

3 Cảm hứng tư tưởng của tác phẩm

Tác phẩm văn học là sản phẩm tinh thần được hình thành từ sự rung cảm, xúc độngtrước cuộc sống của nhà văn Bất cứ mô tả con người với những số phận hay cảnhvật của thiên nhiên, của xã hội, nội dung tư tưởng của tác phẩm không bao giờ chỉ

là sự lí giải dửng dưng, lạnh lùng mà luôn gắn liền với cảm xúc mãnh liệt Cảmhứng của tác giả dẫn đến sự đánh giá theo quy luật của tình cảm “Nghệ thuật vậndụng quy luật riêng của tình cảm” Niềm tin yêu, say mê và khẳng định tư tưởng,chân lí làm cho cảm hứng trong tác phẩm thường mang tính chất “thiên vị” đối vớinhân vật và chân lí của mình Trong Truyện kiều của Nguyễn Du, người đọc thấynhà văn đứng hẳn về phía những người khao khát tự do, dân chủ, chẳng hạn nhưsuy nghĩ một cách phóng khoáng của Từ Hải:

Trang 7

“Chọc trời khuấy nước mặc dầu Dọc ngang nào biết trên đầu có ai!”

Trước ngày miền Nam giải phóng, nhà thơ Tố Hữu đã viết bài thơ Miền Nam vềnửa đất nước đau thương nhưng rất đỗi anh hùng:

Xanh ngắt trời quê ấy: Miền Nam!”

Cảm hứng trong tác phẩm trước hết là niềm say mê khẳng định chân lí, lí tưởng,phủ định sự giả dối và mọi hiện tượng xấu xa, là thái độ ngợi ca, đồng tình vớinhững nhân vật chính diện, là sự phê phán, tố cáo các thế lực đen tối, các hiệntượng tầm thường Cảm hứng trong tác phẩm không phải là cái tình cảm đượcxướng lên, mà phải là tình cảm “toát ra” từ tình huống, từ tính cách và sự miêu tả.Trong tác phẩm Sống lại của L Tônxtôi, nhà văn đã dũng cảm lên án chế độ nông

nô gia trưởng, xé toạc mọi mặt nạ giả dối của tòa án, pháp luật, nhà thờ, bày tỏniềm đồng tình sâu sắc với nhân dân lao động

Về bản chất, cảm hứng nghệ thuật là tình cảm xã hội đã được ý thức Tính xã hộicủa cảm hứng càng rộng lớn, sâu sắc bao nhiêu thì tác động đến tư tưởng tình cảmngười đọc càng sâu rộng bấy nhiêu Ví dụ, cảm hứng sôi sục tinh thần yêu nướcthương dân trong bài Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo củaNguyễn Trãi đã thổi bùng nhiệt tình yêu nước bao thế hệ người Việt Nam ta Cảmhứng trong sáng tạo nghệ thuật gồm nhiều loại Tùy theo cấu tạo tâm sinh lí, sởtrường cá nhân, trình độ văn hóa, môi trường giáo dục, hoàn cảnh xã hội mà mỗingười cầm bút sáng tác có những thiên hướng cảm hứng khác nhau, làm thànhnhững khuynh hướng cảm hứng phong phú của văn học Vì vậy, cảm hứng là trạngthái tâm lí phấn chấn của trí tuệ, là niềm say mê, là sự khát vọng của người nghệ sĩ

Trang 8

với những vấn đề mà họ quan tâm, là nhiệt tình khẳng định và phủ định một điều

gì đó trong cuộc sống, một trạng thái tình cảm mãnh liệt

Cảm hứng của nhà văn và cảm hứng tư tưởng của tác phẩm quan hệ mật thiết vớinhau nhưng không phải là một Cảm hứng tư tưởng là tình cảm mãnh liệt, một hammuốn tích cực, là tư tưởng của nhà văn được thể hiện cụ thể, sinh động trong hìnhtượng nghệ thuật của tác phẩm Bài thơ Tràng giang của Huy Cận là một nỗi buồnmênh mông, vô tận trước cảnh trời rộng, sông dài, là sự nhỏ bé, cô đơn của conngười trước cái vô cùng của thiên nhiên, vũ trụ, … Tiểu thuyết Bến không chồngcủa Dương Hướng thể hiện tâm trạng khắc khoải, một ước mơ về hạnh phúc đíchthực của cuộc đời thường, là sự cảm thông sâu sắc với những con người đã chịunhiều mất mát

Cảm hứng tư tưởng trong tác phẩm bao giờ cũng là một tình cảm xã hội đã được ýthức Những tình cảm khẳng định như ngợi ca, vui sướng, biết ơn, tin tưởng, yêuthương, đau xót, thương tiếc, … Đó có thể là những tình cảm phủ định các hiệntượng tiêu cực, xấu xa như tố cáo, căm thù, phẫn nộ, châm biếm, chế giễu, mỉamai, … Các tình cảm đó gợi lên bởi các hiện tượng xã hội được phản ánh trong tácphẩm tạo thành nội dung cảm hứng của tác phẩm Secnưsepxki nói: “Một tư tưởng

vô đạo đức tự nó sẽ bóc trần sự giả tạo nếu nó được biểu hiện trong hình thức (mànếu không biểu hiện sáng rõ thì các tư tưởng của tác phẩm không thể là một hiệntượng đẹp), và khi đó tác phẩm sẽ có hình thức giả tạo” Có hai khả năng thể hiện

rõ nét cảm hứng tư tưởng của nhà văn trong tác phẩm qua thái độ – tư tưởng – tìnhcảm của nhà văn đối với các hiện tượng, tính cách được miêu tả: khẳng định hoặcphủ định Khẳng định lí tưởng tốt đẹp và phủ định đối với những cái xấu, là sựđồng tình, cảm thông, ngợi ca những nhân vật chính diện và phê phán, tố cáo cácthế lực đen tối Điều này làm cho tác phẩm thể hiện rõ tính huynh hướng, “thiênvị” đối với những nhân vật lí tưởng mà tác giả yêu mến và cho phép họ thể hiệnmãnh liệt cảm xúc của mình

4 Tình điệu thẩm mĩ

Cùng với các khái niệm đề tài, chủ đề, sự lí giải chủ đề, cảm hứng hứng tư tưởng,

… nội dung của tác phẩm còn được khái quát và biểu hiện qua tình điệu thẩm mĩ.Mỗi tác phẩm văn học, trong khi phản ánh hiện thực khái quát, đánh giá về mặt tưtưởng và cảm xúc, đều tái hiện những lớp hiện tượng đời sống có giá trị thẩm mĩnhất định, độc đáo, không lặp lại: “Tình điệu này có thể là cái bát ngát của bìnhminh trên biển, cái dịu êm của đêm trăng, cái đìu hiu nơi thôn vắng, cái dữ dội củadông tố, cái mênh mang của đất trời … Đó có thể là cái mỉm cười của sự sống, cái

Trang 9

đắng cay của thế sự, niềm bâng khuâng trước đổi thay Đó là toàn bộ cái khôngkhí, mùi vị, cảm giác đầy ý nghĩa mà con người hít thở và cảm thấy mình tồn tại ởtrong đó Đó chính là chất thơ, chất văn xuôi của cuộc đời Thiếu một tình điệuthẩm mĩ, nội dung tác phẩm chưa trở thành nội dung nghệ thuật”.

Tình điệu thẩm mĩ là hệ thống những giá trị thẩm mĩ được khái quát và thể hiệntrong tác phẩm Mọi tác phẩm văn học trong khi phản ánh hiện thực đều tái hiệnnhững lớp hiện tượng đời sống có giá trị thẩm mĩ nhất định, độc đáo và không lặplại Chính điều này làm cho tư tưởng của tác phẩm khác với tư tưởng trong các lĩnhvực khác Tình điệu thẩm mĩ là toàn bộ không khí, mùi vị, cảm giác, hơi thở, nhịpđiệu riêng bao trùm lên tác phẩm Nhiều bài thơ của Huy Cận để lại một ấn tượngbát ngát, mênh mộng, vô tận của không gian, vũ trụ Qua tiểu thuyết Nỗi buồnchiến tranh của Bảo Ninh, người đọc cảm nhận cái không khí dữ dội và rợn ngợp,

là nỗi đau thương và khắc khoải trước những mất mát của chiến tranh và hậu quảcủa nó

Tình điệu thẩm mĩ và cảm hứng tư tưởng có mối quan hệ với nhau Tình điệu thẩm

mĩ của tác phẩm có thể được khái quát vào các phạm trù mĩ học cơ bản như: cáiđẹp, cái hùng, cái cao cả, cái bi, cái hài với các biến thể của chúng Sự thể hiện củachúng trong tác phẩm là hết sức đa dạng Hai khái niệm tình điệu thẩm mĩ và cảmhứng tư tưởng gắn bó chặt chẽ, khó thể tách rời nhưng cũng có thể phân biệt ởnhững mức độ nhất định

Cảm hứng tư tưởng là niềm say mê, nhiệt tình khẳng định hay phủ định, thể hiệntinh thần chiến đấu nhằm bảo vệ công lí, lẽ phải Tình điệu thẩm mĩ là phẩm chất,giá trị thẩm mĩ của nội dung tác phẩm Chẳng hạn, chất trào phúng, châm biếmtrong thơ Hồ Xuân Hương là tình điệu thẩm mĩ thì cảm hứng tư tưởng trong tácphẩm của bà lại là nhiệt tình khẳng định những tình cảm tự nhiên đáng quý ở conngười, đồng thời là sự phê phán, căm giận đối với lễ giáo khắt khe của xã hội Tìnhđiệu thẩm mĩ chính là phạm vi giá trị thẩm mĩ được tập trung biểu hiện, là ý vị củahình tượng nghệ thuật Các tình điệu thẩm mĩ gắn chặt với cảm hứng là nói đếnmột nhiệt tình, một ham mê, nghiêng về phía tính khuynh hướng chủ quan trongkhẳng định, phủ định, bảo vệ, chiến đấu Còn nói đến tình điệu thẩm mĩ là nói đếnphẩm chất, giá trị thẩm mĩ nội dung, bộc lộ trong mối quan hệ giữa chủ quan vàkhách quan: “Chẳng hạn cái bát ngát là sự hòa nhập của con người vào cõi vô tận,cái buồn là sự bất lực trước một ước mơ tan vỡ, còn cái hận là sự nuối tiếc đau đớncho một khả năng bị phí hoài … chất lãng mạn cũng là một tình điệu Đó là sựrung động bay bổng với khát vọng đổi thay thực tại Nhưng chất lãng mạn cũng đadạng về mặt thẩm mĩ”

Trang 10

Tình điệu thẩm mĩ trong bài thơ Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? của Chế LanViên là cái đẹp, cái hùng của thời đại và con người, còn cảm hứng tư tưởng là sựkhẳng định, tôn vinh con người và cuộc sống đó Là các dạng khác nhau của cái bi;chất humour, châm biếm, trào lộng, … là các dạng của cái hài; sự hài hòa, cân đối,hoàn thiện, cái xinh xắn là sự biểu hiện của cái đẹp; cái lớn lao, phi thường mênhmông, bát ngát, … là sự biểu hiện của cái cao cả.

5 Ý nghĩa tư tưởng của tác phẩm văn học

Khi nghiên cứu một tác phẩm văn học từ việc xem xét đề tài, việc xác định chủ đềcho đến việc tìm hiểu tư tưởng, cảm hứng và tình điệu thẩm mĩ để thấy được ýnghĩa của tác phẩm Tác phẩm nào càng đem lại nhiều giá trị tinh thần trong cảmnhận thì càng nhiều ý nghĩa Ý nghĩa của tác phẩm văn học là nội dung của nótrong sự tiếp nhận của người đọc thuộc các thế hệ, thời đại Sự cắt nghĩa đúng đắn

là nội dung đang mở ra nhưng ý nghĩa tác phẩm không phải chỉ phụ thuộc vào bảnthân văn học nghệ thuật Nó là hệ quả của một quá trình tiếp nhận mau chóng hoặc

lâu dài vừa mang tính khách quan, vừa mang tính chủ quan: “Khách quan bởi nó

vốn có hoặc rõ ràng hoặc chìm lấp trong tác phẩm Chủ quan bởi nó chỉ được phát hiện bằng chủ thể và tầm đón nhận của thời đại Như vậy, ý nghĩa của tác phẩm là nội dung, là bài học của nó trong tiếp nhận của bạn đọc thuộc các thế hệ, thời đại khác nhau Thí dụ, truyện Cây khế, có người nhìn nhận đó như là lời răn

đe không được sống tham lam độc ác, hoặc như là bài học về ở hiền gặp lành Có người cho đó là câu chuyện về ước mơ con người có thể thoát khỏi cuộc sống cơ cực của mình bằng sự giúp đỡ của những điều kì diệu”.

