Lời mở đầuCó thể nói rằng đường lối chiến lược của Đảng ta tại Hội nghị Trung ương 8 chính là sự trở về và hoàn chỉnh tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sả
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Học phần: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
TIỂU LUẬN GIỮA KÌ
KỲ II NĂM HỌC 2021 – 2022
Mã học phần: HIS1001-01
HỌ VÀ TÊN: NGUYỄN HẢI ANH
MSV: 19040750_STT: 25
NGÀY SINH: 08/08/2000
LỚP: HIS1001-01
GIẢNG VIÊN: PHẠM MINH THẾ
Bài làm gồm 4 trang không tính cả trang bìa, mục lục và tài liệu tham khảo
Trang 2MỤC LỤC………… ……… ……… ……… ……… ……….1
1 Lời mở đầu……… ……… ……… ……… ……… …….2
2 Bối cảnh lịch sử……… ……… ……… ……… ………2
3 Những vấn đề cốt lõi của Hội nghị trung ương lần thứ 8 năm 1941……… 3
4 Lý do Mặt trận Việt Minh trở thành vấn đề mấu chốt tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 năm 1941 ……… ……… ……… ……… ………3
5 Kết luận ……… ……… ……… … ……… ……… 5
TÀI LIỆU THAM KHẢO ………… ……… ……… ……… ……… 7
Trang 31 Lời mở đầu
Có thể nói rằng đường lối chiến lược của Đảng ta tại Hội nghị Trung ương 8 chính là sự trở về và hoàn chỉnh tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng
vô sản đã được Hồ Chí Minh nêu ra trong Cương lĩnh đầu tiên năm 1930, không chỉ giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc lên hàng đầu mà còn đề ra nhiều chủ trương, chính sách cụ thể nhằm động viên mọi tầng lớp nhân dân tiến lên, giành độc lập, tự do cho dân tộc Tư tưởng chiến lược giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh đến đây đã được hoàn chỉnh Qua đó, cũng thể hiện sự đổi mới về tư duy chính trị, nhận thức thực tiễn, kiên quyết giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc lên hàng đầu - nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 Vậy nên, bài phân tích sau đây sẽ đưa ra một số lý do giải thích tại sao trong Hội nghị Trung ương lần thứ 8 tháng năm
1941, vấn đề giải phóng dân tộc và việc thành lập Mặt trận Việt Minh lại được ưu tiên và đặt lên hàng đầu
2 Bối cảnh lịch sử
Trước tiên, ta hãy tìm hiểu về hoàn cảnh lịch sử của thế giới và của Việt Nam trong bối cảnh diễn ra Hội nghị Trung ương lần thứ 8
2.1 Bối cảnh lịch sử của thế giới
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ kể từ khi phát xít Đức tấn công Ba Lan ngày 1-9-1939 Chỉ trong vòng một năm rưỡi sau đó, phát xít Đức đã thôn tính và đặt ách thống trị trên phần lớn các nước châu Âu tư bản Tháng 6-1940 nước Pháp, một cường quốc thực dân châu Âu bị Đức chiếm đóng Ngày 22-6-1941, quân phát xít Đức tấn công Liên Xô Từ đó, tính chất chiến tranh đế quốc chuyển thành chiến tranh giữa các lực lượng dân chủ do Liên Xô làm trụ cột với các lực lượng phát xít do Đức cầm đầu Ở Phương Đông, phát xít Nhật nổi lên trở thành một thành viên quan trọng của trục phát xít Mục tiêu của Nhật là nhanh chóng cướp lấy những thuộc địa và nửa thuộc địa rộng lớn của các nước đế quốc như: Trung Quốc, Đông Dương và các nước Đông Nam châu
Á Tháng 9-1940 đế quốc Pháp cam chịu đầu hàng, để quân Nhật chiếm Đông Dương Hai đế quốc phát xít Pháp - Nhật, tuy có mâu thuẫn nhau sâu sắc nhưng trước mắt chúng tạm nhân nhượng để mưu tính ý đồ riêng Phát xít Nhật lợi dụng Pháp “làm con chó giữ nhà”, sau đó có dịp sẽ hất cẳng Pháp, chiếm trọn Đông Dương Còn Pháp thì coi việc
“đóng góp” vào cuộc chiến tranh của Nhật như cái giá để cho Pháp còn chỗ bấu víu vào Đông Dương
Trang 42.2 Bối cảnh lịch sử tại Việt Nam
Sự ảnh hưởng kép từ tình hình căng thẳng của Thế chiến thứ 2 nói chung và quân đội Pháp nói riêng lúc bấy giờ đã khiến 3 nước Đông Dương chìm trong nhiều mối đe dọa và bất ổn Toàn quyền Đông Dương đã tăng cường bộ máy đàn áp như: cấm tuyên truyền cộng sản, cấm tụ họp đông người, giải tán nhiều đoàn hội hay đóng cửa các tờ báo trong nước, Đặc biệt, chỉ sau 3 tháng bị phát xít Đức tấn công, vào tháng 9/1940, Pháp lại đầu hàng khi quân phiệt Nhật tràn vào Đông Dương Nhân dân Đông Dương thời điểm
ấy phải chịu cảnh “một cổ hai tròng” trước sự cấu kết của Pháp với Nhật để thống trị và bóc lột nhân dân Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với đế quốc phát xít Pháp Nhật trở nên sâu sắc hơn bao giờ hết
