Một trong số đó là chủ trương đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu và quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh đã được đề ra trong Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 5/1941.. Hội ng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
- -
BÀI TIỂU LUẬN GIỮA KÌ LỊCH SỬ ĐẢNG
Đề bài: " Anh/chị hay phân tích: Tại sao Hội nghị Trung ương lần thứ 8 tháng 5 năm 1941, Đảng lại chủ trương đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu và
thành lập Mặt trận Việt Minh?"
Giảng viên hướng dẫn : Phạm Minh Thế Sinh viên thực hiện : Nguyễn Đình Hương Diệu
Mã số sinh viên : 19040797
Hà Nội, tháng 2 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 3
B NỘI DUNG 3
I Những nội dung quan trọng của Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5/1941) 3
II Chủ trương đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu và thành lập Mặt 5
trận Việt Minh trong Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5/1941) 5
1 Chủ trương đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu của Đảng 5
1.1 Quan điểm chủ nghĩa Mác- Lenin về vấn đề quan hệ dân tộc, giai cấp 5
a Quan điểm của Mác- Ăng-ghen 5
b Quan điểm của Lenin 5
1.2 Nhận thức của Đảng về vấn đề dân tộc và giai cấp trong Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) 6
a Bối cảnh 6
b Nhận thức của Đảng về dân tộc và giai cấp để đưa vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu trong Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) 7
1.3 Ý nghĩa 8
2 Việc thành lập Mặt trận Việt Minh trong Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5/1941) 8 2.1 Bối cảnh trong nước và thế giới 8
2.2 Chủ trương của Việt Minh 9
2.3 Vai trò và ý nghĩa của mặt trận Việt Minh 9
C KẾT LUẬN 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 3A MỞ ĐẦU
Dân tộc Việt Nam ta có được bình yên ngày hôm nay đã phải trải qua bao mồ hôi, xương máu của các bậc cha ông đã ngã xuống vì nền độc lập tự do của dân tộc Bên cạnh đó, ta cũng không thể không kể đến những đường lối, chính sách đúng đắn, sáng tạo cùng sự lãnh đạo tài ba của Đảng ta trong lịch sử các cuộc các mạng dân tộc Một trong số đó là chủ trương đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu và quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh đã được đề ra trong Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5/1941)
Ngày 28 tháng 1 năm 1941, Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên và một số các đồng chí khác rời Trung Quốc về nước sau 30 năm bôn ba đi tìm đường cứu nước Qua biên giới Việt-Trung, đến cột mốc 108 thuộc xã Trường Hà (Hà Quảng, Cao Bằng), Nguyễn Ái Quốc dừng lại hồi lâu, xúc động, Người cúi đọc những chữ Hán và chữ Pháp được khắc trên cột mốc
và đứng lặng nhìn về phía Tổ Quốc Tại hang Pác Pó, với bí danh Già Thu, Người trực tiếp chỉ đạo các công tác xây dựng các đoàn thể cứu quốc, mở nhiều
lớp huấn luyện cán bộ, dịch cuốn sách “Lịch sử Đảng cộng sản Liên Xô”, biên
soạn cách đánh du kích, cách huấn luyện cán bộ quân sự, chuẩn bị cho Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương
B NỘI DUNG
I Những nội dung quan trọng của Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5/1941)
Từ ngày mùng 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941, tại lán Khuổi Nặm, Nguyễn
Ái Quốc triệu tập Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng Các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên và một số đại biểu Xứ Ủy Bắc Kỳ, Trung Kỳ và đại biểu hoạt động ở nước ngoài
về dự
Trong bối cảnh chiến tranh thế giới thứ hai lan rộng, Hội nghị đã cụ thể hóa chủ trương, chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đặt giải phóng dân tộc thành mục tiêu
cao nhất Nghị quyết Hội nghị chỉ rõ: “Cách mạng Đông Dương hiện tại không
phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, giải quyết hai vấn đề phản đế và điền
Trang 4địa nữa, mà chỉ giải quyết một vấn đề cần kíp: Dân tộc giải phóng”1 Hội nghị
quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh,
để đoàn kết tập hợp đông đảo các giai cấp, tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo với mục tiêu đánh đuổi Nhật, Pháp để đem lại độc lập cho Việt Nam Hội nghị khẳng định: “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi lại được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.2
Hội nghị Trung ương dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc đã xác định được những vấn đề hết sức quan trọng, đề ra đường lối đấu tranh một cách rõ ràng nhất, hoàn thiện được Hội nghị Trung ương 6 và 7 Những nội dung đó là:
Thứ nhất, chỉ ra mẫu thuẫn chủ yếu phải được giải quyết cấp bách trong giai
đoạn này là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với Pháp và Nhật vì vận mệnh của dân tộc lúc này đã là rất nguy nan
Thứ hai, vấn đề cần kíp là “giải phóng dân tộc” nên cần phải khẩn trương “thay
đổi chiến lược” để có thể giải quyết được vấn đề cấp bách này
Thứ ba, về mặt chiến lược, Đảng ta chỉ ra rằng vấn đề dân tộc ấy phải được
giải quyết trong khuôn khổ từng nước ở Đông Dương, thi hành chính sách “dân tộc tự quyết”
Thứ tư, tập hợp rộng rãi mọi lực lượng dân tộc vì lúc này đứng trước ta
không chỉ là một kẻ thù, mà là hai kẻ thủ, Pháp và Nhật
Thứ năm, vạch ra phương hướng tiếp theo sau cuộc cách mạng dân tộc đó là
thành lập một nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa theo tinh thần dân chủ, một nhà nước “của chung cả toàn thể dân tộc”3
Thứ sáu, nhiệm vụ trung tâm của Đảng và dân lúc này là chuẩn bị cho khởi
nghĩa vũ trang
Như vậy, Hội nghị Trung ương lần thứ tám Đảng đã sửa chữa những tồn đọng, sai sót còn lại trong Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930, hoàn thiện chủ
1 Lịch sử cách mạng tháng 8 -1945, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr38-40
2Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội,2000, t.7, tr.113
3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội,2000, t.7, tr.114
Trang 5trương chiến lược được nêu ra trong Hội nghị tháng 11 năm 1939, khẳng định
sự đúng đắn trong đường lối cách mạng giải phóng dân tộc trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc Đây là lá cờ tiên phong trong công cuộc chuẩn bị lực lượng, tiến lên trong sự nghiệp đánh đuổi đế quốc Pháp và Nhật, giành độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam
II Chủ trương đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu và thành lập Mặt trận Việt Minh trong Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5/1941)
1 Chủ trương đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu của Đảng
1.1 Quan điểm chủ nghĩa Mác- Lenin về vấn đề quan hệ dân tộc, giai cấp
a Quan điểm của Mác- Ăng-ghen
Tại những nước tư bản ở Tây Âu lúc bây giờ, mâu thuẫn cơ bản trong xã hội là mâu thuẫn giai cấp, cụ thể là sự đối kháng giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản Mặc dù ở thời kì Mác và Ăng-ghen đã có hệ thống thuộc địa nhưng các cuộc đấu tranh giành độc lập vẫn còn hạn chế Do đó, trong sự nghiệp giải phóng xã hội, Mác và Ăng-ghen đã nhấn mạnh vấn đề giải phóng giai cấp công nhân Mác và Ăng-ghen cho rằng “xoá bỏ tình trạng người áp bức, bóc lột người thì sẽ xóa bỏ được tình trạng dân tộc này áp bức, nô dịch dân tộc khác”4 Các ông cho rằng “Khi sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa, thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo”5
b Quan điểm của Lenin
Lenin đã phê phán chủ nghĩa dân tộc của giai cấp tư sản, ông khẳng định rằng giai cấp tư sản đã giải quyết một cách trừu tượng và hình thức vấn đề dân tộc và quyền bình đẳng giữa các dân tộc Đó là một sự dối trá, thủ tiêu đấu tranh giai cấp nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản6 Hơn nữa Lenin còn khẳng định
