1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

BUỔI THẢO LUẬN MÔN LUẬT HÌNH SỰ CỤM 1

15 62 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 44,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1: Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Nhận định trên là: Sai CSPL: Giải thích: QHXH được luật hình sự bảo vệ là các quan hệ xã hội được quốc gia tuyên bố bảo vệ trước sự xâm hại của tội phạm. Nhưng các quan hệ này khi bị xâm phạm thì mới trở thành đối tượng điều chỉnh của luật hình sự. Câu 2: Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự là tất cả các quan hệ xã hội phát sinh khi có một tội phạm được thực hiện. Nhận định trên là: Sai CSPL: Giải thích: Khi có một tội phạm được thực hiện sẽ phát sinh nhiều quan hệ xã hội (quan hệ dân sự, quan hệ hành chính…). Trong khi luật hình sự chỉ điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh giữa Nhà nước và người phạm tội khi người này thực hiện tội phạm, hay còn gọi là quan hệ pháp luật hình sự.

Trang 1

TLHS  HLM GROUP

BUỔI THẢO LUẬN MÔN LUẬT HÌNH SỰ

CỤM 1 Phần Trắc nghiệm

Câu 1: Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.

Nhận định trên là: Sai

CSPL:

Giải thích: QHXH được luật hình sự bảo vệ là các quan hệ xã hội được quốc gia tuyên bố bảo vệ trước sự xâm hại của tội phạm Nhưng các quan hệ này khi bị xâm phạm thì mới trở thành đối tượng điều chỉnh của luật hình sự

Câu 2: Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự là tất cả các quan hệ xã hội phát sinh khi có một tội phạm được thực hiện.

Nhận định trên là: Sai

CSPL:

Giải thích: Khi có một tội phạm được thực hiện sẽ phát sinh nhiều quan

hệ xã hội (quan hệ dân sự, quan hệ hành chính…) Trong khi luật hình sự chỉ điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh giữa Nhà nước và người phạm tội khi người này thực hiện tội phạm, hay còn gọi là quan hệ pháp luật hình sự

Câu 3: Việc thực hiện hành vi phạm tội là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật hình sự

Nhận định trên là: Đúng

Vì: Sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật hình sựlà hành vi phạm tội đã thực hiện trên thực tế Hành vi phạm tội có thể do nhiều ngành luật điều chỉnh khác nhau

Câu 4: Người phạm tội và người bị hại có quyền thỏa thuận với nhau

về mức độ trách nhiệm hình sự của nười phạm tội

Nhận định trên là: Sai

Vì: Chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự 1 bên là nhà nước và 1 bên là người phạm tội Phương pháp điều chỉnh là phương pháp quyền uy: Nhà nước

có quyền buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm

1

Trang 2

TLHS  HLM GROUP tội mà họ đã thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật mà không bị cản trở hoặc hạn chế bởi bất kỳ thế lực của tổ chức hay cá nhân nào Mức độ trách nhiệm hình sự không phụ thuộc vào sự thỏa thuận của người phạm tội và người bị hại

Câu 5: Bãi nại của người bị hại là căn cứ pháp lý có giá trị bắt buộc làm chấm dứt QHPL hình sự.

Nhận định trên là: Sai

Vì quan hệ pháp luật hình sự là quan hệ giữa nhà nước và người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội khi có một tội phạm được thực hiện Pháp luật hình sự VN có phương pháp điều chỉnh là quyền uy Người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội buộc phải chịu TNHS đối với nhà nước Nên bãi nại của người bị hại k có giá trị bắt buộc làm chấm dứt QHPL HS Đồng thời theo TTHS thì chỉ có những tội danh theo quy định mới chấp nhận việc bãi nại

Câu 6: Quan hệ pháp luật hình sự chỉ là quan hệ xã hội giữa nhà nước và người phạm tội khi có một tội phạm được thực hiện

Nhận định này là: Sai

Vì: quan hệ pháp luật hình sự là quan hệ xã hội giữa nhà nước và người phạm tội khi có tội phạm được thực hiện Không xem xét đến số lần phạm tội

Câu 7: Trong phần thứ 2 (các tội phạm) của Bộ luật Hình sự năm

2015, mỗi điều luật chỉ quy định một quy phạm pháp luật hình sự.