Giá trị và ý nghĩa nội dung tư tưởng tác phẩm văn học được đánh giá theo mức độphản ánh chân thật và sâu sắc hiện thực đời sống Tiêu chuẩn để xác định ý nghĩatác phẩm là tầm quan trọng và tính chân thật của hiện thực được miêu tả, chiều sâucủa sự miêu tả thế giới bên trong con người, độ sâu sắc, cao đẹp của tư tưởng vànhững giá trị thẩm mĩ Tất cả đem lại ý nghĩa với đời sống các thế hệ ngườiđọc.Tính đa nghĩa của tác phẩm văn học không phải bắt nguồn từ sự tùy tiện củađộc giả mà bắt nguồn từ tiềm năng dồi dào của nội dung tác phẩm cho phép có thể

lí giải đánh giá theo các khía cạnh khác nhau, bắt nguồn từ tính nhiều đề tài, chủ

đề, cảm hứng, tình điệu thẩm mĩ, tính đa chiều của sự lí giải trong tác phẩm

Tính đa nghĩa của tác phẩm bắt nguồn từ đặc trưng của nội dung hình tượng Nhàvăn phản ánh hiện thực một cách toàn vẹn, cấu tạo lại nó, đề xuất một hệ đề tài,chủ đề, cảm hứng nhất định Có những tác phẩm ở thời đại này bị lãng quên hoặcviệc đánh giá chưa thỏa đáng thì đến thời đại sau với cách nhìn mới mẻ lại đượcđánh giá đúng về những giá trị mà các tác phẩm ấy chứa đựng Ví dụ, văn học lãng

Trang 11

mạn gồm các sáng tác của nhóm Tự lực văn đoàn và phong trào Thơ mới, có thời

kì bị lãng quên hoặc bị phủ định, thì đến thời kì đổi mới đã được đánh giá đúngnhững giá trị đáng ca ngợi và những hạn chế của dòng văn học này

Như vậy, ý nghĩa tác phẩm là điều mà nó mang lại cho người đọc như một giá trịtinh thần có tính khai sáng phù hợp với lôgic và cảm quan thời đại Ý nghĩa tácphẩm là nội dung của nó trong tiếp nhận của bạn đọc thuộc các thế hệ, thời đạikhác nhau

Đề tài và chủ đề của tác phẩm văn học

Đề tài và chủ đề là những khái niệm chủ yếu thể hiện phương diện khách quan củanội dung tác phẩm văn học Đọc bất cứ tác phẩm nào chúng ta cũng bắt gặp nhữngngười, những cảnh và tâm tình cụ thể sinh động Đó là phạm vi miêu tả trực tiếptrong các tác phẩm, “tính chất của phạm vi miêu tả trực tiếp trong các tác phẩm có

vi hiện thực đời sống nhất định có ý nghĩa sâu rộng hơn

1 Đề tài

Đề tài là một khái niệm về loại của hiện tượng đời sống được miêu tả Có baonhiêu loại hiện tượng đời sống thì có bấy nhiêu đề tài Tuy nhiên, cần thấy rõ, đềtài mang dấu ấn rõ rệt của đời sống khách quan nhưng nó cũng là sự ghi nhận dấu

ấn chủ quan của nhà văn Bản chất đề tài không mang tính tư tưởng nhưng cáchthức lựa chọn đề tài trong tính hệ thống của quá trình sáng tác đã mang tính tưtưởng Bởi vì, việc lựa chọn đề tài này chứ không phải đề tài khác để thể hiện đãcho thấy, nhà văn coi chính đề tài ấy là quan trọng hơn cả, đáng quan tâm hơn cảtrong cái thời điểm sáng tác đó Qua sự lựa chọn ấy, nhà văn đã thể hiện khá rõtính khuynh hướng trong lập trường tư tưởng của mình

Khái niệm loại của đề tài không chỉ bắt nguồn từ bản chất xã hội của tính chất màcòn gắn liền với loại hiện tượng lịch sử xuất hiện trong đời sống và có âm vangtrong đời sống tinh thần một thời, hoặc trong thời đại nào đó Ví dụ, đề tài số phận

Trang 12

người chinh phu, người cung nữ, đề tài người tài hoa trong sáng tác của Đặng TrầnCôn, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du Còn trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu nổilên đề tài những người trung nghĩa.

Việc xác định đề tài cho phép liên hệ nội dung tác phẩm với một mảnh đất đờisống nhất định của thực tại Tuy nhiên, không nên đồng nhất đề tài với đối tượngnhận thức, chất liệu đời sống hay nguyên mẫu thực tế của tác phẩm Bởi vì, đốitượng là một cái gì nằm ngoài tác phẩm, đặt đối diện với tác phẩm Đề tài của tácphẩm là một phương diện nội dung tác phẩm, là đối tượng đã được nhận thức, kếtquả lựa chọn của nhà văn Đó là sự khái quát về phạm vi xã hội, lịch sử của đờisống được phản ánh trong tác phẩm Nếu chúng ta lẫn lộn hai mặt này sẽ dẫn đếnbiến việc phân tích tác phẩm thành phân tích đối tượng được miêu tả trong tácphẩm

Đối với một nền văn học, mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc đều có những

đề tài trung tâm tương ứng; những đề tài đó xuất hiện do có sự đổi mới trongnhững quan hệ xã hội, nhất là trong những quan hệ giai cấp, đồng thời cũng do yêucầu văn học phải nhận thức và phản ánh kịp thời những bước chuyển biến lớn laocủa đời sống Trong các bộ môn nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng, đề tài

là thuật ngữ dùng để chỉ phạm vi các sự kiện tạo nên cơ sở chất liệu đời sống củatác phẩm nghệ thuật Khái quát hơn, đề tài thể hiện phạm vi miêu tả trực tiếp củatác phẩm nghệ thuật

Giới hạn của phạm vi đề tài có thể được xác định rộng hẹp khác nhau Đó có thể làmột giới hạn bề ngoài như đề tài loài vật, đề tài sản xuất, đề tài cải cách ruộng đất,

đề tài kháng chiến chống Mỹ, đề tài bộ đội Trường Sơn, đề tài công nhân, … Ởgiới hạn bề ngoài của đề tài này, các phạm trù xã hội, lịch sử đóng vai trò rất quantrọng Tuy nhiên, đối tượng nhận thức của nhà văn là cuộc sống, con người xã hộivới tính cách và số phận của nó, với quan hệ nhân sinh phức tạp của nó

Giới hạn bề ngoài cho phép nhìn nhận tầm quan trọng của các phạm trù xã hội haylịch sử, tuy đối tượng nhận thức của tác phẩm nghệ thuật nói chung thường khôngchỉ giới hạn bởi cái bên ngoài của hiện tượng Cũng cần nhắc đến các phương diệnbên trong của đề tài, đó là bề sâu của phương diện phản ánh với cuộc sống, con

gồm trong nó tất cả những giá trị hiện thực, tố cáo, viễn cảnh, được miêu tả trongtác phẩm thông qua những hình tượng nghệ thuật

Trang 13

Đề tài của tác phẩm chẳng những gắn với hiện thực khách quan mà còn do lậptrường tư tưởng và vốn sống của người nghệ sĩ quy định Đề tài không chỉ đượcgợi, quy định bởi cuộc sống hiện thực mà còn luôn được xác lập bởi lập trường tưtưởng thẩm mĩ, cách nhìn, quan niệm nghệ thuật, cá tính, tài năng sáng tạo, phụthuộc vào những yêu cầu của thời đại và hoàn cảnh sáng tác riêng của mỗi nhà văn.Bởi vì, có khi cùng sống trong một xã hội ở cùng một thời kì lịch sử nhưng các nhàvăn xuất thân ở những giai cấp khác nhau hoặc có quan điểm lập trường chính trịkhác nhau dẫn tới việc lựa chọn đề tài để sáng tác cũng khác nhau.

Đối với một nền văn học, mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc đều có những

đề tài trung tâm tương ứng Đề tài trung tâm được hiểu là một khái niệm lớn hơn,bao quát hơn những đề tài cụ thể của từng tác phẩm Nó chính là mảng hiện thựctập hợp những sự kiện, những hiện tượng, những diễn biến quan trọng nhất của đờisống xã hội, nó thể hiện những nét bản chất nhất của thời kì lịch sử đó Hà MinhĐức quan niệm: “Trong văn học nước ta từ sau 1945 đến nay, đề tài trung tâm là

Tổ quốc và Chủ nghĩa xã hội, như Đảng ta đã nhấn mạnh trong nhiều bức thư gửicác đại hội văn nghệ: “Tổ quốc và Chủ nghĩa xã hội là đề tài cao đẹp trong văn

ta hiện nay”

Lê Lưu Oanh cho rằng: “Đề tài là một phạm vi nhất định của cuộc sống đã đượcnhận thức, lựa chọn để thể hiện trong tác phẩm” Như vậy, đề tài của tác phẩm làmột phương diện trong nội dung của nó, là đối tượng đã được nhận thức, lựa chọngắn liền với dụng ý, thế giới quan, lập trường tư tưởng, quan điểm thẩm mĩ của nhàvăn

Đi vào một loại đề tài nhất định nào đó để sáng tác, bao giờ người viết cũng thấy

có ý nghĩa từ thực tế đời sống, từ những chất liệu thực tế do mình tích lũy và thulượm được, đem khái quát lên thành những vấn đề cơ bản Thông qua những vấn

đề cơ bản đó người viết định ký gửi, truyền đạt một điều gì và trong nhiều trườnghợp tác phẩm chính là sự thực hiện cụ thể của chủ đề trong quá trình sáng tác bằngnhững hình tượng sinh động Chủ đề là một nhân tố khái quát, chủ đề không chỉ là

Trang 14

chất liệu trực tiếp mà còn được thể hiện thông qua những chất liệu trực tiếp Khi đivào phân tích tác phẩm, có thể có những trường hợp cách khai thác chủ đề củangười phân tích không giống nhau tùy theo quan điểm tư tưởng và trình độ nhậnthức của từng người Lê Bá Hán quan niệm: “Nói chủ đề là vấn đề cơ bản được đặt

ra trong tác phẩm, nhưng chủ đề phải được toát lên từ hiện thực trực tiếp, từ hệthống tính cách thì mới có sức mạnh

Chủ đề sẽ kém tác dụng khi nó chỉ là những vấn đề được phát biểu trực tiếp nhưmột chủ định có trước và người viết lấy hình tượng chắp vá để chứng minh choluận điểm của mình”

Trong mối quan hệ giữa chủ đề và đề tài thì bao giờ chủ đề cũng phải được xâydựng từ một đề tài nhất định Từ một đề tài có thể đề xuất nhiều chủ đề khác nhau.Người ta có thể bắt gặp qua nhiều sáng tác văn học hiện tượng giống nhau và trùnglặp về đề tài, nhưng ít có sự giống nhau về chủ đề Sự gần gũi về chủ đề giữa haitác phẩm cụ thể đòi hỏi sự giống nhau cơ bản trên nhiều phương diện Muốn cónhững chủ đề gần gũi thì trước hết hai tác phẩm phải cùng xuất hiện từ một đề tài

Ví dụ, chủ đề tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố rất gần gũi với chủ đề tiểu thuyếtBước đường cùng của Nguyễn Công Hoan Cả hai nhà văn này đều viết về nôngthôn, phản ánh sinh hoạt của những người nông dân nghèo khổ Cả hai đều cùngđứng trên lập trường dân chủ tiến bộ để phản ánh và phê phán hiện thực đen tối của

xã hội

Chủ đề là thành phần cơ bản nội dung khái quát của tác phẩm Nó được cụ thể hóaqua toàn bộ hình tượng tác phẩm, từ cốt truyện, nhân vật, hành động, lời nói, tưtưởng tình cảm của nhân vật trữ tình, của tác giả Có thể cùng hướng tới miêu tả,khái quát một phạm vi đời sống nhưng trong tác phẩm của mình, mỗi nhà văn lạinêu ra, đề xuất những vấn đề khác nhau Một tác phẩm thường có một chủ đềchính, song cũng có trường hợp có những tác phẩm có nhiều chủ đề Ví dụ, TruyệnKiều của Nguyễn Du có chủ đề trung tâm là tiếng kêu xé lòng về quyền sống củacon người bị chà đạp Ngoài ra, còn có chủ đề lên án sự tác oai, tác quái của đồngtiền, lên án bộ mặt tàn bạo của giai cấp thống trị và ca ngợi những người anh hùngđấu tranh cho tự do

Chủ đề có một vai trò rất quan trọng, nó thể hiện bản sắc tư duy, chiều sâu tưtưởng, khả năng thâm nhập vào bản chất đời sống của nhà văn Chính nó đã bướcđầu tạo ra tầm khái quát rộng lớn của tác phẩm đối với hiện thực xã hội, từ đó tácphẩm tác động sâu sắc vào nhận thức tư tưởng của người đọc

Trang 15

Nói đến chủ đề của một tác phẩm văn học là nói tới vấn đề chính yếu, vấn đề quantrọng được nhà văn nêu lên trong tác phẩm Khi nhà văn xác định đề tài cho tácphẩm cũng là lúc nhà văn tập trung suy nghĩ của mình nhằm làm sáng tỏ nhữngvấn đề có ý nghĩa quan trọng nhất, những vấn đề luôn luôn ám ảnh Nhà văn Gorkicho rằng: “Chủ đề là một ý tưởng nảy mầm trong vốn kinh nghiệm của tác giả, docuộc sống mách bảo cho tác giả, nhưng vẫn còn ẩn náu trong cái vốn ấn tượng củaanh ta dưới một dạng thức chưa hình thành và đòi hỏi phải được thể hiện trongnhững hình tượng, thúc đẩy tác giả tìm cách hình tượng hóa nó”.

Nhận xét này của Gorki cho thấy, chủ đề của tác phẩm văn học nảy sinh từ cuộcsống và tác động mạnh vào tâm trí của nhà văn, thôi thúc nhà văn sáng tác Nhàthơ Nguyễn Khuyến được chứng kiến cảnh học hành thi cử ô hợp, nhũng nhiễu ởnước ta cuối thế kỉ XIX, bất bình trước cảnh kẻ bất tài đỗ đạt, nghênh ngang võnglọng, ông đã viết bài thơ Tiến sĩ giấy thật hóm hỉnh, sâu sắc, dùng hình ảnh ôngnghè tháng tám (làm bằng giấy), để châm biếm những kẻ bất tài nhưng đỗ “nghè”:

Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi.”