Qua hoàn cảnh lịch sử trong nước và quốc tế, có thể thấy mối đe dọa lớn nhất chính là chủ nghĩa phát xít Trong hoàn cảnh căng thẳng này, Quốc tế Cộng sản đã kêu gọi sự đoàn kết của các nước thành viên để chống lại chủ nghĩa phát xít Chính vì lẽ này nên các phong trào giải phóng dân tộc mới có những bước phát triển mới, đòi hỏi sự nhanh nhạy của các dân tộc bị áp bức để giành lại chính quyền về tay mình Và Nguyễn Ái Quốc đã nhạy bén nhận ra sự chuyển biến của tình hình thế giới và trong nước, từ đó tìm cách trở
về nước lãnh đạo Cách mạng giành lấy chính quyền Sau quãng thời gian dài hoạt động cách mạng ở Trung Quốc, ngày 28/1/1941 Nguyễn Ái Quốc đã trở về Tổ quốc Pắc Bó -Cao Bằng chính là nơi Người chọn làm nơi dừng chân và thí điểm phong trào cách mạng Mang danh nghĩa là đại diện của Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã trực tiếp chủ trì hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 của Đảng cộng sản Đông Dương, với thời gian hoạt động từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941 tại Pác Bó, Cao Bằng
3 Những vấn đề cốt lõi của Hội nghị trung ương lần thứ 8 năm 1941
Thông qua Hội nghị, nhiều vấn đề mấu chốt và hệ trọng đã được quyết định: Thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh hội (gọi tắt là Việt Minh); tạm gác khẩu hiệu: “Tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày”; đề ra chủ trương tịch thu ruộng đất của đế quốc
và Việt gian chia cho dân cày nghèo; giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng công, tiến tới thực hiện người cày có ruộng; chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ mỗi nước
ở Đông Dương; thành lập, phát triển và tăng cường lãnh đạo các tổ chức vũ trang và nửa
vũ trang; chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, đi từ khởi nghĩa từng phần đến Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước Trong đó, việc xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là trên hết đồng thời thành lập một mặt trận thống nhất dân tộc là một nước đi đúng đắn và cần thiết cho hoàn cảnh cuộc chiến lúc bấy giờ cụ thể là những yếu tố sau đây: tình hình cuộc Chiến tranh Thế giới thứ 2, tình hình Đông Dương, âm mưu của thực dân Pháp và phát-xít Nhật ở Đông Dương, tình hình cách mạng Việt Nam từ khi thành lập Đảng
4 Lý do Mặt trận Việt Minh trở thành vấn đề mấu chốt tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 năm 1941
Trang 5Sau khi phân tích nguồn gốc đặc điểm, tính chất của cả cuộc Chiến tranh Thế giới thứ nhất và Chiến tranh Thế giới thứ hai, Hội nghị đã nhận định được chiến thắng chắc chắn của phe Đồng Minh và kéo theo đó là hệ quả: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã
đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công ", như vậy đây là một thời cơ tốt, nếu có sự chuẩn bị tốt, nắm bắt đúng thời cơ, các nước thuộc địa
sẽ giành được chính quyền Đồng thời, tình hình tại Đông Dương nói chung và trong nước nói riêng cũng có nhiều thay đổi trong tình hình cuộc Chiến tranh Thế giới thứ hai Đặc biệt khi tham gia vào cuộc chiến tranh này có cả Pháp - “mẫu quốc” của ba nước Đông Dương Để cung cấp nguyên vật liệu cho chính quốc tham gia chiến tranh thì Pháp
đã tăng cường đàn áp, bóc lột người dân ở các nước thuộc địa trong đó có Việt Nam Tháng 9 năm 1940, Nhật đổ bộ vào Đông Dương, Pháp lập tức đầu hàng và cấu kết với Nhật để chống phá cách mạng Đông Dương Từ đó, nhân dân ta rơi vào tình cảnh “một
cổ hai gông” Kể từ khi Nhật vào Đông Dương, chúng đã thi hành chính sách vơ, vét, bóc lột rất dã man, tàn bạo làm suy kiệt nền kinh tế, đồng thời đẩy người dân vào tình cảnh đói rét, khốn khổ, bần cùng hóa
Hội nghị đã nhận định về mâu thuẫn dân tộc đang phát triển gay gắt dưới hai tầng áp bức Nhật, Pháp như sau: “Đế quốc Pháp - Nhật chẳng những áp bức các giai cấp thợ thuyền, dân cày, mà chúng nó áp bức bóc lột cả các dân tộc không chừa một hạng nào Dẫu là anh tư bản, anh địa chủ, một anh thợ hay một anh dân cày đều cảm thấy cái ách nặng nề của đế quốc là không thể nào sống được Quyền lợi tất cả các giai cấp bị cướp giật, vận mệnh dân tộc nguy vong không lúc nào bằng 1”, xuất phát từ những mâu thuẫn, Đảng xác định kẻ thù chung của đất nước để khơi gợi được tinh thần yêu nước trong nhân dân, chuẩn bị “bước đệm” cho cuộc tổng đoạn viên toàn dân tộc: “Pháp - Nhật ngày nay không phải chỉ là kẻ thù của công nông mà là kẻ thù của cả dân tộc Đông Dương