Nhận định trên là: Sai

Vì một điều luật cũng có thể có nhiều quy phạm pháp luật được quy định tại các khoản khác nha của điều luật đó Ví dụ:

Điều 123 BLHS năm 2015 Trong cùng một điều luật này có 4 quy phạm khác nhau quy định về tội giết người tại 4 khoản

Câu 8: Phần quy định trong quy phạm pháp luật tại khoản 1 Điều

259 BLHS là lại quy định viện dẫn.

Trả lời: nhận định SAI

Vì quy định này không viện dẫn văn bản pháp luật khác mà nêu cụ thể hành vi vi phạm Vậy nên đây không phải là quy định viện dẫn mà là quy định

mô tả

Trang 3

TLHS  HLM GROUP

Câu 9 Phần quy định trong quy phạm pháp luật tại khoản 1 Điều

259 BLHS là loại quy định mô tả

Nhận định trên là: Đúng

Vì: Công dân Việt Nam nào câu kết với nước ngoài nhằm gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ

xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tiềm lực quốc phòng, an ninh

Câu 10 Chế tài được quy định tại Khoản 1 Điều 171 BLHS là chế tài tương đối dứt khoát

Nhận định trên là: Đúng

Vì có mức tối đa là 1 năm và mức tối thiểu là 5 năm

Câu 11: Chế tài được quy định tại khoản 1 Điều 168 BLHS là loại chế tài lựa chọn.

Nhận định trên là: Sai

Vì: Đây là loại chế tài tương đối dứt khoát vì nó nêu mức tối thiểu và mức tối đa của tội cướp giật tài sản là hình phạt tù từ 3 năm đến 10 năm

Câu 12: BLHS Việt Nam chỉ có hiệu lực áp dụng đối với hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam

Nhận định trên là: Sai

Vì: BLHS Việt Nam không những có hiệu lực áp dụng đối với hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam mà còn có hiệu lực đối với hành vi phạm tội thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam tại Điều 6 BLHS

Câu 13: Một tội phạm chỉ được coi là thực hiện tại Việt Nam nếu tội phạm đó bắt đầu và kết thúc trên lãnh thổ Việt Nam.

Nhận định trên là: Sai

Vì: Tội phạm được coi là thực hiện trên lãnh thổ VN khi mà tội phạm ấy

có một trong những giai đoạn thực hiện tội phạm được thực hiện trên lãnh thổ VN:

+ Thực hiện trọn vẹn hành vi phạm tội trên lãnh thổ VN

+ Bắt đầu hoặc diễn ra hoặc kết thúc trên lãnh thổ VN

3

Trang 4

TLHS  HLM GROUP

Câu 14: Một số điều luật của BLHS 2015 được áp dụng đối với hành

vi phạm tội đã thực hiện trước khi bộ luật đó có hiệu lực thi hành.

Nhận định trên là: Đúng

Cơ sở pháp lý khoản 3 điều 7 BLHS 2015

“Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang

có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện.” Với nội dung trên, ta có thể thấy rõ Khoản 1 là điều khoản quy định nguyên tắc luật hình sự được áp dụng phải đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Vậy, luật hình sự chỉ có hiệu lực để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi được thực hiện sau khi luật được ban hành

và có hiệu lực thi hành

Nhưng theo khoản 3 điều 7 BLHS 2015

“Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình

sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.” Theo quy định tại Khoản 3 điều 7 BLHS 2015 thì được phép áp dụng BLHS 2015 đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước ngày 1/1/2018 mà sau thời điểm này mới đưa ra xét xử, nếu BLHS 2015 quy định theo hướng có lợi hơn so với BLHS 1999 cho người phạm tội đối với trường hợp cụ thể đó (đó là các trường hợp áp dụng hiệu lực hồi tố)

Câu 15: BLHS 2015 không được áp dụng đối với hành vi phạm tội do người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Nhận định trên là: Sai

Cơ sở pháp lý khoản 2 điều 6 BLHS 2015

“Người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi

Trang 5

TLHS  HLM GROUP ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.”