mạnh mẽ mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp Ông cho rằng việc
gắn kết phong trào công nhân với phong trào giải phóng dân tộc là một vấn đề sống còn, là điều kiện tiên quyết trong sự nghiệp đấu tranh chống chủ nghĩa tư
4 C.Mác - Ph Ăngghen, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, t 4, tr.624
5 C.Mác - Ph.Ăngghen, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.4, tr.624
6 V.I.Lênin, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.41, tr.198
Trang 6bản 7 Lenin đã nêu ra khẩu hiệu “Vô sản và dân tộc các nước bị áp bức đoàn kết lại” để kêu gọi rộng rãi các giai cấp công nhân toàn thế giới đoàn kết với các
dân tộc bị áp bức Không chỉ vậy, ông khẳng định phong trào giải phóng dân
tộc thuộc địa là một bộ phận trong cách mạng vô sản thế giới 8 Sau thắng lợi
cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng 10 Nga, phong trào giải phóng dân tộc trở thành một trào lưu lớn trên thế giới Đặc biệt, Lenin cũng đã nhấn mạnh sự kết hợp giữa cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở các nước tiên tiến với phong
trào dân tộc dân chủ ở các nước chậm phát triển: “Cuộc cách mạng xã hội chủ
nghĩa có thể tiến hành được dưới hình thức kết hợp cuộc nội chiến của giai cấp
vô sản chống giai cấp tư sản trong các nước tiên tiến với cả một loạt phong trào dân chủ cách mạng, kể cả phong trào giải phóng dân tộc trong các nước chưa phát triển” 9
1.2 Nhận thức của Đảng về vấn đề dân tộc và giai cấp trong Hội nghị
Trung ương 8 (5/1941)
a Bối cảnh
Trong giai đoạn đầy biến động này, Đảng ta đã dành mọi nỗ lực, cố gắng trong việc đề ra những chiến lược, hướng đi, quyết định đúng đắn và phải gồng mình chèo lái con thuyền cách mạng của dân tộc Và Đảng ta đã buộc phải đặt nhiệm
vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu dựa trên tình hình trong nước và thế giới
Thế giới
Chiến tranh thế giới thứ hai đã nhanh chóng bùng nổ ở nhiều nước, trong đó Đức đang khẩn trương chuẩn bị tấn công Liên Xô, Nhật cũng chuẩn bị chiến tranh Thái Bình Dương Không chỉ những đế quốc, phát xít mà nhân dân các nước thuộc địa phụ thuộc cũng bị lôi cuối vào cuộc chiến Việt Nam là thuộc địa của thực dân pháp nên cũng không thoát khỏi số phận đó Trong những năm chiến tranh, 8000 người dân Việt Nam đã bị đẩy ra chiến trường làm bia đỡ đạn
Trong nước
Nhật và Pháp bóc lột nhân dân ta tàn bạo, khiến cuộc sống người dân vô cùng cực khổ Dân tộc Việt Nam phải sống trong cảnh một cổ hai tròng trong cảnh áp
7,8 Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, Đại hội II, V.I.Lênin, 1920
Trang 7bực bóc lột của Nhật và Pháp Điều đó làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân ta với
đế quốc Nhật và Pháp ngày càng căng thẳng hơn bao giờ hết
b Nhận thức của Đảng về dân tộc và giai cấp để đưa vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu trong Hội nghị Trung ương 8 (5/1941)
Qua nhận định khả năng diễn biến Chiến tranh thế giới thứ hai và dựa vào tình hình thực tế trong nước, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược Việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược này thể hiện rõ sự nhận thức rõ ràng của Đảng ta về tình hình thế giới và đặc biệt là tình hình Việt Nam Giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, Đảng ta đã chủ trương đưa nhiệm vụ “giải phóng dân tộc” lên hàng đầu, phải đấu tranh giải phóng dân tộc thì mới giải phóng được giai cấp
Không chỉ vậy, thực tế hàng loạt các cuộc đấu tranh nổ ra, tiêu biểu như: khởi nghĩa Bắc Sơn (9/1940); khởi nghĩa Nam Kỳ (11/1940); Cuộc binh biến Đôn lương (1/1941) đã đánh thức tinh thần cách mạng của nhân dân cả nước Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (5/1941) nhận định đó là