Vấn đề dân tộc được hội nghị thảo luận sâu sắc Vấn đề đặt ra trong lúc này với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương là phải đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết, trước hết Trên
cơ sở phân tích đánh giá tình hình lúc đó, Hội nghị đã đưa ra nhận định hết sức quan trọng và đúng đắn về mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp Hội nghị nhận định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp, phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc [ ] nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”
Dựa trên tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và áp dụng vào chính thực tiễn tại Đông Dương, Hội nghị chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đồng thời nhằm mục đích tập hợp được toàn bộ người dân Việt Nam yêu nước, xây dựng độc lực chiến đấu chống lại kẻ thủ Pháp và Nhật Theo đề nghị của
Trang 6Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị quyết định lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống Pháp - Nhật xâm lược, lấy tên mới là "Việt Nam Độc lập đồng minh" (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh) Các tổ chức quần chúng yêu nước trong Mặt trận Việt Minh đều lấy tên là Hội Cứu quốc, gồm: Hội Công nhân cứu quốc, Hội Nông dân cứu quốc, Hội Thanh niên cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc Mặt trận trình bày rõ ràng đường lối, chính sách, phương pháp tiến hành và tổ chức lực lượng đấu tranh để thực hiện mục đích cứu nước của mình Điều lệ của Mặt trận Việt Minh ghi rõ: “liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước
Từ đó, Hội nghị đã nhất trí thành lập mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh hay nói tắt là Việt Minh còn dân tộc Miên tổ chức ra Cao Miên độc lập đồng minh, Lào thành lập Ai Lao độc lập đồng minh để sau đó lập ra Đông Dương độc lập đồng minh Việc quyết định giải quyết vấn đề trong khuôn khổ từng nước là một hướng đi đúng đắn vì: Kẻ thù chung của cả 3 nước cùng là đế quốc Pháp-Nhật và nhiệm vụ chung là đánh đuổi chúng, nhưng mỗi nước lại có hoàn cảnh lịch sử, văn hoá, phong tục tập quán khác nhau Bên cạnh đó,
để cho mỗi dân tộc tự giải quyết vấn đề của riêng mình sẽ giúp phát huy và phát triển sức mạnh cần có của mỗi dân tộc
19/05/1941, Mặt trận Việt Minh chính thức được thành lập với các tổ chức quần chúng yêu nước trong mặt trận gồm: Hội Công nhân cứu quốc, Hội Nông dân cứu quốc, Hội Thanh niên cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc Chương trình Việt Minh đáp ứng nguyện vọng cho toàn dân, không phân biệt giai cấp nên đã được ủng hộ phát triển rất mạnh, vượt qua sự chống phá của kẻ thù
5 Kết luận
Như vậy, Mặt trận Việt Minh đã trở thành biểu tượng sáng ngời của khối đại đoàn kết toàn dân, của tư tưởng Hồ Chí Minh về Mặt trận dân tộc thống nhất và để lại cho Đảng ta những bài học quý báu, được Đảng ta vận dụng một cách linh hoạt, hiệu quả trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Thành công và uy tín của Việt Minh
đó là thành công và uy tín của một Đảng đã thực sự hóa thân vào Mặt trận, sống cùng Nhân dân để lãnh đạo Nhân dân làm cách mạng; vừa đảm bảo nguyên tắc Đảng lãnh đạo, vừa tôn trọng tính độc lập, tự chủ, sáng tạo, khuyến khích và tạo điều kiện để Mặt trận hoạt động có hiệu quả
Việc chủ trương đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu và thành lập Mặt trận Việt Minh của Đảng đã góp phần quyết định vào thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 Nhận định: “Vì sao có cuộc thắng lợi đó?, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:
“Một phần là vì tình hình quốc tế thuận lợi cho ta Nhất là vì lực lượng của toàn dân đoàn kết Tất cả các dân tộc, các giai cấp, các địa phương, các tôn giáo đều nổi dậy theo
Lá cờ Việt Nam để tranh lại quyền độc lập cho Tổ quốc Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết Không ai thắng được lực lượng đó”
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 2, tr.735-739, NXB Chính trị Quốc gia, 2008
2 NQ Hội nghị TW lần thứ 8 Văn kiện Đảng 1930-1945 Ban NCLSĐ TW xuất bản Hà Nội 1977, tr 198
3 Vǎn kiện Đảng Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000