Câu 16: BLHS 2015 có thể áp dụng đối với hành vi phạm tội trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở trên biển cả hoặc vùng trời giới hạn nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Nhận định trên là: Đúng

Cơ sở pháp lý khoản 3 điều 6 BLHS 2015

“Đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở tại biển cả hoặc tại giới hạn vùng trời nằm ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định.”

Phần Bài tập

Tình huống 1:

1 Quan hệ nào là quan hệ pháp luật hình sự? Tại sao?

Quan hệ pháp luật hình sự là quan hệ A bị Tòa án tuyên án 1 năm tù về việc gây thương tích cho B (Theo qui định tại Điều 143 BLHS) Vì căn cứ khoản 1 điều 134 Bộ Luật Hình sự việc gây thương tật 30% được quy định là phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Vì luật hình sự điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh giữa Nhà nước và người phạm tội Ở trong tình huống A là người phạm tội còn Tòa án là cơ quan đại diện cho Nhà nước

2 Sự kiện pháp lí làm phát sinh quan hệ pháp luật hình sự trong vụ án trên là gì?

Sự kiện pháp lí làm phát sinh quan hệ pháp luật hình sự trong vụ án trên

là việc A đánh B làm B bị thương tích với tỉ lệ thương tật 30%

3 A có thể nhờ người khác tham gia quan hệ pháp luật hình

sự thay mình được không? Tại sao?

A không thể nhờ người khác tham gia quan hệ pháp luật hình sự thay mình được Vì phương pháp điều chỉnh của Luật hình sự là phương pháp quyền uy Phương pháp này thể hiện sự bất bình đẳng về địa vị pháp lí giữa

5

Trang 6

TLHS  HLM GROUP Nhà nước và người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội trong đó Nhà nước có quyền buộc A phải chịu trách nhiệm trước nhà nước và A phải có trách nhiệm chịu trách nhiệm trước Nhà nước bợi hành vi phạm tội của mình

4 Quyền và nghĩa vụ pháp lí của A trong quan hệ pháp luật hình sự.

- Quyền của A: yêu cầu Tòa án tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của mình; yêu cầu Tòa án áp dụng hình phạt, các biện pháp pháp

lí trong khuôn khổ tội của mình phạm phải

- Nghĩa vụ của A: Chịu trách nhiệm hình sự trước nhà nước bởi hành vi phạm tội của minh

Tình huống 2

1 Quy định về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51; và khi áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; hậu quả pháp lý khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015)

2 Cấu trúc của các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Xét trong toàn bộ cấu trúc của Bộ luật Hình sự thì các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo cấu trúc của cặp phạm trù “nặng – nhẹ” Xét theo các dấu hiệu cấu thành tội phạm, thì quy định về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có thể thuộc dấu hiệu chủ thể như: Người già, phụ nữ…; dấu hiệu về mặt khách quan như: Hành vi phạm tội, hậu quả, hoàn cảnh phạm tội…; dấu hiệu về mặt chủ quan như: Động cơ, thủ đoạn…; dấu hiệu khách thể như: Mức độ thiệt hại, bồi thường…

– Đối với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Có thể hiểu là những biểu hiện tích cực cho đời sống xã hội của người phạm tội hoặc vì ngoại cảnh tác động mà thực hiện hành vi phạm tội Do vậy, cấu trúc điều luật rất cụ thể, như: Phạm tội vì bị người khác đe doạ hoặc cưỡng bức (điểm k khoản 1 Điều

51 Bộ luật Hình sự năm 2015); có thể cùng dấu hiệu (nếu có gộp cũng gần tính chất) người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác (điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015)…

Trang 7

TLHS  HLM GROUP + Đặc điểm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là không quy định trùng lặp trong định tội, định khung Bên cạnh việc kế thừa các quy định, mở rộng các tình tiết giảm nhẹ, thì Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “mang tính mở” cho chủ thể áp dụng pháp luật tìm ra những biểu hiện tích cực cho đời sống xã hội của người phạm tội khi áp dụng hình phạt “Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi vào trong bản án” (khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015) – Đối với các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định, như: Có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp… tình tiết có thể là hành vi, chủ thể, động cơ…; nhưng có tình tiết tăng nặng là một “tổ hợp” các dấu hiệu của cấu thành tội phạm Ví dụ: Điểm n khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: Dùng thủ đoạn (thuộc mặt chủ quan), phương tiện (thuộc mặt khách quan), có khả năng gây nguy hại cho nhiều người (thuộc khách thể bảo vệ của Bộ luật Hình sự năm 2015)