Có nhiều tác giả cùng viết một đề tài gần gũi nhưng chủ đề khác nhau Ví dụ, TốHữu và Chế Lan Viên đều có những bài thơ viết về Bác Hồ Bài Bác ơi! của TốHữu viết ngay sau khi Người mất, nhấn mạnh tới tấm lòng thương đời bao la, gắn

bó với non sông đất trời Bài Người đi tìm hình của nước, Chế Lan Viên viết năm

1960, lại thể hiện Bác ở khía cạnh khác: con người đi tìm tương lai độc lập, tự docho dân tộc, con người có mơ ước lớn, người lãnh đạo biết nhìn xa trông rộng, đitrước thời gian

Trên cơ sở một đề tài gần nhau có thể phát huy những chủ đề sâu sắc khác nhau.Chủ đề gắn bó với đề tài nhưng nhiều khi nó vượt qua những giới hạn của những

đề tài cụ thể mà nêu lên những vấn đề khái quát, rộng lớn hơn Không nên nghĩrằng viết về đề tài nông dân, công nhân, trí thức, … Những tác phẩm văn học lớn,bên cạnh việc phản ánh những nội dung lịch sử cụ thể, bao giờ cũng từ đó, nêu lênnhững vấn đề chung có ý nghĩa khái quát về thân phận, nỗi đau, hạnh phúc của con

Trang 16

người Vì vậy, không nên hạn chế ý nghĩa của chủ đề trong phạm vi đề tài xácđịnh.

Chủ đề văn học không bao giờ là một vấn đề đơn nhất Nếu trong thực tại, bản chấtcon người đã là một tổng hòa của các quan hệ xã hội thì điều đó có nghĩa là bất cứmột vấn đề nào của nhân sinh cũng liên quan đến hàng loạt vấn đề phức tạp kháccủa quan hệ xã hội Trong các chủ đề của tác phẩm, có thể phân ra chủ đề chínhquán xuyến toàn tác phẩm và chủ đề phụ, cục bộ thể hiện qua các nhân vật hoặctình tiết riêng lẻ

Ví dụ, chủ để chính trong tác phẩm Tắt đèn là mâu thuẫn giữa quyền sống củangười dân quê và tính chất phát xít tàn bạo trong chính sách sưu thuế của bọn thựcdân nửa phong kiến Còn chủ đề phụ là lòng tham vô độ, đạo đức thối nát, sự ngudốt và độc ác của bọn quan lại, chức dịch, phẩm chất tốt đẹp của người dân quê, sốphận của phụ nữ và trẻ em Lẫn lộn chủ đề chính phụ sẽ hạn chế việc lí giải đúngđắn nội dung tác phẩm

Như vây, chủ đề là vấn đề cơ bản, vấn đề trung tâm được tác giả nêu lên để giảiquyết trong tác phẩm Nó không phải là một vấn đề đơn nhất, có nhiều tác phẩmchứa đựng cả một hệ chủ đề với chủ đề chính và chủ đề phụ

Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của tác phẩm văn học

Nội dung phản ánh và hình thức nghệ thuật là hai bình diện tạo nên tính chỉnh thểcủa tác phẩm văn học Để phân tích tính chỉnh thể, tức sự vẹn toàn thống nhất củatác phẩm, cần phải thừa nhận sự thống nhất biện chứng giữa nội dung và hình thức

1 Nội dung của tác phẩm văn học

Nội dung của tác phẩm văn học không phải là số cộng giản đơn của hai phươngdiện khách quan và chủ quan mà là một quan hệ biện chứng xuyên thấm lẫn nhaucủa chúng Thông thường, lắm khi người ta đồng nhất nội dung tác phẩm với nộidung của đối tượng khách quan mà tác phẩm phản ánh, biến việc phân tích nộidung tác phẩm thành việc phân tích một đối tượng nằm ngoài tác phẩm và ngượclại

Ví dụ, nội dung tác phẩm Tắt đèn là nỗi bất hạnh của gia đình chị Dậu Thực chất,

đó chỉ là yếu tố của chỉnh thể, biểu tượng về nội dung, chứ không phải nội dungcủa tác phẩm Nội dung đích thực của tác phẩm văn học là cuộc sống được lí giải,

Trang 17

đánh giá, ước mơ, là nhận thức và lí tưởng, nỗi niềm đã hóa thành máu thịt hiểnhiện, chứ không phải khái niệm về hiện thực hoặc khái niệm về lí tưởng và tìnhcảm.

Chính mối quan hệ chủ quan và khách quan đầy nhiệt tình lí tưởng, trí tuệ tạothành sự sống sôi động của bản thân tác phẩm Chính nội dung đó đòi hỏi văn họcnghệ thuật phải tạo ra các hình thức của riêng nó là hình thức chủ thể như ngườitrần thuật, nhân vật, nhân vật trữ tình, cái nhìn, giọng điệu Xây dựng thành côngcác loại nhân vật là điều kiện để thể hiện nội dung đặc thù của tác phẩm văn học,

vì đó là hình thức mang quan hệ giữa đời sống với tác giả, tác giả với người đọc

Khái niệm nội dung có cơ sở vững chắc từ mối quan hệ mật thiết giữa văn học vàhiện thực Nó bao hàm cả nhân tố khách quan của đời sống và nhân tố chủ quancủa nhà văn Nó vừa là cuộc sống được ý thức, vừa là sự đánh giá cảm xúc đối vớicuộc sống đó Vì vậy, người ta thường nói đến hai cấp độ của nội dung tác phẩm.Cấp độ thứ nhất là nội dung cụ thể (nội dung trực tiếp), khái niệm này nhằm chỉdung lượng trực cảm của tác phẩm Đó là sự thể hiện một cách sinh động và kháchquan một phạm vi hiện thực cụ thể của đời sống với sự diễn biến của các sự kiện,

sự thể hiện các hình ảnh, hình tượng, sự hoạt động và quan hệ giữa các nhân vật,suy nghĩ và cảm xúc của các nhân vật

Xuyên qua nội dung cụ thể của tác phẩm, ở một cấp độ cao hơn, sâu hơn là nộidung tư tưởng (nội dung khái quát) Đó chính là sự khái quát những gì đã trình bàytrong nội dung cụ thể thành vấn đề của đời sống và giải quyết những vấn đề củađời sống ấy theo một khuynh hướng tư tưởng nhất định Như vậy, có thể nói, nộidung của tác phẩm là toàn bộ những hiện tượng thẩm mĩ độc đáo được phản ánhbằng hình tượng thông qua sự lựa chọn, đánh giá chủ quan của người nghệ sĩ, tức

là tiếng nói riêng của nhà văn bao gồm những cảm xúc, tâm trạng, lí tưởng, khátvọng của tác giả về hiện thực đó Khi nói đến nội dung của tác phẩm, Secnưxepkikhông chỉ nhấn mạnh việc “tái hiện các hiện tượng hiện thực mà con người quantâm” mà còn nhấn mạnh đến việc “giải thích đời sống”, “đề xuất sự phán xét đốivới các hiện tượng được miêu tả” Ông viết: “Thể hiện sự phán xét đó trong tácphẩm là một ý nghĩa mới của tác phẩm nghệ thuật, nhờ đó nghệ thuật đứng vào

của con người”

Nội dung của tác phẩm văn học là một quan hệ biện chứng giữa hai phương diệnkhách quan và chủ quan xuyên thấm lẫn nhau Nội dung của tác phẩm văn học làcuộc sống đã được ý thức, lí giải, đánh giá và tái hiện trong tác phẩm Nhà thơ Mai

Trang 18

Thánh Du đời Tống (Trung Quốc) đã nói nội dung thơ là cái mà tác giả cảm thụtrong lòng Nội dung tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao không đơn giản là số phậncủa một kẻ bị lưu manh hóa trong xã hội thực nửa dân phong kiến mà còn là mộtlời tố cáo xã hội, một sự trình bày những khát vọng nhân đạo, một sự thức tỉnh đốivới người đọc về khả năng thiện tính của con người Như vậy, nội dung tác phẩmkhông giản đơn là cái hiện thực được miêu tả mà là một quan hệ chủ quan – kháchquan gắn bó một cách máu thịt Nó bộc lộ một quan hệ, một thái độ và một cảmhứng đối với đời sống Đó là cái nội dung toàn vẹn, phong phú, nhiều bình diệnđộc đáo của nghệ thuật đòi hỏi phải thể hiện qua hình thức nghệ thuật.

2 Hình thức của tác phẩm văn học

Hình thức là sự biểu hiện của nội dung, là cách thể hiện nội dung Không nên hiểu

nó như một cái gì xa lạ bên ngoài nội dung Đôi khi người ta hiểu giản đơn, chỉ cần

có được nội dung viết cái gì thì hình thức viết như thế nào tự khắc nó đến Hìnhthức tồn tại trong toàn tác phẩm như là tính xác định của nội dung, sự biểu hiệncủa nội dung Ứng với nội dung nhiều cấp độ có hình thức nhiều cấp độ Khôngnên quy giản đơn chức năng nội dung hoặc chức năng hình thức vào cho một sốyếu tố nào đó của tác phẩm, chẳng hạn hình thức là yếu tố ngoài cùng, còn đề tài tưtưởng là nội dung thuần túy Ngôn ngữ chẳng những có chức năng hình thức nhưkiến tạo thể văn, thể loại mà còn có chức năng nội dung

Nhà văn sáng tạo hình thức phải dùng thủ pháp, phương tiện nghệ thuật Nhưngthủ pháp, phương tiện được xây dựng một cách trừu tượng cũng chưa phải hìnhthức Chất liệu và phương tiện chỉ trở thành hình thức nghệ thuật chừng nào nó trởthành sự biểu hiện của nội dung Chính vì vậy, hình thức của tác phẩm văn họcmang tính cụ thể, thẩm mĩ không lặp lại Chúng ta có thể lấy thể lục bát để nói, lụcbát của Nguyễn Du, của ca dao, của Nguyễn Bính, của Tố Hữu đều không giốngnhau Trong bài Bà Bủ thể lục bát đầy vẻ dân dã, thô mộc, lục bát trong Việt Bắc

đã được trau chuốt đến mức tuyệt đỉnh của sự êm ái, réo rắt và hài hòa, nhưngkhông mất vẻ hồn hậu của tiếng hát đồng quê, lục bát ở Nước non ngàn dặm làkhúc trữ tình vừa phóng khoáng, vừa thâm trầm Là những nhà thơ, mấy ai lạikhông dùng ví von, nhưng ví von của thơ Tố Hữu, Xuân Diệu, Chính Hữu, mỗingười cũng một khác

Trong tác phẩm văn học, có hai cấp độ hình thức Thứ nhất, hình thức cảm tính,tức các biện pháp, thủ pháp, phương tiện mà có thể thống kê, dễ dàng chỉ ra trongtác phẩm, đâu là ẩn dụ, đâu là so sánh, trùng điệp Những hình thức này có thể xuấthiện như một yếu tố đơn lẻ trong tác phẩm Thứ hai, hình thức quan niệm, cấp độ

Trang 19

sâu hơn của hình thức Đây chính là khái niệm chỉ hình thức như là phương thứchình thành, xuất hiện của một nội dung nhất định, là quy luật tạo hình thức Nóicách khác, đó là cái lí của hình thức, tức là cái lí do tạo thành hình thức đó Kháiniệm này còn có cái tên khác như hình thức mang tính nội dung, hay tính nội dungcủa hình thức Hình thức quan niệm là cấp độ không dễ dàng nhìn thấy ngay trongtác phẩm Vì mang tính quan niệm, nên nó biểu hiện bằng sự lặp lại ở các yếu tốcùng loại trong tác phẩm và khi đã lặp lại thì những yếu tố đó sẽ mang nghĩa, tức làcái lí của việc vì sao xuất hiện các yếu tố trùng lặp đó.

Đề tài, tư tưởng là yếu tố nội dung được thể hiện qua toàn bộ thế giới hình tượngnhư nhân vật, xung đột, cốt truyện, ngôn ngữ Nhưng mọi đề tài đều có hình thứcriêng mang tính lịch sử trong hình tượng, chẳng hạn như tư tưởng tự do của nhânvật Từ Hải Đó là tự do thoát khỏi thực trạng trói buộc, tự do vẫy vùng cho phỉ chí

3 Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của tác phẩm văn học

Đây là vấn đề xưa nay được nhiều người bàn, với những quan niệm khác nhau Ởđây, ta tìm hiểu vấn đề nội dung và hình thức theo quan niệm nhất quán về bảnchất của tác phẩm văn học, coi mỗi tác phẩm là một đơn vị ngôn từ Theo ý nghĩatriết học thì mọi sự vật và hiện tượng trong vũ trụ đều có nội dung và hình thức củachúng Nội dung là cái chứa đựng bên trong và hình thức là cái bao bọc bên ngoài.Giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ và tác động qua lại rất biện chứng

Quan hệ nội dung và hình thức, xét về thực chất, không phải là quan hệ của cái bêntrong và bên ngoài, vì như vậy, nội dung và hình thức đã bị tách rời ở hai khônggian khác nhau Trong một bức tường, nội dung và hình thức đều hiện ra ngoài,còn bên trong trống rỗng Ở đây, nội dung biểu hiện qua hình thức, thấm nhuầntrong hình thức Nội dung quyết định hình thức không có nghĩa là đầu tiên nhà vănsáng tạo toàn bộ nội dung, sau đó sáng tạo toàn bộ hình thức phù hợp Nội dung

Trang 20

quyết định ngay trong ý đồ và cấu tứ đầu tiên, sau đó nội dung tác phẩm cũng lớnlên, hoàn thiện và phong phú thêm cùng hình thức của nó Hêghen đã nói: “Nộidung chẳng phải là cái gì khác, mà chính là chuyển hóa của hình thức vào nộidung, và hình thức cũng chẳng gì khác hơn là sự chuyển hóa của nội dung vào hìnhthức”.

