1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TẬP BÀI GIẢNG HỌC PHẦN NHẬP MÔN SÁNG TÁC

57 21 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhập Môn Sáng Tác
Người hướng dẫn Đoàn Dũng
Trường học Đại học sư phạm âm nhạc
Thể loại tập bài giảng
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 3,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu: -Mục tiêu chung Chương trình môn Âm nhạc giúp học sinh hình thành, phát triểnnăng lực âm nhạc dựa trên nền tảng kiến thức âm nhạc phổ thông và các hoạt động học tập đa dạng để

Trang 1

TẬP BÀI GIẢNG

HỌC PHẦN NHẬP MÔN SÁNG TÁC

HỆ ĐÀO TẠO: ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ÂM NHẠC

SỐ TÍN CHỈ: 02 TC/30 TIẾTGIẢNG VIÊN: ĐOÀN DŨNG

I Mục tiêu và yêu cầu của môn học:

1 Mục tiêu: Trang bị cho sinh viên những kiên thức căn bản về một số hình

thức hay dùng trong sáng tác ca khúc; một số thủ pháp phát triển chủ đề âm nhạc;lựa chọn thơ và nguyên tắc phổ nhạc cho thơ; phương pháp, cách thức hoàn thiệnmột bài ca khúc

- Sau thời gian học 30 tiết (một HP/2 TC), sinh viên phải có sản phẩm cụ thể: Tốithiểu mỗi sinh viên sáng tác một bài ca khúc có hình thức từ một đoạn đơn tới ba đoạn đơn (có thể phổ thơ, phỏng theo ý thơ) Mỗi lớp học phải in được ít nhất một tập ca khúc

2 Yêu cầu: Sinh viên phải nắm vững kiến thức các môn học như: Lý

thuyết âm nhạc; Ký – Xướng âm; Phân tích âm nhạc; Lịch sử âm nhạc…Ngoài

ra, sinh viên phải có một kiến thức căn bản về Văn học Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Xã hội Việt Nam, Giáo dục Việt Nam…

- Sinh viên tham gia học tập phải có các đồ dùng học tập như: Đàn, vở chép nhạc,một số tập thơ…

- Phòng học có đàn Piano, bảng nhạc, máy chiếu, âm thanh, máy tính

2 Danh mục tên bài:

2.1 Tên học phần: Nhập môn sáng tác

2.2 Tín chỉ 1: Môn âm nhạc và nhiệm vụ người giáo viên âm nhạc tại các trường TH; THCS; THPT - Một số hình thức hay dùng trong sáng tác ca khúc – Phương pháp cơ bản xây dựng tác phẩm âm nhạc - Các thủ pháp phát triển chủ đề âm nhạc

TT Nội dung Tổng số

tiết Lý thuyết Thực hànhcó GV

hướng dẫn

SV tự thực hành

Trang 2

Bài hai: Phương

3 Nội dung bài giảng tín chỉ 01:

Bài một: Môn âm nhạc và nhiệm vụ người giáo viên âm nhạc tại các trường TH; THCS; THPT hiện nay – Một số hình thức hay dùng trong sáng tác ca khúc – Một số thể loại ca khúc

I Môn âm nhạc và nhiệm vụ người giáo viên âm nhạc tại các trường

TH, THCS, THPT hiện nay.

1. Môn âm nhạc tại nhà trường hiện nay: Tham khảo CT ÂN 2018 (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm

2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Trong chương trình giáo dục phổ thông, nội dung môn Âm nhạc được phân chia theo hai giai đoạn

-Giai đoạn giáo dục cơ bản: Âm nhạc là môn học bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 9,

bao gồm những kiến thức và kĩ năng cơ bản về hát, nhạc cụ, nghe nhạc, đọc nhạc,

lí thuyết âm nhạc, thường thức âm nhạc Chương trình giáo dục âm nhạc giúp học sinh trải nghiệm, khám phá và thể hiện bản thân thông qua các hoạt

Trang 3

động âm nhạc nhằm phát triển năng lực thẩm mĩ, nhận thức được sự đa dạng của thế giới âm nhạc và mối liên hệ giữa âm nhạc với văn hoá, lịch sử cùng các loại hình nghệ thuật khác; đồng thời hình thành ý thức bảo vệ và phổ biến các giá trị âm nhạc truyền thống

-Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp: Âm nhạc là môn học được lựa

chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp của học sinh Nội dung môn học bao gồm kiến thức và kĩ năng mở rộng, nâng cao về hát, nhạc cụ, nghe nhạc, đọc nhạc, lí thuyết âm nhạc, thường thức âm nhạc Những học sinh có sở thích, năng khiếu hoặc định hướng nghề nghiệp liên quan còn được chọn thêm các chuyên đề học tập Nội dung giáo dục âm nhạc ở giai đoạn này giúp học sinh tiếptục phát triển các kĩ năng thực hành, mở rộng hiểu biết về âm nhạc trong mối tương quan với các yếu tố văn hoá, lịch sử và xã hội, ứng dụng kiến thức vào đời sống, đáp ứng sở thích cá nhân và tiếp cận với những nghề nghiệp liên quan đến

âm nhạc

Mục tiêu:

-Mục tiêu chung Chương trình môn Âm nhạc giúp học sinh hình thành, phát triểnnăng lực âm nhạc dựa trên nền tảng kiến thức âm nhạc phổ thông và các hoạt động học tập đa dạng để trải nghiệm và khám phá nghệ thuật âm nhạc; nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ và tình yêu âm nhạc, nhận thức được sự đa dạng của thế giới âm nhạc và mối liên hệ giữa âm nhạc với văn hoá, lịch sử, xã hội cùng các loại hình nghệ thuật khác, hình thành ý thức bảo vệ và phổ biến các giá trị âm nhạc truyền thống; có đời sống tinh thần phong phú với những phẩm chất cao đẹp, có định hướng nghề nghiệp phù hợp, phát huy tiềm năng hoạt động âm nhạc

và phát triển các năng lực chung của học sinh

+ Mục tiêu cấp tiểu học: Chương trình môn Âm nhạc cấp tiểu học giúp học sinh

bước đầu làm quen với kiến thức âm nhạc phổ thông, sự đa dạng của thế giới âm nhạc và các giá trị âm nhạc truyền thống; hình thành một số kĩ năng âm nhạc

ban đầu; nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ và tình yêu âm nhạc, hứng thú tham

gia các hoạt động âm nhạc phù hợp với lứa tuổi; góp phần hình thành và phát

triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu (yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm) và các năng lực chung (tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác,

giải quyết vấn đề và sáng tạo)