3 Điều kiện áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Đặc điểm của việc áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự là cá thể hóa trách nhiệm hình sự Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:

“Các tình tiết là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng” (khoản 3 Điều 51; khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015) Theo quy định việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự khi những tình tiết không quy định trong cấu trúc của các điều luật trong định tội hoặc định khung Tuy nhiên, với quy định các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sẽ có những cách hiểu và áp dụng không thống nhất

Một là, các tình tiết có thể hiểu như cấu thành tội phạm Một số điểm

trong tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự có thể cấu thành tội phạm Ví dụ, điểm o khoản 1 Điều 52 “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội”, với tình tiết này “người xúi dục” có thể đồng phạm trong tội danh mà người dưới 18 tuổi thực hiện (tùy vào loại tội mà người dưới 18 tuổi thực hiện: Ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng) hoặc có thể cấu thành tội “Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người dưới 18 tuổi phạm pháp” (Điều

325 Bộ luật Hình sự năm 2015) Về thuật ngữ “xúi dục” và “dụ dỗ” biểu hiện trong thực tiễn rất khó phân biệt…

Hai là, các tình tiết mang tính “tổ hợp” Khi áp dụng pháp luật thì chủ thể

áp dụng pháp luật căn cứ theo cấu trúc “điều, khoản, điểm”, theo cấu trúc trên

7

Trang 8

TLHS  HLM GROUP thì khi áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sẽ có những cách hiểu khác nhau Ví dụ: Điểm v khoản 1 Điều 51; điểm n khoản 1 Điều 52… Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã phân tích trên) thì việc áp dụng đòi hỏi vụ án phải đáp ứng được các tình tiết (chính xác là biểu hiện các dấu hiệu) được liệt kê trong điểm, khoản, điều luật Đến đây một vấn đề đặt ra là “một điểm” trong điều, khoản có phải là một tình tiết hay mỗi dấu hiệu liệt kê trong

đó là một tình tiết Theo như quy định và ngôn ngữ văn phong pháp lý thì khi

áp dụng theo “điều, khoản, điểm”, thì một điểm trong điều luật sẽ là một tình tiết của điều luật

Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng còn có quy định trùng lặp

và khó xác định như: Dấu hiệu “xảo quyệt” là biểu hiện của hành vi thuộc mặt khách quan hay biểu hiện của thủ đoạn thuộc mặt chủ quan của cấu thành tội phạm Vì dấu hiệu này quy định tại điểm m và điểm p khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 Về nhận thức, khi hành vi được thực hiện (hành động, hoặc không hành động) thì mới biết được tính chất của hành vi đó là “xảo quyệt”; về ngôn ngữ “xảo quyệt” là biểu hiện tính chất của hành vi, thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm

4 Hậu quả khi áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ có thể tác động đến việc định khung, hoặc quyết định hình phạt của vụ án Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định điều kiện áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

– Đối với việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Quy định này thể hiện tính chất nhân đạo của pháp luật, mang tính giáo dục trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mà vẫn thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật và có tác dụng răn đe cao Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: “Tòa án

có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được

áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ theo quy định của Bộ luật này; Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong

vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể” (khoản 1, khoản 2 Điều 54

Bộ luật Hình sự năm 2015); “Trong trường hợp có đủ các điều kiện theo quy định, nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là

Trang 9

TLHS  HLM GROUP khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án” (khoản

3 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) Việc quy định áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có lợi cho bị cáo thể hiện tính độc lập của Tòa án nhân dân trong hoạt động tố tụng với các cơ quan tiến hành tố tụng, mà trực tiếp là bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Hậu quả áp dụng trong trường hợp này được hiểu là mang tính có lợi cho bị cáo Nhưng khi xử quá nhẹ đối với hành vi phạm tội đã đưa ra xét xử thì sẽ tạo

ra sự bất công đối với người bị hại và gia đình của người bị hại và tạo ra điều

lệ xấu đối với xã hội Bởi vậy áp dụng tình tiết giảm nhẹ nhầm đảm bảo tính nhân đạo của pháp luật đồng thời giúp thúc đẩy người ra nhận tội, tạo điều kiện cho họ làm lại cuộc đời Nhưng phải đảm bảo được sự công bằng của pháp luật cho gia đình và người bị hại Chứ không dự vào tình tình tiết giảm nhẹ mà xử phạt quá nhẹ sẽ làm maats đi tính công bằng của pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng

– Đối với việc áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Theo quy định của pháp luật hiện hành thì hoạt động tố tụng hình sự có các giai đoạn: Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm), trong mỗi giai đoạn tố tụng, các cơ quan thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định và có tác động đến quá trình giải quyết vụ án hình sự (tiếp tục, tạm dừng hoặc kết thúc) Thời điểm thể hiện các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thể hiện trong văn bản tố tụng là bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân, có nghĩa hành vi phạm tội thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm, như: Chủ thể phạm tội (tuổi chịu trách nhiệm); khách thể được Bộ luật Hình sự bảo vệ; mặt khách quan của cấu thành tội phạm (hành vi…); mặt chủ quan của cấu thành tội phạm (lỗi, mục đích – bắt buộc thể hiện trong cấu thành tội phạm đối với nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia…) Với quy định hiện hành cho thấy: Khi hành vi đã thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm thì dù có áp dụng bao nhiêu tình tiết tăng nặng thì Tòa án nhân dân không áp dụng tội danh nặng hơn hoặc hình phạt nặng hơn đối với hành vi đã cấu thành tội danh Pháp luật hiện hành không quy định việc áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự sẽ chịu tội danh nặng hơn hoặc định khung hình phạt nặng hơn

mà hành vi phạm tội đã thực hiện Cần phải xem xét kỹ khi áp dụng tình tiết tăng nặng và không được xử quá nặng đối với hành vi phạm tội đã đưa ra xét

xử bởi pháp luật nói chung và luật hình sự 2015 nói riêng ra đời nhằm một phầnmục đích giúp người phạm tội có cơ hội làm lại cuộc đời Nên không thể

xử phạt quá nặng một cách tuỳ tiện mà phải dựa vào luật và hoàn cản cụ thể

9

Trang 10

TLHS  HLM GROUP

Tình huống 3:

1 Quan hệ xã hội là quan hệ pháp luật hình sự là quan hệ b “quan hệ giữa nhà nước với pháp nhân thương mại A” Vì quan hệ pháp luật hình sự là quan

hệ xã hội phát sinh giữa nhà nước và người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội khi người này thực hiện tội phạm Ở đây pháp nhân thương mại A là đối tượng thực hiện tội phạm nên quan hệ pháp luật hình sự là quan hệ giữa pháp nhân thương mại A này và nhà nước

2 Sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật hình sự trong vụ án này là việc pháp nhân thương mại A sản xuất và buôn bán hàng cấm

Tình huống 4:

Hãy xác định loại quy định của quy phạm pháp luật hình sự trong các điều luật sau:

- Điều 157 BLHS 2015: đây là loại quy định giản đơn Vì quy định này dùng chính tên tội danh để mô tả tội phạm

- Điều 168 BLHS 2015: đây là loại quy định mô tả Vì quy định này nêu tên tội phạm là cướp tài sản và dấu hiệu nhận biết là sử dụng vũ lực

- Điều 260 BLHS 2015: đây là loại quy định viện dẫn Vì quy định này viện dẫn các quy định của luật giao thông đường bộ

Tình huống 5:

Hãy xác định loại chế tài của quy phạm luật hình sự trong các điều luật sau:

- Khoản 1 Điều 169 BLHS 2015: đây là loại chế tài tương đối dứt khoác Vì chế tài này chỉ nêu một loại hình phạt duy nhất đó là phạt tù

có thời hạn

- Khoản 4 Điều 251 BLHS 2015: đây là loại chế tài nhiều lựa chọn Vì chế tài này nêu 3 loại hình phạt đó là tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình

- Khoản 1 Điều 134 BLHS 2015: đây là loại chế tài nhiều lựa chọn Vì chế tài này nêu 2 loại hình phạt đó là cải tạo không giam giữ và

tù có thời hạn

Ngày đăng: 11/10/2022, 13:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w