Rõ ràng, bản chất của tác phẩm văn học là ngôn từ, mà ngôn từ tức là lời nói, là sựvận dụng ngôn ngữ nào đó trong giao tiếp, vận dụng ngôn ngữ có tính cộng đồngthành ra ngôn từ có tính chất cá nhân Tất cả vì mục đích giao tiếp mà đã là giaotiếp thì phải có nhu cầu thổ lộ một điều gì đó Vậy nội dung của tác phẩm văn họcchính là trả lời câu hỏi tác phẩm nói cái gì với người đọc Còn khi người đọc tiếpnhận tác phẩm văn học thì cần biết tác phẩm nói điều gì với mình Bất cứ hình tháingôn từ nào – dù là bình thường hay văn hoá, nghệ thuật bao giờ cũng nói một điều

gì đó của đời sống có tính chất khách quan và một điều gì đó của cá nhân mangtính chất chủ quan

Bất cứ tác phẩm văn học nào, vì vậy, cũng có nội dung khách quan (hay phươngdiện khách quan của nội dung) và nội dung chủ quan (hay phương diện chủ quancủa nội dung), dù đó là tác phẩm dân gian hay cổ điển, hiện đại Bất kỳ thể loại nàothuộc bất cứ hình thái lịch sử nào, đã là tác phẩm văn học thì là một dạng ngôn từ,nghĩa là lời nói, mà đã là lời nói thì phải nói một điều gì đó của đời sống kháchquan và nói một điều gì đó của chính người nói tức của tác giả Trừ những tácphẩm mà tác giả không muốn nói với ai, hay chỉ dành cho riêng mình

Cốt lõi của nội dung thứ nhất (nội dung phản ánh, nội dung hiện thực) ta gọi là chủđề; còn cái cốt lõi của nội dung thứ hai (nội dung tư tưởng, nội dung biểu hiện) tagọi là tư tưởng Tác phẩm nào cũng vừa có chủ đề đồng thời vừa có tư tưởng, đặcbiệt phương diện sau Tư tưởng ở đây cần được hiểu theo nghĩa rộng, thể hiện cáchnhìn, quan điểm, quan niệm, thái độ, tình cảm, … của người nói trên nhiều lĩnhvực như chính trị, triết học, tôn giáo, đạo đức, khoa học, nghệ thuật, … Trong tácphẩm, có khi tư tưởng biểu hiện một cách trực tiếp, nhưng phổ biến là biểu hiệnmột cách gián tiếp thông qua hình tương ngôn từ Hai mặt cơ bản này của nội dungbao giờ cũng thống nhất với nhau Nội dung thứ nhất hướng tới cái chân; còn nộidung thứ hai thì hướng tới cái thiện Và đây là chân, thiện của nghệ thuật nên phảihoà quyện với cái mĩ Đó là xét về mặt giá trị Điều này hoàn toàn tuỳ thuộc vàochỗ đứng và quan niệm của mỗi người trong xã hội

Cần chú trọng đến cái mĩ trong tác phẩm Sự tồn tại nội dung của tác phẩm khôngthể và không phải dưới dạng trần trụi Nội dung phải hiện ra bên trong và qua hình

Trang 21

thức Cái gọi là tư tưởng hay chủ đề là cái ta “trừu xuất” ra bằng tư duy lôgíc Cònnội dung tác phẩm văn học bao giờ cũng tồn tại trong hình thức Cho nên, muốnhiểu nội dung thật sự thì phải nắm nội dung qua hình thức, phải qua hình thức đểtìm nội dung Nhất quán với góc nhìn của chúng ta khi coi tác phẩm là một dạngthức của lời nói, hình thức trong trường hợp này trả lời câu hỏi như thế nào?Không thể xem nhẹ vai trò của hình thức trong một công trình nghệ thuật Tácphẩm văn học nói một điều gì đó với con người về cuộc sống và về tác giả đã hẳn

là vô cùng quan trọng, nhưng nói thế nào quan trọng không kém Thành công haykhông, thành công đến mức nào là ở chỗ như thế nào? Nói cái gì chỉ quan trọng khiđược thực hiện thế nào? Nếu không có như thế nào thì cũng không thể có cái gì?Nội dung dẫu là chân thực là thánh thiện nhưng nói ra một cách không nghệ thuậtthì không đi đến đâu và cũng không để làm gì dưới cái nhìn thẩm mĩ Ở lĩnh vựcnày, nếu có nói hình thức nghệ thuật là quyết định thì cũng không có gì là quáđáng Và trong quan hệ với nội dung của tác phẩm thì hình thức quyết định giá trịnghệ thuật của nội dung Nội dung chỉ có giá trị khi nội dung đó

có hình thức nghệ thuật tương xứng với nó

Vậy hình thức nghệ thuật dưới cái nhìn bản chất ngôn từ của tác phẩm cụ thể làgồm những yếu tố nào? Có thể thấy ba thành tố Thứ nhất là thể loại Thể loại theoquan điểm này chính là vóc dáng chung của tác phẩm với tính cách là đơn vị ngôntừ

Ngôn từ đó là một câu tục ngữ, một bài ca dao, một thiên truyện cổ, hay một bàithơ, một cuốn truyện, một vở kịch Bài thơ thì là đoản thiên hay trường thiên, làthơ luật, thơ tự do hay thơ văn xuôi, … Điều ta thấy đầu tiên khi tiếp xúc với vănhọc là thể loại nhất định của tác phẩm, được xem như là hình dạng chung của lờinói Người sáng tác muốn thể hiện ý đồ nghệ thuật trước tiên phải chọn thể loại

Sau khi chọn được thể loại thì tác giả phải cấu tạo lời nói của mình Bất cứ lời nóinào cũng đều có cấu tạo, đơn giản nhất là một câu tục ngữ thì cũng phải có cấu tạo.Một bài thơ, một thiên tiểu thuyết hiện đại lại càng phải có cấu tạo chung Ngườiviết phải trình bày diễn biến trước sau của lời nói Ngôn từ bao giờ cũng có diễntiến, kết cấu tác phẩm chính là diễn trình của ngôn từ, tức lời nói đi qua chặngđường nào Nói cái gì trước cái gì sau Có khi cái diễn ra trước được nói trước, cáidiễn ra sau được nói sau

Cũng có khi ngược lại Tất cả đều tuỳ thuộc vào ý đồ nghệ thuật, nhằm tạo ra ấntượng khó quên của lời nói, đã gọi là lời nói thì phải có cái trước, cái sau Trướcsau đó là cấu trúc tạo ra vóc dáng bao quát của nội dung Nội dung diễn biến ra sao

Trang 22

qua diễn trình cụ thể chính là kết cấu của công trình nghệ thuật Như lí luận truyềnthống, kết cấu có kết cấu tình tiết hay không tình tiết, có cốt truyện hay không cócốt truyện, có nhân vật hay không có nhân vật, kết cấu tự sự, kết cấu trữ tình haykết cấu kịch.

Yếu tố sau cùng của hình thức là phong cách ngôn từ của tác phẩm Nghĩa là xétxem chính bản thân ngôn từ được thực hiện như thế nào Suy cho cùng, nhân tố thứ

ba này bao trùm lên nhân tố thứ nhất và thứ hai Ngôn từ trong tác phẩm được kháithác đến mức tối đa mọi sức mạnh vốn có của lời nói, để tạo nên giá trị thực tếtrong khả năng của mỗi cá nhân Đó là lĩnh vực của phong cách ngôn từ, biến ngôn

từ thông thường thành ngôn từ nghệ thuật mang dấu ấn riêng của mỗi người

Cũng cần phải trở lại vấn đề then chốt là sự thống nhất hữu cơ giữa nội dung nghệthuật và hình thức nghệ thuật của một tác phẩm Không có nội dung nào lại khôngtồn tại trong một hình thức nhất định và không có hình thức nào lại không thể hiệnmột nội dung nào đó Hình thức yếu kém, non yếu ta gọi là chủ nghĩa sơ lược; cònnội dung yếu kém, trống rỗng ta gọi là chủ nghĩa hình thức Từng có những trườngphái lí luận có dụng ý loại bỏ hai phạm trù này khi nghiên cứu tác phẩm nghệthuật Họ cho đây là những khái niệm lí thuyết vô bổ Họ chỉ thấy cái toàn thể vàcái bộ phận trong cấu trúc bên trong của tác phẩm

Nội dung và hình thức vốn là hai phạm trù triết học có liên quan đến mọi hiệntượng trong đời sống Không thể có cái này mà không có cái kia hoặc ngược lại.Tác phẩm nghệ thuật là một hiện tượng xã hội, cho nên trong những tác phẩm nghệthuật có giá trị, nội dung và hình thức luôn luôn thống nhất khắng khít với nhau.Nói về một tác phẩm có giá trị, Biêlinxki cho rằng: “Trong tác phẩm nghệ thuật, tưtưởng và hình thức phải hòa hợp với nhau một cách hữu cơ như tâm hồn và thểxác, nếu hủy diệt hình thức thì cũng có nghĩa là hủy diệt tư tưởng và ngược lạicũng vậy”

Ở một chỗ khác, ông viết: “Khi hình thức là biểu hiện của nội dung thì nó gắn chặtvới nội dung tới mức là nếu tách nó ra khỏi nội dung, có nghĩa là hủy diệt bản thânnội dung và ngược lại, tách nội dung khỏi hình thức, có nghĩa là tiêu diệt hìnhthức”

Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức được biểu hiện ở hai mặt: nội dung quyếtđịnh hình thức và hình thức phù hợp nội dung Trong mối tương quan giữa nộidung và hình thức, nội dung bao giờ cũng đóng vai trò chủ đạo Nó là cái có trước,thông qua ý thức năng động và tích cực chủ quan, nghệ sĩ cố gắng tìm một hình

Trang 23

thức phù hợp nhất để bộc lộ một cách đầy đủ, hấp dẫn nhất bản chất của nó Nhàvăn Xô Viết Lêônốp cho rằng: “Tác phẩm nghệ thuật đích thực, nhất là tác phẩm ngôn từ, bao giờ cũng là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung”.

Như vậy, sự phù hợp hình thức và nội dung phải được xem xét trong hiệu quả phảnánh những chân lí sâu sắc của đời sống, biểu hiện nổi bật tinh thần thời đại Chỉtrong tương quan đó, sự thống nhất nội dung và hình thức mới thật sự mang lạinhững giá trịlớn lao cho kho tàng văn nghệ dân tộc và thế giới

Tầm quan trọng của tác phẩm trong đời sống văn học

Đối với các nhà nghiên cứu văn học, tác phẩm là đối tượng xem xét trực tiếp, chủyếu Từ tác phẩm mới mở ra các bình diện phân tích: tác phẩm với tác giả, tácphẩm với hiện thực, thời đại, tác phẩm với người đọc, tác phẩm với các truyềnthống văn hóa, tư tưởng, nghệ thuật Chúng ta nghiên cứu tác phẩm văn học đểhiểu giá trị, quy luật phản ánh đời sống và sự phát triển lịch sử của văn học

Tác phẩm là một sản phẩm tồn tại độc lập tương đối với tác giả và người đọc Tínhchất nổi bật của một tác phẩm là tính chỉnh thể Chỉnh thể là một tổng thể gồm cácyếu tố có mối liên hệ mật thiết nội tại, tương đối vững bền, bảo đảm cho sự hoạtđộng của nó cũng như mối quan hệ của nó với môi trường xung quanh Chỉnh thểkhông phải là một tổng cộng giản đơn của các yếu tố tạo nên nó Chỉnh thể là sựliên kết siêu tổng cộng để tạo ra nội dung mới, chức năng mới vốn không có trongcác yếu tố khi tách rời ra Ví dụ, câu tục ngữ “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”

là một chỉnh thể mà trong kết cấu vững bền của nó, mực và đèn, đen và sáng hàmchứa những nội dung vàý nghĩa mà những chữ ấy thông thường tách riêng rakhông có được Về nguyên tắc, mọi tác phẩm văn học bất luận lớn hay nhỏ đều lànhững chỉnh thể như vậy

Tính chỉnh thể sở dĩ quan trọng đối với tác phẩm văn học là bởi vì chỉ trong tínhchỉnh thể thì hình thức và nội dung đích thực của tác phẩm mới xuất hiện Ví dụ,các chữ trong một câu thơ phải được kết hợp với nhau theo một cách nào đó mớitạo ra được hình thức câu thơ lục bát hay câu thơ tự do có nhịp điệu và nhạc điệuriêng, một điều mà các chữ trong dạng tách rời không thể có được Cũng như vậy,

sự liên kết các chi tiết, sự kiện theo một cách nào đó mới thành những hình thứcchân dung, phong cảnh, cốt truyện, nhân vật Đến lượt mình, các hình thức lại thểhiện các nội dung cuộc sống và tư tưởng, tình cảm tương ứng Vì vậy, nội dung và

Trang 24

hình thức tác phẩm văn học vừa là hệ quả của sự thống nhất nội tại của các yếu tốtác phẩm, lại vừa là quy luật chỉnh thể của tác phẩm.