+ Mục tiêu cấp trung học cơ sở: Chương trình môn Âm nhạc cấp trung học cơ

sở giúp học sinh phát triển năng lực âm nhạc dựa trên nền tảng kiến thức âm nhạc phổ thông và các hoạt động trải nghiệm, khám phá nghệ thuật âm nhạc;

nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ và tình yêu âm nhạc; tiếp tục hình thành một số kĩ

năng âm nhạc cơ bản, phát huy tiềm năng hoạt động âm nhạc; nhận thức được sự đa dạng của thế giới âm nhạc và mối liên hệ giữa âm nhạc với văn hoá, lịch sử, xã hội cùng các loại hình nghệ thuật khác, hình thành ý thức bảo

vệ và phổ biến các giá trị âm nhạc truyền thống; góp phần phát triển những

phẩm chất chủ yếu và năng lực chung đã được hình thành từ cấp tiểu học

+ Mục tiêu cấp trung học phổ thông: Chương trình môn Âm nhạc cấp trung

học phổ thông giúp học sinh phát triển năng lực âm nhạc, những phẩm chất

chủ yếu và năng lực chung đã được hình thành từ cấp trung học cơ sở; định hình thị hiếu thẩm mĩ; mở rộng hiểu biết về âm nhạc trong mối tương quan với các yếu tố lịch sử, văn hoá và xã hội, biết trân trọng và có ý thức giữ gìn, bảo vệ, phổ biến các giá trị âm nhạc truyền thống; phát huy tiềm năng hoạt động âm nhạc, vận dụng kiến thức, kĩ năng âm nhạc vào đời sống; có định hướng nghề nghiệp phù hợp với khả năng của bản thân

Trang 4

Đối với học sinh TH, THCS, THPT, môn Âm nhạc là một trong

những phương tiện hiệu quả để thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức, thẩm

mĩ nhằm góp phần giáo dục toàn diện cho học sinh, tạo cơ sở hình thành nhân cách con người Âm nhạc trong nhà trường với tư cách là một môn học

có mục đích giáo dục văn hoá âm nhạc cho học sinh nhằm trang bị cho các

em những kiến thức cơ bản, bước đầu hình thành khả năng cảm thụ, hiểu và thể hiện nghệ thuật âm nhạc, khơi dậy ở các em những khả năng sáng tạo trong hoạt động âm nhạc, củng cố thêm về tình cảm đạo đức, về niềm tin thịhiếu nghệ thuật và nhu cầu âm nhạc

Nếu ở con người, nhu cầu về thẩm mĩ là nhu cầu tinh tế và cao quý; ý thức

về cái đẹp, cái hay là ý thức có tính nhân loại cao thì trong cấu trúc nền giáodục phổ thông hiện đại, giáo dục thẩm mĩ nói chung và giáo dục âm nhạcnói riêng, phải là bộ phận mang tính đặc thù, có cấp độ cao tương xứng vớinó.Ở trường phổ thông, các môn học khác đều được xây dựng và lấy tácđộng hình thành nhân cách học sinh theo hướng chủ yếu: từ trí tuệ đến tìnhcảm, thì ngược lại, môn học Âm nhạc lại được xây dựng, lấy tác động hìnhthành nhân cách học sinh theo hướng chủ yếu: trực tiếp từ tình cảm đến trítuệ, tạo ra một sự kết hợp hài hòa, và do đó, nó là môn học không thể thiếuđược

Mục đích giáo dục âm nhạc bao gồm những mục tiêu yêu cầu giáo dục cụthể, là sự phản ánh kết quả mong muốn sau một quá trình giáo dục - dạyhọc Kết quả ấy cũng chính là mô hình hay kiểu nhân cách cần hình thành,kiểu tập thể cần xây dựng ở học sinh thông qua môn học âm nhạc Giáo dục

âm nhạc là một hình thức giáo dục nghệ thuật mang tính đặc thù Nó có khảnăng liên kết, sử dụng cũng như hỗ trợ, xen lồng vào tất cả các hình thứcnội dung giáo dục khác làm cho chúng đạt đến hiệu quả cao trong việc thựchiện những yêu cầu mục tiêu giáo dục Nhưng với nhiệm vụ, chức năng chủyếu của mình, giáo dục âm nhạc trước hết thể hiện mục tiêu, yêu cầu giáodục nổi trội của mình là giáo dục thẩm mĩ Nắm vững mục đích nổi trội này

là một yêu cầu hết sức quan trọng

Mục tiêu và nhiệm vụ của môn âm nhạc ở trường TH, THCS, THPT là trang bị cho học sinh một số kiến thức về kỹ năng hát, đọc, nghe nhạc, chơi nhạc cụ; về lý thuyết âm nhạc ở mức độ đơn giản để một chừng mực nào đó, các em có thể tham gia vào các hoạt động âm nhạc của cộng đồng. Hình thành cho học sinh những hiểu biết sơ đẳng về cái hay, cái đẹp trong nghệ thuật âm nhạc, về ý nghĩa tác dụng của âm nhạc với đời sống, đồng thời mở mang vốn hiểu biết về truyền thống âm nhạc dân tộc Việt Nam, tinh hoa âm nhạc thế giới, góp phần bồi dưỡng tình cảm, đạo đức, trí tuệ, tạo không khí vui tươi lành mạnh, làm phong phú thế giới tinh thần nhằm phát triển hài hòa, toàn diện nhân cách học sinh.

Phương pháp dạy học ở các cấp học

Cấp tiểu học: Tập trung phát triển cảm xúc thẩm mỹ và tình yêu âm nhạc Cần lựa chọn các hoạt động học tập phù hợp với sở thích và nhận thức của HS: nghe nhạc, vận động, chơi các trò chơi, kể chuyện, Cần thiết kế các hoạt động trải nghiệm và khám phá âm nhạc, được tích hợp thông qua

nhiều nội dung và hoạt động Ở lớp 1, lớp 2, lớp 3, HS chỉ đọc nhạc theo ký

Trang 5

hiệu bàn tay Từ lớp 4 trở lên, cần kết hợp hai kỹ năng: đọc nhạc theo kí hiệu bàn tay và đọc nhạc theo kí hiệu ghi nhạc.