những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đấu tranh bằng vũ lực của các dân tộc ở một nước Đông Dương 10
Hơn thế nữa, nhân dân ta lúc bấy giờ bị ảnh hưởng nặng nề từ thế lực giặc thù Chính quyền phản động Pháp theo đuổi chính sách đàn áp chủ nghĩa cộng sản
và các lực lượng tiến bộ cả trong nước lẫn các nước thuộc địa Ở Đông Dương, thực dân Pháp điên cuồng tấn công Đảng Cộng sản Đông Dương và các tổ chức quần chúng do Đảng chỉ huy, xóa sổ một số nền dân chủ tự do giành được trong giai đoạn 1936-1939, đồng chí Lê Hồng Phong bị bắt vào cuối tháng 9 năm
1939, nhiều Đảng viên bị bắt, bị tù đày, hàng vạn thanh niên bị đày sang Pháp Không những thế, thực dân Pháp còn tăng thuế, trưng thu, trưng dụng các xí nghiệp tư nhân để làm quốc phòng, quản lý chặt chẽ việc sản xuất, phân phối xuất nhập khẩu Tất cả các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam đều chịu tác động tiêu cực của chính sách phản động từ thực dân Pháp, trừ những người theo
10 Văn kiện Đảng, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.7, tr.109
Trang 8Pháp, đại địa chủ và tư sản mại bản Vì vậy, nguyện vọng duy nhất của dân ta lúc bấy giờ là đánh đuổi Nhật, Pháp để giành độc lập dân tộc
Tất cả những điều đó đã khiến Đảng ta đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu
1.3 Ý nghĩa
Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng đã thể hiện tinh thần sáng tạo, sự độc lập, tự chủ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhằm giải quyết vấn đề cấp bách lúc này đó là độc lập dân tộc và đề ra những phương hướng chính xác, phù hợp với thực tế để đạt được mục tiêu đó
Không chỉ vậy, nó còn thể hiện được sự vận dụng sáng suốt chủ nghĩa Mác- Lenin vào tình hình cụ thể của Việt Nam, tình hình dân tộc đang nguy vong hơn bao giờ hết Đồng thời tiếp tục cải thiện, mở rộng thêm tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tập hợp rộng rãi người Việt Nam yêu nước trên tiền tuyến, xây dựng lực lượng chính trị quần chúng ở cả nông thôn và thành thị, xây dựng căn cứ địa cách mạng và lực lượng vũ trang, là ngọn cờ quyết thắng của nhân dân ta trên con đường cách mạng giải phóng dân tộc
Đây là chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta dựa trên thực tế của đất nược; khơi dậy tiềm năng, sức mạnh cả dân tộc thực hiện nhiệm vụ chống Pháp đuổi Nhật; xác định phương hướng đấu tranh của nhân dân đi đến thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945
2 Việc thành lập Mặt trận Việt Minh trong Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5/1941)
2.1 Bối cảnh trong nước và thế giới
Năm 1941, Thế chiến thứ hai đã nổ ra được ba năm, lúc này Đức đã chuẩn bị tấn công Liên Xô, Nhật mở rộng xâm lược Trung Quốc, chuẩn bị chiến tranh Thái Bình Dương Vào thời điểm này, Pháp đầu hàng Nhật, Nhật đã thực hiện các biện pháp để nắm quyền thống trị và biến Đông Dương thành cứ chiến tranh
Trang 9của chúng Nhân dân Đông Dương phải chịu hai ách áp bức, bóc lột của Pháp – Nhật, mâu thuẫn giữa các dân tộc Đông Dương với Pháp – Nhật trở nên gay gắt hơn bao giờ hết, số phận các dân tộc Đông Dương ngày càng nguy khốn Các cuộc đấu tranh của nhân dân Đông Dương cũng do đó mà ngày càng tăng lên
Bên cạnh việc đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, từ kết quả phân tích tình hình gay gắt trong nước và thế giới lúc bấy giờ, tháng 5-1941, Trung ương Đảng quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt
là Việt Minh, thay cho mặt trận dân tộc phản đế Đông Dương, nhằm đoàn kết và huy động lực lượng cách mạng giải phóng dân tộc
2.2 Chủ trương của Việt Minh
Chương trình Việt Minh gồm 44 điểm, là một hệ thống các chính sách về kinh