Hiện nay, còn có nhiều cách hiểu tác phẩm không thống nhất với nhau Nhiều nhànghiên cứu hiểu cấu trúc tác phẩm một cách hình thức, quy nó về cấu trúc ngữpháp hay cấu trúc văn bản, cấu trúc kí hiệu Cách hiểu đó phiến diện, vì bản chấttác phẩm văn học là một quan hệ chủ quan và khách quan, một hoạt động tinh thần

và thực tiễn xã hội được quy định bởi nhiều phương diện, không thể quy về mộtcấu trúc văn bản

Lí luận văn học Mácxít đang cố gắng tìm hiểu một cấu trúc tác phẩm phản ánhđúng bản chất và đặc trưng của nó Theo quan điểm này, nhìn chung cấu trúc chỉnhthể tác phẩm gồm có bốn cấp độ như sau:

– Cấp độ ngôn từ: là lớp lời văn của tác phẩm, tạo thành khách thể tiếp nhận trực

tiếp của người đọc Lớp này bao gồm mọi thành phần của ngôn từ và lời văn như

âm thanh, từ ngữ, câu, đoạn, chương, phần trong truyện, vần, nhịp điệu, câu thơ,khổ thơ trong thơ Nó có đặc điểm là trực tiếp chịu quy định của quy luật ngôn ngữnhư ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, phong cách học, đồng thời, lại chịu sự chi phốicủa quy luật thơ văn, thể loại

– Cấp độ hình tượng: là các chi tiết tạo hình, ý tưởng, biểu tượng, hình ảnh, các

tình tiết, sự kiện và từ đó hiện lên các đồ vật, phong cách, con người, quan hệ, xãhội, thế giới Đó là lớp tạo hình và biểu hiện được tổ chức theo nguyên tắc miêu tả,quan sát, kí ức, liên tưởng, biểu hiện Lớp này thường có các bộ phận như nhân vật

và hệ thống nhân vật, cốt truyện, không gian, thời gian Người ta gọi lớp này là

“bức tranh đời sống”, là “hình thức của bản thân đời sống” của tác phẩm

– Cấp độ kết cấu: là sự thâm nhập, chi phối lẫn nhau để tạo thành cấp độ kết cấu

của tác phẩm Sự thống nhất văn bản với hình tượng tạo thành nghệ thuật trầnthuật Thành phần của nó bao gồm toàn bộ các liên hệ, ghép nối của các yếu tốhình tượng, các phương tiện tổ chức, sự phối hợp của các chủ thể lời văn với hình

trực tiếp do quy luật thể loại và ý đồ nghệ thuật của tác giả chi phối

– Cấp độ chỉnh thể: là sự thống nhất của cả ba lớp trên tạo thành lớp ý nghĩa tồn tại

trong toàn bộ chỉnh thể Nó bao gồm các thành phần như đề tài, chủ đề, sự lí giảicác hiện tượng đời sống, các cảm hứng đánh giá, cảm xúc, các tình điệu thẩm mĩ.Đây là một cấp độ nội dung chỉnh thể chi phối toàn bộ tác phẩm Cùng với sự hìnhthành cấp độ này là sự hình thành các nguyên tắc tạo hình thức của tác phẩm, cótác dụng thống nhất các cấp độ kia vào một cấp độ duy nhất của chỉnh thể tácphẩm văn học Cấp độ này trực tiếp bị chi phối bởi lập trường, tư tưởng, tình cảm,

Trang 25

vốn sống và các truyền thống văn hóa nghệ thuật, cá tính sáng tạo của nhà văn,

thân hiện thực

Cho nên, khi nói đến đời sống văn học bao gồm nhiều chỉnh thể: tác phẩm, tác giả,trào lưu, nền văn học của một dân tộc, thì trong những chỉnh thể đó, tác phẩm vănhọc là thành tố cơ bản, để người đọc nghiên cứu, phê bình, thưởng thức Chính vìvậy, có thể nói tác phẩm văn học có một tầm quan trong đặc biệt trong đời sốngvăn học Tầm quan trọng đó còn được biểu hiện trên các phương diện của việcnghiên cứu văn học, một bộ môn của khoa nghiên cứu văn học xuất phát từ sự tìmhiểu, phân tích, nghiên cứu tác phẩm

Từ sự phân tích tác phẩm, lịch sử văn học mới có thể đánh giá thành quả của từngtác giả, dựng lại chân thật bộ mặt văn học của một thời kì lịch sử, khái quát nhữngqui luật phát triển của văn học dân tộc, khu vực Phê bình văn học cũng luôn tiếpxúc trực tiếp với những tác phẩm cụ thể nhằm kịp thời khẳng định, biểu dươngnhững tìm tòi, khám phá, sáng tác, ngăn chặn những biểu hiện lệch lạc về cả haiphương diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật Trên cơ sở nghiên cứu tácphẩm, lí luận văn học mới có thể khái quát một cách chính xác vấn đề đặc trưng,bản chất, quy luật phát triển của văn học Việc giảng dạy văn học, nhất là giảngvăn, đòi hỏi thầy trò phải tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm Những nguyên tắc vàphương pháp phân tích do lí luận đề xuất chỉ mới là chỗ dựa cần thiết cho giảngdạy chứ không thể thay thế cho việc tìm hiểu trực tiếp tác phẩm được

Như vậy, mọi vấn đề của văn học đều tập trung trước hết ở tác phẩm Có thể coitác phẩm như một chỉnh thể trung tâm của hoạt động văn học Tính chỉnh thể củatác phẩm văn học được xem xét chủ yếu trong mối quan hệ giữa nội dung và hìnhthức

Cái đẹp trong nghệ thuật và cái đẹp trong tự nhiên

I Bản chất của cái đẹp

Trong lịch sử tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về cái đẹp Cơ bản là sự đấu tranhgiữa mỹ học duy vật và mỹ học duy tâm xét về về thế giới quan và phương phápluận của nó

* Theo chủ nghĩa duy tâm khách quan: Nguồn gốc của cái đẹp ở “thế giới ý niệm”hay “ý niệm tuyệt đối” Cái đẹp chính là sự thể hiện đầy đủ của “ý niệm”; “ý niệm”tuyệt đối” về sự hoàn mỹ trong một sự vật; hiện tượng cụ thể Nhận thức: đánh giá

Trang 26

và sáng tạo cái đẹp là quá trình con người cảm nhận được mách bảo của lục lượngsiêu nhiên.

* Theo chủ nghĩa duy tâm chủ quan: Cái đẹp phụ thuộc vào ý thức chủ quan củacon người mà cụ thể hơn là ý thức chủ quan của mỗi cá nhân Theo Cantơ; vấn đềchủ yếu không phải cái gì là cái đẹp mà phán đoán về cái đẹp là gì Không có kháiniệm về cái đẹp và cũng không có quy tắc phán đoán về cái đẹp Tiêu chuẩn đánhgiá cái đẹp có sẵn trong mỗi cá nhân; là cái gì đó gợi lên khoái cảm thẩm mỹ bởithị hiếu cá nhân thì đó là cái đẹp

* Theo chủ nghĩa duy vật trước TK XIX: Cái đẹp có nguồn gốc khách quan khôngphụ thuộc vào ý thức của con người Tiêu chuẩn đánh giá cái đẹp là so sánh về cácphương diện khác nhau của cái đẹp:

 “Tỷ lệ” (cấu trúc của các sự vật; hiện tượng theo quy luật khách quan củanó)

 “Cân xứng”; “đối xứng” (yếu tố hài hòa về cấu trúc; vị trí; vai trò của sự vật;hiện tượng trong quan hệ thẩm mỹ

 “Hài hòa” của các sự vật; hiện tượng trong hiện thực kể cà con người;

– Có 3 khuynh hướng giải thích về bản chất của cái đẹp:

+ Tuyệt đối hóa cái đẹp xã hội: khẳng định vai trò của con người trong quá trình

thế; mà L.Tônxtôi đã viết: “Sách viết về cái đẹp đã chất lên thành núi; nhưng cái

đẹp vẫn là một câu đố giữa cuộc đời” Hoặc như Hêghen thì hãy để mặc cái đẹp

trong “vương quốc của cảm giác” Còn Cantơ: thì hãy dành hoàn toàn cho sựthưởng ngoạn trực tiếp; để khỏi phá vỡ tính toàn vẹn; đánh mất vẻ tươi nguyên vốn

có của nó Vậy cái đẹp; nguồn gốc; bản chất và qui luật của cái đẹp là gì? Tronglịch sử mỹ học có những cách thức tiếp cận cơ bản nào nghiên cứu cái đẹp?

Trang 27

Trước hết; cái đẹp bắt nguồn từ hiện thực; có cơ sở khách quan trong đời sống;

nhưng đồng thời nó cũng dùng để đánh giá tất cả những hiện tượng thẩm mỹ tíchcực có tính hoàn thiện; hoàn mỹ Cái đẹp được hình thành khi con người biết đốichiếu; soi sánh với cái xấu.Từ những sự quan sát bình thường chỉ ra cái gì đẹp; cái

gì xấu; đến chỗ có thể định nghĩa về cái đẹp quả là một quá trình lâu dài; khó khăntrong lịch sử mỹ học

Chính vì vậy; lúc đầu con người đã biết dùng khái niệm cái đẹp để chỉ tất cả những

gì của đời sống thẩm mỹ có khả năng khơi dậy ở nới tâm hồn những cảm xúc thẩm

mỹ trong quá trình con người đồng hoá; sáng tạo và cảm thụ thẩm mỹ Người tacoi cái đẹp là sự hài hoà; sự đối xứng; sự tao nhã; sư linh hoạt; là cái có chấtlượng; là cái trật tự Tiến dần lên; người ta coi cái đẹp gắn liền với sự tiến bộ; cáchmạng và mang tính nhân văn

– Tiêu chuẩn của cái đẹp là cái phải phù hợp với tình cảm; thị hiếu và lý tưởngthẩm mỹ xã hội của một thời đại nhất định

– Cái xấu cũng bắt nguồn từ hiện thực; có cơ sở khách quan trong đời sống; dùng

để đánh giá tất cả những hiện tượng thẩm mỹ tiêu cực; hạn chế; thái hoá bất cập.Chẳng hạn; trong tự nhiên: cái gớm ghiếc; cái khủng khiếp; cái quá cỡ; cái lộnxộn; không hình thù; cái kỳ quái; cái rườm rà; cái mất cân đối; cái kỳ dị; cái dịdạng Hoặc trong xã hội: Tính xu nịnh; gia trưởng; trưởng giả; đua đòi; bon chen;tham ăn; tục uống; dối trá; lươn lẹo; ích kỷ; vụ lợi; khoa trương; tầm thường; lốlăng; thô bỉ; thấp hèn

– Cái đẹp là một trong những thuộc tính thẩm mỹ của hiện thực Nó chính là mộtgiá trị xã hội mang tính khách quan; rộng rãi của các sự vật; hiện tượng toàn vẹn;

cụ thể; cảm tính được con người xã hội cảm thụ – đánh giá và sáng tạo Tiêu chuẩnkhách quan của cái đẹp thể hiện ở chỗ những thuộc tính thẩm mỹ của nó trong các

sự vật; hiện tượng đẹp phải phù hợp với tình cảm – thị hiếu và lý tưởng thẩm mỹ –

xã hội của một thời đại nhất định

Bản chất của cái đẹp sẽ được làm rõ hơn; khi chúng ta phân tích những dấu hiệu đặc trưng của cái đẹp ở ba phương diện sau:

– Cái đẹp là cái gây nên ở tâm hồn con người – khoái cảm tinh thần Khoái cảm là

sự thỏa mãn nhu cầu nói chung của con người về các phương diện khác nhau củađời sống Từ đó có quan điểm mỹ học đã đồng nhất cái đẹp với cái gây khoái cảm

và họ đi tìm qui luật của cái đẹp trên mặt tâm sinh lý Thực ra cái đẹp là cái có khả

Trang 28

năng gây khoái cảm nhưng không đồng nhất với khoái cảm nói chung của conngười; mà là khoái cảm tinh thần – khoái cảm thẩm mỹ Sự đồng nhất cái đẹp vớicái gây khoái cảm dẫn đến chủ nghĩa hình thức và chủ nghĩa tự nhiên trong mỹhọc.