Cấp trung học cơ sở: Tập trung phát triển các kỹ năng âm nhạc cơ bản Cần lựa chọn các hoạt động học tập phù hợp với hứng thú và nhận thức của HS: nghe nhạc, vận động, đánh giá, phân tích, sáng tạo, ứng dụng, Cần thường xuyên củng cố và vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã học từ tiểu học Cấp trung học phổ thông: Tập trung nâng cao năng lực âm nhạc, kỹ năng thực hành và biểu diễn âm nhạc Sử dụng kết hợp giữa hệ Đô di động và Đô

cố định trong đọc nhạc và hát Cần lựa chọn các hoạt động học tập phù hợp với phong cách cá nhân, tạo thói quen luyện tập âm nhạc hằng ngày Mở rộng hiểu biết về âm nhạc, hình thành định hướng thẩm mỹ và định hướng nghề nghiệp.

Môn âm nhạc ở trường TH, THCS, THPT gồm các phân môn: Học hát;

nghe nhạc; đọc nhạc; nhạc cụ; lý thuyết âm nhạc; và thường thức Âm nhạc

trong đó học hát là trọng tâm, nhạc lý - tập đọc nhạc là cơ sở và âm nhạc thường thức làm nhiệm vụ nâng cao nội dung giảng dạy âm nhạc ở trường THCS.

Ví dụ: - Phân môn học hát: ca hát có vị trí quan trọng trong đời sống conngười Bài hát phản ánh hình tượng cuộc sống, thiên nhiên, con người và tất

cả các mối quan hệ, tư tưởng, tình cảm Ca hát ảnh hưởng trực tiếp đến conngười bằng tác động của âm nhạc và ca từ Ca hát là phương tiện thể hiệncảm xúc suy nghĩ của người hát và khơi dậy ở người nghe những cảm xúctương ứng, những hiểu biết nhất định Khi biểu diễn, nếu kết hợp tốt giữathể hiện nội dung với cử chỉ, hành động, biểu cảm… thì sẽ thu hút đượcngười nghe; giúp người nghe có cảm xúc hướng tới Chân - Thiện - Mỹ Cahát là một hoạt động quan trọng, bản chất của nó là thông qua luyện tậpgiúp học sinh có tinh thần sảng khoái và tạo cho học sinh có những ước mơtươi đẹp Chẳng hạn, khi nghe bài hát “Ngày đầu tiên đi học”, trong lònghọc sinh trào dâng một cảm xúc êm đềm về tình mẹ, về kỉ niệm tuổi thơ…

- Phân môn Nhạc lý - Tập đọc nhạc: giúp học sinh nhận biết những kí hiệughi chép âm nhạc đơn giản, thông thường nhất Có khái niệm về yếu tố cơbản của âm nhạc như cao độ, trường độ, giai điệu, tiết tấu, sắc thái và giớithiệu sơ lược về cung, quãng, gam, giọng đồng thời hướng dẫn các em đọccác bài nhạc chủ yếu ở giọng Đô trưởng hoặc La thứ, áp dụng các loại nhịpthông dụng với các âm hình tiết tấu đơn giản và những giai điệu dễ đọc

 - Phân môn Âm nhạc thường thức: học sinh được nghe nhạc có dẫn giải cáctác phẩm, qua đó giới thiệu một số tác giả tiêu biểu của âm nhạc Việt Nam

và thế giới, một số nhạc sĩ Việt Nam được giải thưởng Hồ Chí Minh, một sốnhạc sĩ quen thuộc với lứa tuổi học sinh và một vài nhạc sĩ thuộc trườngphái cổ điển và lãng mạn phương Tây, giới thiệu một vài nhạc cụ dân tộc vànhạc cụ phương Tây phổ biến, giới thiệu sơ lược về dân ca Việt Nam, một

số sinh hoạt âm nhạc dân gian, dân ca một số vùng miền tiêu biểu, một  vàithể loại âm nhạc phổ biến, đôi nét về sáng tác âm nhạc cho thiếu nhi, tácdụng và ảnh hưởng của âm nhạc trong đời sống xã hội

Trang 6

Như vậy, về tác dụng của âm nhạc đối với học sinh trong nhà trường là điềukhông thể phủ nhận Cái đích cuối cùng của mục tiêu và nhiệm vụ môn Âmnhạc trong trường THCS là tạo nên một trình độ văn hóa âm nhạc nhất định.Trình độ văn hóa phổ thông hay trình độ học vấn phổ thông ở bậc THCS là

do tất cả những hoạt động giáo dục và các môn học tạo dựng nên, trong đó

có môn Âm nhạc./

2 Nhiệm vụ của người giáo viên âm nhạc tại các trường TH, THCS, THPT:

  Giáo viên âm nhạc là người truyền thụ hệ thống kiến thức âm nhạc, truyền cảm hứng âm nhạc cho học sinh để học sinh nhận thức và lĩnh hội chúng, qua đó thực hiện được mục đích giáo dục âm nhạc Đối với nghệ thuật âm nhạc, sự sáng tạo của mỗi cá nhân đóng vai trò cực kì quan trọng Học sinh TH, THCS, THPT đang trong thời kì phát triển nhanh

về thể chất và tâm – sinh lí, các em có nhiều suy nghĩ và ước mơ về cuộc sống Đây là giai đoạn rất thích hợp để phát huy sự sáng tạo của học sinh trong quá trình học âm nhạc.

Công việc của người giáo viên là quản lý, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức học âm nhạc của học sinh, giúp học sinh tìm tòi và khám phá tri thức, qua đó thực hiện có hiệu quả chức năng học của bản thân, điều này được thể hiện cụ thể như sau:

- Đề ra mục đích, yêu cầu nhận thức của việc học âm nhạc cho học sinh,

từ đó vạch ra kế hoạch dạy học, giáo dục âm nhạc và các hoạt động;

- Dạy học trò những kỹ thuật cơ bản về hát hoặc sử dụng một số nhạc

cụ như đàn piano, Orgal v.v;

- Tổ chức các hoạt động âm nhạc, các câu lạc bộ âm nhạc cho những học sinh có năng khiếu và đam mê âm nhạc;

- Theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, qua đó để

có những biện pháp điều chỉnh, sửa chữa kịp thời những thiếu sót của các em cũng như trong công tác giảng dạy môn âm nhạc;

- Thường xuyên trau dồi kiến thức âm nhạc cũng như khả năng thanh nhạc của bản thân.