tế, chính trị, cụ thể với công nhân, nông dân, binh lính, v.v…, nêu rõ tôn chỉ mục đích: Liên hiệp mọi tầng lớp nhân dân cùng nhau đánh đuổi Nhật-Pháp, trả lại tự do cho Việt Nam, xây dựng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Thành phần của Mặt trận Việt Minh là người Việt Nam thừa nhận mục đích tôn chỉ của chương trình Việt Minh Về mối quan hệ giữa Đảng và Mặt trận Việt Minh, Đảng ta chỉ rõ: “Đảng ta là bộ phận trung kiên và lãnh đạo” trong mặt trận dân tộc thống nhất chống Nhật-Pháp11 Chương trình cứu nước của Việt Minh đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, được đông đảo các tầng lớp nhân dân hưởng ứng
2.3 Vai trò và ý nghĩa của mặt trận Việt Minh
Trong Mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng chính trị của cả nước từ trung ương đến địa phương, xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng chính là lá cờ tiên phong cho nhân dân ta xông lên giành thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp cách mạng đánh Pháp, đuổi Nhật, mang lại độc lập cho dân tộc
và tự do cho nhân dân Đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã từng ngày hoàn thiện và được củng cố, phù hợp với hoàn cảnh trước cách mạng tháng 8, những quan điểm quan trọng của cương lĩnh chính trị đầu tiên và của Trung ương từ năm 1936 trở được tiếp tục phát triển Qua đó, Đảng ta khẩn
11 Văn kiện Đảng toàn tập (1930-1945), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr332
Trang 10
trương nhất trí về tư tưởng, tổ chức và hành động, vượt qua những ấu trĩ trong phong trào cộng sản, ra sức chuẩn bị lực lượng để giành lại chính quyền
Với chủ trương tập hợp, chung sức mọi lực lượng chống Pháp - Nhật, Mặt trận Việt Minh đã hỗ trợ một phần không nhỏ vào việc chuẩn bị lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang cho cách mạng Việt Nam Luôn nhắm đến mục tiêu to lớn là độc lập dân tộc, Mặt trận Việt Minh đã thu hút các tầng lớp tràn đầy nhiệt huyết trên mọi miền Tổ quốc tham gia các tổ chức, đoàn thể “cứu quốc”, sẵn sàng chuẩn bị để đưa cách mạng Việt Nam vào thời kỳ cao trào, tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân
Dưới lá cờ Việt Minh, Đảng ta đã tập hợp được lực lượng, sức mạnh, toàn dân
ta, những nhà trí thức, những nhà văn hóa, đến nông dân nghèo khổ đều theo tiếng gọi của Việt Minh đứng lên giành độc lập dân tộc Điều đó đã góp phần vào thành công của cách mạng tháng 8 năm 1945, đưa cách mạng Việt Nam vượt qua thác ghềnh, để đất nước hoàn toàn thống nhất, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội
C KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu, ta có thể thấy được sự sáng tạo, đúng đắn của Đảng trong việc đưa vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu và việc thành lập Mặt trận Việt Minh tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5/1941) Từ đó, ta nhận ra được tầm quan trọng và
ý nghĩa to lớn của những chủ trương này đối với thành công của các cuộc cách mạng giành độc lập của Việt Nam Đường lối chiến lược của Đảng ta tại Hội nghị Trung ương 8 chính đã hoàn chỉnh tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản đã mà chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra trong Cương lĩnh năm
1930, không chỉ đưa vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu mà còn đề ra nhiều chủ trương, chính sách cụ thể nhằm tập hợp, động viên mọi tầng lớp nhân dân tiến lên, giành độc lập, tự do cho dân tộc Điều đó cũng thể hiện sự đổi mới về tư tưởng, nhận thức chính trị, long quyết tâm giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc - nhân
tố quyết định thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Bên cạnh đó, Mặt trận Việt Minh còn xác định đúng kẻ thù, có những chủ trương, chính sách đúng đắn, những khẩu hiệu đấu tranh đáp ứng yêu cầu cách mạng, phù hợp với nguyện vọng bức thiết của mọi tầng lớp nhân dân, trở thành ngọn cờ tập trung khối đại đoàn kết toàn dân, là động lực cơ bản của Cách mạng Tháng Tám