Khoái cảm lành mạnh về mặt tinh thần chưa phải là khoái cảm thẩm mỹ Nhiềuhứng thú có thể nảy sinh trong quá trình say mê trong học tập; lao động; nghiêncứu khoa học; ở đây là niềm vui tinh thần; nhưng không phải là niềm vui do quiluật của cái đẹp chi phối; vì chúng mới chỉ là cơ sở đầu tiên của khoái cảm thẩm

mỹ Khoái cảm thẩm mỹ cũng là rung động cảm xúc biểu hiện ở tình cảm thẩm

mỹ Tình cảm thẩm mỹ hơn bất cứ tình cảm nào; nó có mối liên hệ sâu xa với lợiích xã hội – con người với những giá trị đích thực cho cuộc sống tốt đẹp; phù hợpvới tâm tư nguyện vọng của những giai cấp; những dân tộc và các thời đại khácnhau

Khi cảm thụ; chiêm ngưỡng những hiện tượng đẹp của tự nhiên – xã hội và nghệthuật đều tác động nơi tâm hồn con người những phản ứng cảm xúc – cảm nghĩtích cực Trước hết làm cho con người hân hoan; vui sướng và đồng thời mangkhơi dậy nguồn thích thú; đam mê; khát vọng; tìm tòi khám phá; phát huy năng lựcsáng tạo của con người

– Cái đẹp liên quan chặt chẽ trực tiếp hoặc gián tiếp đến cái có ích nhưng nó khôngđồng nhất với cái có ích Rõ ràng quan hệ thẩm mỹ đối với hiện thực không phải làquan hệ trực tiếp tiêu dùng Môt bức tranh tĩnh vật vẫn đẹp mặc dầu trái cam; tráiquít vẽ trong tranh không thể đáp ứng nhu cầu ăn uống của con người Tuy nhiên;cái đẹp và cái có ích không mâu thuẫn và không tách rời nhau; nhưng đồng nhấtcái đẹp với cái có ích thì rơi vào chủ nghĩa vụ lợi; thực dụng Cái có ích; lợi ích ẩndấu trong cái đẹp và được cái đẹp biểu hiện không phải là lợi ích vật chất trực tiếp

mà lợi ích tinh thần

Cái đẹp là cái có ích là nhờ vào ý nghĩa giáo dục của nó xét về nhiều khiá cạnhkhác nhau của đời sống tinh thần con người; như chính trị; đạo đức; pháp quyền;khoa học; tôn giáo Cantơ đã tuyên truyền cho chủ nghĩa hình thức trong nghệthuật và cho rằng quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” là sai lầm

– Cái đẹp phải dựa trên cái thật và cái tốt Từ lâu người ta đã có quan niệm chorằng chân – thiện – mỹ là hệ giá trị cao nhất trong đời sống tinh thần của con ngườicái mà con người cần phải vươn đến; phải đạt được để khẳng định sự hoàn thiện vàphát triển của con người

Trang 29

Quả thực cái giả không thể đẹp; cái xấu không thể đẹp Một tác phẩm nghệ thuậtchỉ đẹp và có giá trị đích thực khi nó phản ánh sự thật của cuộc sống; giải quyếtnhững yêu cầu; nhiệm vụ của thực tiễn xã hội Cái đẹp dựa trên cái thật; cái tốt(khía cạnh đạo đức); nhưng có những cái thật cái tốt chưa phải là cái đẹp; chúngchỉ trở thành đẹp khi hiện ra trong hình tượng cảm tính – cụ thể và là một giá trịthẩm mỹ được xã hội thừa nhận.

Cái đẹp giữ vị trí trung tâm của quan hệ thẩm mỹ; dùng để khái quát những giá trị

xã hội tích cực; khách quan; rộng rãi của hiện thực thẩm mỹ; xuất phát từ thực tiễn;tồn tại dưới dạng hình tượng toàn vẹn; cụ thể – cảm tính phù hợp với tình cảm; thịhiếu và lý tưởng thẩm mỹ của xã hội nhất định

Như vậy; ngọn nguồn của bản chất vươn tới cái đẹp; sáng tạo theo qui luật của cáiđẹp; đầu tiên nằm trong bản chất tự nhiên; sinh học rồi phát triển rộng ra xã hộitrong tiến trình lịch sử của con người Có hiểu như vậy mới khắc phục được tínhphiến diện trong sự cảm thụ; đánh giá và sáng tạo cái đẹp

II Các hình thức cơ bản của cái đẹp

1 Cái đẹp trong tự nhiên

Vấn đề đặt ra ở chỗ tự nhiên rõ ràng đã tồn tại trước con người; vậy có cái đẹptrong tự nhiên không? Nếu có cái đẹp trong tự nhiên thì cái đẹp đó có tồn tại tự nó;mang tính khách quan và có trước con người?

Có nhiều quan điểm khác nhau:

– Duy tâm: có cái đẹp tự nhiên; do lực lượng siêu nhiên

– Duy vật trước thế kỷ XIX có khuynh hướng tuyệt đối hóa cái đẹp trong tự nhiên

Trước hết; chúng ta thấy; toàn bộ giới tự nhiên dù thể hiện dưới các hình thức các

sự vật; hiện tượng; hệ thống vật chất cụ thể khác nhau; thì nó luôn ở trong trạngthái vận động; biến đổi không ngừng; đồng thời nó tồn tại khách quan độc lập với

ý thức của con người Còn sự xuất hiện con người; xã hội cũng chỉ là kết quả tronglịch sử phát triển của giới tự nhiên Không thể phủ nhận yếu tố sức sống của tựnhiên tham gia vào định chuẩn cái đẹp thẩm mỹ của con người Đó là các yếu tốsinh học; vật lý dưới các hình thức khác nhau về cấu trúc; hình dáng; mầu sắc; tínhchất của tự nhiên; nó tương quan với hoạt động thẩm mỹ của con người

Trang 30

Tự nhiên là nơi bắt đầu của mọi cái đẹp; vẻ đẹp của mây; gió; trăng; hoa; tuyết núisông là nguồn cảm hứng và đồng thời là đối tượng miêu tả của nghệ thuật; cũngnhư nó thể hiện tính đa dạng; phong phú; sinh động trong quan hệ thẩm mỹ củacon người.

Cái đẹp trong tự nhiên là cái có năng lực biểu hiện sức sống tồn tại và phát triển; làcái có khả năng gợi mở cho con người khám phá bản chất chân chính của mình Nócũng là cái có thể gợi mở sự liên tưởng; sức sáng tạo và phát triển của con ngườilàm xuất hiện ở tâm hồn con người những rung động thẩm mỹ; những cảm xúc mêsay; tích cực; khiến cho con người khát vọng và yêu đời và muốn cống hiến nhiềuhơn cho những mục đích và lý tưởng chân chính của mình

Cái đẹp trong tự nhiên tuy tồn tại khách quan; nhưng chỉ là một tiềm năng; một sứcsống và là đẹp theo đúng nghĩa chân chính của nó khi con người “đồng hóa” giới

tự nhiên bằng thẩm mỹ trong hoạt động thực tiễn của con người

Không thể phủ nhận yếu tố sức sống của tự nhiên tham gia vào định chuẩn cái đẹpthẩm mỹ của con người

2 Cái đẹp trong xã hội

Cái đẹp trong xã hội – cái đẹp trong hoạt động của con người thể hiện ở tất cả cáclĩnh vực của đời sống xã hội: lao động sản xuất; đấu tranh xã hội; vui chơi; giải trí;thể thao; hội hè Cái đẹp trong xã hội cũng rất phong phú; nhiều hình nhiều vẻ; nóphối hợp được cả vẻ đẹp mầu sắc; hình dáng; cả vẻ đẹp bên ngoài lẫn vẻ đẹp bêntrong bắt nguồn từ quan niệm chính trị – đạo đức – truyền thống – phong tục

Chẳng hạn cái đẹp của con người với tính cách sản phẩm của tự nhiên nó mangtính vật chất – vẻ đẹp bên ngoài: thân thể – vóc dáng tự nhiên; nhưng con ngườicòn là sản phẩm của xã hội là vẻ đẹp xã hội: tinh thần – vẻ đẹp bên trong tâm hồnbộc lộ qua sự hoàn thiện về mặt nhân cách; về lý tưởng chính trị; lý tưởng đạo đức

xã hội

Khác với cái đẹp vốn có của tự nhiên; cái đẹp trong xã hội có liên quan mật thiếtđến các lý tưởng chính trị; lý tưởng đạo đức Bởi vì cơ sở đánh giá cái đẹp trong tựnhiên liên quan tới tính qui luật và tính hợp lý của các hiện tượng tự nhiên trongquan hệ thẩm mỹ của con người

Trang 31

Thì ngược lại cơ sở đầu tiên đánh giá cái đẹp trong xã hội lại là lao động sản xuất.Cái đẹp trong xã hội là cuộc đấu tranh để thực hiện lý tưởng thẩm mỹ; để xây dựngmột xã hội tốt hơn; đẹp hơn Một xã hội đẹp là xã hội mà ở đó chủ nghĩa nhân đạotrở thành văn hoá; văn minh và cũng là một giá trị nhân văn sâu sắc thấm sâu đậmtrong quan hệ giữa con người và con người.

Tuy dựa vào nền tảng của lao động sản xuất của xã hội; nhưng cái đẹp trong xã hộilại phụ thuộc vào nhiều mối quan hệ phức tạp; do đó; khi đánh giá cái đẹp trong xãhội; con người phải dựa vào hai hệ tiêu chí cơ bản: hệ tiêu chí: Chân – thiện – mỹ

và hệ tiêu chí: tính lịch sử; giai cấp; nhân dân; dân tộc và tính thời đại trong sángtạo và cảm thụ cái đẹp

– Hệ tiêu chí: chân – thiện – mỹ đánh giá cái đẹp trong xã hội giúp con người pháthiện ra sự thật của cuộc sống và nhận thức đúng đắn về các mối quan hệ thực tạicủa tự nhiên và xã hội; chỉ cho ta cách giải quyết các mâu thuẫn và xung đột đómột cách có cơ sở khoa học; mang lại hiệu quả ngày cao của quá trình cải tạo hiệnthực Thật vậy; cái chân – cái thiện – cái mỹ đánh giá cái đẹp trong xã hội là nhữngphương tiện tốt nhất để con người đạt được sự hài hòa; hoàn chỉnh các phẩm chấtcao qúi nhất của tâm hồn; trong đó; sự tiếp nhận; hưởng thụ cái đẹp mang lại chocon người một một khoái cảm tinh thần – một sự tổng hợp cảm xúc

– Hệ tiêu chí: Tính lịch sử; giai cấp; dân tộc và thời đại Ngoài mối liên hệ chân –thiện – mỹ; chúng ta còn phải đặt cái đẹp trong quan hệ với tính lịch sử; tính giaicấp; tính dân tộc và tính thời đại Bởi vì trong hoạt động định hướng của con ngườichúng ta thấy rõ là; khởi điểm và mục đích của hoạt động xã hội bao giờ cũng gắnliền với những điều kiện lịch sử nhất định; nó xuất phát từ những nhiệm vụ; yêucầu cụ thể của mỗi một hình thái kinh tế – xã hội cũng như các thời đại nhất định.Cho nên; quan niệm về cái đẹp cũng thay đổi và phát triển có tính chất lịch sử vàtính chất lịch sử đó thể hiện ở tính giai cấp; tính nhân dân; dân tộc và tính thời đại

3 Cái đẹp trong nghệ thuật

Nghệ thuật là thế giới của cái đẹp nó thể hiện tập trung của mọi quan hệ thẩm mỹ.Nói cách khác; trong bất kỳ hoạt động nào của con người cũng hướng đến sự sángtạo ra cái đẹp; vươn đến cái đẹp nhưng không ở đâu qui luật ấy lại bộc lộ rõ nét;không ở đâu việc sáng tạo ra cái đẹp lại chiếm một vị trí quan trọng như trong nghệthuật Ở đây cái đẹp trong nghệ thuật không chỉ là sự phản ánh tính chân thật cuộcsống hiện thực; mà còn là phản ánh bằng tài năng sáng tạo của người nghệ sỹ

Trang 32

Cũng chính vì vậy; nghệ thuật không phải nơi độc quyền sáng tạo ra cái đẹp; mặcdầu trong mọi hoạt động sáng tạo của con người đều có hiện diện của yếu tố thẩm

mỹ – yếu tố cái đẹp; nhưng nghệ thuật là hình thái cao nhất; tập trung nhất của quiluật sáng tạo cái đẹp trong việc đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và nhu cầu tinh thần nóichung của con người

Cái đẹp trong nghệ thuật nó đều biểu đạt qua hình tượng nghệ thuật với tính cách

là một dạng thức phản ánh khác về chất với các hình thức phản ánh khác của hoạtđộng nhận thức; – đó là sự phản ánh cô đặc tình cảm; lý trí với cách thể hiện vừacảm tính lại vừa cụ thể Trong “Hiện tượng học tinh thần”; Hêghen thật có lý; khiông chia nhận thức của con người ra làm ba nhóm: triết học có phương thức nhậnthức bằng khái niệm; tôn giáo nhận thức bằng cảm niệm (biểu tượng); nghệ thuậtnhận thức bằng hình tượng (chiêm ngưỡng)

Hình tượng nghệ thuật; thông thường nó được phân tích ở các cấp độ khác nhau đểlàm sáng tỏ ở khía cạnh phép biện chứng giữa lý tính và cảm tính; khách quan vàchủ quan; điển hình và khái quát Việc nghiên cứu các cấp độ tồn tại của hìnhtượng nghệ thuật là công việc hết sức quan trọng đối với việc làm rõ đặc trưng củanghệ thuật Bởi vì là cơ sở phương pháp luận để xem xét bất cứ khía cạnh nào củahình tượng nghệ thuật; nhất là vai trò của nghệ thuật trong đời sống tinh thần conngười

Đặc trưng cái đẹp trong nghệ thuật; trước hết thể hiện ở tính điển hình của nó Cáiđẹp trong hình tượng nghệ thuật tồn tại như một chỉnh thể thống nhất biện chứnggiữa cái chung và cái riêng; trong đó cái chung đã được cá biệt hóa; cái cá biệt đãđược khái quát hóa; điển hình hóa Mỗi hình tượng nghệ thuật là một cái riêng độcđáo; là sự không lặp lại bất kỳ cái riêng nào khác được thể hiện bằng các thủ phápnghệ thuật khác nhau: hư cấu; tưởng tượng; ước lệ Nó mang tính mở và không baogiờ kết thúc

Đặc trưng cái đẹp trong nghệ thuật còn biểu hiện ở sự thống nhất giữa nội dung vàhình thức Chính vì vậy; cái đẹp của hình tượng nghệ thuật là cái đẹp hoàn chỉnh;tính gọt giũa; trau chuốt của các yếu tố hình thức mà người nghệ sỹ phải góp nhặt;thâu tóm cái đẹp trong hiện thực để sáng tạo nó trong tác phẩm nghệ thuật Xét vềnguồn gốc; về tính có trước và phong phú thì cái đẹp trong tự nhiên; cái đẹp trong

xã hội thông qua hoạt động thực tiễn của con người đều được phản ánh dưới cáchình thức khác nhau trong hình tượng nghệ thuật – sáng tạo nghệ thuật