Ngoài những nhiệm vụ của một một giáo viên âm nhạc đã kể ở trên thì hiện nay, do nhu cầu phát triển của các địa phương, nhà trường, xã hội…Các hoạt động về tổ chức sự kiện nghệ thuật, sáng tác ca khúc cho nhà trường, cho địa phương hoặc cho các chủ đề, chủ điểm của tháng, của năm học, hay tham gia các cuộc thi nghệ thuật rất phong phú và đa dạng trên sóng truyền hình, đòi hỏi người thầy dạy âm nhạc và học trò phải tham gia, không thể đứng ngoài cuộc Chính vì vậy năng lực của

Trang 7

người giáo viên âm nhạc cần phải được nâng cao nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội

II Một số hình thức hay dùng trong sáng tác ca khúc:

1 Hình thức một đoạn đơn: Đoạn nhạc là HT ÂN nhỏ nhất, trình bày một tư duy

ÂN hoàn chỉnh

- Ví dụ:

Bài Hành quân xa của Đỗ Nhuận Tác phẩm được viết ở hình thức

một đoạn nhạc gồm hai câu nhạc Mỗi câu nhạc phân thành 2 tiết, mỗi tiếtnhạc dài 4 nhịp Câu một kết ở âm bậc V; câu hai kết vể âm bậc I củagiọng Sol trưởng. Âm điệu quãng 4 được nhấn mạnh trong từng tiết nhạccùng với âm hình tiết tấu rành mạch, dứt khoát

1.1 Các dạng cấu trúc một đoạn đơn;

1.1.1 Đoạn nhạc với lối cấu trúc nhắc lại: Gồm 2 câu nhạc, trong đó câu thứ

hai là nhắc lại câu thứ nhất Thủ pháp nhắc lại có thể là nguyên dạng hoặc nhắclại có biến tấu…

Câu 1

Câu 2

Trang 8

- Nhắc lại nguyên dạng: Là đoạn nhạc với lối cấu trúc nhắc lại; câu thứ

hai được nhắc lại nguyên dạng từ câu thứ nhất, có thể có thay đổi một chút

so với câu thứ nhất (vài nốt cao độ hoặc tiết tấu)

Ví dụ đoạn a bài:

- Nhắc lại có thay đổi: Là đoạn nhạc với lối cấu trúc nhắc lại, câu

thứ hai sau khi nhắc lại thứ nhất có nhu cầu phát triển tiếp (Có thể chỉ nhắclại một vài ô nhịp sau đó thay đổi )

Ví dụ: : Lá thuyền ước mơ

Trang 9

1.1.2 Đoạn nhạc với lối cấu trúc không nhắc lại

Gồm 2 câu, câu thứ 2 không nhắc lại câu thứ nhất mà tiếp tục phát triểnnên giai điệu và tiết tấu không có tính chu kỳ Câu thứ nhất thường kết ở bậc V.Câu thứ hai kết ở giọng chính hoặc chuyển sang giọng gần

Ví dụ:

Trang 10

1.1.3 Đoạn nhạc với lối cấu trúc 3 câu

Dạng đoạn nhạc gồm ba câu nhạc thường ít gặp Mối quan hệ giữa các câu

là đa dạng Câu thứ nhất và câu thứ hai thường tương phản với nhau thể hiệntrong cấu trúc giai điệu, tiết tấu, đặc biệt là lối tiến hành kết câu Câu thứ nhất kết

ở bậc V ( D ); Câu thứ hai kết ở bậc IV (S) Hai loại công năng này là tươngphản mạnh, tạo sức hút giải quyết ở câu thứ ba kết trọn về chủ

Đoạn nhạc gồm ba câu nhạc như các bài: Ca ngợi Hồ Chủ tịch (Lưu Hữu Phước, Nguyễn Đình Thi), Tre ngà bên lăng Bác (Hàn Ngọc Bích), Em mơ gặp

Bác Hồ (Xuân Giao), Đuổi mưa (Trương Tuyết Mai)

Ví dụ:

Trang 11

- Từ các ví dụ đã phân tích ở trên cho ta một vài nhận xét sau:

Trang 12

Các dạng cấu trúc đoạn nhạc là phần trình bày của một hình thức hay

là một hình thức độc lập của tác phẩm đều không khác nhau Tuy nhiên, chức năng các câu trong một tác phẩm độc lập được viết ở hình thức một đoạn đơn lại khác Câu thứ nhất giữ chức năng là phần trình bày, có nhiệm vụ trần thuật chất liệu chính của chủ đề; câu thứ hai giữ chức năng của phần giữa và kết của tác phẩm, tạo sự ổn định, hoàn chỉnh hình tượng âm nhạc

1.2 Vài hiện tượng đặc biệt trong cấu trúc đoạn nhạc

Đoạn nhạc là tư duy âm nhạc hoàn thiện được phân biệt bởi tổ chức đặcthù trong cấu trúc nội tại của mình Các dạng đoạn nhạc đã trình bày ở trên chứađựng các hiện tượng phổ biến, rộng rãi, phụ thuộc vào những quy luật xác định

có tính lịch sử Những quy luật này liên quan tới tính riêng biệt của cấu trúc vàkhuôn khổ đoạn nhạc, độc lập khỏi dạng đoạn nhạc Các bộ phận của đoạn nhạc,giữa chúng có mối quan hệ xác định, biểu hiện sự phụ thuộc chung về tỷ lệ.Chúng bị phụ thuộc bởi những quy luật chung thống nhất về thời gian cũng nhưcủa những nguyên tắc thực tiễn cụ thể từ lĩnh vực nhịp điệu, cơ cấu trong thànhphần của đoạn nhạc tạo thành hai dạng tương quan cơ bản: Cân phương (vuôngvắn) và không cân phương ( không vuông vắn)

1.2.1 Đoạn nhạc cân phương

Là những đoạn nhạc mà trong đó về khuôn khổ, về số lượng nhịp giốngnhau và đều có những số thể hiện chẵn ( 4 + 4 ; 8 + 8; 16 + 16): thể hiện sự mạchlạc, chính xác, ổn định…Trong số lớn đoạn nhạc, đặc biệt là âm nhạc cổ điển tồntại số lượng như nhau giữa các bộ phận của đoạn nhạc: câu nhạc gồm 4 nhịp, tiếtnhạc gồm 2 nhịp, mô típ gồm 1 nhịp

Kết cấu cân phương liên quan đến thể loại nhảy múa và hình tượng hành khúctrên nền tảng với mạch chuyển động có tính chu kỳ Tuy nhiên tính cân phươngkhông phải là nguyên tắc tổng hợp, đặc biệt trong cấu trúc âm nhạc Nó là mộttrong tổ chức nội tại của đoạn nhạc và còn có những cách cấu trúc đa dạng vàphức tạp hơn Tính cân phương giúp nhận thức dễ dàng nhưng lại gây cảm giácđều đặn, máy móc Khi phá vỡ lối cấu trúc cân phương tạo ra những khả năngmới trong biểu hiện như sự dàn trải, ca xướng với tính chất tự do, trôi chảy hơntrong nhận thức âm nhạc

1.2.2 Đoạn nhạc không cân phương

Trang 13

Mối tương quan giữa các bộ phận như: câu nhạc, tiết nhạc, mô típ không

có sự cân bằng về khuôn khổ Những cấu trúc của đoạn nhạc không vuông vắn làhai câu có khuôn khổ bằng nhau nhưng không cân phương: ( 5 + 5; 6 + 6; 7 + 7;

9 + 9)

1.3 Nhắc lại của đoạn nhạc:

Trong đoạn nhạc có thể được nhắc lại nguyên dạng hay nhắc lại thay đổi

có tính biến tấu Sự nhắc lại được ứng dụng cho cả loại đoạn nhạc là hình thứctrình bày của những hình thức lớn hơn và hình thức đoạn nhạc là hình thức âmnhạc độc lập Lối nhắc lại gặp trong cả tác phẩm khí nhạc và thanh nhạc

2 Hình thức hai đoạn đơn

2.1 Định nghĩa;

HT hai đoạn đơn gồm hai phần, mỗi phần không vượt quá khuôn khổ đoạn

nhạc, được biểu thị trên sơ đồ: a b

Đoạn a là phần trình bày, giữ chức năng trần thụât chủ đề và thường có cấu trúc ở

HT đoạn nhạc hai câu nhắc lại, cuối đoạn thường kết hoàn toàn ở điệu tính chínhhoặc chuyển sang điệu tính át

Đoạn b có cấu trúc phức tạp hơn và phụ thuộc vào cách tiến hành của chủ

đề âm nhạc để chia thành hai dạng cấu trúc cơ bản: hai đoạn đơn có tái hiện vàhai đoạn đơn không tái hiện Đoạn b vừa có chức năng là phần giữa, phần táihiện, hoặc kết của hình thức, được viết ở hình thức đoạn nhạc

Trang 14

Em là bông hồng nhỏ của Trịnh Công Sơn là bài hát ca ngợi tình cảm

trong sáng, thơ ngây của tuổi nhỏ khi nghĩ về gia đình, nhà trường, về thiênnhiên qua những cảm xúc nhẹ nhàng, bay bổng

Bài hát gồm có hai đoạn nhạc, mỗi đoạn nhạc có hai câu nhạc

Đoạn thứ nhất của bài là đoạn nhạc với lối cấu trúc nhắc lại gồm cóhai câu nhạc cân phương (2 nhịp + 2 + 2 + 2 và 2 + 2 + 2 +2) Nhịp thứ bảycủa câu một xuất hiện âm Đô thăng để li điệu sang giọng Rê trưởng và kếtcâu nhạc ở bậc I của giọng mới, đồng thòi âm Rê là âm bậc V của giọng Soltrưởng Câu thứ hai là nhắc lại nguyên dạng câu thứ nhất với lời ca mới,thay đổi giai điệu ở cuối nhịp thứ bảy để kết trọn đoạn nhạc về chủ âm củagiọng chính - Sol trưởng

Đoạn thứ hai cấu trúc câu nhạc thay đổi nên có khuôn khổ ngắn hơn

so với đoạn thứ nhất Câu thứ nhất chỉ có sáu nhịp, chia thành ba tiết nhạc,mỗi tiết nhạc có hai môtíp, mỗi môtíp là một nhịp và tiết thứ ba không chiathành môtip được <m 1 + 1 + 7) Đầu câu một của đoạn hai có âm hưởngcủa hợp âm mi thứ Câu thứ hai của đoạn hai là tái hiện lại câu thứ hai của

Trang 15

đoạn một, chỉ khác một chút ở nhịp thứ bảy về cao độ cho hợp vổi thanhđiệu của từ và kết trọn bài hát về giọng Sol trưởng.

2.2 Các dạng cấu trúc

2.2.1 Hình thức hai đoạn đơn có tái hiện

Hình thức hai đoạn đơn có tái hiện là hình thức gồm 2 đoạn Đoạn thứ nhất

là phần trình bày của HT, thường được cấu trúc theo lối 2 câu nhắc lại Đoạn thứ

2, câu một là phần giữa của TP Câu thứ 2 của đoạn b tái hiện lại một trong haicâu của đoạn a

Phần thứ nhất Phần thứ hai

Đoạn nhạc trình bày Câu một Câu hai

Phần giữa Phần tái hiện

Một số bài hát được viết ở hình thức hai đoạn đơn có tái hiện: VD bài: Em

là hoa hồng nhỏ; Khát vọng mùa xuân; Làng tôi; Từ rừng xanh cháu về thăm lăngBác

Ví dụ:

Trang 16

2.2.2 Hình thức hai đoạn đơn không có tái hiện

- Hình thức hai đoạn đơn không có tái hiện: Gồm hai phần, mỗi phần làhình thức một đoạn đơn Đoạn a là phần trình bày thường được cấu trúc theo lối 2câu có nhắc lại Đoạn b phát triển chất liệu từ đoạn a hoặc tương phản với đoạn abằng chất liệu mới Đoạn b vừa có chức năng là phần giữa vừa có chức năng làphần tái hiện của TP Hai đoạn không tái hiện được chia làm 2 dạng cấu trúc đólà: Hình thức hai đoạn phát triển và hai đoạn tương phản:

+ HT hai đoạn đơn không tái hiện dạng phát triển: Câu một đoạn b pháttriển từ chất liệu phần trình bày ( câu 1 đoạn a):

Ví dụ một số bài hát được viết ở hình thức hai đoạn đơn không có tái hiện,dạng phát triển như các bài Lá thuyền ước mơ ( Thảo Linh), Tiếng hát chimsơn ca ( Đỗ Hòa An), Nhớ bạn (Trọng Bằng), Mùa xuân bên cửa sổ (XuânHồng - Song Hảo), Đi ta đi lên (Phong Nhã), Chiếc đèn ông sao (PhạmTuyên), Mùa xuân đến từ đâu (Trương Xuân Mẫn - Trần Mạnh Hảo), Mùaxuân và tuổi hoa (Hàn Ngọc Bích), Như con chim én (Phan Nhân), Tiến quân

Ví dụ 2 đoạn đơn phát triển:

Trang 17

Ví dụ 2 đoạn đơn tương phản:

Trang 18

1.3 Các phần phụ - Sự nhắc lại - Ứng dụng của hình thức hai đoạn đơn:

1.3.1 Các phần phụ: Hình thức hai đoạn đơn bao gồm hai đoạn nhạc trong đómỗi đoạn giữ chức năng khác nhau của mỗi hình thức như phần trình bày, phầngiữa, phần tái hiện Ngoài ra chúng ta có thể gặp các phần phụ như phần mở đầu,phần nối tiếp và kết (Coda) Các phần phụ có chức năng liên kết các phần chínhcủa tác phẩm góp phần hoàn chỉnh cho hình tượng âm nhạc

Ví dụ bài: Trái đất này là của chúng mình; Em yêu trường em

1.3.2 Ở hình thức hai đoạn đơn có thể gặp sự nhắc lại từng bộ phận nguyên dạnghay nhắc lại biến tấu Có thể cả đoạn a bà đoạn b được nhắc lại

1.3.3 Ứng dụng của hình thức hai đoạn đơn: Hình thức hai đoạn đơn được dùng

để cấu trúc cho các tiểu phẩm khí nhạc và thanh nhạc Các ca khúc được viết ởhình thức hai đoạn đơn là rất phổ biến Hình thức hai đoạn đơn còn được dùng đểlàm chủ đề cho các hình thức lớn hơn như chủ đề của hình thức ba đoạn phức,hình thức biến tấu, hình thức rondo

Trang 19

3 HÌNH THỨC BA ĐOẠN ĐƠN

3.1 Định nghĩa hình thức ba đoạn đơn sơ đồ a-b-a

Hình thức ba đoạn đơn gồm 3 phần, mỗi phần không vượt quá khuôn khổmột đoạn nhạc Mỗi phần có chức năng độc lập được gọi là: Phần trình bày; phầngiữa; Phần tái hiện

đã quán xuyến sự phát triển toàn tác phẩm qua một âm hình tiết tấu nổi bật:Bài hát gồm có ba phần, trong đó phần thứ ba nhắc lại nguyên dạnggiai điệu của đoạn đầu nhưng với lời ca mới

Đoạn thứ nhất (a) và đoạn tái hiện có lối tiến hành kết gốỉ (sự kết thúc

câu một đồng thời là sự bắt đầu của câu hai)

Đoạn thứ hai (b) của tác phẩm tiếp tục phát triển lối tiến hành giaiđiệu, tiết tâu từ đoạn đầu bằng thủ pháp mô phỏng cao độ, trang sức giaiđiệu cho mềm mại hơn Sơ đồ cấu trúc toàn bài như sau:

Trang 20

3.2 Các dạng cấu trúc:

3.2.1 Hình thức ba đoạn đơn Phát triển:

Phần giữa của hình thức phát triển lại chất liệu chủ đề của phần TB ( Đ a)tạo cho ba đoạn đơn có cùng một chất liệu, còn gọi là : Ba đoạn đơn một chủ đề

Để tạo ranh giới giữa (đ a) và ( đ b) được thể hiện bằng một tiến hành kếttrọn về giọng chính hoặc chuyển sang giọng gần để kết thúc đoạn nhạc

- Sang phần b cần phải có sự đổi mới như chuyển tạm sang giọng mới hoặc

sử dụng bậc âm không ổn định cũng như đổi mới trong lối tiến hành giai điệu, tiếttấu trên cơ sở chất liệu ở phần trình bày

- Phần thứ ba : giữ chức năng là phần tái hiện của hình thức Có thể táihiện nguyên dạng, có thể có thay đổi cũng như tái hiện có tính phát triển tiếp tục

VD bài : Cám ơn chị Võ Thị Sáu ; Nguyễn Bá Ngọc người thiếu niên dũngcảm ; Mùa hè của em ; Đi học

Trang 21

VD bài: Đi học

Trang 22

3.2.2 Hình thức ba đoạn đơn tương phản

Phần giữa của hình thức xuất hiện chủ đề mới tương phản với phần trìnhbày ( Đ a), sự tương phản luôn liên quan đến sự thay đổi về giọng Do vậy người

ta còn gọi dạng cấu trúc này là : Ba đoạn đơn hai chủ đề Trong ca khúc, phần bthường thể hiện sự tương phản thông qua âm hình tiết tấu, lối tiến hành giai điệuqua một mô típ, một tiết nhạc…

- Đoạn a tái hiện (đoạn ba) được tái hiện nguyên dạng đoạn a trình bày,hoặc tái hiện có thay đổi Có thể dùng dấu Dacapo al Fine

VD bài : Tiếng ve gọi hè; Một thời để nhớ; Con đường đến trường

Ví dụ: Hình thức ba đoạn đơn tương phản:

Trang 23

3.2.3 Hình thức ba đoạn đơn sơ đồ a – b – c:

- Một vài bài ca khúc Việt Nam có dạng cấu trúc của hình thức ba đoạn đơn gồm

ba phần nhưng lại là a – b – c, có nghĩa là đoạn thứ ba của hình thức này khôngtái hiện lại đoạn a trình bày Tuy tác giả không sử dụng tái hiện lại đoạn a trìnhbày, thậm chí chất liệu âm nhạc của ba phần có thể khác nhau nhưng do sự hỗ trợ

về nội dung lời ca và đặc biệt sự tái hiện lại giọng chính ở cuối bài nên cả baphần (a b c) vẫn gắn bó với nhau

Ví dụ: Bài hát Bóng cây Kơnia; Chào sông Mã anh hùng; Tuổi hồng

Ví dụ bài : Tuổi hồng

Trang 24

2.2.3 Các phần phụ của hình thức ba đoạn đơn - Sự nhắc lại từng bộ phận

- Trong cấu trúc của hình thức ba đoạn đơn ngoài ba phần chính là trình bày,

phần giữa Phần tái hiện ta còn có thể gặp các phần phụ như mở đầu, phần nốitiếp và phần kết (Coda)

Ví dụ: Bài hát Đi học – Bùi Đình Thảo

III Một số thể loại ca khúc

1 Ca khúc hành khúc: Có tính chất hành khúc, tiết tấu phù hợp với nhịp đi Thường được sử dụng âm hình đen, đơn, đen chấm dôi đi với nốt đơn hoặc hai nốt kép, nốt đơn chấm dôi đi với nốt kép Loại quãng 4 Đ, 5 Đ hay được sử dụng … thường được viết ở loại nhịp 2/4 hoặc 4/4 Ca khúc hành khúc thường chứa đựng nội dung kêu gọi, hiệu triệu, mạnh mẽ…dùng trong không khí vui tươi, chào mừng kỷ niệm, diễu hành, diễu binh, thúc giục chiến đấu, hoặc lao động nhiệt tình hăng say…