Trang 33

Như vậy; cái đẹp trong nghệ thuật trước hết là cái đẹp của hiện thực cuộc sống mà

nó phản ánh; là vẻ đẹp của tự nhiên; của xã hội của con người đã được nhữngngười nghệ sỹ sáng tạo và biểu đạt bằng các cấp độ khác nhau của hình tượng nghệthuật bằng tính điển hình hoá; trong mối quan hệ giữa cái chung – cái riêng; giữanội dung – hình thức

Cái đẹp là một giá trị; nhưng cái đẹp trong nghệ thuật là một giá trị tổng hợp củagiá trị thẩm mỹ; triết học; chính trị; đạo đức; văn hoá Những tác phẩm nghệ thuậtcủa nhân loại bao giờ cũng là các tác phẩm mà ở đó bao chứa những khát vọngvươn tới cái đẹp; cái cao thượng ở sự hoàn mỹ; ở một hình thức hấp dẫn đích thựccủa nó trong các ngôn ngữ đặc thù của nghệ thuật

Chủ nghĩa hiện thực

Chủ nghĩa hiện thực là trào lưu nghệ thuật lấy hiện thực xã hội và những vấn đề cóthực của con người làm đối tượng sáng tác Chủ nghĩa hiện thực hướng tới cungcấp cho công chúng nghệ thuật những bức tranh chân thực, sống động, quen thuộc

về cuộc sống, về môi trường xã hội xung quanh

Trong văn học, những tác phẩm có tính hiện thực và giá trị hiện thực tồn tại rất lâutrước khi chủ nghĩa này xuất hiện Thế nhưng chủ nghĩa hiện thực, với tư cách mộttrào lưu, một phương pháp, chỉ xuất hiện vào thế kỉ 19 ở các quốc gia Pháp, Ý,Anh, Nga, sau đó ảnh hưởng tới các nước khác Từ “réalisme” xuất hiện lần đầutiên ở Pháp vào năm 1826 trên tạp chí Mercure de France, do nhà phê bìnhChampfleury sử dụng Với hội họa, Pháp cũng chính là nơi ra đời của hội họa hiệnthực Trong suốt thế kỷ 18 và 19, Pháp là trung tâm về nhiều mặt: xã hội, chính trị,văn hóa… Dù nhiều xu hướng hội họa liên tiếp ra đời, chủ đề chính vẫn là tôngiáo, lịch sử, thần thoại với lối vẽ kinh điển Gustave Courbet đã xuất hiện và tổchức cuộc triển lãm mang tên Chủ nghĩa hiện thực của Gustave Courbet 1819 –

1877 vào năm 1855 tại Paris Ông chính là người đại diện cho hội họa hiện thực.Nghệ thuật của Courbet đã hưởng đến các họa sĩ lớp sau và họ đã đi những bướcđầu tiên để lập nên nền tảng cho hội họa hiện đại sau này

1 Chủ nghĩa hiện thực là gì?

Về tên gọi đến nay còn nhiều tranh cãi Trong “Từ điển văn học” Trần Đình Sử( chủ biên) đã đưa ra hai cách hiểu về thuật ngữ chủ nghĩa hiện thực Theo nghĩarộng thuật ngữ chủ nghĩa hiện thực được hiểu là mối quan hệ giữa tác phẩm vàhiện thực đời sống bất kể đó là tác phẩm thuộc trường phái, khuynh hướng vănnghệ nào Với ý nghĩa này, khái niệm chủ nghĩa hiện thực gần như đồng nhất với

Trang 34

khái niệm sự thật đời sống, vì tác phẩm văn học nào cũng mang tính hiện thực Tuynhiên cách hiểu này chưa mang màu sắc rõ nét của chủ nghĩa hiện thực để phânbiệt với chủ nghĩa lãng mạn hay chủ nghĩa cổ điển…Cũng theo nhóm tác giả đó,thuật ngữ chủ nghĩa hiện thực theo nghĩa hẹp chỉ một phương pháp hiện thực, mộtkhuynh hướng, trào lưu văn học có nội dung chặt chẽ, sắc sảo được xác định bởinguyên tắc mĩ học riêng.

Trong cuốn “Lí luận văn học” do nhóm tác giả Phương Lựu, Trần Đình Sử,Nguyễn Xuân Nam, La Khắc Hòa, Lê Ngọc Trà, Thành Thế Thái Bình mà phầnchủ nghĩa hiện thực phê phán do Phương Lựu đảm nhiệm, sau này được dựng lạitrong cuốn “Tiến trình văn học” tập 3 cũng do tác giả chủ biên thì đã đưa ra nhữngcách hiểu khác về khái niệm này Theo tác giả, “chủ nghĩa hiện thực có khi đượcdùng không phải với nghĩa một phương pháp sáng tác mà với nghĩa kiểu sáng táctái hiện” Còn nếu hiểu “Chủ nghĩa hiện thực theo nghĩa là phương pháp sáng tácthật ra có nhiều dạng Đó là chủ nghĩa hiện thực thời Phục hưng, chủ nghĩa hiệnthực thời Khai sáng, chủ nghĩa hiện thực trong thời phong kiến mạt vận ở phươngĐông Nhưng chủ nghĩa hiện thực thế kỉ XIX ở Tây Âu đạt đến đỉnh cao nhất, chonên người ta gọi là chủ nghĩa hiện thực cổ điển, và vì cảm hứng chủ đạo của nó làphê phán cho nên theo ý kiến của M.Gorki người ta thường gọi là chủ nghĩa hiệnthực phê phán” Và trong giáo trình đó tác giả khẳng định cách trình bày chủ nghĩahiện thực như một phương pháp sáng tác

Theo “Bách khoa toàn thư” Chủ nghĩa hiện thực là một “trào lưu văn học nghệthuật, là phương pháp sáng tác lấy hiện thực xã hội và những vấn đề có thật củacon người làm đối tượng phản ánh”

Như vậy, các công trình khoa học và các nhà lí luận có uy tín đã đưa ra những cáchhiểu của nhiều ý kiến khác nhau về chủ nghĩa hiện thực nhưng tựu trung lại họ đãgặp gỡ nhau ở điểm coi chủ nghĩa hiện thực là một trào lưu văn học, một phươngpháp sáng tác nhằm mô tả thế giới như nó là, nhằm triển lãm cuộc sống trong trạngthái trung thực của nó Đồng thời muốn thực hiện thành công phương pháp này cácnhà văn cần tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc mĩ học nhất định như:xây dựngnhững hình tượng điển hình và điển hình hóa các sự kiện của cuộc sống; thừa nhậnmối quan hệ hữu cơ giữa tính cách và hoàn cảnh, con người và môi trường sống;coi trọng chi tiết cụ thể và có độ chính xác cao

2 Thời điểm ra đời

Về thời điểm ra đời của chủ nghĩa hiện thực cho đến nay vẫn có những ý kiến khácnhau Trong “Từ điển thuật ngữ văn học”( Trần Đình Sử chủ biên) đã trình bàynhiều ý kiến về dấu mốc ra đời của chủ nghĩa hiện thực Có người cho rằng nguyên

Trang 35

tắc phản ánh hiện thực chủ nghĩa hình thành từ thời cổ đại và trải qua các giai đoạnphát triển lịch sử như Cổ đại, Phục hưng, Ánh sáng, thế kỉ XIX…Một số khác thìcho là chủ nghĩa hiện thực xuất hiện từ thời Phục hưng Nhiều người khẳng địnhchủ nghĩa hiện thực hình thành từ khoảng những năm 30 của thế kỉ XIX.

Theo “Bách khoa toàn thư” những tác phẩm có tính hiện thực hay giá trị hiện thực

đã xuất hiện từ lâu trước khi có chủ nghĩa hiện thực tuy nhiên chủ nghĩa hiện thựcvới tư cách là một trào lưu, một phương pháp hoàn thiện chỉ xuất hiện vào thế kỉXIX ở các nước như Anh, Pháp, Ý, Nga sau đó lan rộng ra các nước khác trên thếgiới Và “Bách khoa toàn thư” khẳng định rằng bài tiểu luận đầu tiên có tính chất líluận về chủ nghĩa hiện thực được viết bởi nhà lí luận Pháp Săngflory vào năm1857

Dù rằng các ý kiến còn tranh cãi nhưng không thể phủ nhận được rằng chủ nghĩahiện thực có đời sống lịch sử phát triển cụ thể và vào những năm 40 của thế kỉ XIXtrở đi chủ nghĩa hiện thực trong văn học đã bước sang một giai đoạn phát triểnhoàn chỉnh và rực rỡ, mang cảm hứng phân tích mới về hiện thực đó là phê phán

Từ đây chủ nghĩa hiện thực mang tên mới: chủ nghĩa hiện thực phê phán

Ở Việt Nam, những tác phẩm của văn học trung đại như Truyện Kiều, Chinh phụngâm, Cung oán ngâm, thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến…đã phơi bày hiệnthực khách quan của cuộc sống Phải đến Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn…mớikhơi dòng cho khuynh hướng hiện thực khi các tác phẩm thể hiện màu sắc phongtục, nếp sống của một số miền đất, một số người Đến khoảng những năm 30 củathế kỉ XX cây bút hiện thực phê phán Nguyễn Công Hoan là người bắt đầu đi theokhuynh hướng tả chân, lấy cuộc sống hiện thời, lấy cái đã và đang xảy ra làm nộidung tác phẩm Và từ những năm 1930 đến trước 1945 khuynh hướng văn học hiệnthực phát triển rầm rộ, quy mô, nhiều cây bút tài năng đã xuất hiện như Ngô Tất

Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Đình Lạp…và Nam Cao được đánh giá là người cócông đưa văn học hiện thực lên một trình độ mới, trình độ miêu tả tâm lý, khái quáthiện thực

3 Đặc trưng điển hình hóa của chủ nghĩa hiện thực

Trong các nguyên tắc mĩ học của chủ nghĩa hiện thực thì điển hình hóa là đặctrưng cơ bản để phân biệt chủ nghĩa hiện thực phê phán với chủ nghĩa lãng mạnnhư X.M.Petorop đã khẳng định “Phạm trù điển hình là phạm trù quan trọng nhấtcủa mĩ học hiện thực” Điển hình là những nét mang tính bản chất, quy luật, nhữngtính cách quan trọng nhất, nổi bật nhất trong đời sống con người được thể hiện qua

Trang 36

sáng tạo của người nghệ sĩ “Điển hình là một sự khái quát cao của sáng tạo nghệthuật” (Trần Đình Sử) Chỉ khi nào nhà văn sáng tạo được hình tượng mang màusắc cái riêng thật sắc nét cá tính, sinh động, là “con người này”, và cái chung lạiphải thật khái quát, hơn nữa phải hài hòa cao độ thì mới có điển hình Nó là kết quảcủa sự xuyên thấm nhuần nhuyễn giữa cá thể hóa và khái quát hóa ở mức độ cao.Tính điển hình là hình thức biểu hiện ở trình độ cao của hình tượng trong tác phẩmvăn học Trong bức thư gửi nhà văn Hacnet, Enghen có một câu nổi tiếng “Theo ýtôi, đã nói đến chủ nghĩa hiện thực, thì ngoài sự chính xác của các chi tiết, còn phảinói đến sự thể hiện những tính cách điển hình trong những hoàn cảnh điển hình”.Như vậy vấn đề điển hình không chỉ gắn với chủ nghĩa hiện thực mà còn thể hiệntrên hai bình diện: tính cách điển hình và hoàn cảnh điển hình Tính cách điển hình

là sự thống nhất hữu cơ giữa những đặc tính phổ biến và những đặc tính cá biệt,đặc thù trong một nhân vật

Do đó, nhân vật điển hình của văn học theo nhà phê bình Belinxki là “người lạquen biết”, là “nhân vật mà tên của nó trở thành danh từ chung”, còn Lỗ Tấn phátbiểu hóm hỉnh rằng “Nhân vật của ông có tà áo Nam Kinh, cái cúc Chiết Giang, cáimiệng Thượng Hải và đôi mắt Phúc Kiến”

Tính khái quát của hình tượng nhân vật, tính chung của điển hình mà các nhà vănhiện thực từng quan niệm là ”con người lắp ghép, vai chắp vá” đã được Lỗ Tấnphát biểu trong ”Tạp văn tuyển tập” ”Lấy ở mỗi người một nét, cho nên trong sốnhững người liên quan đến tác giả, không thể tìm ra ai giống như thế Nhưng vì lấy

ở mỗi người một nét, nhiều người thấy phần nào lại giống mình, và cũng dễ làmcho nhiều người phát cáu” Trong ”Phòng trưng bày vật cổ” Banzac đã cho rằng

”Muốn vẽ một hình tượng đẹp thì mượn dùng cánh tay của người mẫu này, châncủa người mẫu kia, ngực của người mẫu nọ và đôi vai của người mẫu khác nữa”.Nhờ sự khái quát hóa ấy, tính cách nhân vật sẽ ”tiêu biểu cho các giai cấp và cáctrào lưu nhất định, do đó, tiêu biểu nhất định cho các tư tưởng nhất định của thờiđại” (Angghen)