Ca khúc hành khúc phù hợp với các sáng tác cho lứa tuổi thiếu niên nhi đồng, cho sinh hoạt múa hát sân trường, cho các bài hát truyền thống, bài hát tập thể…

2 Ca khúc ngợi ca: Là những bài hát mang tính chất ca ngợi ca những anh hùng

dân tộc, những tấm gương tiêu biểu trong chiến đấu, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, những người có nhiều công trạng, thành tích nổi bật cho đất nước, cho địa phương…Khi viết cho thể loại ca khúc ngợi ca, ngoài tính chất hành khúc, còn có thể sử dụng tiết tấu trữ tình, da diết, tưởng nhớ nhưng vẫn mang tính hùng ca Nội dung ca từ trong sáng, dễ hiểu, ca ngợi những công lao, chiến công, thành tích cụ thể…của những nhân vật được ngợi ca…

3 Ca khúc trữ tình: Là những bài hát thường có tiết tấu chậm, những loại quãng

liền bậc, bình ổn được dùng nhiều Thể loại trữ tình hay được dùng để diễn đạt cảm xúc trong tình yêu quê hương đất nước; tình cảm với gia đình, với ông, bà, cha, mẹ, người thân; trong tình yêu đôi lứa…

4 Ca khúc thiếu nhi: Khi viết ca khúc cho lứa tuổi thiếu niên nhi đồng, người

sáng tác phải quan tâm tới âm vực của giọng hát, không nên lên cao quá, hay xuống

Trang 25

thấp quá, âm vực nên sử dụng trong phạm vi một Q 8 hoặc hơn (Q 9, Q 10) là vừa, không nên sử dụng quãng rộng quá Về nội dung thì ca từ phải rõ ràng, trong sáng, phù hợp với lứa tuổi Tiết tấu không nên phức tạp, chỉ sử dụng các tiết tấu phù hợp với các động tác minh hoạ đơn giản

Bài hai: Phương pháp cơ bản xây dựng tác phẩm âm nhạc - Các thủ

pháp Phát triển chủ đề âm nhạc

I Phương pháp cơ bản xây dựng tác phẩm âm nhạc:

Một tác phẩm âm nhạc không chỉ là những nhân tố riêng lẻ mà nó là một thể thống hữu cơ Muốn vậy phải có phương pháp xây dựng từ những nhân tố riêng lẻ trở thành một tác phẩm hoàn chỉnh Âm nhạc là một môn nghệ thuật âm thanh qua thời gian (thời gian ngân vang của của các âm thanh) Nó tác động tới các đối tượng qua thính giác, nó không thể nhìn được, sờ được mà chỉ cảm được qua tai nghe Vì vậy muốn người nghe cảm thụ được ngay nội dung âm nhạc thì điều kiện đầu tiên tác

phẩm phải đạt được là: khúc triết, mạch lạc, rõ ràng trong kết cấu, cô đọng, thống nhất trong nội dung.

Thông thường một tác phẩm âm nhạc được xây dựng từ một hoặc nhiều ý nhạc Từ một hoặc nhiều ý nhạc ban đầu, tác giả phát triển nó lên thành những kết cấu âm nhạc.Gắn những kết cấu âm nhạc đó lại với nhau thành một chỉnh thể thống nhất nội dung tác phẩm, đó là phương pháp xây dựng tác phẩm âm nhạc Sau đây là những phương pháp cơ bản:

1 Âm hình: Là một ý nhạc, dựa trên ý nhạc ấy, người ta phát triển nó ra thành tác

phẩm âm nhạc

- Âm hình được cấu tạo bằng hai yếu tố chính là: hình tiết tấu + thứ tự các quãng cao độ Nó được diễn đạt chính bằng giai điệu và người nghe cũng dễ nhận thấy qua giai điệu Âm hình có thể gồm một hoặc nhiều mô típ nhạc hợp thành Mô típ

có thể bắt đầu bằng phách mạnh, có thể bắt đầu bằng phách nhẹ

Ví dụ:

- Âm hình là sự cô đọng của hình tượng âm nhạc, vì vậy tuy nó chỉ có độ dài vài nhịp (âm hình gồm nhiều mô típ), thậm chí có âm hình rất ngắn chỉ có 1 nhịp hoặc nửa nhịp, nhưng nó bước đầu cũng nói lên được nội dung chính của âm nhạc Có thể chỉ qua âm hình ta đã biết được:

+ Về tình cảm: Trang nghiêm, hành khúc, vui, buồn…

+ Về đặc tính dân tộc: Âm nhạc của Việt Nam, Nga, Trung Quốc… hay của vùng quan họ Bắc Ninh, Trung bộ, Nam bộ…

+ Về phong cách âm nhạc: Cổ điển nghiêm túc, hay nhạc nhẹ…

+ Về thể loại âm nhạc: Phức điệu hay chủ điệu…

Trang 26

2 Âm hình chủ đạo: Trong các tác phẩm âm nhạc cũng có khi chỉ do một âm

hình phát triển ra toàn bộ tác phẩm Nhưng cũng có khi, trong một tác phẩm (thậm chí trong một đoạn) lại do nhiều âm hình kết hợp lại, có những âm hình chính, có những âm hình phụ Âm hình chính còn gọi là âm hình chủ đạo, nó là động lực để thúc đẩy các âm hình khác phát triển Nó được nhắc lại, phát triển xuyên suốt tác phẩm và móc nối các kết cấu lại thành một chỉnh thể thống nhất

- Âm hình chủ đạo có khi xuất hiện ngay từ đầu:

đệm, bè trầm, bè nền…), còn trong thanh nhạc, chủ đề thường chỉ có giai điệu.

Độ dài của chủ đề thường là một đoạn, hai đoạn, ba đoạn đơn (trong khí nhạc) Trong thanh nhạc thì tuỳ thuộc hình thức viết, tuỳ thuộc dạng cấu trúc của tác phẩm mà chủ đề có thể kéo dài từ một câu hay một đoạn…

- Có khi chủ đề là một hình tượng đơn nhất (chủ đề một âm hình):

Ví dụ:

Trang 27

- Có khi là một hình tượng phức tạp ( chủ đề nhiều âm hình)

Trang 28

thấy như các dấu phẩy, chấm…nhưng nó cũng có những dấu hiệu để khi nghe

ta có thể phân biệt được từng ý, từng câu, từng đoạn nhạc…

Ngày đăng: 12/10/2022, 00:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Nhung (1986)– Hình thức âm nhạc –NXB Nhạc viện Hà Nội Khác
2. Nguyễn Thị Nhung (1991) Hình thức âm nhạc, NXB Âm nhạc 3. Đào Ngọc Dung(1994) –PTTP, NXB CĐNHTW Khác
4. Nguyễn Thị Nhung (1996) Thể loại âm nhạc, NXB Âm nhạc Khác
5. Nguyễn Thị Nhung (1997), Hình thức âm nhạc, NXB Giáo dục Hà Nội 6. Paul Cadrin –Biên dịch Phạm Phương Hoa (2002), Phân tích và bút pháp âm nhạc Tập 1. Nhạc viện Hà Nội Khác
7. Paul Cadrin –Biên dịch Phạm Phương Hoa (2002), Phân tích và bút pháp âm nhạc Tập 1- Phần hướng dẫn cách PT và ví dụ. Nhạc viện Hà Nội Khác
8. Nguyễn Thị Nhung (2006) – PTTPÂN-NXB –TTTTTV HVÂNQGVN 9. Nguyễn Thị Nhung – HT – TL âm nhạc – 2007- NXB Đại học Sư phạm Khác
10. Dương Viết Á (2000) - Ca từ trong âm nhạc Việt nam – NXB Viện Âm nhạc Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1. Mục tiêu: Trang bị cho sinh viên những kiên thức căn bản về một số hình - TẬP BÀI GIẢNG HỌC PHẦN NHẬP MÔN SÁNG TÁC
1. Mục tiêu: Trang bị cho sinh viên những kiên thức căn bản về một số hình (Trang 1)
khúc có hình thức Một đoạn đơn; Hai đoạn đơn; Ba đoạn đơn - TẬP BÀI GIẢNG HỌC PHẦN NHẬP MÔN SÁNG TÁC
kh úc có hình thức Một đoạn đơn; Hai đoạn đơn; Ba đoạn đơn (Trang 2)
II. Một số hình thức hay dùng trong sáng tác ca khúc: - TẬP BÀI GIẢNG HỌC PHẦN NHẬP MÔN SÁNG TÁC
t số hình thức hay dùng trong sáng tác ca khúc: (Trang 7)
2.2.1. Hình thức hai đoạn đơn có tái hiện - TẬP BÀI GIẢNG HỌC PHẦN NHẬP MÔN SÁNG TÁC
2.2.1. Hình thức hai đoạn đơn có tái hiện (Trang 15)
1.3. Các phần phụ - Sự nhắc lại - Ứng dụng của hình thức hai đoạn đơn: - TẬP BÀI GIẢNG HỌC PHẦN NHẬP MÔN SÁNG TÁC
1.3. Các phần phụ - Sự nhắc lại - Ứng dụng của hình thức hai đoạn đơn: (Trang 18)
3. HÌNH THỨC BA ĐOẠN ĐƠN - TẬP BÀI GIẢNG HỌC PHẦN NHẬP MÔN SÁNG TÁC
3. HÌNH THỨC BA ĐOẠN ĐƠN (Trang 19)
3.2.2. Hình thức ba đoạn đơn tương phản - TẬP BÀI GIẢNG HỌC PHẦN NHẬP MÔN SÁNG TÁC
3.2.2. Hình thức ba đoạn đơn tương phản (Trang 22)
3.2.3. Hình thức ba đoạn đơn sơ đồ b– c: - TẬP BÀI GIẢNG HỌC PHẦN NHẬP MÔN SÁNG TÁC
3.2.3. Hình thức ba đoạn đơn sơ đồ b– c: (Trang 23)
2.2.3. Các phần phụ của hình thức ba đoạn đơn. - Sự nhắc lại từng bộ phận - TẬP BÀI GIẢNG HỌC PHẦN NHẬP MÔN SÁNG TÁC
2.2.3. Các phần phụ của hình thức ba đoạn đơn. - Sự nhắc lại từng bộ phận (Trang 24)
1. Âm hình: Là một ý nhạc, dựa trên ý nhạc ấy, người ta phát triển nó ra thành tác phẩm âm nhạc. - TẬP BÀI GIẢNG HỌC PHẦN NHẬP MÔN SÁNG TÁC
1. Âm hình: Là một ý nhạc, dựa trên ý nhạc ấy, người ta phát triển nó ra thành tác phẩm âm nhạc (Trang 25)
2. Âm hình chủ đạo: Trong các tác phẩm âm nhạc cũng có khi chỉ do một âm hình phát triển ra tồn bộ tác phẩm - TẬP BÀI GIẢNG HỌC PHẦN NHẬP MÔN SÁNG TÁC
2. Âm hình chủ đạo: Trong các tác phẩm âm nhạc cũng có khi chỉ do một âm hình phát triển ra tồn bộ tác phẩm (Trang 26)
4. Kết cấu tác phẩm âm nhạc: - TẬP BÀI GIẢNG HỌC PHẦN NHẬP MÔN SÁNG TÁC
4. Kết cấu tác phẩm âm nhạc: (Trang 27)
- Ngắt ý bằng sự nhắc lại (Nhắc lại những chu kỳ của âm hình): Có khi cả một câu nhạc được phát triển liên tục khơng có dấu lặng, khơng có ngưng nghỉ ở một âm  nào dài hơn - TẬP BÀI GIẢNG HỌC PHẦN NHẬP MÔN SÁNG TÁC
g ắt ý bằng sự nhắc lại (Nhắc lại những chu kỳ của âm hình): Có khi cả một câu nhạc được phát triển liên tục khơng có dấu lặng, khơng có ngưng nghỉ ở một âm nào dài hơn (Trang 28)
4.3. Ngắt đoạn: Cũng có chung dấu hiệu như ngắt ý và ngắt câu, ngoài ra, ngắt - TẬP BÀI GIẢNG HỌC PHẦN NHẬP MÔN SÁNG TÁC
4.3. Ngắt đoạn: Cũng có chung dấu hiệu như ngắt ý và ngắt câu, ngoài ra, ngắt (Trang 29)
- Ngắt đoạn bằng sự thay đổi âm hình ý nhạc: Mỗi đoạn có một âm hình khác nhau để diễn đạt một nội dung âm nhạc mới. - TẬP BÀI GIẢNG HỌC PHẦN NHẬP MÔN SÁNG TÁC
g ắt đoạn bằng sự thay đổi âm hình ý nhạc: Mỗi đoạn có một âm hình khác nhau để diễn đạt một nội dung âm nhạc mới (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w