Bên cạnh tính chung, khái quát hóa, nhân vật điển hình phải có tính riêng, cá thểhóa cao độ, khiến nhân vật vừa quen vừa lạ Cá thể hóa nhân vật không phải là đểnhân vật làm những việc độc đáo kì lạ mà bản chất, tính cách riêng của nhân vậtvẫn được bộc lộ thông qua cách làm độc đáo đối với những sự việc bình thường.Khi có tính cá thể hóa nhân vật tự thân trở nên sinh động, hấp dẫn, chẳng thế màcác nhà hiện thực nổi tiếng luôn ám ảnh về nhân vật của mình, như Nguyễn CôngHoan khắc khoải về người nông dân điêu đứng vì nạn tranh cướp ruộng đất củabọn cường hào ác bá, còn Ngô Tất Tố day dứt với số kiếp long đong lận đận vì nạn

Trang 37

sưu thuế của người nông dân Đến Nam Cao – đại diện xuất sắc cho chủ nghĩa hiệnthực phê phán giai đoạn 30-45 ám ảnh về người nông dân không chỉ rơi vào cảnhbần cùng hóa mà đau đớn hơn khi bị lưu manh hóa, tha hóa về nhân cách Nhưvậy, nếu như tính chung đòi hỏi nhà văn dám xông vào giữa cuộc đời để nắm bắtthì tính riêng đòi hỏi nhà văn có khả năng phân tích, xử lý những biến thái tinh vitrong tâm lý nhân vật Để hình tượng mang tính khái quát hóa nhà văn cần có vốnsống phong phú nhưng để hình tượng độc đáo, sinh động thì đòi hỏi nhà văn phải

có khả năng sáng tạo

Để xây dựng được chân dung điển hình vừa mang cái riêng sắc nét, vừa mang cáichung khái quát cao, là sự thống nhất của tính cá thể hóa và khái quát hóa, nhà vănluôn có ý thức đặt nhân vật trong quan hệ nhiều chiều, trong hoàn cảnh cụ thể,trong cái nhìn vừa tương phản, vừa tương đồng tạo ra tính đối thoại sâu sắc

Những tác động của tác phẩm văn chương đối với tình cảm của người đọc

Văn chương quả là món ăn tinh thần thiết yếu, thường xuyên của con người trong

xã hội Thưởng thức văn chương là hoạt động hàng ngày của hàng triệu, hàng triệu

con người thuộc các lứa tuổi, các dân tộc, các tầng lớp khác nhau trên hành tinhchúng ta Có thể kể ra muôn vàn minh chứng cho điều này Chẳng hạn ảnh hưởng

của Đíchken đối với dân tộc Anh cuối thế kỉ XIX “Trong khi ấy- Xtephan Vaixơ

kể lại – họ (những người sùng bái Dickens) không thể bắt mình chờ ở nhà trong ngày bưu phẩm tới, cho đến khi lại có cuốn sách nhỏ màu xanh, mới xuất bản Suốt cả tháng họ thèm thuồng ước mơ về cuốn sách đó, kiên trì, hi vọng, tranh cãi… Và thế là cuối cùng đành chờ đợi người đưa thư đi xe ngựa tới và sẽ giải tất

cả những câu đố thú vị ấy Năm này qua năm khác trong cái ngày long trọng đó những người già và người trẻ đi bộ hàng dặm để đón người đưa thư chỉ cốt nhận được cuốn sách sớm hơn Ngay trên đường về họ bắt đầu đọc, liếc nhìn nhau qua vai, họ đọc to lên, và chỉ có những người tử tế nhất mới chạy ba chân bốn cẳng về nhà để chia sẻ với vợ con những điều mình vừa tìm được… Khi Dickens quyết định phát biểu công khai với tư cách là người đọc và lần đầu tiên mặt đối mặt với độc giả của mình, nước Anh tựa như say rượu Các phòng đều bị đột kích chật ních; những người hâm mộ thú vị leo trèo lên các cột, chui cả dưới bục của sân khấu cốt chỉ được nghe nhà văn yêu mến”.

Đây là chuyện xảy ra với người lớn, Còn đối với trẻ em? Nhà văn Liên xô trướcđây Coocnây Trucôpxki có kể một câu chuyện thật xảy ra với ông ở Alupca vàonăm 1929: “Bọn trẻ đang mệt nhoài vì nóng bức Chúng la hét inh ỏi Một bà phụ

nữ vụng về cứ quang quác mắng chúng, nhưng chẳng làm sao chúng im tiếng cho

Trang 38

Tôi vừa ở xa đến Muốn các em vui lên, tôi bèn đem truyện “Muynhaoden” ra đọccho các em nghe Chỉ sau hai phút đồng hồ bọn trẻ kêu lên vì sung sướng Nghetiếng reo mừng rỡ của chúng, lần đầu tiên tôi thật sự hiểu rằng cuốn truyện vui nàyđối với các em chín tuổi là món quà ngon miệng như thế nào và cuộc sống của trẻthơ sẽ mờ đục biết bao nếu như không có cuốn sách nói trên Với lòng biết ơn vôcùng trìu mến đối với tác giả cuốn sách, giữa tiếng cười vang của bọn trẻ, tôi đọccho chúng nghe nào là cái rìu bay vút lên cung trăng, nào là những cuộc phiêu lưulên chín tầng mây, nào là chân ngựa cắt rời ra mà người ta chăn nuôi trên cung

trăng Và khi tôi ngừng đọc một phút bọn trẻ lại nhao nhao“đọc tiếp đi, chú!”.

Có thể xem đó là những dẫn chứng tiêu biểu xác nhận vị trí của văn chương trong

đời sống con người Chính tính truyền cảm, và gắn bó với nó là tính hình tượng

làm nên ưu thế đặc biệt của văn chương nhất là khi nhân loại đang bị đe doạ bởi

xu hướng kĩ trị như hiện nay.

Trong kho tàng ca dao Việt Nam có nhiều viên ngọc lung linh ánh sáng Một trongnhững viên ngọc ấy là bài ca dao bình dị viết về bông sen bình dị:

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

Câu đầu là một lời khẳng định dứt khoát, không một chút đắn đo: “Trong đầm gì gìđẹp bằng sen” Người đời vốn thông minh và khó tính lắm, không dễ tìm được sựthừa nhận rộng rãi nếu không có sức thuyết phục Bằng lí lẽ sắc bén và thực tếhùng hồn, cố nhiên Và dân gian đã đưa ra những bằng cớ Trước hết là bằng cớbên ngoài Này nhé:

Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng

Có màu sắc,lại có cả hương thơm Riêng màu sắc mới hài hòa làm sao! Chúng nằmcạnh nhau, tôn nhau lên để cho mọi yếu tố đều có sức cuốn hút đến ngỡ ngàng!Đủchưa? Vẫn chưa đủ! Nếu câu thứ hai đi từ ngoài vào trong, từ “lá xanh”, “bôngtrắng”, tới “nhị vàng” thì câu thơ thứ ba lại đi từ trong ra ngoài:

Nhị vàng, bông trắng, lá xanh

Trang 39

Ôi, kĩ càng và thận trọng làm sao! Khó tính đến thế làm sao những người khó tính

ở đời không tin cho được Khi vẻ đẹp hình thức đã hoàn toàn thuyết phục thì vẻđẹp phẩm chất đột nhiên phát lộ ra bên ngoài ngời ngợi:

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

Bông sen đẹp cả sắc hương lẫn sự tinh khiết, cả vẻ đẹp bên ngoài lẫn phẩm chấtbên trong Đó chính là vẻ đẹp bình dị của người nông dân chân lấm tay bùn đã làmnên bao giá trị trên đời trong đó có cả những câu ca dao sáng ngời kia đó Chỉ cầnđọc một lần trong đời những tác phẩm như vậy ta rung động và nhớ mãi Nói vềsức sống bất diệt của những tác phẩm văn chương đã chinh phục trái tim và khối

óc của hàng triệu người đọc, thi hào Anh Bairơn đã viết: “Lạ lùng thay!Vài câu nóikhông to lên thành tiếng mà viết ra lại có thể trở thành một mắt xích bền lâu trongchuỗi dài năm tháng Thời gian sẽ thu nhỏ con người mảnh khảnh lại trong mộtphân tấc mỏng manh, ấy vậy mà một mẩu giấy con, một tí xíu thôi, như mẩu giấynày chẳng hạn, lại sống dai hơn con người, lâu hơn cả nấm mồ con người, lâu hơnbất cứ cái gì thuộc về con người”

Những tác phẩm lớn như thế góp phần làm cho con người phát triển toàn diện mà trước hết là có sự hài hòa giữa lí trí và tình cảm, nhận thức và cảm xúc.Không

phải vô cớ câu nói của văn hào Đôxtôiepxki “Cái đẹp cứu rỗi thế giới” đặc biệt

vang lên trong thời đại chúng ta, khi nhân loại đang bước vào ngưỡng cửa củathiên niên kỉ mới Quả thật, khi con người không biết rung động trước cái đẹp yếu

ớt, cái đẹp mong manh liệu thế giới của chúng ta rồi sẽ ra sao đây! Có lần, tại diễnđàn hội nghị chuyên đề về thơ Á – Phi tổ chức tại Êrêvan (Liên xô trước đây) vào

năm 1973, nhà thơ Chế Lan Viên đã vẽ lên một thế giới không có thi ca: “Các bạn

hãy tưởng tượng một thế giới không có lộc non cây xanh; tiếng cười của trẻ con và của suối, không có tiếng hót của loài chim và mùi hương của các loài hoa, ở xứ sở

ấy, những dãy núi khi người ta cất lên lời không có tiếng vang đáp lại…Không, không ai vì thế mà chết cả, trong xứ sở ấy Người ta vẫn tiếp tục sống – đúng hơn – tiếp tục tồn tại như thường Chỉ có điều trong xứ sở ấy, những đôi trai gái chẳng hôn nhau mà cũng chẳng hôn hoa Và không bao giờ người ta nhỏ lệ trước máu đổ

ra của đồng loại Người di chuyển như đồ vật Và con số, và tín hiệu và mật mã là tất cả ngôn ngữ ở xứ ấy.”

Trái tim sắt đá, trí tuệ lạnh lùng đó chính là tai họa khủng khiếp cho nhân loại Tình cảm, trong đó có tình cảm thẩm mĩ, tình cảm văn chương có ý nghĩa vô cùng đặc biệt và lâu dài V.L Lênin từng khẳng định: “Đã, đang và sẽ không bao giờ

có thể có sự tìm tòi chân lí của nhân loại nếu không có cảm xúc của con người”

I.M Xêtrênốp cũng chỉ rõ sức mạnh của cảm xúc khi cho rằng: “Chúng ta không

Trang 40

hề biết một thứ ý chí lạnh lùng bất định nào” Ở một góc độ khác có thể nhấn

mạnh đến tính tích cực xã hội của tình cảm Động lực của cảm xúc trong việc thúcđẩy hành động được biểu hiện sinh động và đầy sức thuyết phục qua ý tưởng củabài thơ” Con hỏi cha” của Chế Lan Viên Bài thơ được cấu tứ bằng hệ thống nhữngcâu hỏi hồn nhiên của đứa con với người cha theo sự tăng tiến của mức độ vấn đề

và cường độ cảm xúc

Con hỏi cha: “Bom có giết chết mèo”.

Mèo, chó…những con vật vốn thân thuộc với cuộc sống hàng ngày của trẻ thơ nênlòng người cha sao có thể dửng dưng! Tuy trái tim người cha mới khẽ rung lên.Người cha còn đủ điềm tĩnh để nhắc nhở đứa con:

“Có!” Khi xuống hầm con hãy nhớ mang theo

Câu thứ hai của người con:

Bom có giết thỏ cao su và ngựa gỗ?

Mèo chó đã gần gũi với con trẻ nhưng đồ chơi, những thỏ cao su và ngựa gỗ gầngũi với con trẻ hơn Phản ứng tình cảm của người cha ra sao? Im lặng Một sự imlặng chất chứa yêu thương và căm thù Người cha không trả lời Nhà thơ buông ramột lời cảm thán:

Ôi đồ chơi trẻ bao lần hoen máu đỏ!

Đó là câu hỏi thứ hai Câu hỏi thứ ba là gì đây?

Con lại hỏi cha: “Bom có giết mẹ không?”

Hiển nhiên là câu hỏi ở tầm mức mới, cao hơn hẳn hai câu hỏi đầu tiên, vì có đứatrẻ nào trong đời lại không thương mẹ – người đã dứt ruột đẻ ra mình, ấp iu, chămsóc mình ngay từ tấm bé Và hẳn nhiên sự bộc lộ cảm xúc ở người cha cũng phải ởmột cường độ mới:

“Không” và cha ôm con nước mắt lưng tròng

Không thể im lặng thêm một lần nữa (người con sao chịu nổi!) nhưng câu trả lờilại không đúng sự thật Không, bom không thể giết mẹ – người trần mắt thịt – đâu!Sao đứa con có thể chấp nhận, vì lẽ đứa con sẽ không chịu nổi Ôi, trái tim trẻ thơ,non dại dường kia! Tuy, hành động sau đó của người cha lại nói một điều ngược

Ngày đăng: 13/10/2022, 23:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng - LÍ LUẬN VAN học ON HSG VAN  GV
nh giấy làm nên thân giáp bảng (Trang 15)
Nhân vật văn học không giống với các nhân vật thuộc các loại hình nghệ thuật khác. Ở đây, nhân vật văn học được thể hiện bằng chất liệu riêng là ngơn từ - LÍ LUẬN VAN học ON HSG VAN  GV
h ân vật văn học không giống với các nhân vật thuộc các loại hình nghệ thuật khác. Ở đây, nhân vật văn học được thể hiện bằng chất liệu riêng là ngơn từ (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w